PHÉP
LẠ CỦA SỰ TỈNH THỨC
HƠI
THỞ CỦA ZOE
Thiều
ơi,
Ngày
hôm qua Steve tới thăm với chú bé Mickey 7 tuổi. Gớm, thằng
bé lớn mau quá đi thôi và nghịch ghê. Nó nói giỏi cả tiếng
Pháp lẫn tiếng Anh. Nó còn nói được tiếng lóng học ở
ngoài đường nữa. Trẻ con bên này được nuôi dạy khác
với lối nuôi dạy trẻ con bên mình. Cha mẹ chúng để chúng
“tự do phát triển”. Suốt hai giờ ngồi nói chuyện, Steve
phải để ý tới thằng bé. Nó chơi, nó nghịch, nó xan vào
cả câu chuyện của người lớn. Nó làm cho người lớn không
nói chuyện với nhau được. Tôi đưa cho nó mấy quyển sách
hình của trẻ con, nhưng nó chỉ lật xem sơ sơ rồi lại bỏ
sách, xen vào giữa tôi và ba nó. Nó đòi sự chú ý của thế
giới người lớn.
Sau
đó nó ra ngoài sân chơi với một đứa trẻ con Tây hàng xóm.
Tôi mới hỏi Steve đời sống gia đình có dễ chịu không?
Steve không có câu trả lời dứt khoát. Năm ngoái hai vợ chồng
và thằng bé đi lndonesie trong một chuyến du khảo và ở lại
đấy một năm. Đi ba người, về bốn người. Họ mới trở
lại Paris tháng trước.
Marie
là một họa sĩ, Steve nói từ khi sanh Zoe, Marie buông bút không
vẽ nữa. Tất cả thì giờ, cuộc sống, thân mạng là để
dành cho cô bé mới ra đời. Marie cũng ít nói đến Mickey nữa.
“Không phải là Marie không thương Mickey" Steve nói "Nó thương
thằng bé lắm, nhưng hiện giờ nó chỉ sống cho Zoe. Chừng
một năm nữa tôi biết nó sẽ cầm bút trở lại và xem Zoe
ngang hàng với Mickey".
Steve
nói "mấy tuần nay, ít khi Steve ngủ được một giấc dài.
Trong đêm, Marie cứ thức dậy, giựt mình và vì mệt quá nó
bảo tôi trở dậy xem bé Zoe còn thở không. Tôi chiều Marie,
trở chừng em bé rồi lại trở về ngủ lại. Có lần mệt
quá tôi nói : thì mới một giờ trước đây nó đang thở
mà, không lý gì bây giờ nó hết thở. Marie năn nỉ, tôi lại
chiều lòng, có khi bực quá, tôi không chịu trở dậy, và
Marie phải trở dậy. Có đêm chuyện đó xảy ra tới hai lần.
Đời
sống gia đình có dễ chịu hơn đời sống độc thân không?,
Steve không có câu trả lời dứt khoát. Nhiều người nói :
"có đời sống gia đình thì cuộc sống ổn định hơn, thăng
bằng hơn. Steve không nói điều đó đúng mà cũng không nói
điều đó sai. Anh ta chỉ ậm ừ, nhưng mà tôi hiểu. Steve
nói “Tôi mới tìm ra một cách để có thật nhiều thì giờ",
Tôi hỏi : "Cách gì?”, Steve nói : "trước kia tôi thường
chia thời giờ của tôi ra làm nhiều phần, một phần tôi
dành cho Mickey, học bài với nó, đọc truyện cho nó, tắm
rửa nó. Một phần tôi dành cho Marie, giúp nàng trong việc
lo lắng cho Zoe, đi chợ cho nàng, mang quần áo và tã đi tiệm
giặt, nói chuyện với nàng khi mấy đứa nhỏ đã đi ngủ.
Ngoài những thì giờ dành cho 2 người (Tôi xem Marie và Zoe
là 1 người. Bởi vì hơi thở của Zoe cũng là hơi thở của
Marie. Nếu một bên không thở được thì bên kia cũng bị
ngạt hơi), Tôi còn có thì giờ dành cho riêng tôi. Tôi đọc,
viết khảo cứu, đi bách bộ, còn thì giờ đi làm kiếm ăn
ở sở thì khác. Đó là thì giờ của Sở”.
“Nhưng
bây giờ tôi không còn phân chia thời giờ như vậy nữa. Tôi
lấy luôn thời giờ của Marie và của Mickey làm thời giờ
của tôi. Khi tôi học bài chung với Mickey, tôi không còn có
ý niệm : đây là thời giờ của tôi dành cho Mickey, sau khi
xong việc này tôi mới thật có thời giờ cho tôi. Trái lại,
tôi tìm cách sống cho tôi trong khi học bài với Mickey, tôi
chia xẻ sự có mặt của nó. Tôi tìm được hứng thú trong
khi học bài với nó và như thế là thời giờ cho nó trở
thành thì giờ của tôi. Đối với Marie cũng vậy, bất ngờ,
tự nhiên tôi có vô khối thì giờ cho tôi”.
Steve
vừa nói vừa cười. Tôi thì ngạc nhiên. A! cái anh chàng này
khôn nhỉ! Điều này đâu phải anh ta nhờ đọc sách mà biết.
Điều này là điều anh ta tự tìm ra trong đời sống hàng
ngày.
Mấy
tháng nay tôi giảng kinh quán niệm mỗi chiều thứ bảy. Và
sau khi giảng, những người trẻ đặt các câu hỏi về những
phương thức áp dụng các nguyên tắc nêu ra trong kinh này về
đời sống hàng ngày. Chúng tôi cùng bàn luận về phương
cách dùng thì giờ.... Điều làm tôi ngạc nhiên là tuy Steve
chưa dự buổi giảng nào về kinh quán niệm trong mấy tháng
qua, Steve cũng đã đi tới một nhận xét mà vài anh chị đã
nêu ra trong các buổi thảo luận. Khả năng tiếng Việt của
anh chàng còn yếu khiến chúng tôi không mời tham dự buổi
giảng kinh và đàm luận.
NGUYÊN
TẮC RỬA BÁT ĐỂ MÀ RỬA BÁT
Thứ
bảy tuần rồi, tôi có đem chuyện Steve kể lại cho những
người tham dự buổi giảng kinh, có một anh nói : "Steve đã
tìm ra nguyên tắc nhưng chưa tìm ra phương pháp. Tôi nói :
"Tìm ra nguyên tắc được thì cũng tìm ra phương pháp được".
Nếu Steve tìm được hứng thú trong lúc học bài với Mickey
thì tức là Steve áp dựng hữu hiệu một vài phương pháp
nào đó mà Steve đã tự tìm ra một mình. Đâu có phải chỉ
có kinh quán niệm mới cung cấp được cho mình những phương
pháp. Steve tuy có học Phật vâ đọc được Sanscrit, nhưng
Steve không phải là người đã qui y. Nhưng không ai cấm người
không Phật tử thực hành những phương pháp Phật Giáo, với
lại phương pháp Phật giáo không phải là những phương pháp
duy nhất. Lại còn điều này nữa, không phải chỉ những
Phật tử mới tìm ra phương pháp Phật Giáo. Đức Thích Ca
Mâu Ni, các bậc Duyên Giác và Bích Chi Phật cũng đâu có là
Phật tử trước khi tìm được con đường và những phương
pháp đạt đạo, phải không?
Một
chị nói : "Thế thì một hôm nào đó, mình sẽ mời Steve tới
nói về kinh nghiệm của Steve cho mình nghe, mình có thể học
hỏi những kinh nghiệm của Steve. Tôi nghĩ khi chị ấy nói
như thế, chị xác nhận một điều quan trọng: người Phật
tử không nắm hết chân lý, người Phật tử có thể học
được kinh nghiệm của những người không phải Phật tử
và quan hệ hơn nữa, người Phật tử có thể học hỏi Phật
pháp với những người không Phật. Tôi nhớ lại câu nói
quan thuộc trong Phật Giáo Đại Thừa : “Phật Pháp tức là
thế gian pháp”. ( Phương pháp của Phật cũng là phương pháp
của cuộc sống) và “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế
gian giác” (Phương pháp của Phật áp dụng trong cuộc sống
không thể tách ra ngoài sự thức tỉnh của cuộc sống). Vậy
ta có thể nói : Phương pháp của kinh quán niệm cũng dính
líu tới sự thức tỉnh của Steve phải không?.
Nhưng
mà Steve cũng cô thể áp dụng những phương pháp dạy trong
kinh quán niệm, nếu Steve muốn, chắc đâu là những phương
pháp mà Steve tìm ra đã đủ để đưa Steve tới chỗ thành
công hoàn toàn. Mỗi đêm mà phải thức dậy chừng mười
lần để xem thử bé Zoe còn thở không, điều đó cũng hơi
làm mình bực mình đấy chứ. Nhiều người mới nghe đã có
thề gắt lên rồi, huống hồ là tự họ phải làm như Steve.
Biết đâu trong kinh quán niệm lại chẳng có phương pháp giúp
Steve xem thì giờ ngủ và thì giờ dậy của bé Zoe là một.
Các
tác viên Xã Hội của trường chắc hẳn cũng muốn biết xem
thành quả của Steve đạt được lớn lao tới chừng nào,
có phải không? Có tác viên nào mà lại chẳng thấy thời
giờ dành riêng cho mình quá ít ỏi.
Tôi
cũng là một loại tác viên. Thiều cũng là một loại tác
viên. Chúng mình cùng muốn biết làm thế nào Steve đã giật
dược vô khối thì giờ cho Steve. Steve đã đạt được "vô
khối. thì giờ" thật chưa! hay chỉ mới đạt trên nguyên
tắc?.
Bên
Mỹ có một anh chàng rất thân với tôi. Tên anh là Jim Forest.
Anh ta ở trong tổ chức Catholic Peace Fellowship. Ngày xưa anh
ta đã đốt thẻ trưmg binh chống chiến tranh và đi ở tù
hơn 1 năm. Hồi đó, nghe anh ta ở tù, tôi hơi ngại, bởi tánh
anh ta rất hoạt động, nôn nóng muốn hành động, sợ không
kham nổi sự tù túng trong phòng giam. Tôi viết cho anh một
lá thư rất ngắn rằng : "Hãy nếm trái quít của anh, hãy
hợp nhất với trái quít của anh, bởi vì ngày mai trái quít
ấy không còn nữa”. Tôi không ngờ câu nói của tôi có hiệu
quả. Ba năm sau hồi tưởng lại chuyện ấy, Jim viết : "Câu
ấy giúp cho tôi nhiều hơn là thầy có thể tưởng tượng!"
Nhờ câu ấy mà tôi tìm được sự an lạc nơi lao tù, làm
bạn được với lao tù và sống trong lao tù những ngày lợi
lạc”. Jim đã tìm được tự do trong lao tù, khôi phục được
thì giờ và sự sống của mình ngay trong lao tù. Jim cũng khá
đấy chứ, phải không Thiều?.
Mùa
đông năm kia Jim qua đây chơi. Tôi thường hay rửa bát sau
khi ăn cơm xong trước khi lên ngồi uống trà. Một tối Jim
đòi rửa bát. Tôi nói "rửa thì rửa nhưng phải biết cách
rửa" Jim nói : "bộ Thầy nói tôi không biết cách rửa chén
hay sao?”, Tôi nói : "Có hai cách rửa chén. Cách thứ nhất
là rửa để cho rửa xong, cách thứ hai là rửa không phải
để cho rửa xong”. Jim thích quá nói "Tôi sẽ chọn cách thứ
hai, rửa chỉ để rửa mà thôi”. Từ đấy Jim hay giành rửa
chén. Tôi giao "trách nhiệm" cho anh ta trong cả tuần. Sau đó
về xứ, anh đã tuyên truyền “chủ nghĩa rửa chén để mà
rửa chén” trong nhiều bài báo. Anh ta tuyên truyền nhiều
quá, ngay cả trong gia đình nữa. Khiến Laura cười bảo anh
“ở dưới bếp chỉ còn chén bát sạch, nếu anh thích rửa
bát để mà rửa bát quá như vậy thì sao anh không xuống đem
chén bát sạch ra mà rửa lại một lần nữa đi”.
Hồi
tôi còn làm "Điêu” tại chùa Từ Hiếu, cách đây 30 năm,
rửa chén bát không phải là một việc làm dễ chịu lắm
đâu nhé ! Vào những mùa an cư, hai người trực nhật phải
nấu cơm và rửa bát có khi cho cho hơn 100 thầy. Xà phòng không
có, chỉ có tro trấu và bẹ dừa mà thôi. Ngồi trước một
đống chén bát lớn như vậy rất nản. Nhất là nhằm mùa
đông phải nấu một nồi nước nóng khá lớn mới rửa được
vì nước lạnh, lạnh buốt. Bây giờ đứng rửa bát trong
bếp, có xà phòng nước, có tissus Metalliques, có nước ấm
chảy dưới tay mình, thật là dễ chịu hơn nhiều quá. ấy
vậy mà ai đã rửa bát ai cũng muốn rửa thật mau cho xong,
để mà lên ngồi chơi, có nhiều bà đòi chồng mua cho được
cái máy rửa chén. Thiều à ! cái máy giặt tôi còn chịu được
(Mấy năm ở ngoại quốc tôi chỉ giặt bằng tay chứ còn
cái máy rửa chén thật tình tôi không chịu nổi. Các bà ở
quê mình sẽ chép miệng 'Mèng đéc ơi, làm biếng đến vậy
là cùng ...
Theo
tinh thần của kinh quán niệm thì trong khi rửa bát mình chỉ
nên rửa bát mà thôi: có nghĩa là khi rửa bát mình có ý thức
được rằng sự kiện chính mình đang rửa bát? Mới nghe qua
thì thấy buồn cười. Rửa bát thì có gì hay ho đâu mà tập
trung ý lực vào đấy nhiều như thế. Nhưng quả thực tất
cả sự hay ho là nằm chỗ đó nghe Thiều. Sự kiện tôi đứng
đây rửa và rửa những cái bát này là một sự kiện mầu
nhiệm. Tôi hoàn toàn là tôi, làm chủ được hơi thở tôi,
ý thức được sự có mặt, ý thức tâm, ý thức ý và hành
động của tôi. Tôi không bị động trong hoàn cảnh như mộ
cái nút chai bị những đợt sóng trên mặt biển vùi dập
và lôi kéo, tâm ý tôi không tán thất trong loạn tưởng như
một mớ bọt biển trên đầu sóng, tan nát thảm thương khi
làn sóng đập đầu vào ghềnh đá.
LÀM
HOÀ VỚI MÚI QUÝT
Nếu
trong lúc rửa bát mà ta chỉ nghĩ tới tách trà, nghĩ tới
sự nghỉ ngơi hay bất cứ một công chuyện nào trong tương
lai, và chỉ muốn cho việc rửa bát qua mau, xem việc rửa bát
như một cực hình thì ta không “rửa bát để mà rửa bát”,
ta không sống trong thời gian rửa bát, ta không chứng thật
được phép lạ của sự sống trong thời gian rửa bát.
Không
biết rửa bát thì khi cầm tách trà lên, có thể ta cũng không
biết uống trà. Cầm tách trà lên ta có thể chỉ nghĩ đến
những chuyện khác mà không biết là ta đang nâng tách trà
trong tay. Cứ như thế, ta bị thâu hút vào trong tương lai,
bị con ma vị lai thâu hút hết hỗn vía, đi ngang sự sống
mà không sống được giây phút nào của sự sống. Câu chuyện
múi quít của Jim cũng đã xảy ra trong trường hợp này. Có
lần, lâu lắm rồi, Jim ngồi ăn quít với tôi mà cứ phóng
tưởng về công việc trong tương lai. Hồi ấy mỗi khi nghĩ
tới một dự tính nào có tánh cách hấp dẫn là Jim hoàn toàn
bị thu hút vào đó và quên hẳn thực tại trong hiện tại.
Tay Jim bóc vỏ quít mà miệng Jim như nhai hết vỏ quít này
tới vỏ quít nọ. Thế mà Jim đâu có biết mình đang ăn quít.
Tôi mới nói với chàng ta: "thì anh hãy ăn múi quít của anh
đi đã". Jim giật mình thức giấc. Lúc đó anh ta đang ăn hết
múi quít này đến múi quít khác, không ngưng. Thế mà tôi
lại nhắc anh ta ăn quít, làm như anh ta đang không ăn quýt.
Mà thực ra anh đâu có đang ăn quít. Anh ta đang "ăn” cái
dự tính của anh ta mà. Người xưa nói : “tâm bất tại yên,
thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất tri kỳ
v.” (Tâm ý không có mặt, thì nhìn mà không thấy, nghe mà
không rõ, ăn mà không biết mùi vị). "Tâm bất tại”, tức
là sự vắng mặt của ý thức. Một trái quít có nhiều múi,
ăn được một múi quít thì có thể ăn dược hết trái quít,
còn nếu một múi mà cũng không ăn được, thì cả trái quít
cũng không ăn được. Jim là một anh chàng thông minh. Anh ta
dừng tay lại nghe sự có mặt của múi quít trên lưỡi mình,
ăn múi quít một cách thật đàng hoàng. và gật dầu trước
khl đưa tay gỡ một múi khác. Sau cùng, như Thiều biết, anh
ta đã có thể xem lao tù như một múi quít và làm hòa bình
với múi quít đó.
Hồi
tôi mới vào thiền viện, cách đây cũng đã trên ba mươi
năm, các thầy trao cho tôi tập 'Tỳ Ni nhật dụng thiết yếu”
của Thiền Sư Độc Thể chùa Bảo Sơn và bảo tôi học thuộc
lòng. Đây là một tập sách mỏng chừng bốn mươi trang thôi,
ghi chép những ý tưởng mà Thiền Sư Độc Thể đã dùng để
thắp sáng tâm ý của ông trong mọi cử chỉ, hành động.
Ví dụ khi mới thức giấc vào lúc ban mai, ông cho khởi dậy
ý tưởng này trong trí : “vừa mới tỉnh giấc, tôi mong cho
mọi người sớm đạt được trạng thái tỉnh thức lớn,
hiểu biết thấu suốt mươi phương. Khi múc nước rửa tay,
ông sử dụng ý tưởng này để tự đưa mình về trạng thái
ý thức : “múc nước rửa tay, tôi mong cho mọi người có
những bàn tay trong sạch để đón nhận lấy chân lý”.
Toàn
tập “Tỳ Ni Nhật Dụng thiết yếu” chỉ có những câu
như thế. Mục đích là giúp người hành giả mới vào đạo
nắm lấy được tâm ý mình. Thiền Sư Độc Thể đã giúp
cho hành giả mới vào đạo thực hiện những điều dạy trong
kinh quán niệm một cách tương đối dễ dàng. Mỗi khi mặc
áo, rửa chân, đi cầu, trải chiếu, gánh nước, xúc miệng...
Người hành giả đều có thể mượn một ý tưởng trong “Tỳ
Ni Nhật Dụng” để nắm bắt tâm ý.
Kinh
Quán Niệm nói : “Khi đi hành giả ý thức rằng mình đang
đi, khi dừng ý thức rằng mình đang đứng, khi ngồi ý thức
rằng mình đang ngồi, khi nằm ý thức rằng mình đang nằm,
bất cứ thân thể mình đang được sử dụng trong tư thế
nào, hành giả cũng ý thức được tư thế ấy của thân thể.
Cứ như thế hành giả sống trong sự thường trực quán niệm
thân thể....ý thức được những tư thế của thân thể.
Tuy vậy vẫn chưa đủ, Kinh Quán niệm nói ta phải ý thức
về mọi hơi thở, mọi động tác, mọi hiện tượng sinh lý,
vật lý, cảm giác và tư duy liên hệ tới bản thân nữa.
Nhưng
quán niệm như thế để làm gì ? Thì giờ đâu mà quán niệm
? Một tác viên nếu bỏ cả ngày để làm việc quán niệm
thì còn thì giờ đâu nữa để làm công việc tác động quần
chúng trong phạm vi tái thiết và phát triển xã hội ? Anh chàng
Steve của chúng ta làm thế nào mà có thì giờ để vừa làm
việc vừa quán niệm, vừa học bài với Mickey, vừa đem tã
lót của Zoe tới tiệm giặt.
PHÉP
LẠ LÀ ĐI TRÊN MẶT ĐẤT
Steve
nó nói là từ khi biết lấy thì giờ của Mickey và của Marie
làm thì giờ của mình thì chàng ta có "vô khối”, nhưng đó
có thể là đứng trên nguyên tắc mà thôi. Bởi vì Steve có
thể quên lãng trong khi học bài với Mickey. Steve có thề quên
rằng thì giờ của Mickey cũng là thì giờ của mình, và như
vậy Steve có thể đánh mất thì giờ như chơi. Steve có thể
mong cho thì giờ ấy chóng qua hoặc sinh ra cáu kỉnh vì thì
giờ ấy không thú vị, không phải là thì giờ của mình.
Vì
vậy muốn thật sự có vô khối thì giờ (nghiã là không chỉ
trên nguyên tắc), Steve cần giữ ý thức “Đây là thì giờ
của ta” sáng tỏ mãi trong suốt thời gian học bài với con.
Trong khi ấy tâm ý con người hay buông lung và từ ý tưởng
này, tâm ý bắt sang ý tưởng khác như con vượn chuyền cành.
Muốn giữ cho ý thức hiện thực sáng tỏ (từ đây về sau
tôi sẽ dùng danh từ “chánh niệm” để thay thế cho mệnh
đề “ý thức sáng tỏ về hiện thực”) thì cần đôi chút
luyện tập. Tập luyện ngay trong đời sống hàng ngày và thực
tập trong những buổi Thiền Quán. Trong khi một tác viên đi
bộ trên con đường đất đỏ để tới đầu làng, anh cũng
có thể thực tập quán niệm. Anh đi từng bước vững chãi
trên con đường đất đỏ hai bên có viền cỏ xanh và khởi
chánh niệm trong trí anh, ý thức được là mình đang đi trên
con đường đó, con đường dẫn tới làng. Anh tập trung ý
tưởng vào đối tượng quán chiếu duy nhất ấy. Ta đi trên
con đường đầu làng, trời lạnh hoặc trời mưa. đường
khô hay con đường lầy lội. Anh cũng duy trì chánh niệm. Anh
không lập đi lập lại trong trí một cách máy móc "Tôi đang
đi trên con đường đầu làng!”. Máy móc là sự ngược lại
của chánh niệm. Có người niệm Phật như một cái máy trong
lúc tâm trí đi phiêu lưu xa thực tại ngoài ngàn dặm. Tôi
nghĩ niệm Phật như thế còn tệ hon là không niệm Phật.
Nếu ta thực sự duy trì được chánh niệm trong khi ta đang
bước trên con đường làng, ta sẽ thấy sự kiện ta đang
bước trên con đường làng là một sự kiện mầu nhiệm.
Một niềm vui nở ra từ tim ta như một đóa hoa và bao trùm
lấy thế giới hiện thực. Tôi ưa đi bộ một mình trên những
con đường quê, hai bên có những bông lúa hay cỏ đại và
đặt từng bước chân ý thức trên đất, biết mình trong
hiện tại đang đi trên hành tinh màu xanh kỳ diệu. Những
lúc như thế tôi thấy hiện hữu mầu nhiệm một cách lạ
kỳ. Người ta thường nghĩ rằng đi trên mặt nước hay đi
trên than hồng là thực hành phép lạ. Tôi nghĩ phép lạ không
phải là đi trên mặt nước hay đi trên than hồng mà là đi
trên mặt đất.
Hàng
ngày ta thực hiện phép lạ mà ta thường không hay biết. Thiều
nhìn thử lại xem trời xanh, mây trắng, lá đục và đôi mắt
bé Thi Hải Thiều Âm đan lay láy. Hai mắt của Hải Thiều
cũng là một phép lạ mà trời kia, mây ấy, lá nọ cũng là
phép lạ phải không.
Thiền
Sư Độc Thể nói : "Khi ngồi nên ngồi thật ngay thẳng và
khởi niệm”. Ngồi đây cũng như ngồi trên pháp tọa Bồ
Đề. Pháp Tọa Bồ Đề là chỗ một Đức Phật đã ngồi
mà chứng ngộ. Nếu có hằng hà sa số Phật tức là đã có
sa số người đã giác ngộ, và chỗ bãi cỏ tôi ngồi hôm
trước ấy thế nào cũng có một Đức Phật đã ngồi.
Thi
sĩ
Nguyễn Công Trứ cũng có ý thức sáng khi ông ngồi xuống
một chỗ ngồi và thấy dược rằng ngày xưa, cổ nhân đã
từng ngồi trên chỗ ông đang ngồi, và ngàn muôn năm sau cũng
sẽ có người tới ngồi chỗ ấy.
“Ngã
kim nhật tại tọa chi địa
Cổ
chi ngân tằng tiên ngã tọa chi
(Ngàn
muôn năm âu cũng thế ni
Ai
hay hát mà ai hay nghe hát)”.
Chỗ
ngồi và thời gian trong giờ phút ấy trở thành hợp nhất
trong một hiện tại vĩnh cửu.
Nhưng
người tác viên không phải có thì giờ để suốt ngày thong
thả chơi trên những con đường cỏ xanh và ngồi dưới gốc
cây. Người tác viên phải soạn thảo, dự án công tác, bàn
bạc với dân làng, giải quyết trăm vàn khó khăn lao động
nơi ruộng vườn, đối phó với cường hào ác bá. Trong thời
gian thực hiện công tác đó. Anh hoặc chị phải để tâm
ý vào công việc, đề cao cảnh giác, sẵn sàng phản ứng
một cách thông minh và hữu hiệu. Tất cả những điều ấy
chính là quán niệm. Thực tập quán cũng là để có thể để
hết tâm ý vào công việc, đề cao cảnh giác và phản ứng
thông minh. Trong lúc bàn cãi giải quyết và đối phó, sự
bình tâm và tự chủ là những yếu tố cần thiết để đi
tới kết quả tốt đẹp, anh chị tác viên nào cũng rõ điều
ấy. Nếu ta không tự chủ mà để cho sự nóng giận hoặc
đãng trí kéo đi thì hiệu năng của ta không còn bao lăm nữa.
Quán
niệm là một phép lạ mà ta có thề sử dụng để khôi phục
và thâu hồi tự thân. Giả dụ một nhà ảo thuật nào đó
đem thân thể ta chia làm nhiều phần và dặt mỗi phần ở
một địa phương khác nhau. Bàn tay đặt nam, bắp chân đặt
ở bắc, cánh tay đặt đông... Rồi dùng phép lạ hô lên một
tiếng. Mỗi phần của thân thể lặp tức liền lại với
nhau, để thân thể ta trở nên toàn vẹn trở lại. Quán niệm
cũng thế, đó là phép lạ để tụ họp trong chớp nhoáng
tâm ý phiêu lưu, tản mát khắp chốn và thực hiện tự tâm
toàn vẹn trong giây phút hiện tại của sự sống.
NẮM
LẤY HƠI THỞ: NẮM LẤY CHÁNH NIỆM
Như
vậy quán niệm vừa là một phương tiện vừa là một cứu
cánh, vừa là nhân, vừa là quả. Khi thực tập quán niệm
để luyện định tâm thì ta gọi quán niệm là nhân. Nhưng
quán niệm vốn là sự sống tỉnh thức (sự có mặt của
quán niệm là sự có mặt của sự sống mầu nhiệm), do đó
ta cũng gọi quán niệm là quả. Quán niệm để xua đuổi quên
lãng và phân tán. Quán niệm dể thực sự sống từng giây,
từng phút của cuộc sống. Quán niệm để duy trì chánh niệm
và duy trì sự sống.
Người
tác viên biết sử dụng hơi thở để duy trì chánh niệm,
bởi vì hơi thở là dụng cụ rất mầu nhiệm để đình chỉ
loạn tưởng. Hơi thở là cây cầu bắt từ bờ sinh lý sang
bờ tâm lý, là môi giới giữa thăn và tâm. Mỗi khi chợt
nhớ ra rằng tâm ý mình đang phân tán, rong ruổi, người tác
viên nên dùng hơi thở dể nắm giữ nó lại. Anh thở vào
nhè nhẹ một hơi thở khá dài và ý thức rằng mình đang
thở vào một hơi dài. Anh lại thở ra một hơi dài, đưa ra
ngoài hết không khí trong buồng phổi anh và ý thức rằng
mình đang làm như thế. Kinh quán niệm dạy về cách nắm lấy
hơi thở như sau :
“Hành
giả thở vào với ý thức minh mẫn là mình đang thở vào.
Người ấy thở ra với ý thức minh mẫn là mình đang thở
ra. Thở vào một hơi dài người ấy ý thức rằng ta đang
thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, người ấy ý
thức rằng ta đang thở ra một hơi dài. Thở vào một hơi
ngắn, người ấy ý thức là ta đang thở ra một hơi ngắn.
Người ấy tự mình luyện tập như sau : “Tôi có ý thức
rõ rệt về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở vào. Tôi có
ý thức về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở ra. Tôi đang
thở vào và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở
nên tĩnh lặng. Tôi đang thở ra và làm cho sự điều hành
trong thân thể tôi trở nên tĩnh lặng”.
Trong
một tu viện Phật giáo, vị nào cũng được khuyến khích
sử dụng hơi thở để đình chỉ loạn tưởng, tập trung
tâm ý và thực hiện định lực. Định lực là sức mạnh
của sự tập trung tâm ý, là năng lực có thể phát khởi
sự tỉnh thức lớn. Nhưng sự tỉnh thức lớn cũng là một
sự tỉnh thức. Khi người tác viên nắm lấy hơi thở mình,
anh ấy đã là một người tỉnh thức rồi. Để duy trì chính
niệm lâu dài, ta nên tiếp tục nắm lấy hơi thở. Mùa này
ở đây lá vàng rơi đẹp lắm. đi ở van rừng khoảng mười
lăm phút trong chánh niệm, giữ lấy hơi thở tôi thấy khỏe
khoắn và tỉnh táo lạ. Tôi tiếp xúc được với từng chiếc
lá.
Khi
Thiều đi một mình trên con đường quê, Thiều dễ nắm giữ
chánh niệm hơn. Nếu Thiều có một người bạn cùng đi bên
cạnh không nói năng gì, cùng nắm lấy hơi thở thì Thiều
vẫn nắm giữ chánh niệm một cách dễ dàng. Nhưng khi người
bạn đi bên cạnh hỏi chuyện 'Thiều thì sự tình trở nên
khó khăn hơn chút ít.
Nếu
Thiều khởi ra trong tâm ý niệm “cái anh chàng này cứ hỏi
chuyện hoài, không để cho mình chánh niệm” thì Thiều dễ
trở thành bực mình. Nhưng nếu Thiều tự nhủ : “Anh chàng
hỏi chuyện thì hỏi chuyện, mình trả lời thì trả lời,
nhưng mình vẫn nắm giữ chánh niệm, biết mình với anh chàng
đang đi trên dường với nhau, biết anh chàng hỏi gì, biết
mình trả lời những gì, và dù sao mình vẫn còn có thể nắm
lấy hơi thở”. Nghĩ như vậy, Thiều tiếp tục duy trì chánh
niệm, biết rằng trường hợp này hơi khó hơn trường hợp
đi bộ một mình, nhưng cứ thực tập để từ từ đạt tới
một khả năng tập trung ý lớn hon. Có câu ca dao nói : “Thứ
nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Trong
hoàn cảnh náo nhiệt phiền toái mà giữ được chánh niệm,
đó mới là làm được chuyện khó, có phải không?.
ĐẾM
HƠI THỞ VÀ THEO DÕI HƠI THỞ
Trong
kinh điển Phật thường dạy nên sử dụng hơi thở để luyện
thành sự định tâm. Có một bài kinh đặc biệt nói về sự
sử dụng hơi thở để duy trì hơi thở, gọi là kinh An Ban
Thủ Ý (Anapana sati Sutta). Kinh này được thiền sư Việt Nam
gốc Trung Á tên là Khương Tăng Hội dịch và chú giải vào
khoảng đầu thế kỷ thứ ba Tây lịch. Anapana là hơi thở
(dịch âm là An Na Pan Na), Tăng Hội viết tắt là An Ban, còn
Sati (tiếng Bắc Phạn gọi là Sam ti) có nghĩa là niệm quán
niệm hay chánh niệm, thời ấy Tăng Hội dịch là Thủ ý (gìn
giữ tâm ý).
Vậy
Kinh An Ban Thủ Ý là kinh dạy “gìn giữ tâm ý bằng cách
sử dụng hơi thở”. Kinh này là kinh thứ 118 trong Trung Bộ
Kinh (Maijhina Nikaya) dạy rõ phương pháp sử dụng hơi thở.
Tôi sẽ đính kèm theo đây một bản dịch kinh quán niệm và
bản tóm tắt kinh Anban Thủ ý cùng một vài đoạn kinh khác
để Thiều và các bạn bên nhà dùng.
Trong
những lớp hướng dẫn thiền tập (cho người ngoại quốc)
bên này, tôi thường đề nghị những phương pháp mà tôi
đã từng thí nghiệm, những phương pháp thật đơn giản.
Ví dụ đối với người mới tập, tôi đề nghị phương
pháp “đo chiều dài” của hơi thở. Tôi mời một học viên
nằm xuống và thở tự nhiên, rồi tôi mới mời người quan
sát và chỉ cho họ thấy những điều đơn giản như sau :
1/
Tuy thở ra và thở vào là việc làm của phổi, tức là của
ngực, nhưng không phải vì thế mà bụng không có tham dự.
Sự lên xuống của bụng hòa nhịp với sự lên xuống của
ngực. Ta nhặn thấy khi ta bắt đầu thở vào thì bụng bắt
đầu lên cao. Nhưng khi hơi thở vào đi được hai phần ba
con đường của nó thì bụng bắt đầu xuống bớt.
2/
Giữa ngực và bụng có một ranh giới gọi là hoành cách mạc.
Khi ta thở vào đúng phép, ta đưa không khí vào phần dưới
của phổi trước khi ta thở đầy phần trên của phổi. Khi
phần dưới của phổi có đầy không khí vào nó đẩy hoành
cách mạc xuống dưới. Do đó bụng ta bắt đầu phình lên
cao. Khi ta thở đầy phần trên lá phổi, ngực ta căng đầy
và do đó bụng ta bắt đầu xuống bớt.
3/
Vì vậy cho nên người xưa hay nói “Hơi thở bắt đầu từ
rốn và chấm dứt ở chót mũi.
Đối
với người mới tập, tư thế nằm ngửa rất thuận lợi.
Phải để ý là không nên thở dài với mức tối đa. Làm
như thế có thể nguy hiểm cho phổi, nhất là trong trường
hợp phổi yếu vì chưa bao giờ biết tập thở. Ban đầu người
hành giả nên nằm xuống, hai tay xuôi theo hai chân, đầu không
gối, trên một mặt phẳng hay hơn là trên nệm. Buông thả
tay chân cho thư thái. Thở vài hơi tự nhiên rồi khởi sự
chú ý đến hơi thở ra xem nó kéo dài bao lâu, có thể đếm
thầm trong trí : một, hai, ba .... Sau vài lần như thế, ta biết
được "chiều dài" của hơi thở ra. Ví dụ chiều dài ấy
là 5, sau đó ta dự tính thêm vào một hay hai nữa để cho
hơi thở ra của ta dài tới 6 hay 7. Thế là lần này khi thở
ra ta bắt đầu đếm từ 1 đến 5. Đến 5 thay vì chuẩn bị
hít thở vào, ta cứ tiếp tục thở ra thêm 1 hay 2, đếm tiếp
là 6 đến 7. Nhtr vậy có nghĩa là ta đưa thêm không khí tồn
dư trong phổi ra ngoài. Xong rồi ta buông tay đề hai phổi tự
động đưa không khí trong lành vào. Chúng đưa vào được
bao nhiêu không khí thì đưa. Mình không nên cố gắng hít thêm.
Cố nhiên là chiều dài của hơi thở vào sẽ ngắn hơn chiều
dài của hơi thở ra. Nhưng ta nên đếm thầm dể biết nó
dài bao nhiêu.
Người
mới tập nên tập như thế trong nhiều tuần. Trong khi thở
luôn ý thức được mình đang thở và ý thức được chiều
dài của hơi thở vào và ra (nếu có chiếc đồng hồ trong
phòng có nhịp tíc tắc chậm thì ta cũng có thể sử dụng
nhịp ấy làm nhịp đếm). Trong khi đi bộ, đứng, ngồi, nhất
là ở những nơi thoáng khí ta cũng nên tập như thế. Khi đi
bộ ta có thể dùng bước chân dể đếm rất tốt.
Chừng
một thoáng sau khoảng cách giữa chiều dài của hơi thở vào
và chiều dài của hơi thở ra sẽ rút ngắn lại. Bây giờ
ta có thể cho hơi thở vào và ra bằng nhau, nghĩa là nếu thở
ra sâu thì thở vào cũng sâu. Tuy nhiên, nếu thấy hơi mệt
thì nên dừng lại. Nếu không mệt, ta cũng nên thực tập
có giới hạn, ví dụ từ 10 đến 20 hơi thở. Khi thấy hơi
mệt là tiêu chuẩn rất tốt, nó báo hiệu cho ta nên nghỉ
hay có thể tiếp tục. Khi đếm ta có thể dùng con số hay
dùng mệnh đề ta ưa thích, ví dụ nếu đó là số 6, ta có
thể dùng mệnh đề "Hiện hữu quanh tôi mầu nhiệm” hay
"Tâm tôi thanh tịnh an lạc”. Nếu đó là số 7, ta có thể
dùng mệnh đề 'Tôi bước từng bước trên trái đất” hay
“Nam mô bổn sư Thích ca Mâu Ni Phật”. Khi đi bách bộ, mỗi
tiếng nhịp theo mỗi bước chân.
Hơi
thở phải thật nhẹ nhàng, đều đặn, trôi chảy tiếp nối
như một lạch nước trôi trên cát mịn. Hơi thở phải thật
im lặng, im lặng đến nỗi người gần cũng không nghe thấy
mình thở. Hơi thở nên uyển chuyển như một dòng sông, một
con rắn đang bò, chứ không thể như một dãy núi lởm chởm,
hay như nhịp phi của một con ngựa. Chủ động được hoi
thở của mình như thế tức la chủ động được thăn tâm
mình. Mỗi khi tâm ý tán loạn mà ta khó dùng những biện pháp
khác để nhiếp phục thì phương pháp quán sát hơi thở phải
được đem ra áp dụng. Mới ngồi xuống để thiền định,
người hành giả sau khi điều chỉnh tư thế ngồi liền điều
chỉnh ngay hơi thở. Ban đầu thở tự nhiên rồi làm cho hơi
thở dịu dần, êm dần, lắng dần, sâu dần và dài dần.
Trong
suốt thời gian ngồi xuống cho đến khi hơi thở đã trở
nên im lặng sâu thẳm, hành giả ý thức được tất cả những
gì đang trải qua. Kinh quán niệm nói : “Tôi đang hít vào
và biết rõ là tôi đang hít vào. Tôi đang thở ra và biết
rõ là tôi đang thở ra. Tôi đang thở vào một hơi ngắn và
biết rõ rằng tôi đang thở vào một hơi ngắn. Tôi đang thở
ra một hơi ngắn và biết rõ rằng tôi đang thở ra một hơi
ngắn. Tôi đang thở vào một hơi dài và biết rõ rằng tôi
đang thở vào một hơi dài. Tôi đang thở ra một hơi dài và
biết rõ rằng tôi đang thở ra một hơi dài. Tôi ý thức trọn
vẹn về cả chiều dài hơi thở mà tôi đang thở vào. Tôi
ý thức trọn vẹn chiều dài hơi thở mà tôi đang thở ra.
Tôi đang thở vào và điều hòa cho thân thể tôi trở nên
tĩnh lặng”.
Trong
khoảng 10 đến 20 phút, tâm ý của hành giả lặng xuống như
hồ nước trong và không bị lôi kéo và phăn tán nữa. Phương
pháp theo dõi hơi thở tĩnh lặng và điều phục hoàn toàn
hơi thở được gọi là phương pháp "tuỳ tức”. Tùy là
theo dõi, tức là hơi thở, tuỳ tức là theo dõi hơi thở.
Nếu
thấy phương pháp theo dõi hơi thở hơi khó, ta có thể theo
dõi bằng phương pháp đếm hơi thở. Thở vào đếm “1”,
thở ra đếm “1”. Thở vào đếm “2”, thở ra đếm “2”.
Thở cho đến hơi thở thứ 10 thì bắt đầu đếm lại từ
1. Trong lúc thở như vậy, sự đếm là sợi dây buộc tâm
vào hơi thở. Ban đầu đếm là để chú ý, kẻo nếu không
chú ý thì đếm lộn. Đó là hình thức định tâm sơ đẳng
nhất, cột được tâm vào sự đếm rồi, đạt tới cái định
tâm sơ đẳng ấy rồi thì bắt đầu bỏ sự đếm và chuyển
sang theo dõi hơi thở. Phương pháp đếm hơi thở được gọi
là phương pháp sổ tức. Sổ là đếm, tức là hơi thở.
Những
lúc tâm trí bị phân tán khó tập trung để quán niệm, ta
lại nắm lấy hơi thở, nắm lấy hơi thở cũng là quán niệm.
Hơi thỏ là một phương tiện thần diệu để nắm lấy tâm
ý. Giới thứ bảy của dòng tu Tiếp Hiện cũng dặc biệt
chú trọng tới hơi thở : "Không được buông thả theo (vọng)
loạn tưởng và hoàn cảnh để tự đánh mất mình, Phải
biết dùng hơi thở để nắm lấy thân tâm, thực hiện chánh
niệm, phát triển định tuệ và đi tới trên đường thành
tựu đạo nghệ.
MỖI
ĐỘNG TÁC LÀ MỘT LỄ NGHI
Thiều
ơi, tôi thường nghe một ví dụ này khá hay về hơi thở.
Có một bức tường cao không có cách gì leo lên đứng phía
trên được, duy chỉ có sợi chỉ mong manh vắt qua bức tường.
Người khôn khéo sẽ buộc đầu sợi chỉ ấy vào dây gai
rồi qua bên kia kéo đầu sợi chỉ xuống để cho sợi dây
gai vắt lên thay thế. Xong rồi, lại buộc đầu sợi gai với
đầu sợi dây thừng để kéo nó vắt qua bức tường. Sau
khi cột một đầu thừng xuống chân bức tường bên này,
ông ta sang bên kia tường bám vào sợi dây thừng mà trèo lên
đứng phía trên bức tường. hơi thở của ta là sợi dây
chỉ mỏng manh kia, nếu ta biết sử dụng thì ta có thể biến
nó thành một khí cụ thần diệu cứu ta ra khỏi những trường
hợp xem như vô vọng. Hơi thở cũng là một cây cầu bắt
từ thân sang tâm, hơi thở điều hòa cả thân và tâm, hơi
thở thiết lập sự thể giữa thân và tâm. Thân và tâm đều
có liên hệ tới hơi thở, và hơi thở có thể dùng để điều
hợp thân tâm, đưa đến trạng thái tĩnh lặng sáng chiếu
của cả hai.
Có
nhiều người và nhiều sách nói đến những ích lợi lớn
lao của sự tập thở đúng phương pháp. Người biết thở
là người biết sử dụng một kho tàng sinh lực vô tận :
Hơi thở thanh lọc buồng phổi, thanh lọc máu trong huyết quản,
thanh lọc và đổi mới cả cơ thể. Hơi thở quan trọng hơn
thức ăn. Những điều ấy rất đúng. Hồi xưa tôi từng bị
ốm nặng và qua mấy năm thuốc thang không lành, tôi đã dùng
đến phương pháp thở, phương pháp này đã cứu sống tôi.
Tuy
vậy trong câu chuyện mà tôi đang nói với Thiều đây, hơi
thở là dụng cụ và đối tượng của quán niệm. Hai lá phổi
tốt, một hơi thở khỏe là những thiện duyên rất lớn,
tuy nhiên không phải là mục đích lớn mà chỉ là những vật
phó sản (gous prodrets) của sự thực hiện quán niệm mà thôi.
ở
Paris tôi có hướng dẫn một lớp ngồi Thiền cho người ngoại
quốc. Trong số đó có nhiều người trẻ. Tôi nói với họ
mỗi
ngày ngồi một giờ đồng hồ thì tốt lắm, nhưng không đủ
thiếu gì. Phải tập thiền trong khi đi, đứng, ngồi, nằm
và làm việc. Tôi chỉ cho họ cách quán niệm trong khi rửa
tay, rửa bát, quét nhà, nói chuyện. Tôi nói trong khi rửa bát,
có thể ta nhớ tới tách trà và muốn rửa cho thật mau để
lên ngồi uống trà. Nhưng như thế là ta không thấy được
sự sống trong khi rửa bát. Trong khi ta rửa bát thì rửa bát
phải là chuyện quan trọng nhất trong đời. Trong khi ta đi
cầu, thì đi cầu là chuyện quan trọng nhất trong đời. Cứ
thế mà nhìn, bửa củi cũng là thiền mà gánh nước cũng
là thiền. Người hành giả tu 24 tiếng đồng hồ một ngày
chứ không phải chỉ tu trong giờ tụng kinh và ngồi thiền.
Mọi động tác đều được nhiếp phục trong chánh niệm.
Mỗi động tác là một lễ nghi. Dùng chữ lễ nghi thì hơi
nặng nề nhưng tôi phải dùng chữ ấy qua một lượt để
Thiều thấy tính cách sanh tử của sự tỉnh thức.
HÃY
LÀ NỤ CƯỜI
Ngày
nào cũng thực tập quán niệm, giờ nào cũng thực tập quán
niệm... Nói thì dễ nhưng thực hành cho được thường xuyên
là chuyện không dễ... Vậy cho nên tôi đề nghị những người
trong lớp thiền tập nên để dành một ngày trong tuần để
khởi sự thực tập. Đã đành trên nguyên tắc ngày nào cũng
là ngày của mình, giờ nào cũng là giờ của mình, nhưng trên
thực tế mình hoàn toàn chưa thể nào chủ động được và
mình có cảm tưởng gia đình, sở làm và xã hội chiếm mất
hết thì giờ của mình. Vì vậy tôi đề nghị họ lấy một
ngày trong tuần làm “ngày của mình”. Ngày này sẽ là bàn
đạp tạo nên thói quan tốt đẹp của sự thực tập quán
niệm.
Tác
viên xã hội ai cũng có quyền có 1 ngày như vậy mỗi tuần,
nếu không ta sẽ tự đánh mất mình một cách dễ dàng trong
cuộc đời náo động. Ta tạm gọi cái ngày thứ bảy kia là
ngày quán niệm. Muốn tổ chức ngày quán niệm ta hãy chuẩn
bị làm sao khi thức dậy trong buổi sáng, ta có thể nhớ ngày
dó là ngày quán niệm. Treo một cái gì ở trên trần nhà hay
ở trong mùng. Ví dụ như một chữ "quán” hay một cành thông
chẳng hạn, để khi thức dậy là ta có thể trông thấy và
biết đây là ngày quán niệm, ngày "của mình”.
Nhớ
ra như vậy rồi, ta nên mỉm cười để chứng tỏ rằng ta
đang có ý thức trọn vẹn và cũng là nuôi dưỡng ý thức
trọn vẹn đó. Nằm trên giường ta bắt đầu theo dõi hơi
thở, điều phục hơi thở, thở những hơi chậm, dài và ý
thức. Rồi ta từ từ vén chăn ngồi dậy (đừng tung chăn
chồm dậy như thường nhật). Nuôi dưỡng quán niệm trong
từng cử chỉ. Ta xúc miệng đánh răng, chải đầu, cạo râu
hay điểm trang một cách nhẹ nhàng, thong thả, cử động nào
cũng được nhiếp phục trong quán niệm. Theo dõi hơi thở,
nắm lấy hơi thở, đừng để tâm loạn động. Khi làm những
cử động thể dục buổi sáng cũng vậy. Các cử động thể
dục nên làm thong thả, đi đôi với nhịp thở dài và nhẹ.
Trong khi tập thể dục, duy trì nụ cười hàm tiếu trên môi.
Nên
để ra ít nhất là nửa giờ để tắm gội thong thả trong
chánh niệm. Đôi khi tắm xong là ta đã thấy nhẹ nhàng khoan
khoái rồi. Sau đó ta có thể đi làm việc nội trợ, giặt
áo quần, chùi nhà, lau bàn, sửa bếp, xếp dọn sách vở.
Những công việc ấy phải được làm thật khoan thai, nhẹ
nhàng trong chánh niệm. Làm tức là tu, đừng mong cho chóng
xong. Bí quyết là làm thong thả. Để tâm ý vào đó, ưa thích
nó, đồng nhất với nó. Phải tìm được sự an lạc trong
khi làm những việc đó. Nếu không thì ngày quán niệm đó
xem như là thất bại. Những người mới tập thì nên giữ
im lặng trong ngày quán niệm. Vận tốc của các cử động
dưới ảnh hưởng của quán niệm được giảm xuống rất
nhiều. Hãy nhìn những vị thiền sư. Họ đi đứng khoan thai,
nhất cử nhất động đều nhẹ nhàng, không vụt chạc hay
nóng nảy. Nói như thế không có nghĩa là trong ngày quán niệm
ta không nên nói chuyện. Ta cũng có thể nói chuyện và cũng
có thể hát nữa. Nhưng ta chỉ nên nói hay hát ít thôi, trong
khi duy trì ý thức minh mẫn về những gì ta đang nói hoặc
đang hát. Cố nhiên ta có thể vừa hát vừa quán niệm. Biết
rõ là ta đang hát và ta đang hát gì. Tuy thế nên biết rằng
trong khi ta hát, tình tiết và âm diệu có thể đưa ta lạc
ra ngoài chánh niệm nếu năng lực tập trung của ta còn yếu
kém. Buổi trưa ta có thể tự nấu cơm. Việc ăn cơm, rửa
bát, nghỉ ngơi, tất cả cũng đều được thực hành trong
chính niệm. Buổi sáng sau khi nhà cửa đã được dọn hay
chăm bón, vun mấy khóm hoa. ta pha trà và ngồi uống trà trong
chánh niệm. Để dành thật nhiều thì giờ cho công việc này.
Đừng uống trà như người ta ăn hủ tiếu, cà phê ngoài tiệm
trước khi đi làm, nghĩa là hấp tấp quá. Uống trà thật
thảnh thơi, khoan thai, như nhịp đi của bốn mùa, như nhịp
quay của trái đất, thong thả, đều đặn, không hấp tấp.
Không đi tìm tương lai. Sống với giờ phút hiện tại. Chỉ
có giờ phút hiện tại mới là sự sống. Đừng đồng nhất
sự sống với tương lai. Đừng luôn nghĩ tới chuyện phải
đi về tương lai. Đừng luôn luôn nghĩ tới chuyện khởi hành.
Ngày xưa trong “Bướm bay vượn cải hoa vàng”, tôi viết
:
Em
hãy là đóa hoa đứng yên bên hàng dậu,
Là
nụ cười,
Là
một phần của hiện hữu nhiệm mầu.
Tôi
đứng đây, chúng ta không còn khởi hành.
Quê
hương chúng ta đẹp như quê hương của tuổi thơ.
Xin
đừng ai xâm phạm. Tôi vẫn còn hát ca....”.
Buổi
chiều ta có thể đọc kinh, chép kinh, viết thơ cho bạn, làm
bất cứ việc gì mà ta thích từ công việc trong tuần. Tôi
nhắc em là làm gì cũng làm trong chánh niệm. Buổi tối ăn
ít thôi, khoảng 10 – 11 giờ ta ngồi thiền đến nửa đêm
sau khi bách bộ chừng một giờ để thở không khí trong lành,
theo dõi hơi thở bằng quán niệm, đo chiều dài hơi thở bằng
quán niệm, đo chiều dài hơi thở bằng bước chân ta về
phòng và đi ngủ trong chánh niệm.
Thiều
ơi !
Thế
nào mình cũng tìm cách để tôn trọng tuyệt đối ngày quán
niệm của tác viên. Ngày ấy cần thiết quá và ảnh hưởng
tốt đến những ngày khác trong tuần rất nhiều.
Mười
mấy năm về trước, nhờ ngày bình tĩnh quán niệm ấy mà
chú Văn và các anh chị trong dòng Tiếp Hiện đã hướng dẫn
được trường đi qua nhiều giai đoạn bão táp.
Thực
tập ngày quán niệm được trong vòng ba tháng thì ta đã có
sự thay đổi quan trọng trong đời sống của chúng ta rồi.
Từ ngày quán niệm, sự thực tập sẽ lan qua những ngày khác
trong tuần và ta sẽ có thể tu không phải một ngày trong một
tuần mà bảy ngày trong một tuần. Thiều đã thấy ra ngày
quán niệm là một bàn đạp quan trọng hay chưa.
THỨC
DẬY GIỮA LÀNG HỒNG
Không
những tác viên cần có một ngày trong mỗi tuần, họ còn
cần có một tháng trong mỗi năm nữa. Chắc Thiều còn nhớ
lá thư tôi viết để trả lời thầy Châu Toàn về dự tính
làng Hổng. Làng Hồng là một quê hương tâm linh cho người
tác viên, cũng như phương Bối quê hương tâm linh cho chúng
ta ngày xưa vậy.
Chúng
ta phải có làng Hồng để trở về sau những đợt công tác.
Tại đây ta trồng cây, trồng rau thơm, đi bách bộ với trẻ
trong làng, thực tập quán niệm và Thiền Tọa. Thầy Châu
Toàn trong một lá thư cho tôi đã nói tới dự tính ấy, và
gọi khu làng quê hương tâm linh này là làng Thanh Niên Phụng
Sự Xã Hội. Thầy có nói cho tôi hay rằng khu vực chọn lựa
có thể nằm gần miền cao nguyên và như thế có thể hạp
với cây Hồng. Tôi nói như thế thì đặt tên làng là làng
Hồng thì nhẹ và đẹp hon tên kia. Thầy Châu Toàn là một
nghệ sĩ, cho nên tôi rất tin cậy nơi Thầy về khía cạnh
nghệ thuật của làng. Tôi có dặn Thầy nên giữ tất cả
những tảng đá lớn nhỏ có mặt trong khu đất dù dưới
suối hay trên đồi. Tôi lại dặn thầy đi đánh dấu tất
cả cây lớn nhỏ nào có giá trị nghệ thuật để giữ lại.
Làng sẽ có công viên, rừng và rất nhiều con đường đi
bộ qua rất nhiều vườn Hồng và tên làng do đó mà có. Làng
sẽ có nhiều lô đất, mỗi tác viên có một lô đất, Thiều
cũng có 1 lô, tôi cũng có 1 lô. Chúng ta sẽ làm một căn nhà
đon giản trong khu đất và trồng cây ăn trái và rau quả quanh
nhà. Tôi ưa trồng rau thơm lắm. Tôi sẽ trồng sau nhà của
tôi nhiều thứ rau thom : cây ngò, cây quế, cây hưng, cây tía
tô, cây kinh giới, cây tần ô, cây rau răm, cây lá lốt. Tôi
cũng sẽ trồng cây lá dứa thơm, cây xả, một giàn mướp
ngọt, và có thể có cả một giàn hoa lý trước nhà.
Thiều
cười tôi đang sống với tương lai phải không. Đúng đó,
nhưng tôi cũng đang sống với hiện tại. Bên này tôi cũng
trồng đủ thứ rau thơm. Tuyết có gởi cho tôi nhiều loại
hột giống, nhưng chỉ trồng được trong mùa ấm thôi. Làng
Hồng đối với tôi đã là một thực tại rồi. Làng Hồng
cũng đã bắt đầu có mặt nơi Thiều.
Thiều
và các bạn nên xúc tiến việc thành lập làng Hồng. Làng
Hồng là một hình ảnh tươi mát trong lòng mọi chúng ta. Làng
Hồng cũng là hình ảnh ấm áp. Các anh chị tác viên khi lập
gia đình cũng nên về cư ngụ tại làng Hồng. Làng Hồng sẽ
có hợp tác xã. Mình sẽ săn sóc cho làng. Tổ chức sinh hoạt
cho trẻ con và tạo nền nếp sinh hoạt tâm linh cho mọi người.
Mỗi tác viên khi về tới làng Hồng là thấy thoải mái.
Trong
1 tháng cư trú tại làng Hồng, người tác viên chơi đùa với
trẻ con (bọn Lê Hải Thiều Âm lúc này có lẽ đông lắm),
đọc sách, nằm võng, trồng rau, ngồi thiền, rũ bỏ mọi
bụi bặm phiền não, luyện thêm ý chí, thêm yêu thương.
HẠT
SỎI DƯỚI LÒNG CÁT MỊN
Tác
viên ngồi thiền để làm gì? trước hết là để thực hiện
một sự nghỉ ngơi toàn vẹn. Thiều nên biết trong giấc ngủ
cũng chưa hẳn là hình thức nghỉ ngơi toàn vẹn. Ngủ với
thần kinh căng thẳng, với những bắp thịt trên mặt và trên
tay chân co rút, với những những giấc mộng nặng nề. Ngủ
như thế không phải là nghỉ ngơi. Nằm cũng chưa phải là
nghỉ ngơi, nhất là khi còn trăn trở bất an. Nằm dài, xuôi
tay chân, đầu không kê gối là một tư thế rất tốt để
tập thở và để buông thả bắp thịt cho thư thái.
Nhưng
nằm thì dễ ngủ. Với lại nằm thì không đi sâu vào Thiền
quán được bằng ngồi. Ta có thể tạo nên sự nghỉ ngơi
toàn vẹn trong tư thế ngồi và tiếp đó có thể đi sâu hon
trong thiền quán để đối trị lại những trở ngại tâm
lý của ta.
Tôi
biết các tác viên có nhiều người biết ngồi kiết già,
bàn chân trái đặt lên bắp chân phải và bàn chân phải đặt
lên bắp chân trái, cũng có người chỉ có thể ngồi bán
già, bàn chân trái đặt lên bắp chân phải hay chân phải
đặt trên bắp chân trái. Tại lớp Thiền tập ở Paris, có
người không ngồi được các tư thế trên. Tôi khuyên họ
nên ngồi theo lối người Nhật. Hai gối song song, hai lòng
bàn chân úp xuống làm nơi nương tựa cho thân hình với một
chiếc gối kê gọn dưới hai sóng bàn chân. Ta có thể ngồi
yên trong tư thế đó hơn một giờ nữa. Tuy nhiên ai cũng có
thể ít nhất là tập ngồi theo tư thế bán già. Ban đầu
có hơi đau, nhưng độ vài tuần lễ thì ít đau hơn. Khi đau
thì đổi tư thế đi hay đổi vị trí của các bàn chân cho
nhau. Trong trường hợp kiết già hay bán kiết già, ta nên kê
dưới mông một cái gối để cho hai đầu gối chúc xuống,
như vậy là ta có 3 điểm tựa, thế ngồi như vậy là rất
vững chắc sống lưng ta giữ cho thật thắng, đây là một
điều quan trọng. Đầu và cổ giữ theo sống lưng thật thẳng
nhưng không cứng ngắt như gỗ. Mắt nhìn xuống khoảng hai
thước về phía trước. Miệng giữ nụ cười hàm tiếu.
Bây
giờ ta bắt đầu theo dõi hơi thở và cũng bắt đầu buông
thả mọi bắp thịt trong người, chỉ giữ xương sống thật
thẳng và theo sát hơi thở, còn bao nhiêu thứ còn lại cùng
buông thả hết.
Muốn
buông thả những bắp thịt chằng chịt trên mặt, những bắp
thịt co lại vì lo âu, cáu kỉnh, sợ hãi hay buồn phiền,
ta hãy gọi về trên môi nụ cười hàm tiếu, nụ cười chớm
nở, nụ cười tới thì các bắp thịt kia bắt đầu buông
thả. Ta duy trì nụ cười ấy càng lâu càng quý, nụ cười
mà Thiều thấy nở hoài trên mặt Phật.
Ta
đặt lòng bàn tay trái ngửa ra trong lòng bàn tay mặt, buông
thả mọi bắp thịt trong bàn tay, trong ngón tay, trong cánh tay,
trong bắp chân. Hãy để cho tất cả trôi đi, như những dãy
rong rêu trôi theo dòng nước trong khi tảng đá dưới nước
vẫn nằm im bất động, chỉ giữ lấy hơi thở và nụ cười
hàm tiếu trên môi. Những ai mới bắt đầu tập ngồi thiền
thì nên ngồi từ 20 phút đến nửa giờ. Trong thời gian đó,
nên thực tập sự nghỉ ngơi toàn vẹn. Kỹ thuật của sự
nghỉ ngơi này được tóm tắt trong hai tiếng : Nắm giữ và
Buông thả. Nắm giữ hơi thở và buông thả tất cả những
gì còn lại. Buông thả tất cả các thớ thịt trong châu thân,
trong khoảng 15 phút hành giả có thể đạt đến sự tĩnh
lặng và an lạc. Duy trì trạng thái tĩnh lặng và an lạc ấy.
Có
người xem thiền tọa như một cực hình. Muốn cho thì giờ
qua mau để nằm nghỉ. Trong trường hợp này, ta thấy "đương
sự” chưa biết ngồi thiền. Biết ngồi thiền thì tự khắc
tìm thảy sự khỏe khoắn và an lạc ngay trong tư thế ngồi.
Tôi thường đề nghị những người này dung hình ảnh hạt
sỏí rơi trong dòng sông để thực hiện sự an nghỉ trong
thiền toạ.
Thế
nào là hạt sỏi rơi trong dòng sông. Hành giả ngồi xuống
trong tư thế tiện nghi nhất, bán già hay kiết già, lưng thẳng.
Miệng giữ nụ cười hàm tiếu. Hành giả thở chậm và sâu,
theo dõi hơi thở, đồng nhất mình với hơi thở. Thế rồi
hành giả tự dể mình buông thả hoàn toàn như một hạt sỏi
trắng được thả xuống dòng sông trong vắt.
Hạt
sỏi thả xuống dòng sông không hề tự ý cử động, nó tự
buông thả và rơi xuống từ từ trong dòng sông bằng con đường
ngắn nhất và cuối cùng tìm tới đáy sông. Xuống tới đáy
sông rồi là nó được chỗ an nghỉ, không còn rơi nữa. Hành
giả tự thấy mmh như một hạt sỏi, tự để rơi mình trong
một dòng sông, buông thả hoàn toàn. Trọng tâm của hành giả
là hơi thở. Thời gian buông thả để rơi, để tìm tới nơi
an nghỉ trên cát mịn dưới đáy sông không cần thiết là
dài bao lâu. Khi mà hành gả thấy mình ngồi an lạc, khỏe
khoắn như một hạt sỏi trên cát mịn dưới đáy sông là
khi ấy bắt đầu có sự nghỉ ngơi trọn vẹn. Hành giả không
bị quá khứ níu kéo, không bị vị lai thâu hút. Hành giả
biết rằng nếu mình không có khả năng thọ hưởng sự an
lạc trong giờ phút thiền toạ hiện tại, thì tương lai cũng
sẽ trôi qua những kẽ tay mình, và mình cũng sẽ không bao
giờ thực sống khi tương lai biến thành hiện tại. An lạc
là an lạc trong giờ thiền tọa đây. Nếu không tìm được
an lạc lúc này thì sẽ không tìm dược an lạc ở bất cứ
lúc nào khác. Đừng đuổi theo vị lai như người bị thu hồn
chạy theo bùa phép. Dừng lại và tìm sự an lạc trong giờ
phút hiện tại. Hành giả thấy rằng thời gian này là thời
gian của mình, chỗ ngồi này là chỗ ngồi của mình. Chính
trên chỗ ngồi này và trong giờ phút này mà mình có thể
thành Phật chứ không phải ở dưới một cây Bồ Đề nào
trong 1 kiếp vị lai nào xa xôi. Thiền tập như thế trong vài
ba tháng thì hành giả bắt đầu biết thế nào là Thiền Duyệt.
Thiền Duyệt là sự an vui tìm thấy trong Thiền Tọa. Ngày
xưa Thầy Thanh Từ có cất một thiền thắt trên đỉnh phương
Bối, lấy tên là Thiền Duyệt Thắt.
Thiều
ơi ! Giờ tọa thiển có dễ thành công hay không là do đời
sống hàng ngày mình có tập chánh niệm nhiều hay ít. Và cũng
do mình có thực tập đều đặn mỗi ngày hay không. ở chùa
lá Pháp Vân mình nên tổ chức thiền tọa mỗi đêm cho tác
viên, từ 10 đến 11 giờ. Ai muốn ngồi nửa giờ hay cả giờ
tùy ý.
NHẬN
DIỆN
Nhưng
mục đích của Thiền Tọa chỉ là để tìm sự nghỉ ngơi
thôi sao? Có người sẽ hỏi. Thiều cũng dư biết rằng mục
đích của thiền tọa sâu xa hơn sự nghỉ ngơi. Nhưng sự
nghỉ ngơi là khởi điểm cần thiết. Thực hiện sự nghỉ
ngơi, ta thực hiện được sự tĩnh tâm và nhiếp ý là đi
được một quãng đường khá dài trong thiền tập rồi.
Ta
nên nhớ rằng, quán niệm hơi thở là một phương pháp thần
diệu. Đừng nói rằng pháp quán niệm hoi thở là chỉ dể
dành cho người mới học đạo. Thiền sư Tăng Hội đầu thế
kỷ thứ ba đã viết trong kinh An Ban thủ ý : “Quán niệm
hoi thở là đại thừa (cỗ xe lớn) của chư phật để cứu
vớt chúng sanh đang trôi chìm trong sanh tử. Đếm hơi thở,
theo dõi hơi thở, nắm lấy hơi thở là những phương pháp
thần diệu đề nhiếp tâm và tịnh ý”.
Tuy
nhiên nếu muốn nhiếp tâm và tịnh ý đến chỗ căn bản,
ta phải biết quán niệm về cảm thọ và tư duy của ta. Muốn
điều tâm ta phải quán tâm. Ta phải biết quan sát và nhận
ra mọi mặt cảm thọ và mọi tư duy khi chúng có mặt nơi
ta.
Thiền
sư Thiền Chiếu cuối đời Lý có nói : người tu đạo nếu
biết rõ tâm linh mình thì sẽ phí sức ít mà dễ thành công.
Người tu đạo nếu không biết gì về tâm linh mình thì chỉ
phí công vô ích. Muốn biết tâm mình thì chỉ có một cách
quán sát nó, nhận diện nó. Công việc đó làm thường trực
trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong giờ thiền tọa. Trong
lúc ta thiền tọa, những cảm thọ và những ý tưởng có
thể phát hiện trong ta. Nếu ta không dùng những phương pháp
quán niệm hơi thở thì chúng có thể xâm chiếm và đưa ta
ra ngoài chánh niệm. Nhưng ta đừng nghĩ rằng hơi thở chỉ
là để xua đuổi cảm thọ và ý tưởng. Hơi thở còn là
để tâm lắng lại thân tâm, mở lối cho định và tuệ. Khi
một cảm thọ hay một ý tưởng xuất hiện, ta đừng cố
ý xua đuổi bằng hơi thở, dù sự tập trung tâm ý nơi hơi
thở có tác dụng khiến cho cảm thọ hay ý tưởng đó tạm
bị loại trừ ra khỏi tâm ý. Đừng cố xua duỗi, ghét bỏ,
e sợ. Phải làm sao ? Chỉ cần nhận diện thôi. Thí dụ khi
một cảm thọ đau nhức phát hiện nơi ta, ta liền nhận diện
nó : "Một cảm thọ đau nhức xuất hiện nơi ta". Một cảm
thọ đau nhức còn tồn tại nới ta, ta cũng nhặn diện nó
: “Cảm thọ đau nhức còn tồn tại nơi ta”. Nếu một ý
tưởng phát hiện nơi ta. Ví dụ, “nhà hàng xóm giờ này
mà còn làm ồn quá” thì ta nhận diện nó : “ý tưởng nhà
hàng xóm giờ này mà còn làm ồn quá vừa phát hiện nơi ta”.
Nếu ý tưởng dó còn tồn tại ta tiếp tục nhặn diện, nếu
có một cảm thọ khác, hay một ý tưởng khác đi qua đầu
ta thì cũng phải nhận diện như thế. Ta không để cho một
cảm thọ hay bất cứ ý tưởng nào phát sinh hay lưu trú trong
ta mà có thể tránh thoát sự quán niệm và nhặn diện của
ta.
Ta
quan sát và nhận diện chúng như người gác cửa cung vua, nhận
diện mỗi gương mặt đi qua cửa khuyết. Khi không còn cảm
thọ hay ý tưởng nào có mặt, ta cũng nhặn diện sự không
có mặt của chúng. Cảnh giác thường trực như vậy tức
là quán niệm về cảm thọ và tâm thức. Quán niệm tinh tiến
như vậy, thì ta sớm điều phục được tâm ta. Ta có thể
phối hợp phương pháp quán niệm này với phương pháp quan
niệm hơi thở để nhiếp phục tâm ý.
VỌNG
TÂM TRỞ THÀNH CHÂN TÂM
Thiều
ơi ! Điều quan trọng mà tôi muốn nhắc lại ở đây là trong
khi thực hành quán niệm ta chớ nên để sự phân biệt thiện
ác, chính tà chi phối để tạo nên sự dằng co.Khi một ý
niệm thiện phát sinh, ta chỉ nên nhận diện "một ý niệm
thiện vừa phát sinh”. Khi một ý niệm bất thiện phát sinh
ta chỉ nên nhận diện : “một ý niệm bất thiện vừa phát
sinh”. Đừng lôi kéo hoặc xua đuổi, không yêu mến cũng
không ghê sọ. Hãy chỉ nhận diện chúng thôi là đủ. Nếu
chúng đã đi rồi thì biết chúng đã đi rồi. Nếu chúng còn
đó thì biết chúng đang còn đó. Có cảnh giác rồi thì không
có gì cần phải sợ sệt nữa.
Trong
khi tôi nói đến người gác cửa đền vua. Thiều có thể
tưởng tượng một gian phòng có hai cửa. Một cửa vào và
một cửa ra với tâm ta là người gác cửa. Cảm thọ và ý
tưởng nào vào là ta biết, chúng ở lại ta cũng biết. Chúng
ra đi ta cũng biết. Ví dụ ấy có một khuyết điểm nghe Thiều.
Tại
vì trong ví dụ ấy, những người vào ra không phải là ông
gác cửa, trong khi đó những cảm thọ và tư tưởng của ta
lại chính là ta, là một phần của ta. Đối với sự thiền
tập, thì đó là sự náo loạn, sự phân tán, là quân giặc
tìm tới công hãm thành trì của sự tĩnh tâm. Tuy vậy, khi
ta giận, thì sự giận chính là ra. Khi ta vui, sự vui cũng chính
là ta. Khi ta có những ý tưởng, những ý tưởng đó cũng
chính là ta. Ta vừa là người diễn kịch vừa là khán giả
xem kịch. Ta vừa là tâm, vừa là người quán sát tâm.
Cho
nên xua đuổi hay nức kéo không phải là chuyện quan trọng.
Quan trọng là nhận biết, Sự quán sát này là sự quan sát
không đối tượng hóa, tức là không phân biệt chủ thể
và đối tượng. Tâm không nức kéo tâm, tâm không xua đuổi
tâm. Tâm chỉ có thể quán tâm, mà sự quán sát đây không
phải là sự quán sát một đối tượng độc lập. Hãy nhớ
lại công án của Thiền Sư Bạch ẩn : Tiếng vỗ của một
bàn tay. Hãy nghĩ đến lưỡi nếm mùi vị của lưỡi. Tâm
thức nghiệm về tâm ngay chính trong bản thân của tâm. Điều
này quan trọng đặc biệt, cho nên trong kinh quán niệm Phật
luôn luôn dùng mệnh đề : “Quán niệm cảm thọ nơi cảm
thọ, quán niệm tâm thức nơi tâm thức". Có người nói sự
lập lại của những chữ cảm thọ và tâm thức là để nhấn
mạnh. Tôi e rằng họ không hiểu ý của Phật. Quán niệm
cảm thọ nơi cảm thọ là quán niệm của cảm thọ trực
tiếp nơi cảm thọ, chứ không phải là quán niệm cảm thọ
nơi một hình ảnh tạo ra về cảm thọ sau khi đối tượng
hóa cảm thọ. Quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ là tâm quán
niệm tâm. Đối tượng hóa để quan sát là phương pháp khoa
học, không phải là phương pháp thiền quán. Cho nên hình ảnh
người gác cửa và những khách vào ra gian phòng tâm thức
không phải là hình ảnh hoàn bị để đem ví dụ cho sự quán
sát tâm ý. Tâm như con vượn chuyền cành, Kinh hay nói như
vậy. Chúng ta hãy tập quan sát con vượn, bám sát lấy nó,
đừng để một cử động nào lọt ra khỏi nhãn quan ta. Hãy
đồng nhất với nó. Tâm quán tăm như bóng theo hình thì dù
tâm ý chuyển đi đâu nó vẫn nằm trong sự kiểm soát của
tâm. Kinh thường nói : “cột con vượn tâm lại”. Đó chỉ
là một cách nói thôi. Khi tâm thường trực quán tâm thì tâm
không còn là một con vượn nữa. Không có hai tâm, một tâm
chuyền cành và một tâm đi kéo lại.
Người
tọa thiền thường mong "thấy tánh" để giác ngộ chứng đạo.
Hành giả mới tập thiền đừng chờ đợi “thấy tánh" và
"giác ngộ". Tốt hơn là đừng chờ đợi gì hết. Nhất là
đừng chờ thấy Phật trong khi ngồi thiền. Trong 6 tháng đầu,
hãy nỗ lực nhiếp tâm tạo nên trạng thái tĩnh lặng và
an lạc. Người tác viên nên thực tập như thế, vừa rũ sạch
được phiền não, vừa được nghỉ ngơi an lạc, vừa làm
cho tâm hồn tĩnh lặng để cái thấy sáng thêm, để cái nhìn
rộng thêm, để tình thương yêu có thêm thực chất.
Thiền
tọa là thức ăn cho tâm linh nhưng cũng là thức ăn cho tình
cảm và thể chất nữa. Thân thể ta cũng nhờ thiền tọa
mà nhẹ nhàng an lạc hơn. Từ sự quán tâm đi tới sự "thấy
tánh” con đường sẽ không gian nan lắm đâu nếu thực tập
quán tâm thi hành đúng phép. Lúc thiền tọa mà đã tĩnh lặng,
hình ảnh tư duy và cảm thọ không quấy động được rồi
thì tâm bắt đầu an trú nơi tâm, tâm nhiếp tâm trong một
hình thái trực giác mầu nhiệm, không có chủ thể và đối
tượng, cũng như ta nhấp một chén trà mà tâm ý không còn
phăn biệt, ký ức không còn trấn ngự thì cảm thọ của
ta về hương vị trà là 1 cảm thọ trực tiếp, một trực
giác mầu nhiễm trong đó không còn có sự phân biệt chủ
thể và đối tượng, người uống trà và trà bị uống. Tâm
vọng động cũng là tâm, như sóng nhấp nhô cũng là nước.
Lúc tâm tĩnh lặng rồi thì vọng tâm cũng là chân tâm. Chân
tâm là con người thật của ta, là Phật, là đại thể, duy
tính, duy nhất, không bị ngăn cách bởi ranh giới bản ngã,
khái niệm và ngôn từ. Tôi không muốn nói nhiều về khía
cạnh này đâu Thiều, chỉ đủ để “có đầu có đuôi”
thế thôi.
MỘT
LÀ TẤT CẢ, TẤT CẢ LÀ MỘT
Thiều
ơi ! Tôi muốn dành mấy trang trong trang thư này để nói về
các pháp quán niệm mà người tác viên có thể thực tập
đạt dần tới trình độ phá chấp, vô úy và đại bi của
các vị Bồ Tát. Đó là các pháp quán niệm về nhân duyên,
vô thường và từ bi.
Trong
lúc thiền tọa, sau khi nhiếp tâm quán chiếu về tính cách
duyên khởi của mọi hiện tượng. Phép quán niệm này không
phải là sự suy tưởng miên man về triết lý duyên sanh mà
là sự thể nhập của tâm thức vào trong đối tượng tâm
thức, dùng định lực để phơi bày mặt thực của những
đối tượng này.
Những
ai đã từng học Duy Thức đều biết danh từ “nhận thức”
là để gọi chung chủ thể và đối tượng nhận thấy. Chủ
thể nhận thức thực không có thể tồn tại độc lập với
đối tượng nhận thức.
Thấy
là thấy một cái gì, giận là giận một cái gì, mơ ước
là mơ ước một cái gì, tư duy là tư duy về một cái gì.
Khi mà đối tượng nhận thức (một cái gì) không có mặt
thì không thể có chủ thể nhận thức (thấy, nghe, giận,
mơ ước, tư duy). Người tọa thiền phải quán tâm, quán tâm
thì thấy được sự tương sinh của chủ thể nhận thức
và đối tượng nhận thức, và do đó khi ta quán niệm về
hơi thở thì nhận thức về hơi thở là tâm. Khi ta quán niệm
về thân thể thì nhận thức về thân thể là tâm. Khi ta quán
niệm về vũ trụ vạn hữu thì nhận thức về vũ trụ vạn
hữu cũng là quán niệm về tâm. Vậy quán niệm về thực
tánh duyên khởi của vũ trụ vạn hữu cũng là quán niệm
về tâm. Tất cả mọi đối tượng của tâm thức đều là
tâm thức. Trong Đạo Phật, đối tượng của tâm thức dược
gọi là pháp. Pháp được liệt kê thành năm loại : sinh vật
lý (sắc), cảm thọ (thọ), tư duy (tưởng), hành nghiệp (hành)
và nhặn thức (thức). Năm loại được gọi là năm nhóm (ngũ
uẩn). Tuy thế nhóm thứ năm (thức) bao gồm cả bốn nhóm
trước.
Quán
niệm về duyên khởi là nhìn sâu vào các pháp để phát hiện
tánh cách tương quan chặt chẽ của chúng, để thấy được
chúng trong cái đại thể toàn nhất. Để thấy được thực
tại không cắt xén thành từng mảnh nhỏ rời rạc khô chết.
Đối
tượng cần được quán niệm trước tiên là con người của
chính ta, là hợp thể ngũ uẩn. Hành giả quán niệm ngủ uẩn
của chính mình nơi tự thân. Hành giả ý thức được sự
có mặt của sinh lý, cảm thọ, tư duy, hành nghiệp và nhận
thức. Hành giả quán sát những đối tượng ấy cho đến
khi thấy rằng cái nào cũng có liên hệ thân thiết đến vũ
trụ vạn hữu. Nếu không có vũ trụ vạn hữu thì hợp thể
ngủ uẩn này cũng không thể có được.
Cũng
như một cái bàn, cái bàn có được là nhờ những hiện tượng
khác mà ta không gọi là bàn. Ví dụ rừng cây, người thợ
gỗ, người thợ mộc, sắt để làm đinh, cưa và búa, bút
chì và hàng trăm hiện tượng khác liên hệ xa gần tới cái
bàn như cha mẹ người thợ mộc, sự hình thành xưởng mộc.
Nhìn
thấy thực thể của cái bàn thì ta thấy nơi sự có mặt
của những hiện tượng mà ta không gọi là bàn. Trả lại
tất cả những hiện tượng không bàn về cho vũ trụ : đinh
về cho sắt, gỗ về cho rừng, người thợ mộc về cho cha
mẹ... thì cái bàn không còn có thể có mặt nữa. Người
nào nhìn cái bàn mà thấy được vũ trụ, người ấy thấy
được đạo.
Hành
giả quán chiếu hợp thể ngũ uẩn của mình bằng cách đó
cho đến khi thấy được sự có mặt của cái nhất thể thực
tại nơi thân mình, mình cùng với sự sống của đại thể
thực tại là một. Trả năm uẩn về thì tự ngã không còn
nữa. Vũ trụ vạn hữu đang nuôi dưỡng hợp thể ngủ uẩn
từng giây từng phút, tự ngã chỉ là hợp thể ngũ uẩn đó
chứ không còn là gì khác và hợp thể ngũ uẩn đó cũng đóng
một vai trò quan trọng trong sự hình thành, tồn tại và hoại
diệt của vạn hữu trong vũ trụ.
ĐỘ
NHẤT THIẾT KHỔ ÁCH
Thói
thường con người hay cắt xén thực tại ra từng mảnh nhỏ
tách biệt, ít thấy liên quan duyên khởi của các hiện tượng.
Thấy được tất cả trong cái một, thấy được cái một
trong tất cả là phá được một thứ cố chấp lớn mà Đạo
phật gọi là ngã chấp. Chấp ngã tức là chấp vào sự có
những thực thể bất biến, những mảnh nhỏ rời rạc khô
chết biệt lập với nhau. Phá được cái chấp ấy thì thoát
ra ngoài mọi sợ hãi. Bát nhã tâm kinh nói rằng : "Khi Bồ
Tát Quan Thế Âm quán chiếu về hợp thể ngũ uẩn và phát
hiện ra cái trống rỗng của tự ngã thì tức khắc Ngài vượt
thoát ra ngoài mọi khổ đau. ách nạn. Thiều cũng vậy, tôi
cũng vậy, các tác viên khác cũng vậy. Nếu chúng ta thực
tập quán niệm một cách dũng mãnh, tinh tiến thì chúng ta
cũng thoát ra được mọi khổ đau ách nạn, nhất là mọi
sự sợ hãi. Bổ Tát Quan Thế Âm thường được mô tả như
một sự chuyên môn đi hiến tặng sự không sợ hãi (vô úy
thí). Tặng phẩm ấy có chi là lạ. Đó là phương pháp quán
duyên khởi nơi ngũ uẩn. Điều quan trọng là nếu người
tặng đã tặng hết lòng thì người nhận cũng phải nhận
hết lòng, như thế thì tặng phẩm mới có thể tới tay.
Hành
giả phải tháo gỡ mọi bưng bít để sự sống của mình
hòa vào sự sống của đại thể. Con người không phải là
những đơn vị đóng kín trong một lớp vỏ dày và đang chu
du trong không gian và thời gian. Sống kiếp trăm năm hay sống
ngàn muôn kiếp trong chiếc kín (cái hũ) không phải là sống,
mà cũng không phải là chuyện có thể có được. Sự sống
của mình có mặt nơi những thực thể khác và những thực
thể khác lại có mặt nơi mình. Mình là sự sống và sự
sống không có biên giới. Có như thế thì mình mới sống
được cái sống của vũ trụ, của người anh em, vui được
cái vui của người anh em. Sự sống của mình đã không có
biên giới thì sự còn mất của một hợp thể ngủ uẩn nào
có nghĩa gì. Sự thăng trầm và tính cách vô thường của
vạn hữu, sự đắc thất không còn lung lạc được mình nữa.
Bởi vì hễ thấy được lẽ duyên khởi thì những thứ ấy
không còn khống chế được mình và mình thoát ra được mọi
khổ não. Ta hãy ngồi lại trong tư thế kiết già, điều phục
hơi thở và hơi Nhất Chi Mai.
Quán
duyên khởi phải quán cho chuyên cần. Trong lúc thiền tọa
ta đã quán thành mà trong lúc giao tiếp công tác thường nhật
ta cũng phải quán, phải thấy được người đối diện là
mình và mình là người đối diện. Phải thấy được quá
trình duyên khởi của mọi sự đã, đang và sẽ xảy ra.
DU
NGOẠN TRÊN NHỮNG ĐỢT SÓNG SANH TỬ
Thiều
ơi! Nói chuyện về những người tác viên tôi không thể không
đề cặp đến vấn đề sống chết. Phụng sự trong hoàn
cảnh như hoàn cảnh hiện tại ở Việt Nam, ta thường trực
đối diện với cái chết. Bao nhiêu anh em trong số chúng ta
đã hy sinh thân mạng rồi. Liên, Vui, Tuân, Huy, Thỉ, Hành,
Mai, Hùng, Toàn và tám người khác trong chín năm nay đã biệt
vô âm tín. Trong khl xông qua rừng lửa đạn, trong khi khiêng
chôn những xác chết. Trong số chúng ta có những thanh niên
tăng ni đã theo tiếng gọi của tình huynh đệ mà đi làm tác
viên xã hội nhưng vẫn nhớ rõ rằng vấn đề chính yếu
của thiền môn là vấn đề sống chết (“sinh tử sự đại").
Đã biết sự sống và sự chết chẳng qua là hai mặt của
cuộc đời, ta can đảm đối diện với cả sự sống lẫn
sư chết. Ngày xưa hồi mười chín tuốt, khi nghe giảng đến
phương pháp quán xác trong những bãi tha ma, tôi thấy bi thảm
quá và hơi có thái độ phản đối. Nhưng bây giờ tôi không
còn thấy như thế nữa. Ngày xưa tôi nghĩ phép “cứu tưởng
quán” chỉ nên để dành đến khi mình lớn tuổi, vào khoảng
ba mươi lăm, bốn mươi tuổi. Nhưng tôi đã thầy những người
trẻ tuổi xứ ta nằm ngã gục bên nhau, có người chỉ mới
mười bốn hay mười tám tuổi. Không chuẩn bị trước ta
không sẵn sàng để đối phó với cái chết. Với lại tôi
thấy rằng nếu không biết chết thì ta cũng chưa biết sống.
Bởi vì chết là một phần của sự sống. Quỳnh Hoa nói với
tôi mới đây hai hôm : Tuổi hai mươi đã có đủ năng lực
để quán cứu tướng. Quỳnh Hoa nói như vậy bởi vì cô ta
vừa được hai mươi mốt tuổi. Ta phải giáp mặt sự chết
và nhận diện nó như ta đã giáp mặt và nhận diện sự sống
vậy.
Kinh
Quán Niệm có nói về phép quán xác chết. Thấy xác chết
sình trương, bị thú vật và ruồi bọ rút rỉa, rồi còn
lại một bộ xương dính máu, rồi còn lại từng khúc xương
lãn lóc. trắng hếu, rồi những khúc xương mục nát thành
tro bụi... Quán như thế và biết chính bản thăn mình cũng
như vậy, cũng sẽ trải qua những giai đoạn ấy. Quán như
thế đến khi nào bình tĩnh, miệng mỉm cười, tâm trí nhẹ
nhàng thì thành công. Lúc bấy giờ ta không còn bi quan mà lại
còn thấy sự sống quí giá, đáng sống từng giây từng phút.
Không những sự sống nơi ta mà cả sự sống nơi mọi người,
mọi sinh vật, mọi thực vật. Ta không còn bám bíu sự sống
đến mức phải đi tiêu diệt sự sống của kẻ khác để
nuôi dưỡng sự sống của mình. Ta thấy được sống chết
là hai mặt của sự sống, cũng như mặt trái và mặt phải
của cùng một mặt trăng. Lúc bấy giờ ta siêu việt được
sinh tử và mới thực sự biết sống và biết chết. Kinh nói
những vị Bồ Tát đạt được Chân lý duyên khởi, phá vỡ
cái vỏ ngã chấp thì có thể vào sanh ra tử như người đi
du ngoạn ngồi trên nhưng đợt sóng mà không bị những đợt
sóng sinh tử làm chìm đắm.
Thiều
ơi! Có người nói nhìn thực tại với con mắt phật tử thì
sẽ thấy bi quan. Thực ra bi quan hay lạc quan là những gì quá
dễ dãi. Vấn đề là nhìn thấy thực tại một cách thấu
đáo. Một tâm trạng bi quan chẳng bao giờ đưa tới được
nụ cười trầm tĩnh mà ta thấy nở trên môi các vị Bồ
Tát và những người đạt đạo.
CÂY
BƯỞI TRƯỚC NHÀ
Tôi
đã nói với Thiều về phương pháp quán niệm duyên khởi.
Thiều cũng biết tất cả các phương pháp quán niệm trong
đạo Phật đều phải được xem là phương tiện mà không
phải cứu cánh hay chân lý tuyệt đối. Quán niệm duyên khởi
là phá tan những biên giới giả tạo giữa các hiện tưọng
để thể nhập vào hòa điệu đại đồng của sự sống mà
không phải xây dựng và cố chấp một triết thuyết gọi
là triết thuyết duyên khởi. Herman Hesse trong cuốn"câu chuyện
dòng sông” chưa thấy được nên đã đặt vào miệng chàng
Tất Đạt Đa một lời phẩm bình về triết lý duyên khởi
nghe còn non nớt. Nhà văn nói rằng lý duyên khởi cho thấy
hình ảnh một vũ trụ trong đó mọi vật tương quan duyên
mà hiện hữu, không có một kẽ hở nào để chứng tỏ có
sự sai lệch ra ngoài luật tương quan tương duyên ấy. Do đó,
ông không thể quan niệm được vấn đề giải thoát trong
vũ trụ này.
Trong
Duy thức học, ta thấy có phép quán niệm về ba tự tánh của
thực tại : Tự tánh biến kế chấp, tự tánh y tha khởi và
tự tánh viên thành thật.
Quán
duyên khởi nên theo sự hướng dẫn của Duy Thức, vì quên
lãng và thành kiến nên ta thường phủ lên thực tại một
lớp cố chấp. Vì vậy thực tại bị mang màu sắc biến kế
chấp. Biến kế chấp là cái sai lầm về thực tại, cho rằng
thực tại là những thể tách biệt, những cái ngã. Đó là
nguyên nhân của sự phăn biệt, kỳ thị, giận hờn. Để
phá biến kế chấp, người hành giả quán niệm tự tánh y
tha khởi, tức là sự tương quan tương duyên của vạn hữu
trong quá trình sinh thành, tồn tại và hủy diệt. Y tha khởi
cần được sử đụng như một dụng cụ quán chiếu mà không
được nhận thức là một triết thuyết.
Quán
chiếu y tha khởi là để thực chứng thực tại, thể nhập
thực tại, chứ không phải là để bị kẹt vào y tha khởi.
Cũng như dùng chiếc bè để qua bờ chứ không phải để đội
lên đầu, do ngón tay chỉ mặt trăng mà thấy được mặt
trăng chứ không phải lầm ngón tay là mặt trăng. Hành giả
coi cố chấp và y tha khởi như một hệ thống khái niệm thì
sẽ bị mắc kẹt.
Vì
vậy, phải có tự tánh viên thành thật. Viên thành thật là
một danh từ để chỉ thực lại một khi thực tại đã được
thoát khỏi màu của biến kế chấp. Viên thành thật có nghĩa
là thế này : Thực tại là thực tại, siêu việt khái niệm.
Bất cứ khái niệm nào cũng không thể miêu tả được nó,
dù cho nó là khái niệm y tha khởi. Cho chắc hơn, Duy Thức
đề ra Tam Vô Tánh để trung hòa Tam Tự Tánh, tránh cho người
học đạo không mắc kẹt vào ba tự tánh. Tinh hoa của Đại
Thừa là ở chỗ ấy.
Khi
mà thực tại hiển hiện trong tự tánh viên thành thật của
nó thì người hành giả đạt được thứ nhận thức gọi
là vô phân biệt trí. Nhận thức ở đăy là sự cảm thông
màu nhiệm trong đó không có sự phân biệt chủ thể và đối
tượng. Như tôi đã nói với Thiều một lần rồi, đăy không
phải là một cái gì xa xôi đâu Thiều. Bất cứ ai trong chúng
ta có thực tập chút ít đều có thể nếm được mùi vị.
Trên
bàn tôi có một xấp hồ sơ cô nhi. Mỗi ngày tôi dịch một
ít phụ với các bạn. Khi khởi đầu dịch một hồ sơ, tôi
nhìn vào tấm hình em bé và tự nhiên những nét mặt của
em gợi nhiều hình ảnh về bản thăn tôi và sự liên hệ
giữa tôi với các em khiến tôi đi vào một sự cảm thông
rất mầu nhiệm. Bây giờ viết những dòng này, tôi thấy
rằng trong giờ phút cảm thông ấy, tôi đã dịch những dòng
chữ trong hồ sơ với tâm trạng không phân biệt. Tôi không
thấy có tôi là người dịch hồ sơ giúp cho em bé, tôi không
thấy có em bé là đối tượng của sự thương yêu và giúp
đỡ. Em bé và tôi lúc ấy là một, không có ai thương ai,
không có ai nhờ ai, không có ai giúp ai. Không có bổn phận
cũng không có công tác. không có từ bi, không có Ba La Mật.
Cái giờ phút cảm thông đó, nếu chẳng là một tia sáng của
vô phân biệt trí thì còn là gì nữa hả Thiều. Khi thực
tại hiển hiện trong tự tánh viên thành thật của nó thì
cây bưởi trước nhà cũng biểu hiện tự thân của nó một
cách toàn vẹn. cây bưởi lúc bấy giờ là chân như, là phật
tánh, là thực tại, là mình. Bao nhiêu người đi qua sân mà
đã có mấy người thấy được cây bưởi. Người nghệ sĩ
có tâm hồn thế nào đó cho nên thấy được cây bưởi nhiều
hơn, sâu hơn kẻ phàm phu. Sở dĩ có một sự cảm thông nào
đó vì lòng anh rộng mở. ăn thua là ở lòng mình. Nếu lòng
mình không bị kiến chấp ràng buộc thì tự nhiên mình đi
vào chỗ cảm thông với cây bưởi và cây bưởi sẵn sàng
biểu lộ tự thân toàn vẹn của nó với mình. Thấy cây bưởi
tức là thấy đạo.
Có
một Thiền Sư được hỏi về chân lý mầu nhiệm của thực
tại bèn chỉ ra gốc Bạch Dương mà nói : "nhìn cây Bạch
Dương kia kìa”. Thiều có hiểu ngụ ý của vị Thiền sư
không? Có chứ phải không!.
TIẾNG
HẢI TRIỀU VANG DẬY
Khi
tâm được giải toả, ta thấy lòng tràn ngập cảm thương,
cảm thương cho chính ta trải qua bao khổ đau chỉ vì chưa
thấy được chính mình, chưa thấy được sự sống, chưa
cởi bỏ được cố chấp, ganh ghét, thù hận. Còn tiếp tục
gây khổ cho người khác. ấy là ta biết nhìn ta và nhìn người
bằng con mắt từ bi. “lấy con mắt từ bi để nhìn mọi
người” (Từ nhãn thị chúng sanh) là câu kệ trong kinh Pháp
Hoa nói về Đức Bồ tát Quan Thế Âm. Đức từ bi của vị
bồ tát này là một tiếng kêu gọi vọng suốt thời gian và
không gian, tiếng kêu gọi của người đã thấy được thực
tại toàn vẹn :
“Tiếng
màu nhiệm, tiếng của người nghe được lời kêu đau thương
của cuộc đời, tiếng tôn quý, tiếng sóng biển vang dậy.
Tiếng siêu việt mọi thứ tiếng, trong đời ta hãy thường
quán niệm tiếng ấy.
Bỏ
ra ngoài mọi nghi hoặc, hãy quán niệm bản chất thanh tịnh
và siêu việt của Quan Thế Âm, bởi vì trong mọi trường
hợp khổ não, tử sanh, ách nạn, sự quán niệm ấy sẽ là
cánh cửa đi tới giải thoát.
Người
đầy đủ mọi công đức, thường lấy con mắt từ bi để
nhìn chúng sinh, khiến cho hạnh phúc chảy tụ thành biển vô
lượng, ta hãy cúi đầu làm lễ người ấy”.
(Diệu
âm Quan Thế Âm
Phạm
âm hải triều âm
Thắng
bỉ thế gian âm
Thị
có tu thường niệm.
Niệm
niệm vật sanh nghi
Quan
Thế Âm tịnh thánh
ư
khổ não tử ách
Năng
vị tác y hộ
Cụ
nhất thiết công đức
Từ
nhãn thị chúng sanh
Phước
tụ hải vô lượng
Thị
cố ứng đảnh lễ)
Tập
nhìn chúng sanh với con mắt từ bi đó là một phép quán gọi
là từ bi quán. Từ bi quán nên được thực hiện trong những
giờ tọa thiền và cả trong những lúc giao tiếp phụng sự.
Đi đâu, ngồi đâu cũng nên nhớ tiếng gọi của quan Thế
Âm Bồ Tát - từ nhãn thị chúng sanh.
Thiều
ơi ! đối tượng và phương pháp thiền quán nhiều lắm. Trong
kinh hệ Pali gọi là Kammatthana, nhưng tôi sẽ không viết hết
được cho Thiều và các bạn đâu. Tôi đã chỉ viết một
vài phương pháp giản lược nhưng căn bản. Người tác viên
cũng như mọi người, anh phải sống đời sống của anh ,
chị phải sống đời sống của chị. Làm việc chỉ là một
phần của sự sống, làm việc trong chánh niệm mới là sống,
mới khỏi bị liệt vào hàng "'Sống như một người chết”.
mỗi người chúng ta cần sự thắp đuốc lên mà đi. Nhưng
sự sống của chúng ta có liên hệ tới sự sống của những
người xung quanh. Nếu ta biết sống chánh niệm, nếu ta biết
giữ gìn tâm ý thì anh em chúng ta cũng được nhờ đó mà
biết sống chánh niệm, giữ gìn tâm ý.
NƯỚC
SÔNG TRONG HƠN, CÂY CỎ XANH THÊM
Thiều
ơi, có một lần Đức Mâu Ni nói vấn đề sống chết là
vấn đề chánh niệm. Còn hay mất là do có chánh niệm hay
không. Trong kinh 'Samyutta Nikeiya 47.20 Ngài kể chuyện xảy ra
trong một làng kia :
“Một
vũ nữ hoa hậu vừa tới trong làng và dân chúng đổ xô đi
xem chật đường chật ngõ. Lúc đó có một tên tử tội được
áp giải đi ngang qua làng. Tên tử tội được lệnh phải
nâng trong hai tay một bát dầu đầy tới miệng chén. Anh ta
phải giữ ý tứ, nếu dầu trong chén sóng sánh rơi xuống
đất một giọt là tên lính di sau sẽ lấy mã tấu chém đầu
tức khắc, bởi vì nhà vua đã ra lệnh cho hắn như vậy”.
Kể
đến đây, Đức Thế Tôn hỏi:
“Này
các thầy, trong trường hợp đó người tử tội có thề dễ
dàng được không? Anh ta có thể để tâm ý đi lang bang tới
người khác và không chú ý gì tới chén dầu và sự có mặt
của nam nữ trong làng đang đi chật đường chật ngõ, có
thể xô đụng anh ta bất cứ lúc nào không?”
Có
một lần Phật kể chuyện sau đây khiến tôi thấy được
tất cả sự quan trọng của việc thực tập chánh niệm nơi
tự thân mình. Nơi tự thân mình nghĩa là mình lo phận mình
chứ đừng lo rằng người khác không chịu thực tập như
mình, rồi sanh lo lắng và trách móc. Phật nói :
“Có
thầy trò một nhà kia làm nghể mãi võ. Người đàn ông góa
vợ và người học trò là một cô gái nhỏ tên là Meda Kathullika.
Hai thầy trò trình diễn để kiếm ăn. Họ dựng một thăn
tre cao, người đàn ông đặt cây tre trên đỉnh đầu mình
trong khi em gái leo dần lên đầu cây rồi dừng lại trên đó
để người đàn ông tiếp tục di chuyển trên mặt đất.
Cả hai đều phải vận dụng sự tập trung tâm ý đến một
mức độ khá cao để giữ thăng bằng và để ngăn chặn tai
nạn có thể xảy ra. Một hôm người kia đặn học trò :
Này
Meda Kathulika, con hãy giữ gìn cho ta và ta sẽ giữ gìn cho con,
chúng ta hãy giữ gìn cho nhau, để tránh được tai nạn và
để thầy trò mình kiếm được ít tiền ăn. Đứa bé gái
vốn thông mnh trả lời rằng : Thưa thầy.... có lẽ ta nên
nói thế này đúng hơn : Trong hai thày trò ta mỗi người nên
tự gìn giữ lấy mình, giữ gìn lấy mình tức là gìn giữ
cho nhau tránh được tai nạn và để thầy trò mình kiếm được
ít tiền ăn cơm”. Đức Phật nói : đứa bé nói đúng ! (kinh
Samyutta Nikaya 47.19).
Trong
một gia đình có người biết tập chánh niệm thì tất cả
thành viên gia đình được nhờ cậy hạnh tụ, cả gia đình
nhờ sự có mặt của một người sống trong chánh niệm mà
được nhắc nhở rằng : Mình cũng phải sống trong chánh niệm.
Trong tập thể có một người sống trong chánh niệm thì cả
tập thể đều được thừa hưởng. bởi vì sự có mặt của
người kia cũng.được xem như sự có mặt của một Đức
Phật. Trong gia đình Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, ta nên biết
thực hiện nguyên tắc đó, đừng lo ngại rằng người đồng
sự của mình không xứng đáng mà chỉ nên nghĩ đến là làm
sao cho mình được xứng đáng. Mình xứng đáng, đó là cách
hữu hiệu nhất để nhắc nhở các bạn trong cộng đồng
của mình. Mà muốn xứng đáng phải thực tập chánh niệm.
Thực tập chánh niệm mới không đánh mất mình, mới có đủ
an lạc sáng suốt, mới nhìn được mọi người với đôi
mắt thương yêu cởi mở.
Thiều
ạ ! Tôi mới vừa ở nhà dưới lên. Tôi xuống để pha một
tách trà, uống cho đỡ khô trước khi viết tiếp cho Thiều.
Chị Kirsten pha trà cho tôi. Thấy chiếc dương cầm tôi nói
với chị : Thôi, chị ngưng dịch hồ sơ cô nhi đi và đàn
cho tôi nghe năm bảy phút. Kirsten chiều ý ngồi xuống đàn,
chị đàn một khúc của Chopin mà hồi còn nhỏ chị rất quen
thuộc. Bản đàn có vài khúc êm dịu, nhưng cũng có nhiều
khúc ray rứt, bạo động. Con chó của chị Kirsten nằm dưới
bàn trà rên rỉ, gầm gừ khó chịu. Thấy nó tôi biết nó
bất an, dằn vặt. Con chó này được đối xử nhẹ nhàng
và cẩn trọng như một đứa bé và năng khiếu rung cảm của
nó về nhạc có thể hơn một đứa bé thường. Có thể một
phần tai chó nghe được nhiều âm ba mà tai người không nghe
thấy. Chị Kirsten vừa đàn vừa quở con chó nhưng nó vẫn
rên rỉ bất an, chị đàn xong bản đó thì chuyển sang một
khúc nhạc của Mozart dịu dàng. êm ả, thanh thoát, con chó
bây giờ nằm yên, có vẻ khoẻ khoắn an lạc. Đàn xong, Kirsten
đến ngồi bên cạnh tôi nói : "Nhiều khi tôi đàn những khúc
hội bạo động của Chopin, nó đến và lấy mõm hất tôi
ra khỏi ghế, không cho tôi đàn. Có khi tôi phải cho nó ra
ngoài rồi đóng cửa lại mới đàn được. Nhưng hễ tôi
chơi những khúc nhạc của Bach và Mozart thì nó nằm im thin
thít”. Kirsten nghe nói bên Canada người ta đã dùng nhạc Mozart
và Beethoven để nuôi dưỡng hoa cỏ. Trong đêm tối người
ta nhặn thấy các cây hoa lớn mau hon và những cây hoa hướng
dần về phía có nhạc Mozart phát ra. Người ta lại đã thí
nghiệm nhạc Mozart với lúa mì và lúa mạch. Họ bắt những
loa phóng thanh trên cánh đồng lúa và cho nhạc Mozart phát thanh
nhiều giờ trong ngày. Và người ta nhận thấy lúa mọc nhanh,
thoải mái hơn so với các cánh đồng khác.
Nghe
Kirsten nói, tôi liên tưởng tới các phòng họp nơi mà người
ta liệng vào nhau những nhiếc móc, những lời kết tội thâm
độc xuất từ tâm niệm căm ghét hận thù. Tôi nghĩ nếu
có những chậu hoa cỏ cây lá trong phòng thì chúng không thể
lớn lên được. Nếu chất độc tham sân si trong lòng người
tiếp tục tiết ra bằng âm thanh từ ngày này qua ngày khác
thì vách đá cũng phải nứt ra nữa chứ đừng nói hoa cỏ.
Tôi nghĩ đến hoa cỏ trong khu vườn của một người tu chánh
niệm. Người xưa nói :"khi thánh nhân ra đời thì nước sông
trong hơn, cây cỏ xanh thêm” có lẽ cũng vì vậy. Trước
mỗi lần họp khối học vụ hay khối công tác, mình có nên
nghe nhạc hay ngồi thiền tập không hay Thiều ?.
BA
CÂU TRẢ LỜI MẦU NHIỆM
Để
kết thúc thư này, tôi xin kể tặng Thiều và các bạn một
câu chuyện mà văn hào Lev Tolstoy đã kể và tôi tin là Thiều
và các bạn trong trường sẽ thích lắm Đó là câu chuyện
“Ba câu hỏi khó của nhà vua”.
Nhà
vua ấy Tolstoy không biết tên. Một hôm vua nghĩ rằng : “Giá
mà vua trả lời được ba câu hỏi thì vua sẽ không bao giờ
bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy
là:
1/
Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận
lợi nhất cho mỗi công việc?
2/
Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng
nhất mà ta phải chú trọng?
3/
Làm sao để biết được công việc nà o là công việc cần
thiết nhất mà ta phải thực hiện?
Nghĩ
thế vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dăn thiên hạ, hứa
rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được
ba câu hỏi đó.
Các
bậc hiền thần đọc chiếu liền tìm đến kinh đô. Nhưng
mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau.
Về
câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng: muốn biết
thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc
thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng. Có ngày, giờ, năm,
tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy, như
vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói
không thể nào dự tính trước được những gì phải làm
và thời gian để làm những việc ấy. Rằng ta không nên ham
vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xảy tới để có
làm bất cứ gì xét ra cần thiết. Có kẻ lại nói rằng dù
vua có chú ý tình hình mấy đi chăng nữa thì một mình vua
cũng không đủ để định đoạt thời gian làm việc một
cách sáng suốt. Do đó nhà vua phải thành lập một hội đồng
nhân sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ. Lại
có kẻ nói rằng có những công việc cần phải quyết định
tức khắc không thể nào có thì giờ tham khảo xem đã đến
lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy thời
điểm cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xảy ra,
do đó nhà vua phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri
và bốc phệ.
Về
câu hỏi thứ hai cũng có nhiều tấu trình không giống nhau.
Có người nói những nhân vật vua cần chú ý nhất là những
Đại thần và những người trong triều đình. Có người nói
là mấy ông Giám mục thượng tọa là quan hệ hơn hết. Có
người nói là mấy ông tướng lĩnh trong quân đội là quan
trọng hơn hết.
Về
câu hỏi thứ ba các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau.
Có người nói khoa học là quan trọng nhất. Có người nói
chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất...
Vì
các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không đồng ý với
vị nào cả và chẳng ban thưởng cho ai hết. Sau nhiều đêm
suy nghĩ vua quyết định chất vấn một ông Đạo tu trên núi.
Ông Đạo này nổi tiếng là người có giác ngộ. Vua muốn
tìm lén trên núi gặp ông Đạo và hỏi ba câu hỏi kia vì
vị Đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông
ta ở chỉ có những người dân nghèo. Chẳng bao giờ ông chịu
tiếp những người quyền quí. Nhà vua cải trang làm thường
dân, khi đi đến chân núi vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới
và một mình vua trong y phục một thường dân trèo lên am của
ông Đạo. Nhà vua gặp ông Đạo đang cuốc đất trước am.
Khi trông thấy người lạ ông Đạo gật đầu chào rồi tiếp
tục cuốc đất. Ông Đạo cuốc đất một cách nặng nhọc
bởi ông Đạo đã già yếu. Mỗi khi cuốc lên được một
tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông
lại thở hổn hển. Nhà vua tới gần ông Đạo và nói: “Tôi
tới đây để xin ông Đạo trả lời giúp ba câu hỏi : làm
thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để
cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc ? Ai là những người quan
trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả, và công
việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước?”.
Ông
Dạo lặng nghe nhà vua, nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ
vai nhà vua và cuối cùng tiếp tục cuốc đất. Nhà vua nói
: "Ông Đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc
một lát”. Vị Đạo sĩ cảm ơn, trao cuốc cho vua rồi ngồi
xuống đất nghỉ mệt.
Cuốc
xong được hai vòng đất thì nhà vua ngừng tay và lập lại
câu hỏi. Ông Đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và
đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói : “Bây giờ bác phải nghỉ,
đến phiên tôi cuốc”, nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại
tiếp tục cúi xuống cuốc đất.
Một
giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua, rồi mặt trời bắt đầu
khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc và nói
với ông Đạo :
“Tôi
tới để xin ông Đạo trả lời cho mấy câu hỏi, nếu ông
Đạo không trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho tôi biết
để tôi còn về nhà”.
Chợt
lúc đó, ông Đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn
nói với nhà vua : "Bác thử xem có ai chạy lên kìa”, nhà
vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp
xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng máu chảy ướt đẫm
cả hai tay, ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu
giữa đất, nằm im bất dộng, miệng rên rỉ. Vua và ông Đạo
cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi
bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình
ra băng bó vết thương. Nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt
áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi
máu ngưng chảy. Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh
dậy và đòi uống nước.
Vua
chạy đi múc nước suối cho ông ta uống, khi đó mặt trời
đã khuất núi và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của
ông Đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt
nằm trên giường của ông Đạo. Ông ta nhắm mắt nằm im.
Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi
dựa vào cánh cửa mà ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến
nỗi khi nhà vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một
lúc lâu sau vua mới nhớ được là mình đang ở đâu và đang
làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương
cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng. Người
đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì cất giọng
rất yếu : “Xin bệ hạ tha tội cho thần!” , vua đáp : “Ông
có làm gì nên tội đâu mà phải tha ?", “Bệ hạ không biết
hạ thần nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người
thù của bệ hạ. Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho
bằng được, bởi vì ngày xưa trong chinh chiến Bệ hạ đã
giết mấy người anh và còn tịch thu gia sản của hạ thần
nữa. Hạ thán biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình
để gặp ông Đạo sĩ nên đã mai phục quyết tâm giết bệ
hạ trên con đường xuống núi. Nhưng đến tối mà bệ hạ
vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục
mà đi lên núi tìm bệ hạ. Hạ thần lại gặp bọn vệ sĩ.
Bọn này nhận mặt được hạ thần cho nên đã xúm lại đâm
hạ thần. Hạ thần trốn được, chạy lên đây, nhưng nếu
không có bệ hạ thì chắc hạ thần đã chết vì máu ra nhiều
quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại
cứu sống được hạ thần, hạ thần hối hận quá. Giờ
đây nếu hạ thần còn sống được thì hạ thần nguyện
làm tôi mọi cho Bệ hạ suốt đời và hạ thần cũng sẽ
bắt các con hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho
thần”.
Thấy
mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng, nhà
vua rất vui mừng. Vua không những hứa tha tội cho người kia
mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta và gởi ngay thầy
thuốc cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh.
Sau
khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về, nhà vua trở lên
tìm ông Đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lập lại
lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông Đạo đang quỳ gối xuống
đất mà gieo những hạt đậu trên những luống đất đã
cuốc sẵn hôm qua. Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua đáp :
"Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà”.
Vua hỏi trả lời bao giờ đâu nào. “Hôm qua nếu vua không
thương hại bần dạo già mà ra tay cuốc dm mấy luống đất
này thì khi ra về vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất
rồi và nhà vua sẽ tiếc là đã không ở lại cùng ta. Vì
vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian vua đang cuốc
đất, nhân vật quan trọng nhất là bần đạo đây và công
việc quan trọng nhất la công việc giúp bần đạo. Rồi sau
đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng
nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua
không băng vết thương cho ông ta thì ông ta sẽ chết và vua
không có dịp hoà giải với ổng, cũng vì thế mà ông ta là
nhăn vật quan trọng nhất và công việc vua làm để băng bó
vết thương là quan trọng nhất. Xin vua hãy nhớ kỹ điều
này nhé : chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là
thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại, giờ phút hiện
tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó
ta có thể làm chủ được ta. Và nhân vật quan trọng nhất
là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt
ta, bởi vì ai biết được mình sẽ đương đầu làm việc
với những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan trọng nhất
là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang
đứng trước mặt ta được hạnh phúc. Bởi vì đó là ý
nghĩa chính của đời sống”.
Thiều
ơi ! câu chuyện của Lev Tolstoy giống như là một câu chuyện
trong kinh Phật và không thua gì một cuốn kinh Phật. Chúng
ta nói phụng sự xã hội, phụng sự dân tộc, phụng sự nhăn
loại....phụng sự những ai và ai đâu xa lạ, nhưng nhiều
khi ta quên mất rằng chính ta phải sống cho những người
thân của ta trước tiên. Nếu Thiều không phụng sự cho Mười
và bé Hải Triều Âm sung sướng thì Thiều có thể làm cho
ai sung sướng. Nếu các bạn trong thanh niên phụng sự xã hội
không thương được nhau, không giúp đỡ được nhau thì chúng
ta giúp đỡ được cho ai? Chúng ta làm việc cho con người
hay chúng ta làm việc cho uy tín của một tổ chức.
Danh
từ phụng sự to tát quá. Phụng sự xã hội. Danh từ xã hội
to tát quá. Ta hãy trở về với cộng đồng bé nhỏ của ta
đã. Gia đình ta, đồng sự của ta, bè bạn của ta, đoàn
thể của ta... Ta phải sống vì họ. nếu không vì họ được
ta có thể sống vì ai nữa ?
Tolstoy
là một vị Bồ Tát trong câu chuyện trên. Nhà văn hào này
thấy được ý nghĩa của cuộc sống và phương thức sống.
Làm thế nào dể ta sống giờ phút hiện tại, sống ngang với
người ta chung đụng hàng ngày, làm ngay điều có thể giúp
cho họ bớt khổ đau, thêm hạnh phúc, làm thế nào ? câu trả
lời là phải thực tập chánh niệm. Nguyên tắc của Tolstoy
nêu ra đó xem là dễ, nhưng muốn thực nghiệm chúng ta phải
nhờ những phương pháp quán niệm cụ thể mà ta tìm thấy
nơi Đạo Phật.
Thiều
ơi ! Tôi viết những trang này để cho các bạn sử dụng,
có những kẻ viết về những điều mà họ thực sự không
biết rõ. Tôi chỉ viết những điều mà tôi đang và đã thực
nghiệm. Tôi mong những điều tôi viết có thể giúp em và
các bạn một phần nào.
Xem
Tiếp: Phần Thứ Hai: Ba Mươi
Mốt Bài Thực Tập
WP:
Mỹ Hạnh