THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
Giới Thiệu Về Kinh Ðiển.
Kinh Ðiển Bắc Tông (Hán Tạng)
Kinh Ðiển Nam Tông (Pali Tạng)

 
.
PHẬT THUYẾT
KINH BÉ GÁI TRONG BỤNG NGHE PHÁP
Thích Tâm Nhãn
Dẫn Nhập:

Đạo Phật ra đời không phải vì đạo Phật, mà đạo Phật ra đời vì nỗi khổ của chúng sanh. Nơi đâu nước mắt nhân sinh còn đổ xuống và lẽ sống cần cầu giác ngộ  thì  nơi  ấy  có  những  con người  hạnh  nguyện  dấn  thân, nhập thế với lý tưởng Phật-đà Đại thừa hóa… Bản   kinh   chúng   tôi   giới thiệu  tiếp  theo  là  kinh  “Phật thuyết  kinh  bé  gái  trong  bụng nghe  pháp”  (Phật  thuyết  phúc trung nữ thính kinh 佛說腹中 女聽經) 1 quyển, do Tam tạng Đàm-vô-sấm (Dharmakṣema, 385-433) người Thiên Trúc dịch thời Bắc Lương, Đại chánh 14, số hiệu 563, trang 914. 

Nội dung của bản kinh này giống với hai bản kinh: - Phật thuyết kinh người hiền nữ không dơ (Phật thuyết vô cấu hiền nữ kinh, 佛說無垢 賢女經)  1  quyển  –  ngài  Trúc Pháp Hộ (Dharmarakṣa) người nước  Nhục  Chi  dịch  thời  Tây Tấn, Đại chánh 14, số hiệu 562, trang 913; và Phật thuyết kinh chuyển  thân  nữ  (Phật  thuyết chuyển  nữ  thân  kinh,  佛說轉 女身經) 1 quyển – ngài Đàm- ma-mật-đa (Dharmamitra, 356- 442) người nước Kế Tân dịch thời Lưu Tống, Đại chánh 14, số hiệu 564, trang 915. Về chi tiết trong mỗi kinh có sai khác.

Toát yếu nội dung kinh:

Một thời, đức Phật ở tại La- duyệt-kỳ   (thành   Vương   Xá) giảng pháp cho các Bồ-tát, Tỳ- kheo,   Tỳ-kheo-ni,   Ưu-bà-di, chư  thiên,  nhân  dân  đông  vô số tụ hội về nghe. Trong chúng hội có một phụ nữ đang mang thai,  đứa  bé  trong  bụng  cũng chắp  tay  nghe  kinh.  Đức  Phật muốn chúng hội thấy điều này liền phóng hào quang chiếu vào người phụ nữ ấy, rồi Ngài dùng tám loại âm thanh (âm thanh dễ hiểu,  chơn  chất,  diệu  tịnh…) hỏi bé gái: “Vì sao con chắp tay nghe kinh?”

Bé  gái  nương  oai  thần  đức Phật bạch: “Bạch Thế Tôn! Vì thế gian làm mười điều ác, con muốn họ làm mười điều thiện… vì thế gian tham lam, sân hận… vì  thế  gian  không  hiếu  thuận cha mẹ, không cúng dường Sa- môn… nên con chắp tay nghe kinh.”  Vừa  nói  xong  liền  từ hông phải (của người mẹ) sanh ra như Thái tử (Tất-đạt-đa), tức thì mặt đất chấn động sáu cách, trên  trời  mưa  hoa,  thiên  giới trỗi  nhạc  vang  lừng…  Thiên vương  Đế-thích  từ  cung  trời Đao-lợi cầm thiên y bay xuống dâng tặng, nhưng bé gái ấy chối từ vì xưng danh mình là Bồ-tát không nhận trang phục của bậc La-hán.  Ngài  Xá-lợi-phất  hỏi Phật,  Phật  bảo:  “Bé  gái  này từ cõi Phật hướng Đông nam. Nước  ấy  tên  là  Thanh  Tịnh cách mười vạn cõi Phật. Bé gái từ nước đó đến nơi này muốn diện kiến Ta, sẽ có người cầm áo đem đến.”

Khi  ấy,  áo  từ  nước  đó  bay đến, rơi xuống tạo ra âm thanh êm  dịu.  Bé  gái  đón  nhận  mặc vào liền đắc ngũ thông… rồi từ hoa sen bước xuống đến trước đức Phật đảnh lễ sát đất, thỉnh nguyện  Phật  thuyết  pháp  để những người nữ trong hội nghe pháp  đặng  chuyển  thành  thân nam tử.

Phật dạy, muốn mau chóng thành thân nam tử nên phát tâm Bồ-tát đạo, và quán thân người nữ đầy bất tịnh, xấu xa…

Trong chúng hội có bảy mươi lăm người nữ nghe Phật thuyết pháp quá vui mừng liền xin xuất gia và phát nguyện dõng mãnh, nếu  không  chuyển  được  thân nam  thì  không  đứng  dậy.  Bấy giờ, bảy mươi lăm vị cư sĩ tại nước Xá-vệ thấy vợ mình xuất gia họ cũng xin xuất gia, được Phật truyền giới Tỳ-kheo trước. Sau  đó,  những  người  nữ  kia nhờ  thần  lực  của  Phật  chuyển thành  thân  nam,  ngài  Di-lặc truyền giới Tỳ-kheo cho họ. Bé gái lại hóa ra lọng hoa bảy báu đưa mẹ, bảo đến cúng Phật và khuyên mẹ phát tâm Bồ-tát (hai bản kinh kia là khuyên mẹ phát tâm  Chánh  đẳng  Chánh  giác). Khi  người  mẹ  dâng  lọng  hoa lên đức Phật và phát tâm Bồ-tát thì mặt đất chấn động sáu cách. Phật bảo Xá-lợi-phất: “Tinh tú trong bầu trời có thể đếm được, còn  bé  gái  này  đã  độ  được nhiều  cha  mẹ  không  thể  đếm được.” (trong Phật thuyết kinh chuyển thân nữ, bé gái này tên là Vô Cấu Quang phát nguyện: Nếu có chúng sanh nào là cha mẹ của ta, ta đều giúp họ chứng Chánh  đẳng  Chánh  giác  bất thối chuyển.)

Ngay  lúc  đó  bé  gái  nói  lời chí thành liền hóa thân như một Sa-di tám tuổi.
Khi  Phật  thuyết  kinh  cho bé  gái  biến  hóa  này,  có  vô  số người   phát   tâm   Vô   thượng Chánh  chơn.  Phật  thuyết  kinh xong tất cả đều vui mừng.

Lời kết:

Vị  khất  sĩ  trẻ  trì  bát  thong dong khất thực trên con đường làng, rồi an tọa thọ trai dưới gốc cây, hình ảnh ấy đẹp như một bài thơ, song thiêng liêng quá, xa  cách  đời  sống  quá.  Do  thế “thực tại sinh động, tràn đầy sự sống” không thể đứng nguyên trong   tình   trạng   cũ   –   hàng Thanh văn chỉ lo an hưởng niết- bàn  tịch  tĩnh  cho  riêng  mình, không còn chấp nhận trước sự thay đổi của cuộc sống, xã hội; cho nên tinh thần nhập thế cứu đời  của  Bồ-tát  đạo  (Đại  thừa) với  tư  cách  cả  người  xuất  gia và tại gia xuất hiện - Quan Âm đại sĩ luôn lắng nghe tiếng kêu thương  cuộc  đời  mà  cứu  khổ; đức Địa Tạng thệ nguyện vang lừng, sống trong tối tăm để độ sanh; Duy-ma-cật đóng vai cư sĩ thể hiện xiển dương tư tưởng Đại thừa; Thắng Man phu nhân cung cách trang nhã, từ ái, giỏi thuyết pháp, tu học…

Cũng  hình  ảnh  ấy  mà  Bồ- tát (bé gái) thị hiện trong thai chắp tay nghe kinh: vì thế gian làm mười điều ác, muốn họ làm mười  điều  thiện…,  khước  từ trang phục La-hán (Tiểu thừa), khoác lên trang phục Bồ-tát “trí tuệ và từ bi”, xin Phật độ những người nữ trong hội chính là tâm nguyện độ khắp chúng sanh. Dù chỉ là một bé gái nhưng độ cha mẹ (nhiều kiếp) chứng ngộ  không  thể  tính  hết.  Điều này nói lên Phật tánh vốn bình đẳng nơi tất cả chúng sanh nên bất  luận  nam  hay  nữ,  lớn  hay nhỏ,  kể  cả  chim  chóc,  muông thú… (Phật thuyết kinh người hiền nữ không dơ nói: các loài chim,  thú,  côn  trùng…  mang thai, con của chúng trong thai cũng   lắng   nghe   Phật   giảng kinh) đều có thể thành tựu chí nguyện  Đại  thừa,  hành  Bồ-tát hạnh  với  cốt  cách  thiên  chức của   mình.   Nhưng   tuy   bình đẳng  về  Phật  tánh,  song  giữa người nam và người nữ có sự khu biệt, là người nữ không thể thành Phật quả; cho nên trong kinh cho chúng ta thấy những người nữ và bé gái ấy đều phát tâm  Bồ-tát,  nguyện  làm  thân nam tử.

Trong  kinh  có  những  chi tiết  chúng  ta  thấy  thần  thoại, phép  mầu,  huyền  bí…  nhưng “chính những câu chuyện hoang  đường,  thần  thoại,  cổ tích, truyền kỳ ấy mới nói lên thực tại kỳ bí của con người và cuộc đời. Thực sự lịch sử hoàn toàn bất lực và thất bại trong sự diễn  đạt  thực  tại  nhiệm  mầu; lịch sử phải khép nép nhường bước trước thần thoại và truyền kỳ  hoang  đường  trong  vai  trò diễn đạt ấy.”

Thích Tâm Nhãn
Tập San Pháp Luân 49 tháng 3 năm Mậu Tý
 
 

04-13-2008 12:23:34

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap

Xx