(Niềm
tri ân sâu thẳm vô bờ, xin gởi về Pháp-sư của tôi,
người Thầy tôn-kính đã trực tiếp dẫn dắt và khích
lệ tôi dõng mãnh buông tay vào hố thẳm không đáy của
tự tâm để khám phá cội nguồn nguyên uỷ) Nhuận-Bảo
Sài-gòn,
một buổi sớm thu tàn. Những cơn mưa giông cuối mùa thưa
thớt dần. Gió tây bấc trở trời lành lạnh. Trong căn gác
gỗ yên ả, tĩnh mịch, nhỏ nhắn chỉ đủ kê vừa cái giừơng
xếp và chiếc bàn con, còn cái võng thì móc lên vách, mùi
hương trầm thoang thoảng đưa bay như vây bọc mọi thứ, làm
cho căn gác đỡ lạnh lẽo hơn. Từ cái bát nhan đặt trên
giá gỗ đơn sơ gắn lên vách, phía bên dưới bức hình Tổ-sư
Bồ-Đề Đạt-ma, khói hương từng sợi mong manh, biếng lười,
quyện nhẹ lên cao, len lỏi, cuốn hút theo các khe hở của
mái tôn, tan biến vào hư không.
Nằm
lặng yên nhắm mắt trên chiếc võng đung đưa nhè nhẹ theo
quán tính, tiếng kẽo cọt nho nhỏ, đều đều bên tai, u buồn
xa vắng, như tiếng vang vọng não nề từ một cõi mơ hồ
nào đó than thở cho kiếp nhân sinh. Thoắt chốc, tiếng kẽo
cọt như xa dần, xa dần rồi mất hút. Mắt tôi vẫn mở,
bất động, lặng nhìn từng sợi khói nhẹ tênh, lửng lơ,
biến ảo, mà hồn thì chìm sâu vào vô thức, nhạt nhòa, tan
lỗng, xa xăm.
Từng
giọt thời gian ngừng trôi, lắng đọng, rồi bất chợt vỡ
toang, bể nát, tuông xả, cuốn đi tất cả, chỉ còn lại
trước mắt cái không gian trong trẻo, bao trùm, xuyên suốt,
mênh mông, vô bờ bến. Tất cả đều mất phăng dấu tích.
Khái niệm thời gian và khoảng cách không còn. Với tay lấy
quyển sổ và cây bút , tôi hí hoáy ghi chép lại cái khoảnh
khắc nhẹ nhàng, êm ả, hiếm hoi vừa chợt đến bên mình
.
Kẽo
cà kẽo cọt võng đưa,
Tiếng
trong tiếng đục nhặt thưa canh trường,
Gác
đơn kê đủ chiếc giừơng,
Mà
mênh mông lớn lạ thường biết bao
Đông,
Tây, Nam, Bắc phương nào ?
Bến
bờ vô tận lạc vào không tâm
Nhặt
khoan hun hút xa dần
Thời
gian mất dấu, trong ngần hư vô.
Thả
người trên võng, miệng lẩm nhẩm, ngâm nga mấy câu thơ vừa
viết vội, tôi dõi mắt xa vời, như tan lỗng trong khói sáng
hư ảo, mông lung. Bất chợt ánh mắt tôi bắt gặp bóng hình
Tổ-sư Bồ-đề Đạt-ma trên vách. Xin được nói thêm là
từ khi tự tay sửa chữa căn gác gỗ ọp ẹp nhỏ xíu này
cho riêng mình dùng làm nơi ở cách biệt để nghiên cứu và
tu học, tôi hay có thói quen thả người toòng teng trên võng,
đối diện với tấm hình của ngài Bồ-đề Đạt-ma, rồi
nằm yên hàng giờ hay nhiều giờ liền, âm thầm lặng lẽ
ngắm nhìn khuôn mặt và đôi mắt của Ngài. Và chính tôi
cũng không biết có một hấp lực vô hình nào đó đối với
tôi hay không, mà cứ mỗi lần trông thấy bức tranh là tôi
lại chuyển ánh nhìn, chăm chăm vào đôi mắt ấy .
Bức
hình này tôi được thầy Nguyên-Pháp, một vị chơn tu đạo
hạnh, lại cũng là người đồng hương, tặng cho. Tôi còn
nhớ rất rõ, vì chỉ mới đây thôi, có một lần tôi cùng
với người bạn đạo tên là Đình-Nghiêm đến thăm thầy
Nguyên-Pháp, khi ấy thầy đang tu hành tại chùa Huệ-Nghiêm,
một tòng lâm rộng lớn ở về phía tây của thành phố này.
Hôm ấy, trước khi từ biệt Thầy để ra về, hai chúng tôi
được Thầy tặng cho mỗi người một bức tranh lụa hình
Bồ-đề Đạt ma. Về nhà tôi lồng kính bức tranh và treo
trang trọng trên vách đối diện với tầm mắt mình mỗi khi
nằm lên võng. Bức tranh miêu tả Sơ-tổ tay chống gậy trúc,
đầu gậy gai gốc ngoằng ngoèo, treo lủng lẳng chiếc giày
đơn độc; Ngài đang giong rủi trên đường, một thân cô
độc, trong cảnh quạnh hiu; trước mặt là núi cao sông rộng,
chập chùng dốc đèo hiểm trở, còn bên dưới đôi chân trần
là hố hầm, gò đụn, chông gai. Không biết tại sao cứ mỗi
lần nhìn bức tranh ấy, tim tôi lại se thắt, lòng quặn dâng
tràn một niềm thổn thức không nguôi; có lúc nhìn bức tranh
mà nước mắt tôi cứ chực tuông trào, như ái ngại, xót
thương về hình ảnh của một người thiết thân từ đời
kiếp xa xăm nào, đã vì cái khổ của chúng sinh, trong đó
có tôi, mà người ấy đã phát đại thệ nguyện xả thân
trọn một kiếp người, nhiều kiếp người, độc bộ bôn
ba, dãi dầu sương gió không ngoài mục đích cao cả duy nhất
là cứu vớt lầm than.
Trong
suốt mấy năm qua, ngày nào cũng có dịp nhìn ngắm, nên gần
như tôi đã thuộc lòng từng nét vẽ, dù nhỏ nhất, mờ nhạt
nhất của bức tranh.
Thế
nhưng hôm nay tôi trông thấy hình ảnh ngài Bồ-đề Đạt-ma
trong bức tranh như có cái gì đó sống động khác lạ thường
ngày. Thoáng chút hoảng hốt và một cảm giác sờ sợ, gai
gai, tôi tự trấn tỉnh mình bằng cách hít một hơi thật
dài, ngã người ra võng trong tư thế nhìn ngắm thường ngày,
rồi lặng lẽ kiểm tra lại bức hình một lần nữa. Cũng
vẫn vầng trán cao rộng quen thuộc ấy, cũng hàm râu rậm
rạp dị kỳ tóat lên vẻ cương nghị bất khuất; cũng đôi
mắt tròn xoe sâu thẳm mênh mông, nhìn thế gian tràn đầy
yêu thương triều mến, nhưng lại không dấu được một nỗi
niềm, một sự ấm ức khó tả nên lời. Đôi mắt bừng lên
như tức giận của một người cha hiền đang kiên trì và
cố gắng hết sức, bằng mọi phương tiện có thể, để
khai trí cho đứa con yêu dấu của mình nhận ra chân lý, như
một cộng với một là hai, nhưng người con thiểu trí không
thể nào hiểu được thầm ý của người cha. Rồi thêm một
chút mơ hồ loáng thoáng đâu đây hình ảnh của Tổ-sư đang
ngồi tịch mặc, ấm ức nhìn vách đá suốt chín năm trường
với nỗi âu lo chánh pháp của Như-lai chưa kịp trao truyền,
trong sự giục giã cấp bách của thời gian, khi mà hơi thở
trong cái thân tứ đại duyên hợp sắp tắt, khi mà chúng sanh
cõi Đông này chưa một ai có thể hiểu được Ngài. Nỗi
khổ tâm ấy, như niềm xót xa vừa thương, vừa giận, vừa
lo lắng cho tương lai mù mịt của đứa con khờ trên bước
đường chông gai trước mặt, đã in đậm lên trên đôi mắt
ấm ức của vị cha già.
Bỗng
nhiên tôi chợt có ý nghĩ so sánh đôi mắt ấy với đôi mắt
của ai đó ở đâu đây mà tôi đã từng gặp, đã từng lặng
lẽ nhìn nhau, mà có lúc, tuy không nói với nhau một lời nào,
nhưng qua ánh mắt sống động kia, đã cùng tôi có sự chan
hoà, cảm thông sâu sắc.
Nghĩ
mãi về đôi mắt ấy mà nghĩ không ra được, tôi bèn đứng
dậy, trịch một bước lại chiếc bàn con, ngồi cầm bút
viết liền bốn câu vần lục bát vịnh bức tranh Bồ-đề
Đạt ma đang treo trên vách.
Tròn
xoe mắt sáng mênh mông,
Hài
đơn bạn lữ thong giong tháng ngày,
Chân
trần nhẹ tếch đường mây,
Tiếng
khua đầu gậy bận gì Có, Không !
Viết
xong ngâm nga, ưng ý, chép ngay vào quyển tập, rồi lại trầm
ngâm chú mục vào đôi mắt có ánh nhìn mênh mông, sâu thẳm,
triều mến vô vàn kia, ẩn hiện qua hình ảnh một người
thân thương nào đó mà tôi đã từng bắt gặp trong đời
nhưng chưa nhớ ra.
Phía
dưới đôi mày rậm kia, ánh mắt vẫn hiền từ nhìn tôi,
vừa như ẩn chứa một nỗi niềm không thể nói ra được,
vừa như thúc giục, như thách thức xem trực giác của tôi
mạnh mẽ đến đâu.
Tôi
soát xét lại trong tôi từng người một, bắt đầu từ những
người gần gũi nhất trong gia đình rồi sau cùng đến những
người thân quen và mới gặp. Chịu thua ! Không ai có đôi
mắt giống như đôi mắt trong bức hình Bồ-đề Đạt-ma trên
vách, vì tất cả những đôi mắt kia đều tự phô bày không
ít thì nhiều sự tầm thường, trần trụi, lạc lõng, phàm
tình, ánh nhìn hạn hẹp trong không gian và giới hạn trên
bề mặt của sự vật; còn đôi mắt của Sơ-Tổ thì toát
lên một sự thánh thiện, quang minh, và từ bi vô hạn, ánh
nhìn mênh mông, rộng lớn, thẳm sâu, xuyên suốt, vô bờ.
Một khoảnh khắc nghi ngờ hiện ra trong tôi: hay là mình vọng
tưởng về một sự mơ hồ nào chăng? Không, không thể nào
mơ hồ, vọng tưởng được. Tôi tự trả lời mình một cách
chắc chắn. Thật có đôi mắt ấy trong đời, của một người
hiện hữu mà tôi đã từng gặp, trí nhớ cũng như trực giác
mách bảo với tôi như thế.
Ngước
trông lên vách, đôi mắt Sơ-tổ vẫn nhìn tôi, cũng lại vừa
như thách thức, vừa như khích lệ, có lúc như mỉm cười
khoan-dung, tha thứ.
Không
gian tĩnh mịch, êm đềm, lặng lẽ càng khiến cho tôi bị
cuốn hút sâu thêm vào đôi mắt thăm thẳm, mênh mông, xa vời,
xuyên suốt đó. Bất giác tôi như bơi lặn, như vút bay,
lượn lờ, rồi tan biến trong cái thế giới hư vô, trong trẻo,
mênh mông, vô bờ bến của đôi mắt. Một sự hân hoan, vui
tươi, nhẹ nhàng, thanh thoát, diệu lạc mà tôi chưa từng
gặp, chưa từng cảm nhận trong đời, chợt nảy nở, rồi
tang lỗng vào thế giới trong veo, xuyên suốt, mênh mông, bất
tận đó, mà tôi không còn thấy cả chính mình nữa. Tất
cả đều là tôi, là cả thế giới trong veo không một vật,
vô hình, vô ảnh; tất cả, theo tôi tự biết, lúc này chỉ
là một cái thấy biết hoàn toàn, trọn vẹn, xuyên suốt,
không có điểm dừng, không có bề mặt, không có đối tượng,
là không là gì cả, mà trong đây chỉ có sự diệu lạc, mát
mẻ, hân hoan; thời gian và không gian mất dấu và cũng không
có ai trong đây, hoặc có thể nghĩ suy, tư tưởng hay thốt
nên lời. Tôi bất động nhưng thấu suốt muôn ngàn cảnh
sắc, bản thể tràn ngập vô biên, không ngăn ngại. Trong chỗ
tan lỗng hư vô, chợt một niệm nhỏ xảy sanh trong tôi, mặc
dù không còn thấy tôi đâu nữa, tôi tự hỏi, mình đang ở
đâu đây? Câu hỏi vừa lập thành, hốt nhiên tôi sực tỉnh.
Trước mắt tôi mọi vật tuông về, hiện diện cùng khắp,
tất cả đều có hình thể và sắc màu; tất cả đều có
bề mặt ngăn cách và cản ngại cái thấy xuyên suốt của
tôi một sát na về trước. Tôi tự hỏi, mình mơ ngủ chăng?
Không, tôi không mơ, tôi đang tỉnh. Tôi đang rất tỉnh táo
và thực sống trọn trong cái chỗ "một" của chính mình một
sát na trước, giờ thì đã xa rồi. Tự nghiệm lại nhiều
lần, tôi đã hiểu, thì ra, cái chỗ mà tôi cho là đang tỉnh
khi nói chuyện với các bạn và với chính mình, thì đó lại
là một giấc mộng dài không tỉnh của những hình tướng
huyễn hoặc, như có như không. Xác thân tôi như đang trong
mộng du, đang nói mớ với người và cảnh vật trong chiêm
bao. Còn thật tỉnh là cái tôi "một" tuyệt đối, sáng sủa,
trong trẻo, tự tại thường ra vào trong cái xác thân tứ đại
ngũ uẩn này mà chưa từng bị ngăn ngại, cũng như dung thông,
bao trùm, xuyên suốt với những gì có hình tướng khác; nó
cũng là tánh biết tuyệt đối, mà từ lúc sanh ra cho tới
giờ tôi chưa hề biết. Cảm giác vào ra trong đây tôi
tự điều chỉnh được trong tích tắc từ một cái láy nhỏ
bằng sự phân biệt hoặc vô phân biệt của thức biết, khiến
tôi tự biết trong ta có hai con người, cùng ra vào trước
mỏ ác, đan xen lẫn nhau, hoà làm một với nhau mà chưa từng
ngăn ngại nhau. Một con người thật, cũng là bản thể tuyệt
đối, thường hằng, tự tại, xuyên suốt, bao trùm, không
một tướng nào và một con người do nhơn duyên hợp thành
của tứ đại, có hình tướng cao thấp, nhỏ to, đen trắng,
có trong ngoài, có đến đi, mất còn, sống chết. Tôi biết
như thật, từ cái thân tâm mà tôi đang đeo mang, tức cái
"tôi" đang đứng ngồi, uống ăn, nghĩ suy, nói nín này, nói
một mà thật ra cũng chẳng phải một, chẳng phải hai, cũng
không phải khác, mà là một nhất hợp tướng; tướng nhất
hợp ấy, vào ra, đan xen nhau, cùng hoà làm "một" như nước
với sữa, tuy tự biết rõ ràng mà nói không thể tới, vì
tự chỗ một tuyệt đối trong đây, không có đối đãi, nên
chẳng thể thốt nên lời. Bản thể chân thật của con người
thì tuyệt đối, phi hình tướng, nên không thể tạo ra cái
tướng "nói"; còn cái có hình tướng thì chỉ là duyên hợp
của tứ đại, ngũ uẩn, là sản phẩm của thức, cũng như
thức là sản phẩm từ bản tánh trùng trùng duyên khởi của
thể tánh bổn lai, tuyệt đối. Thế nên những gì từ duyên
hợp nói ra được bằng thức biết do duyên sanh, chỉ là phần
hình tướng, hệ luỵ vào khái niệm nhị nguyên phân biệt,
tức sự tự tạm đặt tên để gọi, chỉ căn cứ được
trên bề mặt của hình tướng, không chân thật. Chỗ nói
đó, chỗ gọi tên đó, hoàn toàn không đúng "như tánh" của
từng sự vật, cũng là thật tướng vô tướng, tức "không
một tướng nào".
Thì
ra, cái "cữa không cữa" mà lâu nay tôi đã được nghe Thầy
đề cập tới mỗi khi trò chuyện với nhau, nay tôi đã rõ.
Cái cữa ấy thật không cữa, không một cữa nào, vào ra trơn
tru như xuyên qua ánh sáng, chỉ khi nào cái kẻ muốn vào kia
cũng thật sự "không-ta". Bằng còn thấy có ta trong ý niệm
thì trước mắt hoàn toàn không có một cữa nào, mà chỉ
là một bức tường đá kiên cố, cao dài vô biên vô tận,
khó bề lọt sang bên kia.
Tôi
vui sướng cầm bút viết lên mấy giòng để nói về cái cữa
không cữa của Bồ-đề Đạt-ma, và trạng thái của chính
thân tâm mình trước và sau khi khám phá nó:
Cữa-không
vào không cữa,
Không
cữa làm sao vào?
Không
cữa sao không vào?
Chợt
vào, không cữa thật!
*
Tôi
bất lực trong sự tìm kiếm ai là người có đôi mắt giống
như đôi mắt của Tổ-sư, và thiếu chút nữa thì sự tìm
kiếm ấy đã bị bỏ quên, do vì tôi quá vui mừng bỡi sự
khám phá ra thật có hai con người trong tôi mà không ngăn ngại
nhau.
Bất
chợt tôi nghĩ đến một người may ra có thể giúp giải đáp
chỗ thắc mắc riêng tư này của tôi. Người mà tự lâu nay
có thể trả lời những câu hỏi hóc búa của tôi, cũng như
giải ngộ cho tôi nhiều mối nghi, không ai khác hơn là Thầy
tôi. Nghĩ đến Thầy, tiếng"Thầy" vừa vang vọng trong tâm
và hình bóng Thầy cũng vừa hiện ra trong trí, như đang đối
diện với tôi, khiến tôi như người đang trong mơ chợt tỉnh.
Thầy ! Thầy ! Thầy ! Phải rồi, không còn nghi ngờ gì nữa,
đôi mắt trên kia chính là đôi mắt của Thầy mình. Cái khoảng
không phi thời gian và không gian, trong trẻo, mênh mông, vô
cùng tận đằng sau đôi mắt mà tôi đã từng lặn ngụp,
tan biến trong đó, cũng như bây giờ đang kiếm tìm gốc gác
của nó, chính là đôi mắt của Thầy, vị Pháp-sư kính mến,
từ bi nhưng nghiêm nghị, thân thương nhưng cũng rất qui củ,
phép tắc của tôi.
Đôi
mắt của Thầy vừa hiền, vừa nghiêm, ánh nhìn xuyên suốt,
mà mấy lúc gần đây, mỗi khi có dịp cùng ngồi bên Thầy
đàm đạo, đằng sau lằn mi của nét mặt từ hòa, vô ưu
kia là cảnh giới không-tịch, bao la. Mỗi khi thầy nhìn tôi
là không còn lấy gì để tôi có thể dấu che được, vì
tự thấy mình tan biến vào không gian mênh mông, sâu thẳm,
vô bờ đằng sau đôi mắt của Thầy.
Tôi
chép bốn câu vần lục bát vịnh bức tranh Bồ-đề Đạt-ma
mà tôi đã làm trong phút giây ngẫu hứng vừa rồi, định
sẽ đem ra chùa tặng Thầy, với tất cả tấm lòng của mình,
gọi là chút ơn đền trong muôn một. Chiều hôm ấy tôi đến
chùa và trình Thầy mấy bài thơ đầu tay của mình. Xem xong,
Thầy hoan hỉ khuyến khích tôi:"Anh đã được pháp lạc; hãy
sống với nó và khéo giữ gìn. Anh nên vì người khác mà
viết, cũng là cách để vừa tu, vừa học, vừa thực hiện
tâm nguyện từ lâu xa của mình đó".
Thật
ra, những bài viết của tôi chỉ là mớ ghi chép hỗn độn,
không đầu, không đuôi, viết trong sự tuỳ thuận nhơn duyên
ngẫu nhiên bắt gặp trong tâm mình; sự viết ấy đối với
tôi chỉ là cách mượn chữ ráp thành câu để may ra có thể
phương tiện làm sáng tỏ chút ít cội rễ nguồn tâm, góp
một phần nhỏ kinh nghiệm cho những người sơ cơ như mình
đang trên đường cầu học môn giải thoát phiền não, tử
sanh. Lại nữa, viết lách đối với tôi chỉ là sự bất
đắc dĩ cốt để làm vui lòng Thầy mình và cũng là cách
để tự tu học như lời Thầy dạy là chính. Không trau chuốt
văn vẻ, không uốn nắn từng câu từng chữ, tâm sao lời
vậy, như người đang đói bưng bát cơm ăn mà không cầu lọc
lừa, chê khen, ngon dở, chỉ cần no bụng để bảo dưỡng
cái xác thân đang tu học mà không làm khuấy động cái tâm
an nhiên, thanh tịnh của kẻ đang cầm bát cơm kia. Viết cũng
vậy, chỉ cốt sao để cho các bạn đồng môn dễ nhận ra
chính họ ngay đó cùng mình một chỗ "đang-là", cũng là một
cách để minh chứng thực tại trải nghiệm. Thế thôi. Còn
nội dung thì cứ tuỳ duyên. Tuy nhiên, mỗi khi cầm bút, tôi
vẫn thầm mong sao những lời thô thiển, mộc mạc của mình,
được giống như một tiếng kêu "cạch" khô khan, tầm thường,
xuất phát từ một mảnh ngói vỡ, vô tình rơi chạm nhằm
thanh trúc, khiến hành giả nào đó gặp lúc tròn duyên, bắt
nhịp theo tiếng kêu rỗng hoát, thênh thang không gốc gác mà
giật mình choàng tỉnh giấc mộng ngàn năm. Nếu được như
vậy thì hay biết mấy, vì biết đâu, nhờ chút công đức
này mà người viết có thể góp một phần nhỏ trong muôn
một để đền ơn chư Phật ba đời.
*
Ngắm
nhìn đôi mắt của Bồ-đề Đạt-ma Tổ-sư, bóng hình huyễn
ảo, nhạt nhoà hơn ngàn rưởi năm trước như hiện ra trước
mắt. Tôi lấy giấy bút làm ngay bài tụng về đôi mắt ấy,
đề là "Đôi mắt ấm ức".
Chín
năm ngồi ngó vách,
Cô
độc chiếc thân gầy,
Đất
dày trời cao thăm,
Riêng
khổ nào ai hay?
Bồ
tát thân đảm trách,
Pháp
Nhãn-tạng truyền trao,
Không
tâm vào cữa Phật
Không
cữa ấy cữa vào.
Chín
năm trường lận đận,
Pháp
Không-pháp chưa truyền
Sau
làn mi ấm ức
Diệu
Pháp Phật ai tuyên?
Pháp
duyên, Thần-Quang đến,
Uẩn
khúc chín năm tan
"-Một
hoa năm cánh trổ"
Phó
chúc thật rõ ràng!
Đơn
độc cùng gậy trúc,
Vun
vút vượt quan san
Thân
tâm về cõi tịnh,
Hài
đơn lưu thế gian !
Con
nay xin đảnh lễ
Đức
Đạt-ma Tổ-sư
Diệu
pháp pháp không-pháp,
Không
tâm tâm Phật-như.
Con
nay xin đảnh lễ
Đức
Bồ đề Đạt-ma.
Trước
ngàn ruởi năm lẻ
Muôn
sau Pháp chói lòa.
Tôi
đốt nén tâm hương tưởng nhớ Tổ-sư Bồ-đề Đạt-ma và
thầm cám ơn đôi mắt của Ngài. Ánh mắt rạng ngời thấu
suốt tâm tôi, soi sáng con đường an lạc, nhiệm mầu, chân
thật! Aùnh mắt sáng ngời, từ bi, rộng mở, thi thiết đón
nhận và dung chứa trọn vẹn tâm tôi, cái tâm tan lỗng làm
một trong chốn an bình, tịch lặng, vô biên!
Tôi
thầm lạy và cầu mong mười phương chư Phật hộ trì pháp-thể
Thầy tôi thường lạc ngã tịnh, để Thầy có điều kiện
hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh được trao phó của một trưởng
tử Như-lai.
Nam-mô
Thường Tinh-tấn Bồ-tát Ma-ha-tát.
Sàigòn
một ngày cuối thu năm 2000.