THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Phật Học Cơ Bản
Phật Học Phổ Thông
Phật Học
Tâm Lý Học Phật Giáo
Triết Học Tánh Không
.
PHỦ ĐỊNH THỨC 
VÀ BIỆN CHỨNG PHÁP TRUNG QUÁN
Tác Giả: B.K. Matilal -  Dịch Giả: Thích Viên Lý
Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới  2000
TIẾT 3

HAI GIAI TẦNG CỦA CHÂN LÝ

     Phật giáo đặt căn bản trên chủ thuyết về “hai chân lý”: Chân lý “ẩn dấu” hay chân lý thế tục và chân lý tối hậu hay tuyệt đối. Những ai không hiểu được sự phân biệt giữa hai chân lý thì không hiểu được tinh nghĩa – hay ý nghĩa thâm thúy – của Phật giáo (theo Long Thọ trong TrungQuán Luận). Vì thế, tất cả những lời thuyết giảng của Đức Phật có thể được phân loại thành “tuyệt đối” hay “tối hậu” (nìtàrtha), và “thực dụng” hay “thế tục”. 

     Thuyết giáo về thế tục được gọi là samvrti hay loka-sanvrti. Nguyệt Xứng đề nghị ba cách giải thićh từ ngữ samvrti, căn cứ vào ngữ-nguyên học: (1) Sự che đậy hoàn toàn hoặc “cái màn” của vô minh che đậy chân lý, (2) chỉ hiện hữu nhờ tùy thuộc các nhân duyên; (3) hành vi thế tục hay ngôn ngữ liên quan tới giả danh và cái được giả danh (đặt tên), tới tri nhận và cái được tri nhận. Cách giải thích thứ ba có vẻ đưa ra ý kiến hữu dụng về bản chất của thế tục (samvrti). Những gì được bày tỏ trong hành vi ngôn ngữ (speech behavior) của chúng ta cùng với chính hành vi ngôn ngữ cấu thành cảnh giới của thế tục, tức là cảnh giới “tùy tục” (conventional) và “thực dụng.” 

     Cái gọi là giả danh, hoặc dùng văn tự hay danh tánh, tùy thuộc vào sự gán ghép của một số “điều kiện” (nimitta) hoặc phẩm chất. Một cái gì đó trở thành “đối tượng của ý thức” (citta-gocara) qua một hình thức nào đó mà chúng ta có thể gọi là “điều kiện” (nimitta) để gán cho nó một cái tên. Vì vậy, sự giả danh đặt cơ sở trên sự áp đặt của một “điều kiện” hoặc một “phẩm chất,” khiến cho vật được giả danh trở thành một huyền thoại được cấu tạo bởi điều kiện hay phẩm chất đó. Nhưng Nguyệt Xứng nhận thấy rằng lãnh vực của giả danh và cái được giả danh, tức lãnh vực của tri thức và những đối tượng của nó, giống như thế giới tùy tục, có một giá trị thực dụng lớn lao. Bồ Tát Long Thọ nói: “Không thể mô tả chân lý tối hậu, nếu không dùng tới ngôn ngữ tùy tục (vyavahara). Và nếu không thể hiểu được chân lý tối hậu thì không thể chứng quả Niết Bàn.” (Trung Quán Luận). 

     Tuy nhiên, học thuyết “hai chân lý” có thể bị phê bình, căn cứ vào những lý do rõ rệt. Người ta có thể hoài nghi về cách phân chia chân lý thành hai giai tầng. Thí dụ như triết gia Kumàrila lý luận rằng người ta khó hiểu tại sao chân lý lại có thể là một loại nằm ở giai tầng thế tục (hay “thực nghiệm”) và hoàn toàn khác với giai tầng tối hậu (hay “siêu nghiệm”). Kumàrila (Cưu Ma Li La) nêu ra một câu hỏi thực tiễn đưa tới sự hoài nghi một cách thành thật về vấn đề “phân chia đẳng cấp chân lý” này. Cái gọi là chân lý tùy tục hoặc “che dấu” (samvrti) thật ra chỉ là một lối nói bóng bẩy để thay thế cho “bất chân” (mithyà) hay “phi-thực.” Nhận xét của ông là lợp lý. 

     Chân lý không thể có hai loại. Theo luật nhân quả, nếu cái gì đó được coi là thực ở giai tầng “che dấu,” thì có nghĩa là: (1) hoặc luật nhân quả thực ra không đúng, (2) hoặc luật nhân quả CHE DẤU trạng thái đích thực của thực tại, hay chân lý tối hậu. Lập trường của phái Trung Quán không giống lập trường của phái Duy Vật Thuận Thế (Lokàyata Càrvaka) Ấn Độ; phái này cho rằng luật nhân quả không có thật. Theo phái Trung Quán thì thà chấp nhận điều thứ nhì và chủ trương cho rằng luật nhân quả là có thật, nhưng chỉ nằm ở giai tầng tùy tục mà thôi. Nhưng Kumàrila bảo rằng nói như vậy là nói theo lối triết lý “hai chiều.” Ông lý luận rằng thật ra thực tại ở giai tầng “che dấu” không khác với phi thực tại. Chỉ sau khi hiểu rõ cái gì là chân đế chúng ta mới có thể xác lập được nhận thức rằng vạn pháp đều là giả trên giai tầng thế tục; nhưng, chân đế lại còn bị thế tục đế che đậy. Tuy nhiên, như chúng ta đã nhận xét, nếu không có loại trực giác thần bí nào đó thì không thể hiểu được chân lý tối hậu (tattva). Và như đã nói, chân đế không thể được mô tả bằng ngôn ngữ. Vì vậy, một người có lập trường thực tế như Kumàrila cảm thấy việc phân chia chân lý thành hai giai tầng, và từ đó ngụ ý rằng mọi sự vật ở giai tầng “che dấu” đều là “phi-thực,” là chuyện không công bằng. Ngoài ra, giữa chân lý tối hậu và chân lý thế tục chẳng có một đặc tính chung nào cả, do đó chúng ta không thể gán cho chúng cùng một chữ “chân lý” (satya). 

     Phái Trung Quán có thể trả lời rằng phê bình này không công bằng đối với lập trường triết học của họ. Họ khẳng định nhân và quả chỉ là những khái niệm được “hiện thực hóa” bởi thiên kiến của tri thức nhân loại. Nhưng, nếu chúng ta coi những khái niệm này là thực về phương diện siêu hình (hay tối hậu), thì chúng ta sẽ đối diện với những mâu thuẫn về luận lý và những điều phi lý khác. Cũng chỉ vì sự khó khăn này, nghĩa là vì hoàn cảnh khó khăn mà chúng ta gặp phải khi coi những giả thiết của mình là đúng tối hậu, cho nên phái Trung Quán muốn nhẩy vọt lên giai tầng tối hậu và khẳng định rằng nhìn từ quan điểm tối hậu thì nhân quả đều là những khái niệm TRỐNG RỖNG (KHÔNG). Nhưng, phái Trung Quán không thể phủ nhận rằng những khái niệm này được người thế tục tin là thật và rằng những khái niệm này it́ ra cũng có một giá trị thực tiễn nào đó trong thế giới hiện tượng. Nhưng khi một triết gia kiêu căng nào đó cho rằng chúng ta là thực một cách tối hậu thì họ phạm phải sai lầm to lớn. 

     Người theo chủ nghĩa hiện thực có thể đối đáp rằng việc xác định nhân quả không phải là chuyện không thể làm được trong đời sống thực tế, miễn rằng chúng ta tập được đức tính khoan dung một chút đối với những mâu thuẫn luận lý. Nếu có người tin A là nhân của B, và chúng ta không thấy điều đó là sai, qua những cuộc thí nghiệm và những kinh nghiệm trong vòng một thời gian nào đó, thì chúng ta đừng nên phủ quyết điều tin tưởng của họ. Theo bút giả thấy, phái Trung Quán không phản đối việc nhận những tín niệm loại đó như là có tính cách chân thực một cách tạm thời, nghĩa là chân thực ở giai tầng thế tục. Họ chỉ phủ nhận chúng có tính cách tối hậu. Khi phái Trung Quán muốn mở ngỏ vấn đề này, thái độ của họ tỏ ra rất thận trọng, vì vậy, đó là thái độ rất hữu ích cả về phương diện triết học lẫn khoa học. Nhưng, khi họ nhất định xác quyết rằng nhân và quả thực sự không thể xác định được, thì họ sẽ có thể bị chỉ trích rằng họ muốn tránh né vấn đề này. 

     Khi họ biện luận, phái Trung Quán có thể nói rằng ngoài giá trị thực tiễn nào đó, họ không thấy bất cứ lý do luận lý nào để chấp nhận khái niệm nhân quả như là có tính cách chân thực nội tại. Thật ra, theo phái Trung Quán, tất cả các hiện tượng đều không thể xác định và không thể định nghĩa; chúng không thể hiện hữu một cách độc lập.

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap

Xx