Lời
người dịch: Đức Đạt Lai Lạt Ma 14, tên thật là Tenzin
Gyatso, là một nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của
nhân dân Tây Tạng. Ngài chào đời tại làng Taktser, vùng Đông
Bắc Tây Tạng vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 (Ất Hợi) trong
một gia đình nông dân. Ngài được thừa nhận là Dalai Lama
vào năm 2 tuổi theo truyền thống Tây Tạng như là hóa thân
của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Ngài được tấn phong tước
vị Dalai Lama vào ngày 22 tháng 2 năm 1940 tại Lhasa, thủ đô
của Tây Tạng, chính thức là người lãnh đạo chính trị
và tôn giáo cho 6 triệu người Tây Tạng.
Tuy
nhiên ngài đã thừa kế tước vị Dalai Lama trong một giai
đoạn bấp bênh nhất của toàn bộ lịch sử với danh hiệu
cao quý này, vì Trung Cộng đã xâm chiếm Tây Tạng và ngài
đã đến tỵ nạn ở tiểu bang Dharamsala, miền Bắc nước
Ấn Ðộ từ năm 1959. Từ đó, ngài đã ủng hộ triệt để
cho chính sách bất bạo động, ngay cả những lúc đối đầu
với những cuộc tấn công khủng khiếp nhất. Chính vì thế
mà năm 1989, ngài được trao giải thưởng Nobel về hòa bình.
Hiện nay, cũng trong thân phận người tỵ nạn, ngài thường
xuyên đi đến nhiều miền đất trên thế giới để kêu gọi
hòa bình, để rồi khi có thể, ngài nói lên tiếng nói tự
do giải phóng cho dân tộc Tây Tạng. Từ ngày 6 đến ngày
16 tháng 6 năm 2007 này, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ viếng thăm
Úc Châu, đây là chuyến thăm Úc lần thứ năm của Ngài để
giảng dạy Phật Pháp. Mọi người đang trông đợi sự xuất
hiện của ngài. Dưới đây là bài phỏng vấn của John Avedon,
một ký giả người Mỹ của tạp chí New York Time, sẽ giúp
quý độc giả biết thêm về cuộc đời của vị Phật vương
này, bài phỏng vấn này được thực hiện vào năm 1989 sau
khi ngài lãnh giải thưởng Nobel về hòa bình.
John
Avedon: Khi được công nhận là Đạt Lai Lạt Ma, cảm giác
đầu tiên của ngài là gì? Ngài thấy điều gì xảy ra cho
mình?
Dalai
Lama: Tôi
rất hạnh phúc. Tôi rất thích sự kiện này. Trước khi người
ta tìm tôi, tôi đã thường nói với mẹ tôi rằng tôi sẽ
đi tới Lhasa (thủ đô của Tây Tạng). Tôi thường ngồi thả
chân ở hai bên bậu cửa sổ, làm ra vẻ như đang cưỡi ngựa
đến Lhasa. Lúc đó tôi còn rất nhỏ, nhưng tôi nhớ rõ chuyện
này. Tôi muốn đi về Lhasa. Một chuyện khác mà tôi đã không
nói trong tập tự truyện (in lần đầu tiên năm 1961), là sau
khi tôi ra đời, có hai con quạ bay đến đậu trên mái nhà
chúng tôi. Chúng đến vào mỗi buổi sáng, đậu ở đó một
lúc rồi bay đi. Điều này rất đáng chú ý, vì đã có những
hiện tượng tương tự xảy ra trong thời gian mới chào đời
của các vị Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất, thứ bảy, thứ tám
và thứ mười hai. Sau khi các vị đó ra đời, có hai con quạ
bay đến đậu ở trước nhà. Trong trường hợp của tôi,
lúc đầu không có ai để ý, nhưng mới đây, khoảng ba năm
trước, khi tôi nói chuyện với mẹ tôi, bà đã nhớ lại
chuyện này. Bà đã nhìn thấy hai con quạ bay tới đậu trước
nhà vào mỗi sáng sớm và một lúc lâu chúng lại bay đi. Buổi
tối sau khi đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất ra đời, bọn
cướp đột nhập vào nhà gia đình ngài. Cha mẹ ngài bỏ chạy
để lại đứa trẻ. Ngày hôm sau, khi trở về nhà, họ tìm
thấy em bé ở trong một góc nhà, có một con quạ đứng trước
nhà để bảo vệ. Về sau, khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất
lớn lên và tu tập có kết quả, trong lúc thiền quán, ngài
tiếp xúc trực tiếp với các vị thần hộ pháp Mahakala (Đại
Hắc Thiên). Lúc đó ngài Mahakala đã nói rằng “Một người
như ngài đang làm công việc hoằng dương Phật pháp, cần
phải có một vị bảo hộ như tôi. Ngay trong ngày ngài ra đời,
tôi đã bảo hộ ngài” (somebody like you who is upholding the Buddhist
teaching needs a protector like me. Right on the day of your birth, I helped
you). Như vậy chúng ta thấy rõ ràng có sự liên quan giữa
Mahakala, những con quạ và các vị Đạt Lai Lạt Ma.
Một
chuyện nữa xảy ra mà mẹ tôi nhớ rất rõ là ngay sau khi
tôi đến Lhasa, tôi đã nói rằng răng của tôi ở trong một
chiếc hộp ở trong tòa nhà nào đó ở cung điện mùa hè Norbulingka.
Khi họ mở chiếc hộp đó ra, bộ răng của vị Đạt Lai lạt
Ma thứ 13 đang nằm ở đó. Tôi đã chỉ vào cái hộp và nói
rằng răng của ta đấy, nhưng bây giờ thì tôi không còn nhớ
gì về chuyện đó cả. Những ký ức mới của thể xác này
mạnh hơn. Quá khứ đã trở nên mờ nhạt hơn, tôi không nhớ
gì cả trừ khi đặc biệt ra sức gợi lại một ký ức như
thế.
John
Avedon: Ngài có nhớ lúc được sinh ra hay trạng thái ở trong
bào thai trước đó không?
Dalai
Lama: Tôi không nhớ lúc đó. Khi còn nhỏ tôi cũng không
nhớ gì. Nhưng hình như có một dấu hiệu nhỏ bên ngoài.
Trẻ sơ sinh thường ra đời với hai mắt nhắm, còn tôi thì
ra đời với hai mắt mở, có thể điều này cho thấy chút
ít trạng thái tâm trí tỉnh thức trong bào thai.
John
Avedon: Lúc còn nhỏ ngài nghĩ gì về việc mình
được những người lớn đối xử như một nhân vật quan
trọng? Ngài có lo sợ vì sự kính trọng như vậy không?
Dalai
Lama: Người Tây Tạng là một dân tộc thực tế, những
người Tây Tạng lớn tuổi không bao giờ đối xử với tôi
như vậy. Tôi cũng rất tự tin. Trên đường đi đến Lhasa
lần đầu tiên, ở vùng đồng bằng Debuthang, vị Bốc Sư
Nechung tới để chứng thực thêm tôi là người được chọn
đúng. Đi cùng với vị này là một “geshay” già, rất được
kính trọng và đã đạt chứng ngộ cao ở Trường Loseling
của Tu Viện Drepung. Vị tiến sĩ này rất quan tâm đến việc
tôi có phải đúng là người cần phải tìm hay không. Phạm
sai lầm trong việc tìm vị Đạt Lai Lạt Ma là điều nguy hiểm.
Vị này là một tăng sĩ nhưng không phải là một viên chức
của chính phủ. Ông ấy đi vào lều nơi tôi có mặt với
một nhóm người tới thăm, và xác quyết rằng tôi đúng là
người cần tìm. Như vậy, dù có một số người già nghiêm
khắc, muốn sự việc phải chắc chắn, tôi cũng đã hành
xử tốt và đã chinh phục được họ (cười). Tôi không bao
giờ cảm thấy khó chịu trong vị trí của mình.
John
Avedon: Khoảng giữa năm mười sáu tuổi đến mười tám tuổi,
sau khi nắm quyền lực chính trị thế tục, ngài có thay đổi
gì không?
Dalai
Lama: Có, tôi đã thay đổi một chút. Tôi đã trải
qua nhiều hạnh phúc cũng như đau buồn. Từ sự trưởng thành
của cuộc sống, từ những vấn đề nảy sinh để có thêm
kinh nghiêm, tôi đã thay đổi. Kết quả là con người mà ông
đang thấy bây giờ (cười).
John
Avedon: Khi vừa tới tuổi trưởng thành ngài có tâm trạng
như thế nào? Nhiều người trải qua một thời kỳ khó khăn
khi nhận thấy mình đã là một người lớn. Điều này có
xảy ra với ngài không?
Dalai
Lama: Không, cuộc đời của tôi trôi đi một cách đều
đặn. Tôi học hai buổi mỗi ngày, còn những lúc khác thì
chơi đùa (cười). Đến năm mười ba tuổi, tôi bắt đầu
học triết học, pháp số, tranh luận, và thư pháp. Tôi học
nhiều hơn trước. Tất cả đều là những việc hằng ngày
và dần dần tôi cũng quen với những việc này. Có khi tôi
được nghỉ hè. Những kỳ nghỉ này rất dễ chịu, hạnh
phúc. Anh của tôi, Losang Samten luôn ở trường học nhưng trong
những thời gian đó anh cũng tới thăm tôi. Cũng có khi mẹ
tôi mang loại bánh mì đặc biệt ở quê hương, tỉnh Amdo,
đến cho tôi. Bánh này rất dày và ngon, do mẹ tôi tự tay
làm.
John
Avedon: Khi trưởng thành ngài có dịp nào gặp cha của ngài
hay không?
Dalai
Lama: Cha tôi qua đời năm tôi mười ba tuổi.
John
Avedon: Có vị tiền nhiệm nào ngài đặc biệt chú ý hay có
một sự liên quan riêng nào đến ngài không?
Dalai
Lama: Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba. Ngài
đã cải tiến nhiều những tiêu chuẩn học ở các Phật học
viện. Ngài khuyến khích rất nhiều những học sinh thành tâm.
Ngài ngăn cản những người thiếu năng lực mà lại muốn
tiến thân trong tăng đoàn, muốn trở thành sư trưởng hay
những mục tiêu khác. Về phương diện này ngài rất nghiêm
khắc. Ngài cũng làm lễ truyền giới cho mấy chục ngàn tăng
sĩ. Đó là hai thành tựu tôn giáo chính yếu của đời ngài.
Ngài không ban nhiều lễ truyền pháp, cũng không thuyết pháp
nhiều. Đối với đất nước thì ngài đã có những tư tưởng
lớn và đã quan tâm và cải cách về hành chánh, đặc biệt
là đối với những vùng ở xa, làm sao để công việc hành
chánh ở những nơi đó được tốt. Ngài rất chú trọng tới
việc điều hành chính phủ một cách có hiệu quả hơn. Ngài
còn chú ý nhiều điều tương tự.
John
Avedon: Trong cuộc đời ngài những bài học riêng hay những
thách thức nội tâm lớn nhất của ngài là gì? Những chứng
nghiệm nào có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự phát triển
cá nhân của ngài?
Dalai
Lama: Về chứng nghiệm tâm linh thì tôi có một
sự chứng ngộ tánh không (sunya/emptiness) nào đó, một thứ
cảm giác, chứng nghiệm, và phần lớn là bồ đề tâm, từ
bi. Điều này giúp nhiều điều cho tôi. Có thể nói rằng
nó đã làm cho tôi trở thành một con người mới. Tôi vẫn
đang tiến xa hơn, đang cố gắng. Nó giúp tôi có thêm sức
mạnh nội tâm, có can đảm và dễ chấp nhận hoàn cảnh hơn.
Đó là một trong những kinh nghiệm lớn nhất của tôi.
John
Avedon: Về mặt bồ đề tâm thì ngài đang nói đến sự tiến
bộ thêm về chứng ngộ hay ngài muốn nói đến nhân tố liên
quan nào đó ở bên ngoài?
Dalai
Lama: Chính yếu là về sự tu tập bên trong. Cũng có
thể có những nguyên nhân hay hoàn cảnh bên ngoài. Những nhân
tố bên ngoài có thể đã đóng góp một phần trong việc gây
dựng một cảm giác nào đó về bồ đề tâm. Nhưng chính
yếu là từ sự tu tập nội tâm.
John
Avedon: Ngài có thể kể ra một khoảnh khắc đặc biệt nào
đó trong quá trình tu tập của mình không?
Dalai
Lama: Về thuyết tánh không, thuyết tánh không trước
tiên, rồi cảm giác bồ đề tâm… vào khoảng 1965 hay 1966,
trong khoảng thời gian đó. Đây thực sự là chuyện riêng
tư. Đối với một hành giả chân chính thì những điều này
phải được giữ kín.
John
Avedon: Vâng, sẽ không đề cập về những chứng nghiệm sâu
xa nhất của ngài, nhưng còn những sự kiện trong đời ngài;
những sự kiện này đã có ảnh hưởng như thế nào đối
với ngài trong việc hình thành nhân cách? Ngài đã trưởng
thành như thế nào qua những kinh nghiệm này?
Dalai
Lama: Trưởng thành như một người lưu vong là điều
hữu ích. Tôi sống gần với thực tế hơn. Hồi tôi còn ở
Tây Tạng với tư cách một vị Đạt Lai Lạt Ma, tôi đã cố
gắng sống một cách thực tế, nhưng phần nào vì hoàn cảnh
nên đã có một khoảng cách nhất định giữa tôi và đời
sống bên ngoài, tôi có phần bị cô lập với thực tại.
Và rồi khi trở thành một người tị nạn, một người mất
nước, đó lại là cơ hội tốt để tôi có thêm kinh nghiệm,
và nó cũng giúp tôi có thêm lòng cương quyết hay sức mạnh
nội tâm.
John
Avedon: Khi trở thành người tị nạn, điều gì đã giúp
ngài có được sức mạnh này? Có phải là việc mất địa
vị và tổ quốc của ngài chăng?Hay là sự kiện dân chúng
thống khổ xung quanh ngài? Ngài có được yêu cầu lãnh đạo
nhân dân của ngài theo một đường lối khác với cách ngài
đã quen thuộc hay không?
Dalai
Lama: Làm người tị nạn, thật sự là một tình thế
nguy hiểm và tuyệt vọng. Lúc đó mọi người phải đối
phó với thực tại. Đó không phải là lúc vờ cho rằng mọi
việc đều tốt đẹp. Và đó là một điều khó khăn. Người
ta cảm thấy mình dấn thân vào thực tại. Trong thời thanh
bình mọi việc đều trôi chảy. Ngay cả khi có một sự cố
nào đó, người ta cũng du di như mọi chuyện đều tốt. Nhưng
trong thời khó khăn thực sự, khi có biến cố lớn, thì người
ta không thể nào cho rằng mọi chuyện đều tốt, phải rạch
ròi tình trạng xấu là xấu. Khi tôi trốn khỏi cung điện
mùa hè Norbulingka thì tình thế thật nguy hiểm. Chúng tôi đã
băng qua gần những doanh trại của quân đội Trung Quốc. Một
trạm kiểm soát nằm ngay trên bờ sông bên kia. Khoảng hai
hay ba tuần trước khi tôi trốn đi, chúng tôi đã có tin tức
chắc chắn là người Trung Quốc đã chuẩn bị đầy đủ
để tấn công chúng tôi. Vấn đề chỉ còn là ngày giờ mà
thôi.
John
Avedon: Lúc đó ngài vượt qua sông Kyichu và gặp nhóm du kích
quân Khamba đang đợi ngài ở đó, ngài có giữ quyền lãnh
đạo trực tiếp hay không? Trong cuộc trốn chạy của ngài,
ai là người ra những quyết định?
Dalai
Lama: Ngay khi rời khỏi Lhasa, chúng tôi đã lập một
nhóm bên trong, một ủy ban để thảo luận mọi việc. Tôi
và tám người khác.
John
Avedon: Có phải việc làm cho mọi người nhất trí là ý kiến
của ngài?
Dalai
Lama: Đúng. Những người được để lại phía sau ở
Lhasa cũng lập một Ủy Ban Nhân Dân, một hình thức hội đồng
cách mạng (revolutionary council). Tất nhiên đối với Trung Quốc
thì đây là ủy ban phản cách mạng. Trong vòng vài ngày, họ
thành lập ủy ban đó, do nhân dân đề cử và ủy ban này
đưa ra mọi quyết định. Tôi đã gởi một bức thư đến
để phê chuẩn ủy ban đó. Trong ủy ban nhỏ-- những người
chạy trốn cùng với tôi, mỗi đêm chúng tôi thảo luận
những điểm thực tiễn. Lúc đầu, kế hoạch của chúng tôi
là thiết lập bộ chỉ huy ở miền nam Tây Tạng. Vào ngày
24 tháng tư năm 1959, tôi cũng cho thủ tướng Nehru của Ấn
Độ biết rằng chúng tôi đã thành lập chính phủ lâm thời
của Tây Tạng, chuyển từ Lhasa tới miền nam Tây Tạng. Tôi
thông báo điều này một cách tự nhiên cho thủ tướng. Ông
ấy hơi nao núng (cười), nhưng ông ấy nói “chúng tôi sẽ
không công nhận chính phủ của ngài”. Dù chính phủ này
đã được thành lập trong khi còn bên trong Tây Tạng và lúc
đó tôi đã ở bên Ấn Độ rồi.
John
Avedon: Tôi muốn hỏi về việc ngài là hóa thân của Bồ Tát
Đại Bi Quán Thế Âm (Chenrezi/Avalokitesvara). Ngài có cảm nghĩ
gì về điều này?Ngài thừa nhận rõ ràng điều này hay còn
có quan điểm nào khác?
Dalai
Lama: Tôi khó có thể nói một cách xác quyết. Tôi không
thể nói chính xác được, trừ khi tôi ra sức tham thiền,
nhập định quán tưởng về lại cuộc đời của mình trong
từng hơi thở một. Chúng tôi tin có bốn loại tái sinh. Thứ
nhất là loại thông thường, trong đó sinh linh không thể quyết
định sự tái sinh của mình. Loại tái sinh thứ hai là của
một vị Phật toàn giác, chỉ cần hóa hiện một thân vật
chất để tiếp tục công việc giáo hóa chúng sinh. Trong trường
hợp này, rõ ràng người ấy là một vị Phật. Loại tái
sinh thứ ba là của một người đã từng có những thành tựu
tâm linh trong quá khứ, có khả năng chọn lựa, hay ít nhất
cũng có thể tác động đến địa điểm và hoàn cảnh tái
sinh. Loại tái sinh thứ tư được gọi là hiển lộ sự gia
hộ, trường hợp này người tái sinh được ban ơn gia hộ
vượt ngoài khả năng thông thường, để làm những việc
lợi ích, như giảng dạy chân lý giải thoát cho người khác.
Được tái sinh loại này là do trong các kiếp quá khứ người
đó đã có ý nguyện mạnh mẽ giúp đỡ chúng sinh. Dù có
thể thuộc vào một loại tái sinh nào đó, nhưng tôi không
thể nói chắc là mình thuộc loại nào.
John
Avedon: Về vai trò thực tiễn Quán Thế Âm Bồ Tát mà ngài
đang lãnh nhận, ngài có cảm nghĩ gì? Chỉ có một ít người
đã được xem là thiêng liêng về mặt này hay mặt khác. Sứ
mạng này là một gánh nặng hay là một điều thú vị?
Dalai
Lama: Vai trò này rất hữu ích, vì qua đó tôi có thể
mang lại lợi ích lớn lao cho người khác. Vì vậy mà tôi
thích vai trò Quán Thế Âm, và tôi quen thuộc với vị trí
này. Dễ dàng thấy rằng điều này giúp ích cho nhiều người,
và rõ ràng là tôi có nhân duyên để lãnh nhận vai trò này.
Và cũng rõ ràng là có nhân duyên với nhân dân Tây Tạng nói
riêng. Ông hãy xét điều này, trong những hoàn cảnh từ trước
đến nay của chúng tôi, phải nói là tôi rất may mắn. Tuy
nhiên sự may mắn nào cũng phải có những gốc rễ và lý
do của nó. Do tiềm năng của nghiệp lực cũng như nguyện
lực đã giúp tôi đảm đương sứ mạng này. Về phương diện
này, trong cuốn “Nhập Bồ Tát Đạo”(Engaging in the Bodhisattva
Deeds), Luận Sư Shantideva nói: “khi nào còn trời còn đất
và còn luân hồi, tôi nguyện ở lại nơi này để cứu khổ
độ sinh”(as long as space exists, and so long as there are migrators
in cyclic existence, may I remain – removing their suffering). Tôi có
thệ nguyện như vậy trong cuộc đời này và biết mình đã
có ý nguyện ấy trong những kiếp trước.
John
Avedon: Với mục tiêu bao la như vậy làm động lực, ngài
đối phó như thế nào với những hạn chế riêng tư, những
giới hạn thuộc về con người?
Dalai
Lama: Luận sư Shantideva cũng nói “Nếu Đức Phật
toàn giác không thể làm vừa lòng chúng sinh thì làm sao ta
có thể làm được?”(If the blessed Buddha cannot please
all sentient beings, then how could I). Ngay cả một đấng giác ngộ
có trí tuệ và quyền năng vô hạn và có ý nguyện cứu độ
chúng sinh thoát khổ cũng không thể giải trừ nghiệp cá nhân
của mỗi người được.
John
Avedon: Phải chăng điều này đã làm ngài không cả lo khi trông
thấy cảnh khổ của sáu triệu dân Tây Tạng, những người
mà ngài có trách nhiệm trong một chừng mực nào đó?
Dalai
Lama: Động lực của tôi hướng về toàn thể chúng
sinh. Tuy nhiên, ở một mặt khác tôi cũng hướng về những
người dân Tây Tạng. Nếu một vấn đề có thể giải quyết
được, có thể sửa đổi được, thì không có gì phải lo
nghĩ. Nếu không thể sửa đổi được thì lo lắng cũng bằng
không. Lo nghĩ không có một chút ích lợi nào cả.
John
Avedon: Nhiều người cũng nói như vậy, nhưng ít có người
nào làm theo. Ngài luôn luôn nghĩ như vậy hay ngài đã phải
học dần dần điều này?
Dalai
Lama: Quan điểm này được phát triển từ sự tu luyện
nội tâm. Nói chung thì sự đau khổ luôn tồn tại. Trong chừng
mực nào đó, người ta phải gặp những nghiệp quả xấu
mà mình đã tạo ra trong quá khứ qua thân, khẩu, ý; mà ngay
bản chất của con người cũng là đau khổ. Theo quan điểm
của tôi, không chỉ có một mà còn có nhiều nhân tố khác
nhau tác động. Trên quan điểm thực thể gây ra đau khổ,
thì như tôi đã nói, nếu nó có thể sửa chữa được thì
không việc gì phải lo nghĩ. Nếu không thể sửa đổi được
thì lo nghĩ cũng không ích lợi gì. Trên quan điểm nhân quả
thì đau khổ là hậu quả của ác nghiệp do chính mình tạo
ra trong quá khứ chứ không phải do ai khác. Những nghiệp xấu
này không bao giờ tàn lụi nếu mình không tu tập ngay từ
bây giờ. Ác nghiệp sẽ sinh ra quả xấu nếu mình không dùng
thiện nghiệp để xóa mờ. Người ta không bao giờ gặp những
nghiệp quả báo ứng nào không do chính mình tạo ra. Sau cùng,
về mặt bản chất của khổ đau là do tính chất của năm
uẩn tạo thành, đưa đến sự khổ lụy cho thân và tâm. Năm
uẩn, gồm sắc, thọ, tưởng, hành và thức, là nền móng
của đau khổ. Chừng nào còn có thân năm uẩn thì người
ta còn phải chịu đau khổ. Xét một cách sâu xa thì khi chúng
tôi bị mất độc lập và phải sống ở xứ lạ quê người,
chúng tôi chịu những loại khổ đau nào đó, còn khi chúng
tôi trở về Tây Tạng và giành lại nền độc lập tự chủ
thì cũng sẽ có những loại khổ đau khác phát sinh. Bản chất
của đời sống là như vậy. Người ta có thể cho tôi là
bi quan, nhưng tôi không bi quan, mà đây là triết lý hiện thực
của Phật Giáo (Buddhist realism). Giáo lý này giúp chúng tôi
đối diện với mọi hoàn cảnh của kiếp người. Có lần,
khi năm mươi ngàn người thuộc bộ tộc Thích Ca (Sakya) bị
giết, Phật Thích Ca đã không đau khổ, ngài đứng tựa vào
một gốc cây và nói rằng “Hôm nay ta hơi buồn vì năm mươi
ngàn người thuộc bộ tộc của ta bị giết” (I am a little
sad today because fifty thousand of my clans men were killed). Đức Phật
đã không quá xúc động vì sự kiện này. Như vậy đó, ông
thấy chứ (cười), đó là nghiệp quả của họ. Đức Phật
không thể làm gì được cho họ cả. Những ý nghĩ như
vậy làm cho tôi mạnh mẽ hơn và năng động hơn. Đây không
phải là sự quẫn trí hay sự thoái chí khi đối diện với
khổ đau vốn có ở trong bất cứ hoàn cảnh nào.
John
Avedon: Tôi để ý thấy ngài làm vườn và sửa chữa những
đồ điện tử để giải trí?
Dalai
Lama: À, đó là những thú vui của tôi, để giết thời
giờ ấy mà (cười). Khi thấy mình có thể sửa chữa được
một món đồ gì đó thì tôi hài lòng thực sự. Hồi nhỏ
tôi đã tháo tung những món đồ ra, vì tôi tò mò muốn biết
những thứ máy móc đó hoạt động ra sao. Tôi muốn biết
ở bên trong cái động cơ có cái gì. Nhưng bây giờ tôi chỉ
tìm cách sửa những cái gì bị hỏng mà thôi.
John
Avedon: Thế còn chuyện làm vườn?
Dalai
Lama: Làm vườn ở Dharamsala là chuyện gần như bất
khả. Dù cố gắng cách mấy thì mùa mưa đến mọi thứ cũng
tiêu tan hết. Ông cũng biết đời sống tu sĩ là rất đáng
hài lòng, rất hạnh phúc. Bằng chứng là những người hoàn
tục nói rằng họ luyến tiếc giá trị của đời sống tu
hành. Nhiều người đã nói với tôi rằng nếu không có sự
tu hành thì đời sống sẽ rất khó khăn và phức tạp. Với
vợ con, người ta có thể có hạnh phúc trong một thời gian
nào đó. Nhưng về lâu về dài thì sẽ có những vấn đề
tự nhiên xuất hiện. Người ta sẽ bị mất một nửa sự
độc lập và tự do. Nếu khi từ bỏ sự độc lập của mình
để nếm trải sự đời rắc rối mà có một lợi ích hay
một ý nghĩa nào đó thì việc này cũng xứng đáng. Nếu đây
là hoàn cảnh có ích lợi cho người khác thì như vậy cũng
tốt. Sự rắc rối kia trở nên có giá trị, bằng ngược
lại thì quả thật không xứng đáng để theo đuổi.
John
Avedon: Nhưng nếu không có cha mẹ thì sẽ không có chúng ta
ở đây để nói chuyện này.
Dalai
Lama: Tôi không nói rằng có con cái là điều xấu, hay
mọi người nên đi tu hết. Điều đó là bất khả (cười).
Tôi nghĩ rằng nếu người ta sống một cách đơn giản thì
sự thỏa mãn sẽ xuất hiện. Đơn sơ giản dị là nhân tố
quan trọng đưa đến hạnh phúc của con người. Ít muốn,
biết đủ và thỏa mãn những gì mình đang có, đó là điều
quan trọng. Có bốn điều giúp người ta trở thành một người
cao cả, đó là thỏa mãn với những thực phẩm nào mình có.
Thỏa mãn với y phục bằng vải vụn, hay chấp nhận bất
cứ một thứ y phục nào, không muốn những y phục cầu kỳ
hay màu sắc rực rỡ. Thỏa mãn với chỗ ở và vừa đủ
để trú nắng mưa, và sau cùng là hoan hỷ từ bỏ trạng thái
tâm mê muội và gây dựng những trạng thái tâm tỉnh thức
trong thiền định.
Source:
Sidney Piburn (1993), The Dalai Lama, A policy of Kindness, Snow Lion Publications,
Ithaca, New York, USA