Tất
cả chúng ta đều đồng ý là sự phát triển kinh tế càng
ngày càng tăng sau đổi mới đã làm cho cuộc sống dân chúng
khá lên, và đến năm 2010 chúng ta sẽ thoát khỏi nhóm các
nước đói nghèo. Nhưng không nhiều người chú trọng vào
văn hóa, như là động lực của kinh tế, như ý kiến của
UNESCO.
Không
chỉ là động lực mà văn hóa còn là định hướng và là
kết quả nhân văn của một nền kinh tế lành mạnh. Bởi
vì văn hóa là yếu tố căn bản nhất để định nghĩa con
người: con người là một sinh vật có văn hóa.
Ít
người thấy rõ sự tác động đó của văn hóa vào kinh tế.
Thí dụ tai nạn giao thông, chủ yếu do thiếu văn hóa, không
chấp hành luật lệ giao thông, say sưa, chạy ẩu, giành khách…
đã làm giảm 1,5 - 2% GDP mỗi năm ở nước ta. Còn nhiều tệ
nạn xã hội làm cho đất nước nghèo đi như xả rác gây
ô nhiễm, phá rừng, bệnh AIDS…
Chỉ
lấy một thí dụ như: dịch cúm gia cầm ở Bạc Liêu, Cà
Mau. Xem ti vi mới thấy nếu vịt chết mà chịu khó đốt hay
chôn thì chắc lây lan ít, thay vì thế lại vất bừa trên
kênh lạch. Chúng ta sẽ mất bao nhiêu tiền để ngăn chặn
và dứt trừ nạn dịch? Mỗi năm ngành đường sắt tốn 800
triệu để thay kính vỡ trên toa vì bị ném đá từ dưới
đường.
Chỉ
lo phát triển kinh tế mà ít chú trọng đến phát triển văn
hóa thì xây dựng một lại phá gần nửa, có thêm thì lại
mất cái không đáng mất. Giàu có chưa chắc đã có một cuộc
sống tốt đẹp nếu không có một trình độ văn hóa tương
đương. Có những người ngoại thành bán đất, mua xe cho con
cái rồi chạy ẩu, chết. Cha thì uống rượu nhiều sanh đau
gan, chết. Còn nội thành thì có khi hư hỏng ăn chơi.
Người
ta kính trọng một nước hay một con người không chỉ do một
yếu tố duy nhất là giàu mà còn nhiều yếu tố khác: nước
đó có bao nhiêu Nobel về khoa học hay văn chương, hiện có
bao nhiêu nhà làm phim, bao nhiêu nhà nghệ thuật, bao nhiêu nhà
trí thức có tiếng nói ảnh hưởng đến dân chúng, có nhà
chính trị kinh tế nào làm thay đổi vận mệnh của một đất
nước?
Khi
xây dựng kinh tế, văn hoá là một yếu tố quyết định.
Nhìn sang Tây phương, một số nhà xã hội học hàng đầu
đã nói chủ nghĩa tư bản là kết quả của cuộc cách mạng
công nghiệp và chủ nghĩa Thanh giáo Tin lành (Puritanism) vào
cuối thế kỷ XVI (xem Thuyết khổ hạnh và tinh thần của
Chủ nghĩa tư bản của Max Weber).
Ngay
thời hiện tại, chủ trương phải làm giàu để giúp đỡ
người khác của nền văn hóa tin lành, (trái với Thiên chúa
ca ngợi sự nghèo khó, xem đó là một đức hạnh) - vẫn còn
ảnh hưởng: 2 tỷ phú giàu nhất và nhì thế giới, trong đó
một người là Bill Gates đã cho đi nửa gia tài và nói sẽ
cho hết vào cuối đời và một tỷ phú khác đã cho tất cả
gia tài vào việc từ thiện. Nếu xem xét kỹ hơn thì ngay cả
những đức tính của những nhà kinh tế cũng có phần đóng
góp rất lớn cho văn hóa.
Trong
cuốn Nghệ thuật lãnh đạo lấy từ kinh Thánh (The Bile leadership
- Nhà xuất bản Tri thức, 2006) của Lorin Woolfe giảng dạy
về quản lý và lãnh đạo tại Hiệp hội Quản trị Mỹ AMA,
chúng ta thấy những đức tính và khả năng lãnh đạo trong
kinh tế được xếp theo mười chương: 1. Chính trực và lương
thiện, 2. Mục đích, 3. Lòng nhân ái và lòng tốt, 4. Tính
khiêm nhường, 5. Kỹ năng giao tiếp, 6. Kỹ năng quản lý hiệu
quả công việc, 7. Phát triển đội ngũ, 8. Lòng can đảm,
9. Công bằng và bình đẳng, 10. Phát triển đội ngũ lãnh
đạo.
Chúng
ta thấy có những nhà quản lý kinh tế thành công với những
tư tưởng thật đẹp. Max De Pree, cựu chủ tịch hãng Herman
Miller đã viết: “Mục tiêu của tôi là khi người ta nhìn
vào chúng tôi không chỉ là một tập đoàn mà là cả một
nhóm người làm việc thân thiết trong một mối quan hệ giao
ước với nhau, họ sẽ nói, “những người này là món quà
cho tâm hồn”. Kế nghiệp ông là Kermit Campbell, đã bổ
sung rằng sứ mệnh thật sự của công ty không phải là tạo
ra sản phẩm mà là “giải phóng tâm hồn con người”. Nhưng
cũng trong cuốn sách này L. Woolfe nói: “Thời kỳ nhà tiên
tri Jeremiah là thời kỳ suy tàn hơn cả nước Mỹ cuối thế
kỷ XX” (trang 38).
| Bây
giờ nhìn trở lại văn hóa Việt Nam. Chúng ta không phải mặc
cảm gì cả: nền văn hóa đó đã sinh ra những nhân vật như
Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông, những vị đã ba lần chiến
thắng Nguyên Mông (chuyện mà cả thế giới Đông và Tây không
thể làm được vào lúc đó), đã đưa xã hội Việt Nam đến
đỉnh cao về mọi mặt ở tầm thế giới.
Chúng
ta hãy xem bài thơ của Trần Quang Khải, lời bạt trong Thượng
Sĩ Ngữ Lục của thượng tướng Trần Khắc Chung chúng ta
sẽ thấy các quan võ ấy văn hóa cao như thế nào. Hai vị
vua ấy là lý tưởng của Platon: nhà vua đồng thời là nhà
hiền triết.
Sở
dĩ bây giờ chúng ta cảm thấy thua kém thiên hạ vì chúng
ta vẫn chưa hiểu nên chưa ứng dụng được những gì mà
hai nhà vua ấy hay những vua đời Lý đã làm. Chúng ta chưa
hiểu chỗ “bất biến” của các vị (cái bất
biến không phải chỉ riêng các vị mà là của cả dân tộc),
và do đó chưa thể “ứng với vạn biến” của thời đại
ngày nay. |
Tại
sao nước Mỹ có những nhà kinh tế hàng đầu với những
tư tưởng nhân văn như thế, với những phương tiện mà không
nước nào có được, lại không thể tạo ra một xã hội
lý tưởng? Hẳn là vì văn hóa, vì bảng giá trị sống còn
thiếu những điều căn bản nào đó, và vì triết học có
những lỗ hổng lớn ở nhân sinh quan và bản thể luận. Có
lẽ vì thế mà những triết gia hàng đầu của Tây phương
ở thế kỷ XX như Karl Jasper, Martin Heidegger… những nhà triết
học như Heinzich Zimmer, Francois Jullien… đều tìm hiểu,
đối thoại với và tìm cách bổ sung bằng minh triết Đông
phương. Hiện giờ Phật giáo đang phát triển mạnh ở Âu
Mỹ, không chỉ bằng những quan niệm lý thuyết mà chủ yếu
là bằng sự thực hành có phương pháp, chúng ta không biết
có lấp đầy những lổ hổng chết người đó không. Cái
đó cũng tùy thuộc vào vận mệnh của những nước đang đứng
đầu và đang phát triển khoa học kỹ thuật và sự sung túc
vật chất.
Văn
hóa là động lực và cũng là mục tiêu của kinh tế, chính
trị và xã hội. Chả thế mà theo Platon, lý tưởng là một
nhà vua đồng thời là một triết gia. Ở Đông phương, một
minh quân lý tưởng là một nhà hiền triết, với Trung Hoa
là đạo “nội thánh ngoại vương”. Văn hóa có khi là yếu
tố quyết định trong phương thức tiến hành hoạt động
chính trị, xã hội và kinh tế. Như Mahatma Gandhi, khi tranh đấu
cho nền độc lập Ấn Độ đang bị Anh cai trị, ông đã chọn
sách lược bất bạo động là một yếu tố văn hóa Ấn Độ
nói chung và Phật giáo nói riêng. Lịch sử cho thấy sách lược
đó có kết quả nhanh chóng, bớt hao tổn, và đem lại cái
mà ngày nay gọi là “cả hai cùng thắng”.
Hiện
giờ khoa học kỹ thuật là tài sản chung của nhân loại,
nhưng sử dụng khoa học kỹ thuật đó như thế nào là vấn
đề văn hoá. Chẳng hạn có những nước giàu nhờ chế tạo
và buôn bán vũ khí, hay trả cho công lao của công nhân và
nông dân quá rẻ. Kinh tế không thể tự mình giải quyết
được hố ngăn cách giữa một số quá ít quá giàu và đa
số nghèo, như một số nước giàu nhất cho thấy, mặc dù
họ cũng đứng nhất về những lý thuyết kinh tế. Phải chăng
chúng ta đều cần những yếu tố văn hóa để kinh tế không
là sự chia rẽ con người và có sự ổn định bền vững.
Sử
dụng khoa học kỹ thuật thế nào để đưa lại hạnh phúc
chân thực cho con người, đó là định hướng của văn hóa.
Chúng ta thấy khoa học kỹ thuật là chung, thế giới là “phẳng”,
nhưng Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Trung Quốc đều có
hướng đi riêng, độc lập nhưng không cô lập, và họ đã
khá thành công. Đó là bản sắc văn hóa. Họ giàu có lên
nhưng vẫn giữ được sự ổn định xã hội, ít ly dị, gia
đình vẫn là tế bào căn bản của xã hội, những phong tục,
lễ lạt và tính tình vẫn không thay đổi nơi cốt lõi.
Nhìn
một cách sâu hơn, tất cả mọi nền văn hóa, mặc dầu có
những ưu khuyết điểm riêng, đều có hướng đi chung khiến
cho tất cả đều “đồng quy nhi thù đồ” (khác đường
nhưng quy hướng về một chỗ, lời của Khổng Tử). Mọi
nền văn hoá đều có giá trị chung, ước mơ chung là làm
cho con người hoàn thiện hơn, cao đẹp hơn, hiểu biết hơn,
nhiều yêu thương hơn… Chỗ đồng quy đó là Chân Thiện
Mỹ. Mặc dầu có những điểm yếu, điểm mạnh riêng, có
trình độ cao thấp khác nhau, nhưng tất cả đều nhắm đến
Chân Thiện Mỹ cho nhân loại và hành tinh này.
Chính
vì ước mơ chung đó nên văn hóa là tác nhân có thể đưa
đến đối thoại (nền văn hóa không thể và không muốn đối
thoại, không thể và không muốn cùng đưa nhau tiến bộ là
một nền văn hoá kém, chưa tiến bộ, nhất là trong thời
đại toàn cầu hóa ngày nay), đưa đến cảm thông, đưa đến
hòa hợp, đưa đến “tứ hải giai huynh đệ” (bốn biển
là anh em, lời của Khổng giáo) cho thế giới. Đây là điều
khoa học kỹ thuật và những thành tựu kinh tế không thể
làm, bởi vì một thế giới đồng dạng về mặt vật chất,
xe hơi, điện thoại di động, internet… mà chưa có tinh thần
đối thoại, khoan dung, cảm thông, tinh thần cùng hướng về
Chân Thiện Mỹ, tinh thần văn hóa, thì vẫn chưa thể cùng
sống hạnh phúc nơi trái đất nhỏ hẹp này được.
Nguyễn
Thế Đăng
www.phattuvietnam.net
13.05.2007
08:19
Bài
Đọc Thêm:
Kinh
tế học Phật giáo, Thích Giải Hiền
Nền
tảng Kinh tế học từ cái nhìn Phật giáo, Thích Tuệ Sỹ
Kinh
tế từ cái nhìn Phật giáo, Thích Nhật Từ
Kinh
tế Phật giáo: Một giải pháp toàn diện, Thích Tâm Đức
Cần
một giải pháp toàn diện đối với Phật giáo Việt Nam, Ts.
Nguyễn Quốc Tuấn
Phật
giáo và Kinh doanh: Một doanh gia tốt có thể là một Phật
tử tốt không?, Hà Xuân Trừng