TIẾT
3
HAI
GIAI TẦNG CỦA CHÂN LÝ
Phật giáo đặt căn bản trên chủ thuyết về “hai chân
lý”: Chân lý “ẩn dấu” hay chân lý thế tục và
chân lý tối hậu hay tuyệt đối. Những ai không hiểu
được sự phân biệt giữa hai chân lý thì không hiểu
được tinh nghĩa – hay ý nghĩa thâm thúy – của Phật
giáo (theo Long Thọ trong TrungQuán Luận). Vì thế, tất
cả những lời thuyết giảng của Đức Phật có thể
được phân loại thành “tuyệt đối” hay “tối hậu”
(nìtàrtha), và “thực dụng” hay “thế tục”.
Thuyết giáo về thế tục được gọi là samvrti hay loka-sanvrti.
Nguyệt Xứng đề nghị ba cách giải thićh từ ngữ samvrti,
căn cứ vào ngữ-nguyên học: (1) Sự che đậy hoàn toàn
hoặc “cái màn” của vô minh che đậy chân lý, (2) chỉ
hiện hữu nhờ tùy thuộc các nhân duyên; (3) hành vi
thế tục hay ngôn ngữ liên quan tới giả danh và cái được
giả danh (đặt tên), tới tri nhận và cái được tri
nhận. Cách giải thích thứ ba có vẻ đưa ra ý kiến
hữu dụng về bản chất của thế tục (samvrti). Những
gì được bày tỏ trong hành vi ngôn ngữ (speech behavior)
của chúng ta cùng với chính hành vi ngôn ngữ cấu thành
cảnh giới của thế tục, tức là cảnh giới “tùy
tục” (conventional) và “thực dụng.”
Cái gọi là giả danh, hoặc dùng văn tự hay danh tánh,
tùy thuộc vào sự gán ghép của một số “điều
kiện” (nimitta) hoặc phẩm chất. Một cái gì đó trở
thành “đối tượng của ý thức” (citta-gocara) qua một
hình thức nào đó mà chúng ta có thể gọi là “điều
kiện” (nimitta) để gán cho nó một cái tên. Vì vậy,
sự giả danh đặt cơ sở trên sự áp đặt của một
“điều kiện” hoặc một “phẩm chất,” khiến cho
vật được giả danh trở thành một huyền thoại được
cấu tạo bởi điều kiện hay phẩm chất đó. Nhưng
Nguyệt Xứng nhận thấy rằng lãnh vực của giả danh
và cái được giả danh, tức lãnh vực của tri thức
và những đối tượng của nó, giống như thế giới
tùy tục, có một giá trị thực dụng lớn lao. Bồ Tát
Long Thọ nói: “Không thể mô tả chân lý tối hậu, nếu
không dùng tới ngôn ngữ tùy tục (vyavahara). Và nếu
không thể hiểu được chân lý tối hậu thì không thể
chứng quả Niết Bàn.” (Trung Quán Luận).
Tuy nhiên, học thuyết “hai chân lý” có thể bị phê
bình, căn cứ vào những lý do rõ rệt. Người ta có
thể hoài nghi về cách phân chia chân lý thành hai giai
tầng. Thí dụ như triết gia Kumàrila lý luận rằng người
ta khó hiểu tại sao chân lý lại có thể là một loại
nằm ở giai tầng thế tục (hay “thực nghiệm”) và
hoàn toàn khác với giai tầng tối hậu (hay “siêu nghiệm”).
Kumàrila (Cưu Ma Li La) nêu ra một câu hỏi thực tiễn đưa
tới sự hoài nghi một cách thành thật về vấn đề
“phân chia đẳng cấp chân lý” này. Cái gọi là chân
lý tùy tục hoặc “che dấu” (samvrti) thật ra chỉ là
một lối nói bóng bẩy để thay thế cho “bất chân”
(mithyà) hay “phi-thực.” Nhận xét của ông là lợp
lý.
Chân lý không thể có hai loại. Theo luật nhân quả, nếu
cái gì đó được coi là thực ở giai tầng “che dấu,”
thì có nghĩa là: (1) hoặc luật nhân quả thực ra không
đúng, (2) hoặc luật nhân quả CHE DẤU trạng thái đích
thực của thực tại, hay chân lý tối hậu. Lập trường
của phái Trung Quán không giống lập trường của phái
Duy Vật Thuận Thế (Lokàyata Càrvaka) Ấn Độ; phái
này cho rằng luật nhân quả không có thật. Theo phái
Trung Quán thì thà chấp nhận điều thứ nhì và chủ
trương cho rằng luật nhân quả là có thật, nhưng chỉ
nằm ở giai tầng tùy tục mà thôi. Nhưng Kumàrila bảo
rằng nói như vậy là nói theo lối triết lý “hai chiều.”
Ông lý luận rằng thật ra thực tại ở giai tầng “che
dấu” không khác với phi thực tại. Chỉ sau khi hiểu
rõ cái gì là chân đế chúng ta mới có thể xác lập
được nhận thức rằng vạn pháp đều là giả trên
giai tầng thế tục; nhưng, chân đế lại còn bị thế
tục đế che đậy. Tuy nhiên, như chúng ta đã nhận xét,
nếu không có loại trực giác thần bí nào đó thì
không thể hiểu được chân lý tối hậu (tattva). Và
như đã nói, chân đế không thể được mô tả bằng
ngôn ngữ. Vì vậy, một người có lập trường thực
tế như Kumàrila cảm thấy việc phân chia chân lý thành
hai giai tầng, và từ đó ngụ ý rằng mọi sự vật
ở giai tầng “che dấu” đều là “phi-thực,” là
chuyện không công bằng. Ngoài ra, giữa chân lý tối hậu
và chân lý thế tục chẳng có một đặc tính chung
nào cả, do đó chúng ta không thể gán cho chúng cùng
một chữ “chân lý” (satya).
Phái Trung Quán có thể trả lời rằng phê bình này
không công bằng đối với lập trường triết học của
họ. Họ khẳng định nhân và quả chỉ là những khái
niệm được “hiện thực hóa” bởi thiên kiến của
tri thức nhân loại. Nhưng, nếu chúng ta coi những khái
niệm này là thực về phương diện siêu hình (hay tối
hậu), thì chúng ta sẽ đối diện với những mâu thuẫn
về luận lý và những điều phi lý khác. Cũng chỉ
vì sự khó khăn này, nghĩa là vì hoàn cảnh khó khăn
mà chúng ta gặp phải khi coi những giả thiết của mình
là đúng tối hậu, cho nên phái Trung Quán muốn nhẩy
vọt lên giai tầng tối hậu và khẳng định rằng nhìn
từ quan điểm tối hậu thì nhân quả đều là những
khái niệm TRỐNG RỖNG (KHÔNG). Nhưng, phái Trung Quán không
thể phủ nhận rằng những khái niệm này được người
thế tục tin là thật và rằng những khái niệm này
it́ ra cũng có một giá trị thực tiễn nào đó trong
thế giới hiện tượng. Nhưng khi một triết gia kiêu
căng nào đó cho rằng chúng ta là thực một cách tối
hậu thì họ phạm phải sai lầm to lớn.
Người theo chủ nghĩa hiện thực có thể đối đáp
rằng việc xác định nhân quả không phải là chuyện
không thể làm được trong đời sống thực tế, miễn
rằng chúng ta tập được đức tính khoan dung một chút
đối với những mâu thuẫn luận lý. Nếu có người
tin A là nhân của B, và chúng ta không thấy điều đó
là sai, qua những cuộc thí nghiệm và những kinh nghiệm
trong vòng một thời gian nào đó, thì chúng ta đừng
nên phủ quyết điều tin tưởng của họ. Theo bút giả
thấy, phái Trung Quán không phản đối việc nhận những
tín niệm loại đó như là có tính cách chân thực một
cách tạm thời, nghĩa là chân thực ở giai tầng thế
tục. Họ chỉ phủ nhận chúng có tính cách tối hậu.
Khi phái Trung Quán muốn mở ngỏ vấn đề này, thái
độ của họ tỏ ra rất thận trọng, vì vậy, đó là
thái độ rất hữu ích cả về phương diện triết
học lẫn khoa học. Nhưng, khi họ nhất định xác quyết
rằng nhân và quả thực sự không thể xác định được,
thì họ sẽ có thể bị chỉ trích rằng họ muốn tránh
né vấn đề này.
Khi họ biện luận, phái Trung Quán có thể nói rằng
ngoài giá trị thực tiễn nào đó, họ không thấy bất
cứ lý do luận lý nào để chấp nhận khái niệm
nhân quả như là có tính cách chân thực nội tại. Thật
ra, theo phái Trung Quán, tất cả các hiện tượng đều
không thể xác định và không thể định nghĩa; chúng
không thể hiện hữu một cách độc lập.