TIẾT
4
TÍNH
CÁCH BẤT XÁC ĐỊNH
CỦA
THẾ GIỚI HIỆN TƯỢNG
Trong phần này chúng ta sẽ thảo luận về ý niệm bất
xác định của thế giới hiện tượng. Như Sriharsa đã
nhận xét đúng, một người thuộc phái Bất Nhị Luận
tuyệt đối, sẽ tán đồng với một người thuộc
phái Trung Quán về quan điểm coi thế giới hiện tượng
như là có đặc tính bất khả xác định. Hiểu theo
một ý nghĩa nào đó, một hiện tượng là một sự
kiện được cảm nhận và do đó chúng ta không thể
coi rằng nó CHỈ LÀ hư cấu, hiểu theo nghĩa rằng chúng
ta không thể coi người con của một phụ nữ tuyệt sản
là vật hư cấu. Vì vậy, chúng ta phải chấp nhận
rằng thế giới hiện tượng có sự hiện hữu tạm
thời. Nói cho đúng, nếu thế giới hiện tượng chẳng
phải là một thực thể thì tất cả những sinh hoạt
thực tế của chúng ta sẽ không thể thi hành được;
và, ngay cả những kỷ luật đạo đức và tinh thần
cũng sẽ mất hết ý nghĩa. Vì vậy, thế giới hiện
tượng này được coi là không thật mà cũng không giả,
nhưng nó là bất khả xác định và bất khả minh chứng
trên phương diện luận lý. Theo ngôn ngữ của Long Thọ,
tính cách bất xác định này của thế giới hiện tượng
được gọi là “đặc tính duyên khởi của chư pháp”
hoặc là “không tánh (sunyata) của chư pháp.”
Ở đây, chúng ta thực sự đối diện với một nghịch
lý hiển nhiên và rất lý thú. Mỗi hiện tượng đều
là bất xác định về luận lý; chúng ta không thể
nói hiện hữu và cũng không thể nói nó không hiện
hữu. Khi bốn trường hợp này đều bị phủ định thì
hiện tượng trở thành bất xác định, tức là “trống
không” (sùnya), nghĩa là không có bất cứ giá trị
tuyệt đối nào. Vật tối hậu đó cũng là bất xác
định và không thể mô tả. Thật ra, cái tối hậu chính
là không-tánh (sunyata) của mọi vật, mọi hiện tựợng.
Đi theo lối phân tách này, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về
ý nghĩa thâm sâu trong câu kệ sau đây của Long Thọ:
“Thế gian không có gì khác với Niết Bàn,
Và Niết Bàn không khác gì với thế gian.
Giữa ‘thái cực’ (Koti) của Niết Bàn và thái cực’
của thế gian,
Không có một chút khác nhau nào cả.”
Tuyệt đối và hiện tượng không khác nhau. Khi đứng
trên điều kiện duyên khởi và lập trường đa nguyên
tánh để xét thế gian này, chúng ta bảo rằng nó có
tính cách hiện tượng hay thế tục (samvrti). Nhưng, khi
chúng ta không qui chiếu vào duyên khởi và đa nguyên tánh
để xét thế gian thì nó được coi là Niết Bàn, là
cái Tối Hậu.
Cho nên, chúng ta thấy, thật ra việc chỉ trích phái Trung
Quán về chuyện họ phân biệt chân lý thành hai giai tầng
là điều không công bằng. Hiện tượng chính là hình
thức “che dấu” của tối hậu, nhưng, nó không khác
gì tối hậu. Vì vậy, cần phải nhấn mạnh rằng thuyết
không-tánh không bao hàm sự phủ nhận thế giới hiện
tượng, mà chỉ bao hàm thái độ vô-chấp đối với
những hiện tượng và không chấp nhận bất cứ lý
thuyết nào nói rằng thế giới hiện tượng là thực
một cách tối hậu.
Trong luận lý học hiện đại chúng ta thường nói về
sự hợp lý, sự nhất quán, và sự bất nhất quán
của những hệ thống. Nếu nói theo luận lý để tìm
hiểu chân lý, chúng ta có thể định nghĩa một hệ
thống tìm hiểu chân lý nào đó là HỢP LÝ nếu nó
tỏ ra là đúng đối với một cách diễn tả theo văn
tự của nó. Một hệ thống tìm hiểu chân lý NHẤT
QUÁN nếu nó tỏ ra là đúng đối với cách diễn tả
nào đó theo văn tự của nó; và nó là BẤT NHẤT QUÁN
nếu nó không có cách diễn tả theo văn tự của nó
để cho thấy nó là đúng. Ba từ ngữ được định
nghĩa rõ ràng này có thể được dùng để giải thích
những phân biệt của giáo lý Trung Quán về “không-tánh.”
Phái Trung Quán bảo rằng người ta có thể cho thấy
mỗi lý thuyết về thế giới hiện tượng đều bất
nhất quán hoặc phi lý.