8.
Những Giáo huấn Thiền định
về
Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, Đại Toàn Thiện
Đây
là một bản dịch trọn vẹn bản văn ngắn của Longchen Rabjam
tựa đề Nghĩa Tinh Yếu – Những giáo huấn về những Giai
Đoạn của Con Đường của Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, Đại
Toàn Thiện. Nó là một tóm gọn của Tâm Giải Thoát Tự Nhiên,
sắp xếp những giáo lý thành những phần tu hành, bắt đầu
từ những sơ bộ đến cấp độ cao nhất của thiền định
Thregchod. Vì nó rất ngắn và cô đọng, nhiều chỗ khó hiểu.
Dù nó giải thích phương tiện tu hành, thích hợp là đi vào
thực hành này chỉ sau khi có đầy đủ những giáo huấn và
những trao truyền riêng biệt từ một đạo sư rất thẩm
quyền.
NGHĨA
TINH YẾU – NHỮNG GIÁO HUẤN VỀ NHỮNG GIAI ĐOẠN CỦA CON
ĐƯỜNG CỦA TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN
Kính
lễ Vajrasattva Vinh Quang,
Bản
tánh Ngài từ vô thủy là vô sanh,
Không
thể diễn tả, không thể quan niệm, bất nhị, Thân Tối Hậu,
Tâm
Đại Bi, Phổ Hiền tự nhiên hiện tiền,
(Bậc
là) sự Toàn Thiện tự nền tảng không có biến đổi : con
kính lễ Ngài.
Những
giáo lý cho những yogi vì sự chứng đắc của họ chắc chắn
ngay trong đời này,
Những
ban phước trực tiếp của các bậc Thánh,
Nghĩa
tự-giải thoát của bất cứ cái gì sanh khởi mà không lấy
hay bỏ,
Tôi
sẽ viết ra để chỉ dạy ở đây.
Đức
Phật giác ngộ viên mãn đã tuyên thuyết vô số những cổng
vào của các thừa và những loại giáo lý với đại bi và
phương tiện thiện xảo phù hợp với bản chất và trí năng
của chúng sanh. Nghĩa của tất cả những giáo lý này bao gồm
trong tánh giác bổn nhiên, tâm giác ngộ. Dù có nhiều giáo
lý để thực hành về nó, có rất ít con đường (thực sự)
đưa đến giải thoát trong chỉ một đời, bởi vì những
con đường khác bị giới hạn trong những luyến chấp nắm
bắt những cực đoan biên kiến. Giáo huấn về Tâm Giải Thoát
Tự Nhiên của Đại Toàn Thiện là phương pháp bí mật nhất
của sự chứng ngộ tức khắc những chấp nhận và chối
bỏ là sự giải thoát ngay tại nền tảng của chúng. Giáo
lý này vượt khỏi hết mọi thừa khác. Để học nó, có
ba phần : (a) dòng các đạo sư, (b) giáo lý được truyền
qua các vị ấy, và (c) mệnh lệnh giao phó giáo lý (cho những
hộ pháp) vì sự quan trọng của nó.
Dòng
những Đạo Sư
Giáo
lý này được truyền qua :
1.
Samantabahadra (Phổ Hiền), Thân Tối Hậu của cảnh giới Phật
không gì so sánh
2.
Amitabha (A Di Đà), Báo Thân
3.
Padmasambhava, Hóa thân
4.
Dakini Yeshey Tshogyal
5.
Guru Silamati
6.
Khedrub Geleg Gyatsho
7.
Choje Monlam Odzer
8.
Bản thân tôi (Longchen Rabjam)
Giáo
lý được truyền qua các vị ấy
(i)
Giáo lý thực hành để tự-giải thoát ngay trong đời này.
(a)
NHữNG SƠ Bộ
(1)
HợP
NHấT VớI GURU Dể NHậN NHữNG BAN PHƯớC
Hãy
ngồi trên một chỗ tiện lợi. Hãy quy y Tam Bảo và phát Bồ
đề tâm. Bấy giờ hãy quán tưởng một cách tức thời :
Trên đỉnh đầu là đại đạo sư Padmasambhava, không tách
lìa với bổn sư của mình, ngồi trên một tọa cụ hoa sen,
mặt trời và mặt trăng. Ngài mặc y phục Heruka, chói ngời
với những tướng chánh và tướng phụ. Da ngài màu xanh. Ngài
cầm một chày kim cương và chuông trong tay và ôm người phối
ngẫu. Ngài trang sức bằng ngọc quý và xương. Trong lòng ngài
là đức bà dòng họ Kharchen (tức Yeshey Tshogyal). Bà có nước
da màu hơi đỏ. Bà cầm một lưỡi dao cong và một xương
sọ và ôm người phối ngẫu. Hai vị được tất cả những
đạo sư của dòng phái bao quanh và vô số chư Phật, Bồ tát,
Daka, và Dakini. Trước các ngài, trong tâm mình : hãy lễ kính,
cúng dường, sám hối tịnh hóa nghiệp xấu, tùy hỷ công
đức, thỉnh cầu chư đạo sư chuyển bánh xe Pháp và cầu
xin các vị ở lại không vào sự diệt tận của phiền não.
Rồi cầu khẩn các ngài :
Guru
quý báu ! (hiện thân của tất cả các bậc giác ngộ) Xin
ban những phước lành cho con (và tất cả chúng sanh) để tịnh
hóa những che chướng của thân, ngữ, tâm, của con đạt được
những thành tựu của thân, ngữ, tâm (của những bậc giác
ngộ) và có thể đạt đến Phật tánh ngay trong đời này.
Rồi
suy nghĩ, “Ánh sáng phát ra từ thân của Guru (và của chúng
hội). Chỉ do ánh sáng chạm đến mà những che chướng của
thân ngữ tâm của tất cả chúng sanh được tịnh hóa và
toàn thể vũ trụ được chuyển hóa vào trong bản tánh của
Guru. Rồi ánh sáng phát ra từ thân, ngữ, tâm của tất cả
(những đối tượng của sự sùng mộ) và đi vào đỉnh đầu
mình, làm phát sanh trí huệ bổn nguyên của lạc, sáng tỏ
và vô niệm, nó là sự chứng ngộ phi thường, sự tự-giải
thoát tức thời.” Giữ hơi thở trong một lúc. Thực hành
bằng cách kéo dài (dần dần) thiền định. Vào lúc kết thúc,
hồi hướng những công đức bằng cách thấu hiểu trạng
thái của sự xuất hiện như huyễn thuật. Nếu người ta
tu hành như thế trong bảy ngày, những ban phước phi thường
và những dấu hiệu thành tựu của Guru sẽ nhận được một
cách thình lình.
(2)
TU
HANH CUNG DƯờNG MạN DA LA Dể HOAN THIệN
HAI
DạI TICH TậP
Hãy
quán tưởng chúng hội những Guru và những mạn đà la của
những hóa thần bổn tôn trong bầu trời trước mặt mình.
Sắp xếp những phẩm vật cúng dường Mạn Đà La. Suy nghĩ,
“Tất cả thế giới và cả Phật mười phương được tượng
trưng bởi hệ thống thế giới bốn châu và làm bằng đủ
loại châu báu quý giá. Chúng đầy những vật thọ hưởng
khác nhau của trời và người.” Rồi cúng dường chúng cho
thánh chúng với thân thể, sự sung túc và công đức của
chính mình, và nghĩ rằng tất cả chúng hội đều vui lòng.
Hãy tiếp tục cúng dường Mạn Đà La trong bảy ngày. Mục
đích của thực hiện hai sự tích tập công đức và trí huệ
bổn nguyên là phát sanh sự chứng ngộ phi thường trong tâm
mình.
(3)
TU
HANH THầN CHU MộT TRAM AM Dể TịNH HOA
HAI
CHE CHƯớNG
Từ
trạng thái (thiền định) tánh không, hãy quán tưởng tức
khắc Vajrasattva màu trắng và một mặt. Ngài cầm chày kim
cương và chuông. Ngài trang sức hồng ngọc quý và ngồi kiết
già. Ở tim ngài, giữa một hoa sen và dĩa mặt trăng là một
chữ HUM bao quanh bởi thần chú một trăm âm. Những tia sáng
phát ra từ những chữ khắp mọi hướng và những che ám của
tất cả chúng sanh được tịnh hóa (chỉ bằng chạm vào những
ánh sáng). Trì tụng thần chú một trăm âm càng nhiều càng
tốt trong bảy ngày. Mục đích của sự tu hành này là tịnh
hóa những che chướng của nghiệp xấu và chứng ngộ bản
tánh tối hậu một cách nhanh chóng.
(4)
THựC
HANH Về VO THƯờNG CủA DờI SốNG Dể DICH THựC PHAT SANH Sự
VƯợT LEN KHỏI SANH Tử VA CHAN Sợ NO
Hãy
suy nghĩ, “Đời người có được những tự do và thuận
lợi quý giá, nhưng bản chất của nó hẳn là vô thường
và nhanh chóng hủy hoại. Những đối tượng xuất hiện bên
ngoài là vô thường bởi vì chúng thay đổi với ngày, tháng,
năm. Không có chúng sanh nào vượt khỏi cái chết.” Nghĩ
về “cái chết xảy ra cho bà con và bạn bè của mình.”
Hãy nghĩ về “sự chắc chắn của cái chết của chính mình
vì cuộc sống là vô thường. Thân thể người ta đang tan
rã và phân tán như một bong bóng nước đang vỡ, và không
có gì chắc chắn là người ta không chết trong hôm nay.”
Hãy nghĩ, “Hôm nay là ngày chót của ta ở trong thế giới
này, bốn đại đang tan biến và tâm và thân đang tách rời.”
Hãy thiền định về điều này từ tận đáy lòng trong bảy
ngày. Mục tiêu của thiền định này là để khởi điểm
(tỉnh giác về) vô thường trong tâm mình, giảm bớt những
dự phóng của ý thức, và khiến người ta có thể đi vào
và nỗ lực tu hành pháp.
(5)
Sự
THựC HANH QUY Y, NO KHởI DầU CON DƯờNG TU HANH
Hãy
quán tưởng Tam Bảo trong bầu trời trước mặt mình, như
chư Phật của ba thời mười phương với chư Bồ Tát, những
Mạn Đà La của những Hóa thần bổn tôn và những A La Hán
và Bích Chi Phật. Với ý định nương dựa các ngài như những
chỗ quy y cho đến khi người ta đạt đến giác ngộ, hãy
tụng đọc những lời cầu nguyện quy y Guru và Thánh chúng.
Khi làm thế, hãy nghĩ, “Khi các bậc cha mẹ thương yêu và
tốt lòng với con cái của họ, những bậc để quy y đang
nhìn chúng sanh với lòng bi mẫn.” Đọc những lời cầu nguyện
quy y từ đáy lòng mình, nghĩ rằng, “Tất cả chúng sanh đang
lập lại vang to lời quy y với tôi.” Hãy hiến mình cho sự
thực hành này trong bảy ngày. Mục tiêu là để làm bình lặng
những ngăn chướng của việc tu hành Pháp và khai triển chứng
ngộ.
(6)
Sự
THựC HANH KHAI TRIểN Bồ Dề TAM, NO LA Sự TIếN LEN TREN CON
DƯờNG CủA PHAP
Hãy
nghĩ đến những khổ đau của địa ngục nóng và lạnh, sự
đói khát của cõi ngạ quỷ, sự nô dịch của cõi thú, sự
chiến đấu của cõi Atula và cái chết rồi rớt xuống của
cõi trời v.v.... ở trước mặt mình. Như thế, chúng sanh khổ
đau trong mọi lúc, và bản chất của sanh tử không gì khác
hơn là khổ đau. Thế nên hãy nghĩ, “Nguyện cho tất cả
chúng sanh, họ đang tả tơi trong những đau khổ của sanh tử,
nhờ những công đức, thân thể và sự sung túc của tôi....
được ở trong bốn kinh nghiệm vô lượng hưởng thụ hạnh
phúc, thoát khỏi khổ đau (không lìa khỏi hạnh phúc và thoát
khỏi khổ đau, và thản nhiên) không có thương ghét. Rốt
ráo, nguyện họ đạt được trạng thái Phật tánh.” Khai
triển Bồ đề tâm bằng lời nói với một lễ nghi đơn giản
và tụng đọc :
Ôi
các bậc giải thoát, với các đứa con của các ngài, xin hãy
chú ý đến con.
Như
chư Phật ba thời
Khai
phát tâm Bồ đề,
Cũng
thế vì lợi lạc của chúng sanh,
Con
phát tâm Bồ đề trong chính thân tâm của con.
Trong
những con đường của các ngài đã chỉ dạy (trong kinh điển),
Con
tu hành thích hợp theo trình tự.
Nguyện
con có thể hủy diệt những khổ đau của chúng sanh,
Và
bất cứ điều gì con làm, nguyện nó làm cho lợi lạc của
những người khác được đáp ứng.
Cũng
thiền định về sự tu hành mang lấy những khổ đau của
những người khác vào chính mình và đem hạnh phúc của chính
mình cho họ. Hãy thiền định về lòng bi sâu sắc trong bảy
ngày. Mục tiêu của nó là bất cứ cái gì người ta làm bằng
thân xác hay lời nói đều chỉ vì lợi lạc của những người
khác, và nhờ đó trở thành sự tu hành trong con đường Đại
thừa.
(7)
TU
HANH TREN CON DƯờNG THIếT YếU CủA NGHIA XAC DịNH Dể PHAT SANH
Sự CHứNG NGộ BảN TANH TốI HậU
(a)
TÌM KIếM AN ĐịNH
Hãy
ngồi trong thế tréo chân. Tham thiền trong trạng thái mà trong
đó những tư tưởng quá khứ đã dứt, những tư tưởng tương
lai chưa sanh, và đối với hiện tại không có những ý niệm
hóa trong bất kỳ giác quan nào. Tham thiền về cái này trong
bảy ngày. Mục tiêu là trừ những tư tưởng xấu bình thường,
những che chướng, và làm cho dễ nhận ra hơn bất cứ tư
tưởng ngoại sanh nào khởi lên bằng cách phân biệt những
phương diện của sáng tỏ và những bất tịnh trong tánh giác
bổn nhiên.
(b)
PHAT
SANH QUAN CHIếU
Vào
lúc những tư tưởng đang phóng chiếu thô hơn trước, người
ta cần phân tích chúng. Khi những tư tưởng phân tán, hãy
tìm chúng khởi lên ở đâu. Hãy tìm kiếm thân thể từ đỉnh
tới đáy và những hiện tượng bên trong, bên ngoài và ở
giữa. Hãy tìm kiếm màu sắc, hình dạng, và bản sắc của
những tư tưởng. Vì chúng không khởi sanh từ đâu, người
ta chứng ngộ trạng thái của Tâm không sanh, giải thoát khỏi
những gốc rễ. Khi một tư tưởng đang hiện diện, hãy phân
tích màu sắc, hình dạng và bản sắc của nó là cái gì và
nó ở trong, ở ngoài hay ở giữa. Người ta sẽ chứng ngộ
sự sáng tỏ vĩ đại, không dứt và tánh Không của Tâm, sự
hiện diện vĩ đại ở nền tảng. Những tư tưởng thình
lình khởi lên và rồi biến mất đi đâu không dấu vết.
Vào lúc dừng dứt (của những tư tưởng), bằng cách phân
tích chúng đi đâu, người ta sẽ chứng ngộ nghĩa của tánh
giác bổn nhiên, sự giải thoát trong trạng thái của bản
thân nó, không có chút dấu vết gì, siêu vượt mọi nhận
biết.
(c)
NHậN
BIếT HợP NHấT
(CủA
AN ĐịNH VÀ QUÁN CHIếU)
Đã
buông xả thân tâm một cách tự nhiên, hãy ở trong sự bình
đẳng, bình an, sáng tỏ và tỉnh biết, trong trạng thái của
tâm siêu vượt khỏi những tư tưởng và nhớ nghĩ. (Kết
quả là), phương diện làm bình lặng chuyển động của những
tư tưởng và nhớ nghĩ là “an định” và thấy nó rõ ràng
và sống động là “quán chiếu”. Kinh nghiệm cả hai phương
diện một cách đồng thời là “hợp nhất”. Mục tiêu của
sự tu hành này là nhận biết định với phương tiện thiện
xảo. Hãy tham thiền trong một ngày về mỗi thứ.
(ii)
Con dường hiện thực, đưa vào sự chứng ngộ. Hãy để tâm
và thân trong trạng thái buông xả hoàn toàn. Sự nhận biết
xảy ra ngay điểm của tâm hiện diện khoảnh khắc. Tất cả
thế giới và chúng sanh bên ngoài và bên trong là những cách
thức sanh khởi của tâm của chính mình. Chúng như những giấc
mộng. Bản thân cái tâm cũng trống không trong tinh túy của
nó, sáng tỏ trong bản tánh của nó và sanh khởi sai khác trong
tính cách của nó, như những xuất hiện của những hình sắc
trong một tấm gương không dơ bẩn. Chúng tự do đối với
mọi tạo tác thành những cực đoan có hiện hữu và không
hiện hữu khi chúng xuất hiện, nhưng đồng thời chúng cũng
tự do với sự có thể nhận biết. Thế có nghĩa là không
có một bản tánh tối hậu nào khác tách biệt khỏi tâm hiện
tại đang phóng chiếu trong nhiều hình thức khác nhau.
Đại
Đạo Sư (Padmasambhava) nói :
Nếu
người ta hiểu rằng tâm đích thật là bản tánh tối hậu,
Bấy
giờ không có cảnh giới tối hậu nào khác để thiền định
về nó.
(Chỉ)
biết những phương pháp để chứng ngộ và giải thoát là
đủ,
Vì
tâm đích thực là Pháp thân (Thân Tối Hậu.)
Con
đường toàn hảo này là độc nhất cao hơn (những con đường
khác)
Đây
là : Thừa phổ quát toàn khắp của Phổ Hiền.
Bất
cứ ai thực hiện cái gọi là từ bỏ những tư tưởng, thiền
định về không tư tưởng,
Và
nhìn vũ trụ như những kẻ thù của sự giải thoát và như
mê lầm, sẽ rơi (vào những cực đoan).
Thế
nên hãy buông xả tự nhiên trong chính tâm hiện tại mà không
có những cố gắng và đặt tên nào khởi sanh, hãy tham thiền
trong nó (tâm hiện tại) bằng cách buông xả bình thường,
như tâm vốn là, và trần trụi không có những lấy-bỏ. Ở
trong tinh túy nó là sự giải thoát ngay trên sự thấy ; trong
bản tánh nó giải thoát ngay trên sự thấu hiểu ; và trong
tính cách nó là tự-giải thoát, đó là trạng thái tự nhiên
của tâm. Bất cứ cái gì sanh khởi (trong tâm), hãy đối xử
với nó mà không quá chú ý, bấy giờ tâm ở yên trong sự
tự nhiên của tánh giác bổn nhiên và sự tự trọn vẹn hiện
thành một cách tự nhiên. Vào lúc đó, không có ảnh hưởng
của vướng mắc vào lấy hay bỏ, hãy an trụ trong trạng thái
của tánh giác bổn nhiên bất biến, trí huệ bổn nguyên giải
thoát tức thời, là sự hợp nhất của lạc, sáng tỏ và
vô niệm. Khi không nắm bắt tâm hiện tại với những khẳng
định “cái này là cái này”, bản thân tỉnh giác nội tại
trở thành tự-giải thoát, và đồng thời nó tan biến. Khi
tỉnh giác nội tại tan biến, hãy ở yên trong trạng thái
không có những đặt tên gán ghép và những ô nhiễm cho đến
khi sự tỉnh giác nội tại kế tiếp khởi sanh. Khi nó khởi
sanh trở lại chớ có kéo dài sự tỉnh giác nội tại vô
tri mà hãy ở yên trong nó một cách tự do, hộ trì nó một
cách rỗng rang, và để cho nó vận hành mà không bám níu vào
nó. Giống như lấy những vật từ một bình không đáy, hãy
gặt hái kinh nghiệm trong cái tỉnh giác nội tại, nó là trong
suốt, tức thời, tự-giải thoát, không ngăn ngại và không
có tiêu điểm đối tượng nào của cái “cái này là cái
này”. Tóm tắt, khi cái thấy và thiền định của sự giải
thoát-ngay khi-khởi sanh xảy ra (theo cách) tự-khởi sanh và
vỡ toang từ chiều sâu, cả hai thứ đối tượng để đoạn
trừ và những đối trị được giải thoát qua sự tự-tan
biến. Bấy giờ, vì tất cả hiện tượng hiện hữu khởi
lên như là bản tánh tối hậu, sự thiền định không có
cách hở, ngừng nghỉ. Khi tánh giác bổn nhiên và tánh không
tự-giải thoát không có nắm bắt, những nhiễm ô được
tịnh hóa như là trí huệ bổn nguyên. Khi những đức hạnh
hiện diện như là sự toàn thiện tự nhiên, người ta siêu
vượt những cố gắng và những thành tựu. Khi tất cả khởi
lên như là bản tánh, nó là sự chứng đắc bản tánh tối
hậu, thanh tịnh khỏi mọi lỗi lầm và che chướng. Bởi thế,
tất cả những tư tưởng và nhớ nghĩ bình thường hiện
tại là trạng thái tự tánh của Thân Tối Hậu. Đại Đạo
Sư (Padmasambhava) nói :
Trong
tâm thoát khỏi những ý niệm :
Hãy
ở yên trong tánh bình đẳng không có thiền định.
Dù
(con) thiền định, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ.
Hãy
ở yên trong cái khoảnh khắc không có dao động,
Dù
(con) dao động, hãy ở yên tự do không bác bỏ.
Hãy
ở yên trong đình chỉ, không có quan sát.
Dù
(con) quan sát, hãy ở yên trống trơn không có bác bỏ.
Hãy
ở yên trong bản năng nguyên sơ, không có phóng chiếu.
Dù
(con) phóng chiếu, hãy ở yên “tại đây” không có bác bỏ.
Hãy
ở yên trong rạch ròi không có rút lui.
Dù
(con) rút lui, hãy ở yên rõ ràng trong sáng không có bác bỏ.
Hãy
ở yên trong rỗng rang không có những nỗ lực.
Dù
(con) nỗ lực, hãy ở yên kềm giữ không có bác bỏ.
Hãy
ở yên trong sáng sủa không có những sửa sang chỉnh trị.
Dù
(con) sửa sang chỉnh trị, hãy ở yên một cách thanh tịnh
không có bác bỏ.
Hãy
ở yên trong không cố gắng không có chỗ được.
Dù
(con) được, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ.
Hãy
ở yên trong tánh tự nhiên không có từ chối.
Dù
(con) từ chối, hãy ở yên cái không sanh mà không có bác bỏ.
Hãy
ở yên trong cảnh giác không có giới hạn.
Dù
(con) bị giới hạn, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ
Hãy
ở yên trong buông xả không có những cố gắng.
Dù
(con) cố gắng, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ,
Hãy
ở yên trong không có-căn cứ mà không có tham thiền.
Dù
(con) tham thiền, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ.
Tâm
hiện tại được giải phóng tự do vào trạng thái của tánh
tự nhiên, sự toàn thiện tự nhiên không sửa sang chỉnh trị
của bất cứ cái gì sanh khởi, không có sự bám luyến đối
với những hiện tượng bên ngoài và bên trong. (Trong tâm hiện
tại), vì không có những tư tưởng từ chối hay chấp nhận,
trạng thái của bất nhị của tâm tồn tại không dừng dứt.
Vì không có những tư tưởng thô, tâm lang thang hoang dã được
giải thoát khỏi những tư tưởng của cõi dục. Vì những
tư tưởng phóng chiếu sanh khởi trong tánh tự nhiên, tâm siêu
vượt khỏi mọi trệch hướng về những cõi sắc và vô sắc.
Không có sự nắm bắt như là “cái này”, an định được
thành tựu tự nhiên. Vì tánh tự nhiên (của tâm) hiện khởi
một cách tự phát, quán chiếu được thành tựu tự nhiên.
Vì không có phóng chiếu và trụ định tách lìa, sự hợp
nhất của chúng được thành tựu tự nhiên. Vì nó được
giải thoát trong bản thân trạng thái tức thời khoảnh khắc
(hay một cách tức thời trong trạng thái của chính nó), trí
huệ được thành tựu một cách tự nhiên. Vì không có trụ,
định được thành tựu một cách tự nhiên. Vì không có sự
nắm hiểu cái giải thoát-ngay trên-sanh khởi, trí huệ bổn
nguyên được thành tựu một cách tự nhiên. Vì mọi lỗi
lầm đều hiện diện qua việc nắm bắt, chúng được giải
thoát trong tự do khỏi sự nắm bắt và những chướng ngại.
Vì tất cả đức hạnh khởi lên trong trí huệ tánh giác,
chúng tiến bộ không ngừng. Đó là tâm được hoàn thiện
trong tánh tự nhiên của chính nó, và đó là sự đạt được
thành tựu tối thượng về Đại Ấn (Mahamudra), ngay trong đời
này.
Hãy
ở yên trong tánh giác không do tạo tác, tự nhiên và không
ngăn ngại,
Trạng
thái của bất cứ cái gì sanh khởi, qua cái tự-sanh khởi
vĩ đại (sự chứng ngộ)
Vị
vua không có chỗ nương dựa toại nguyện với sự không có
những nắm bắt.
Và
đạt được Thân Tối Hậu vô sanh, trạng thái thường trụ.
(iii)
Kết luận.
(a)
NHữNG THựC TậP THIềN ĐịNH
Trong
những thời kỳ xuất thiền định – lúc tu hành tham thiền
thực sự, tánh tự nhiên của tâm hiện tại của bất cứ
cái gì sanh khởi – hãy tu hành một cách rõ ràng sức mạnh
của những thực tập (thấy rằng) tất cả những hình tướng
bên ngoài và tỉnh giác bên trong, cũng như những kinh nghiệm
tu tập, đều không hiện hữu ngay từ điểm sanh khởi của
chúng, như một giấc mộng, huyễn thuật, ảo ảnh, mặt trăng
trong nước, và sự xuất hiện không thực. Những thực tập
này giải thoát sự luyến bám vào mọi hiện hữu cho là thật
có. Dù trong giấc ngủ, người ta an trụ trong Pháp thân, sự
dứt bặt mọi nắm bắt, tìm hiểu.
(b)
XUA TAN NHữNG CHE ÁM, NHƯ LÀ BệNH TậT VÀ
NHữNG
TÁC ĐộNG GÂY HạI
Bệnh
tật và những tác động gây hại là những biểu lộ của
những tư tưởng, nếu được khảo sát, chắc chắn rằng
chúng không hiện hữu ở đâu cả, bên ngoài, bên trong hay
chặng giữa. Thế nên với một thái độ vui vẻ bởi vì nhờ
(cơ hội) chuyển những chướng ngại che ám thành phương tiện
thực hành trên con đường của cái không sanh, hãy thiền định
(bằng cách suy nghĩ và quán tưởng) : về sự xuyên thấu vào
và làm nhẹ những đau đớn của bệnh, và về sức mạnh
của những thực tập lòng bi và của sự thấu hiểu sự không
hiện hữu trong chính thật tánh của những chướng ngại gây
hại. Chắc chắn sẽ làm bình lặng chúng.
(c)
TIếN Bộ TRONG NHữNG THựC TậP
Nếu
sự tu hành đức hạnh trở nên chậm chạp, hay nếu không
có tiến bộ, hãy mạnh mẽ cầu nguyện đến Guru, phát sinh
sự vượt lên khỏi và ghê sợ (sanh tử) trong tâm, hãy tích
tập công đức bằng những lễ tiệc cúng dường (Tshog) và
thiền định về từ, bi và Bồ đề tâm. Hãy đi đến một
nơi hoàn toàn hoang vắng như một nghĩa địa, một thung lũng,
hay những đỉnh núi. Hãy quán tưởng Guru trên đỉnh đầu,
và chạy, nhảy (vòng quanh một cách tự nhiên), kêu to những
lời nói (bất cứ lời nào xảy đến), và phóng chiếu trong
tâm thức những kinh nghiệm sướng khổ và lấy bỏ. Rồi
kết hợp những kinh nghiệm ấy một cách tự nhiên với sự
tự-giải thoát tức thời. Tu hành như thế nhiều ngày làm
sản sinh ra nhiều chứng ngộ phi thường khác nhau. Đây là
những điểm rất cốt yếu của sự tu hành.
Một
hành giả đã có được những kinh nghiệm như vậy đạt được
xác tín tự tin không sợ chết và giải thoát người nắm
bắt và cái được nắm bắt trong trạng thái tự nhiên của
chúng. Nó chứng ngộ một cách trực tiếp những thành tựu
chung và không chung ngay trong đời này. Đây là một cô đọng
ngắn vì giải thích sự tu hành này trong chi tiết thì không
cùng. Những giáo lý cho sự đạt giải thoát ngay trong đời
này đã trọn vẹn.
Chỉ
dạy về Sáng Tỏ, Căn cứ Sanh Khởi của Trạng Thái Trung
Ấm
Nhờ
những kinh nghiệm trong những điểm cốt yếu về giải thoát
tức thời của sanh và chết (qua thiền định) trong quá khứ,
cũng như vào lúc trạng thái giấc mộng trung ấm (rMi-Lam Bar-do),
trạng thái tự nhiên của giải thoát bổn nguyên, vốn thoát
khỏi những nắm bắt, hiện khởi. Vào lúc chết, do làm tan
biến (hay chuyển di sự tập chú của năng lực của) đất
(nguyên tố của thân) vào nước, thiền giả mất đi năng
lực thể xác, do làm tan biến nước vào trong lửa, thủy đại
khô đi, bằng cách làm tan biến lửa vào trong không khí, hơi
nóng rút khỏi những chu vi bên ngoài, và bằng cách làm tan
biến không khí vào trong thức, thiền giả ngừng thở. Bằng
cách làm tan biến (hay chuyển di sự tập chú năng lực của)
hình sắc vào trong âm thanh, nó sẽ không thấy những hình
sắc bằng mắt mình, bằng cách làm tan biến âm thanh vào hương
nó sẽ không nghe âm thanh nào nữa, bằng cách làm tan biến
hương vào vị nó sẽ không cảm thấy hương với mũi, bằng
cách làm tan biến vị vào trong xúc nó sẽ không cảm thấy
vị với lưỡi, bằng cách làm tan biến xúc vào những hiện
tượng nó sẽ không cảm thấy xúc chạm, và bằng cách làm
tan biến những hiện tượng vào tâm thì những tư tưởng
thô chủ thể và đối tượng ngừng dứt. Điều này tương
tự với trở nên vô ý thức. Đó là sự hòa tan của tám
thức vào nền tảng phổ quát. Ngay vào thời điểm tham thiền
trong định, người ta giải thoát mình như là những thành
phần của năm gia đình (bộ) Phật và đạt đến trạng thái
bổn nguyên. Nó là trạng thái có đầy đủ năm gia đình Phật
và sự toàn thiện.
Ngay
vào lúc tham thiền một cách tự nhiên và không có điểm tựa
vào ánh sáng xanh như là Trí Huệ Bổn Nguyên của cảnh giới
Tối Hậu, người ấy giải thoát tự-tỉnh giác của nó như
là thân của Phật Vairocana (Tỳ Lô Giá Na). Cũng thế, sự
tham thiền về ánh sáng trắng như là Trí Huệ Bổn Nguyên
Giống Như Tấm Gương giải thoát nó như là Aksobhya (A Súc),
ánh sáng vàng như là Trí Huệ Bổn Nguyên Bình Đẳng giải
thoát nó như là Ratmasambhava (Bảo Sanh), ánh sáng đỏ như là
Trí Huệ Bổn Nguyên Phân Biệt giải thoát nó như là Amitabha
(A Di Đà), và ánh sáng lục như là Trí Huệ Bổn Nguyên của
sự Thành Tựu giải thoát nó như là Phật Amoghasddhi (Bất
Không Thành Tựu). Rồi qua thân biểu lộ người ấy phụng
sự chúng sanh. Đây là sự đạt được giác ngộ hoàn toàn
tại nền tảng bổn nguyên. Đây là (phương pháp của) sự
giải thoát tức thời bằng cách hợp nhất (trí huệ bổn
nguyên) với sự sáng tỏ (hiểu là tịnh quang – bản dịch
Việt) của trạng thái trung ấm khi nhận biết trí huệ bổn
nguyên của lạc, sáng tỏ và vô niệm tự nhiên hiện diện
và không phải tìm kiếm, nó tự nhiên khởi lên và tự nhiên
được nhận biết khi người ta đã có những kinh nghiệm trong
điểm cốt yếu tự-giải thoát tức thời này trong quá khứ.
Vì tinh túy của tánh giác bổn nhiên là Tánh Không, nó không
trụ ở đâu cả. Vì bản tánh của tánh giác bổn nhiên là
sáng tỏ, căn cứ khởi lên là không ngừng. Vì tính cách của
tánh giác bổn nhiên là sai khác, nó hiện diện trong trạng
thái tất cả-đồng khởi, tự do khỏi những phân biệt. Những
cái này (được gọi là) ba tính chất phú bẩm (của tánh
giác bổn nhiên). Bấy giờ bốn thị kiến riêng biệt của
sự tan biến của bốn đại xuất hiện và chúng là bốn tính
chất phú bẩm. Bấy giờ người ta đã đạt giải thoát như
năm thân (của năm gia đình Phật) bằng cách chứng ngộ sự
sáng tỏ như là những trí huệ bổn nguyên. Chúng là năm tính
chất phú bẩm (của tánh giác bổn nhiên). Bấy giờ người
ta làm lợi lạc cho chúng sanh qua những biểu lộ. Nó là sự
phú bẩm của hoàn thiện toàn triệt. Bấy giờ bằng cách
làm tan biến Báo Thân vào Thân Tối Hậu và bảo đảm trạng
thái bất biến của bản tánh tối hậu, người ta ở trong
sự hoàn thiện đại bình đẳng. Nó là sự phú bẩm của
đại hoàn thiện toàn triệt. Đó là giáo huấn về sự giải
thoát trong trạng thái trung ấm cho những hành giả (trí năng)
bình thường.
Những
Giáo Huấn Phụ Thêm về sự Tiếp Tục Tiến Trình Nghiệp
trong Trạng Thái Trung Ấm của Hiện Hữu (Srid-Pa Bardo)
Nếu
người ta không thể nhận ra hay duy trì sự sáng tỏ vào lúc
chết, bấy giờ người ta sẽ lấy một thân (vi tế hay) thân
bằng thức, thân ấy xuất hiện trong nửa đầu của thời
kỳ đời sống trong trạng thái trung ấm trong hình dạng của
lần sanh trước và nửa sau trong hình dạng của lần sanh tới.
Thân này có đủ mọi khả năng giác quan, và nó đi đến bất
kỳ nơi đâu (trong sanh tử) bằng ý nghĩ do bởi nghiệp lực
của nó. Người có thân đó đi qua không ngăn ngại tất cả
mọi sự vật chỉ trừ bụng người mẹ của nó và tòa Kim
Cương (Trạng Thái Giác Ngộ). Nó trải qua nhiều kinh nghiệm
hạnh phúc và khổ đau như những hình tướng xuất hiện trong
một giấc mộng. Sự kéo dài của sự việc này là không xác
định. Một số người tái sanh nhanh hơn trong khi những người
khác phải ở trong 49 ngày. Khi họ biết rằng họ đã chết,
họ kinh nghiệm sự buồn rầu. Vào thời gian đó, nếu họ
nhớ lại những giáo huấn đã nhận được trước kia và
tu hành sự không nắm bắt vĩ đại những hình tướng và
tâm, và nếu họ cầu nguyện Guru, bấy giờ có những người
tu hành trong số họ đạt được giải thoát. Trong tình hình
này, cũng rất quan trọng là tâm cần nhớ nghĩ đến các cõi
tịnh độ, thấu hiểu rằng những tri giác trong trạng thái
trung ấm là không thật, và nhớ lại sự sùng mộ và kính
ngưỡng (với các bậc giác ngộ). Có nói (trong kinh điển)
rằng những người tu hành như vậy sẽ tái sanh trong những
cõi tịnh độ và đạt giác ngộ ở đó.
Cách
tốt nhất (tu hành chuyển trạng thái trung ấm thành phương
tiện cho những chứng đắc cao hơn) là sự thấu hiểu rằng
những hiện tượng là không thực sự hiện hữu. Cách tốt
thứ hai là tri giác những hình tướng như là giai đoạn phát
triển, giai đoạn thành tựu, và những tịnh độ giống như
một huyễn thuật. Cách tốt ít nhất là tu hành niêm kín những
cánh cổng của những tử cung của các cõi thấp. Để đóng
kín những cánh cửa của tái sanh người ta cần nhận biết
những hình ảnh tượng trưng của chúng. Cánh cửa tái sanh
của cõi thiên xuất hiện như một khu vườn hay một lâu đài,
của cõi bán thiên như một bánh xe ánh sáng, của cõi người
như một cái nhà, hoặc là một nhà để vui chơi hay đầy
người, của cõi thú như một cái hang hay một túp lều, của
cõi quỷ đói như một khe núi khô, một cái hang hay một chỗ
dơ bẩn, và của cõi địa ngục như bóng tối và một cơn
mưa giông và v.v.... Vào lúc đó, chớ bị hấp dẫn bởi bất
kỳ cánh cửa tái sanh nào như vậy. Hãy tri giác một cánh
cửa tái sanh đặc biệt, hoặc của cõi trời hay cõi người,
như là một lâu đài cõi trời và trong đó quán tưởng một
chữ “HUM” rồi đưa thức đi vào chữ. Nghĩ rằng “Ta sẽ
gặp Pháp và đạt thành tựu tối thượng trong đời tới”,
hãy quán tưởng mình là vị thần bổn tôn. Bằng phương pháp
này người ta tái sanh trong một đời sống quý báu của con
người hay của chư thiên, có những phẩm tính tự do và thuận
lợi, người ta gặp những bạn thánh hạnh, như là những
vị thầy tâm linh và đạt sự thành tựu tối thượng trong
đời đó. Giáo huấn về trạng thái trung ấm đã trọn vẹn.
Những
Giáo huấn về Kết Quả, sự Toàn Thiện
Dù
người ta đạt giải thoát trong đời này, trong trạng thái
trung ấm hay trong đời tới, kết quả nhất định là Phật
quả không gì sánh. Bằng cách làm cho tâm mình trở nên hoàn
toàn thanh tịnh bởi được tự giải thoát, và bằng cách
chứng ngộ nghĩa của sự sáng tỏ (tịnh quang) một cách trực
tiếp, người ta sẽ bảo đảm sự an trụ trong trạng thái
của Thân Tối Hậu vô nhiễm. Vào lúc đó, như mặt trời
và mặt trăng mọc lên trong bầu trời, từ trong trạng thái
của Thân Tối Hậu Báo thân xuất hiện cùng với năm điều
chắc thực và phụng sựï chúng sanh ở trong mười địa.
Qua nhiều hình thức khác nhau của Hóa thân, người ta hoàn
thành những lợi lạc của nhiều chúng sanh một cách tự nhiên.
Đặc biệt, (a) nếu người ta chứng ngộ những tự-xuất
hiện của trạng thái trung ấm là sự sáng tỏ của nền tảng,
người ta bảo đảm trạng thái của Thân Tối Hậu. Bấy giờ,
từ trạng thái đó, những lợi lạc cho chúng sanh xảy ra qua
những Báo thân và những Hóa thân. (b) Nếu người ta chứng
ngộ những tự-xuất hiện như là những xuất hiện của trí
huệ bổn nguyên có năm khía cạnh, người ta bảo đảm trạng
thái của Báo thân và đáp ứng lợi ích của chúng sanh bằng
những Hóa thân. Và rồi những Hóa thân tan biến vào trong
những Báo thân, chúng lại tan biến vào trong Thân Tối Hậu,
và ở đó người ta ở trong nền tảng bổn nguyên. Rồi lại
từ trạng thái bổn nguyên này, người ta phụng sự chúng
sanh qua những xuất hiện của hai Sắc thân. (c) Nếu người
ta chứng ngộ tự-xuất hiện như là những thân thanh tịnh
và cõi Phật thanh tịnh của những Hóa thân, người ta bảo
đảm trạng thái của Hóa thân và những xuất hiện của những
Báo thân và Hóa thân tan biến vào trong Thân Tối Hậu, và
từ nó người ta hoàn thành những lợi lạc của chúng sanh
(qua hai sắc thân).
Trong
chính tỉnh giác bổn nhiên hiện tại này, cả sanh tử và
niết bàn được thành tựu. Thế nên, nếu người ta không
thể chứng ngộ nó, nhiều loại hạnh phúc và đau khổ khác
nhau khởi sanh trong những hình tướng xuất hiện như mộng
của sanh tử trong giấc ngủ vô minh, và người ta lang thang
trong ba cõi và sáu loại chúng sanh. Nếu người ta có được
những kinh nghiệm của chứng ngộ, thì những thị kiến của
niết bàn như mộng xuất hiện như những cõi tịnh độ khác
nhau của Báo thân và họ phụng sự chúng sanh trong những giấc
mộng. Bất cứ màu sắc nào xuất hiện, ngay khoảnh khắc
xuất hiện của chúng, (bằng cách nhận biết rằng chúng)
không hiện hữu trong thực tế, chúng biến mất như những
giấc mộng biến mất khi người ta tỉnh dậy và rồi chúng
trở thành một vị trong Thân Tối Hậu, thoát khỏi mọi tạo
tác, như những hình tướng xuất hiện của ban ngày.
Thế
nên, nếu người ta không chứng ngộ tánh Không, tinh túy của
tỉnh giác bổn nguyên hiện tiền, bấy giờ vì vô minh, người
ta trở nên mê lầm vào tâm và cõi vô sắc. Những cái này
thuộc về bản tánh vô niệm. (Cũng thế, nếu người ta không
chứng ngộ) sự sáng tỏ (quang minh), bản tánh (của tỉnh
giác bổn nhiên hiện tiền), bấy giờ bởi vì sân giận người
ta trở nên mê lầm vào trong ngữ và cõi sắc. Những cái này
thuộc về bản tánh sáng tỏ. Nếu người ta không chứng ngộ
những đặc thù đa dạng, tính cách (của tỉnh giác bổn nhiên
hiện tiền), bởi vì tham người ta trở nên mê lầm vào thân
thể và cõi dục. Những cái này thuộc về bản tánh lạc.
Kết
quả là, từ những hành động bất thiện người ta sẽ chịu
khổ trong những cõi địa ngục, từ những hành động thiện
nhiễm ô không liên hệ với những tham thiền (người ta sẽ
chịu khổ) trong sự lưu lạc của người và chư thiên, từ
sự sáng tỏ của tham thiền người ta sẽ chịu khổ trong
những cõi sắc và từ việc ở yên trong những tham thiền
vững chắc (người ta sẽ chịu khổ) trong cõi vô sắc.
Khi
người ta thấy và chứng ngộ tánh giác hiện tiền, bấy giờ
tinh túy tánh Không của nó là Thân Tối Hậu thoát khỏi những
tạo tác, bản tánh sáng tỏ của nó là Báo thân với năm
điều chắc thật và tính cách của nó, xuất hiện trong nhiều
hình thức khác nhau, là Hóa thân xuất hiện một cách thích
ứng để thành tựu lợi lạc của chúng sanh một cách tự
nhiên. Thân Tối Hậu là sự tự do khỏi mọi tạo tác, như
hư không, và từ trạng thái đó xuất hiện “cõi Phật không
gì sánh” của Báo thân, với những đạo sư của chư Phật
An Bình và Hung Nộ của Báo thân trang nghiêm bằng những tướng
chánh và tướng phụ. Những vị đạo sư ấy làm hài lòng
vô tận chư Phật tự-xuất hiện và chư Bồ tát thập địa
với những giáo lý Đại thừa cho đến khi sanh tử trống
trơn. Từ trạng thái ấy (Báo thân), qua vô số Hóa thân của
thân, ngữ, tâm bất tận với (hai) trí huệ thấu biết chân
lý tuyệt đối và những đa thù quy ước, người ta thực
hiện những hành động giác ngộ cho chúng sanh trong tất cả
sáu loại khắp mười phương, phù hợp với những tri giác
khác biệt của họ. Đây là lòng đại bi của vô lượng hành
động giác ngộ.
Trong
phương diện của biểu lộ trí huệ bổn nguyên của chư Phật
có hai phạm trù : năm cái vĩ đại của Báo thân, chúng là
tinh túy xuất hiện bên trong ; và hai cái vĩ đại của Hóa
thân, chúng là những hình thức xuất hiện bên ngoài. Năm
trí huệ bổn nguyên bên trong là : những trí huệ bổn nguyên
của cảnh giới tối hậu, như tấm gương, bình đẳng, phân
biệt và thành tựu. Hai trí huệ bổn nguyên bên ngoài là :
trí huệ bổn nguyên biết mọi chi tiết của những hiện tượng
quy ước một cách riêng biệt không lầm lẫn chúng, và trí
huệ bổn nguyên biết bản tánh tối hậu một vị như nó
là. Sự giải thích những giai đoạn hiện khởi của kết
quả, sự hoàn thiện của con đường, đã trọn vẹn.
Con
đường tuyệt hảo và cỗ xe vĩ đại của chúng sanh phước
đức :
Trí
Huệ Bổn Nguyên vốn sẵn đủ bất nhị tự giải thoát
Là
tâm tự-giải thoát, hiện tại khoảnh khắc.
Nó
giải thoát đồng thời ngay-khi-khởi sanh và giải thoát tự
nhiên không trước hơn hay sau hơn.
Nó
không ô nhiễm do bị nắm bắt và không dơ bẩn bởi người
nắm bắt.
Nó
là sự khởi sanh của tất cả những nhiễm ô phiền não như
là chính trí huệ bổn nguyên.
Vì
(giáo lý này) được trao truyền cho tôi nhờ hồng ân của
Guru,
Cho
những người học đạo tương lai, tôi đã gom chúng lại như
những giáo huấn viết ra.
Người
muốn giải thoát khỏi cuộc sanh tử này cần nương dựa vào
đây.
Bất
luận thế nào, người nào tạo ra từ chối và chấp nhận
Không
có cơ hội tốt cho những giáo lý bất nhị,
Trên
con đường này, vì tất cả kinh nghiệm chính là trí huệ
đích thật,
Người
ta đạt được trạng thái vĩnh cửu của Thân Tối Hậu, cái
toàn thiện tại ngay nền tảng.
Hỡi
các bạn ! Trong tòa lâu đài tinh chất này thoát khỏi những
cực biên,
Hãy
sở hữu sự giàu sang của Tâm Tối Hậu.
Chắc
chắn rằng người ta sẽ đạt được kết quả đại phúc
lạc trong chỉ đời này.
Và
sau đó, những lợi lạc của những người khác sẽ được
thành tựu tự nhiên.
Cuộc
đời chúng ta đổi thay như những đám mây,
Thân
thể thì không có tự tánh như bọt nổi.
Khó
nghe được những giáo lý và càng khó hơn là thực hành điều
người ta đã nghe.
Thế
nên hãy nhanh chóng phát sanh năng lực tinh tấn.
Do
làm chín những quả và hoa của những nỗ lực đức hạnh
đúng thời,
Nguyện
tất cả chúng sanh đạt được trạng thái của Phật.
Ở
Kangri Thodkar (Núi Tuyết Đỉnh Trắng), thành Ogyen (Oddiyana,
tức Pamasambhava),
Bản
văn này được viết bởi Trimed Odzer (Ánh Sáng Rực Rỡ Vô
Nhiễm, tức Longchen Rabjam).
Do
những công đức, nguyện cả ba cõi không sót một ai
Đều
thành tựu trạng thái của Trọn Hảo (tức là Phổ Hiền).
Giáo
huấn nghĩa tinh yếu của con đường của những giai đoạn
của Tâm Giải Thoát Tự Nhiên của Đại Toàn Thiện, được
viết ra bởi Longchen Rabjam (Pháp Giới Bao La Vô Tận), đã trọn
vẹn.
Mệnh
Lệnh giao Phó Giáo Lý vì sự Quan Trọng của Nó
Vì
giáo lý này là một tinh chất của những giáo huấn bí mật
nhất, nếu nó được dạy cho hơn ba người phước đức,
điều đó sẽ đem lại những trừng phạt của những Dakini.
Thế nên hãy giữ nó một cách nghiêm nhặt (bí mật). Hỡi
hộ pháp vinh quang Legden Nagpo, hộ pháp nữ cho những tantra
Ekajati và Rahula, hiền triết của (đẳng cấp) Za, xin hãy bảo
vệ giáo lý này một cách nghiêm nhặt. Nguyện nó được là
đức hạnh !
9.
Sự Tu Hành và những Chứng đắc
Năm
Con đường của Đại Thừa
Trong
những giáo lý Kinh (công truyền) của Đại thừa, những cấp
độ chứng đắc tâm linh trong tiến trình tu hành được chia
thành mười giai đoạn (mười địa) và năm con đường. Trong
những kinh Mười Địa và Năm Con Đường với Ba Mươi Bảy
Phương Diện của Giác ngộ (Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo)
được bàn luận chi tiết và cơ cấu ấy là căn cứ chung
cho giáo lý tantra và cho Đại Toàn Thiện. Trong Shingta Chenpo,
Longchen Rabjam tóm tắt sự tu hành “ba mươi bảy phương diện
của giác ngộ” để hoàn thiện năm con đường.
CON
ĐƯỜNG TÍCH TẬP (Tshogs-Lam)
Sự
tham thiền về những chứng ngộ, chẳng hạn, của nghe, suy
nghĩ và thiền định với những đức hạnh của chúng, bắt
đầu từ sự khai triển Bồ đề tâm trong Đại thừa, cho
đến sự khai triển của hơi nóng (nỗn địa của con đường
áp dụng) trong tâm người ta, dẫn đến hòn đảo của giải
thoát là con đường tích tập (tư lương vị).
Nguyên
nhân : Sự đánh thức của dòng (Rigs), nó là căn cứ cho sự
phát triển Bồ đề tâm.
Kết
quả : Bốn con đường tiếp theo.
Ngữ
nguyên : Con đường của những tích tập, vì nó chủ yếu
tích tập sự nghe (nghiên cứu), suy gẫm và những công đức.
Phân
chia : Có ba :
Nhỏ
(Chi Phần của Con Đường Tích Tập)
Trong
sự thực hành này người ta thiền định về tỉnh giác có
bốn phần (Bốn niệm xứ) trong cả thiền định và sau thiền
định. Đó là những tham thiền về : (i) (Thấy) những thân
thể của mình và những người khác như hư không trong thời
gian thiền định. Trong thời gian sau thiền định thấy thân
như huyễn thuật. Người ta cũng thiền định về sự dơ bẩn
của thân như là cái đối trị với tham ái. (ii) (Thấy) cảm
thọ mà không có những quan niệm trong thời thiền định,
và trong thời sau thiền định là như bóng cây trong nước.
Người ta cũng thiền định về thấy chúng chỉ là khổ đau.
(iii) (Thấy) tâm là vô sanh (trong thời thiền định) và vô
thường (trong thời gian sau thiền định). (iv) (Thấy) rằng
những hiện tượng chỉ là giả danh (trong thời thiền định)
và chúng chỉ là huyễn (trong thời sau thiền định).
Vừa
(Chi Phần của Con Đường Tích Tập)
Nó
là sự thiền định về bốn sự tịnh hóa toàn hảo (bốn
chánh cần), chúng là mức độ cao nhất của những kinh nghiệm
tiến bộ hoàn thành qua những tham thiền ở trước. Chúng
là (i) không phát sanh các pháp ác chưa sanh, (ii) đoạn tận
các cái ác đã sanh, (iii) phát sanh các pháp thiện chưa sanh,
và (iv) làm phát triển các pháp thiện đã sanh trong chính mình
qua bốn phương tiện : Ngưỡng mộ, nỗ lực, những cố gắng
và siêng năng.
Lớn
(Chi Phần của Con Đường Tích Tập)
Nó
là sự tham thiền về bốn bước thần diệu (bốn như ý túc)
: (i) ngưỡng mộ, (ii) nghiên tầm, (iii) tập trung, và (iv) chánh
niệm.
Thiền
định : Trong khi tu hành Con Đường Tích Tập, với ý định
hoàn thành giác ngộ, người ta có những cố gắng trong kỷ
luật để niêm kín những cánh cửa của những khả năng giác
quan, ăn đạm bạc, và không ngủ trong phần đầu và phần
sau của đêm. Thiền giả hoan hỷ bởi vì chánh niệm trong
những cố gắng chấp nhận và từ bỏ. Nó tiến lên trên
con đường dẫn đến Con Đường Áp Dụng mà không có những
hối tiếc nhưng với niềm tin, lòng tin và ngưỡng mộ....
với tất cả những đức hạnh khác là nguyên nhân của giải
thoát. Nó hiến mình cho học hỏi, suy nghĩ và thiền định.
Thời
gian : Chi phần Nhỏ của Con Đường Tích Tập là sự bắt
đầu của ba vô số kiếp tu hành (trên con đường giác ngộ).
Vào lúc thực hành tỉnh giác bốn phần, thời gian đạt đến
Con Đường Áp Dụng là không xác định chắc chắn. Vào lúc
thực hành bốn chánh cần, chắc chắn rằng sự đạt đến
Con Đường Áp Dụng sẽ xảy ra trong đời kế tiếp. Vào lúc
tu hành bốn bước thần diệu, chắc chắn người ta sẽ đạt
đến Con Đường Áp Dụng ngay trong đời này.
Đối
trị : Trong Con Đường Tích Tập, người ta thực hành cái
đối trị là sự tấn công những ô nhiễm bằng cách thấy
những yếu tố hợp tạo là lỗi lầm, khuyết điểm.
Đoạn
trừ : Người ta từ bỏ tất cả những tham luyến trực tiếp
bằng cách thấy những hiện tượng bị nhiễm ô là lỗi lầm,
khuyết điểm.
Thấu
hiểu : Người ta thấu hiểu một cách tổng quát hai vô ngã
chủ yếu bằng sự học hỏi và suy nghĩ và trong một số
trường hợp bằng thiền định.
Đức
hạnh : Người ta đạt được những đức hạnh các “nhãn”
và các thông và v.v....
Thiền
định : Người ta thiền định về những tu hành sau đây :
tự chế phục trong tập trung vào việc đi vào và rút khỏi
những hoạt động thân và ngữ (thích hợp và không thích
hợp) ; trí huệ của những sự học hỏi, suy nghĩ và thiền
định về những lời nói và những ý nghĩa của kinh điển
và những nhớ nghĩ đến Tam Bảo. Người ta thiền định về
bốn Pháp Ấn, thấy rằng mọi hợp tạo đều vô thường,
mọi sự có khuyết điểm là khổ, tất cả những hiện tượng
là Không và tất cả chúng sanh là vô ngã. Hãy thiền định
về năm công đức giải thoát : xác tín, chuyên cần, nhớ
nghĩ, tham thiền và trí huệ (ngũ căn), chúng còn chưa được
khai triển trong hình thức năm khả năng (ngũ căn). Người
ta tham thiền về những giới luật, sự bố thí và những
nhớ nghĩ về cuộc đời người đáng quý, cái chết, sự
sanh ra, hơi thở vào và hơi thở ra.
Những
hoạt động : Khi làm việc người ta thiền định về (chín)
điều bất tịnh và tám quan niệm của những bậc đại nhân.
Người ta thiền định về chúng, bắt đầu với quy y và khai
phát Bồ đề tâm và hồi hướng những công đức. Những
thiền định về chín điều bất tịnh là thấy thân thể
mình và của những người khác thối rữa, dòi bọ ăn, tím
ngắt, xanh xám, đen thui, phân rã, bị thiêu đốt, và hư thối.
Như (đối trị) với tham dục người ta thiền định về sự
dơ bẩn, với sân hận là thiền định về lòng từ và với
si (vô minh) là về duyên sanh.
Chín
quan niệm của những bậc đại nhân : Trong Nyi-Khri gZhung-Grel
nói :
Chúng
là những tư tưởng (1) Khi nào tôi xua tan được khổ đau
của chúng sanh ? (2) Khi nào tôi dẫn dắt được người ta
đang trong sự hiểm nguy của nghèo khó đến giàu có lớn lao
? (3) Khi nào tôi đáp ứng được những nhu cầu của chúng
sanh với thân thể bằng thịt và máu của tôi ? (4) Khi nào
tôi làm lợi lạc cho chúng sanh bằng cách sống lâu dài trong
địa ngục ? (5) Khi nào tôi thỏa mãn được những mong ước
của chúng sanh bằng những phồn vinh lớn lao của thế giới
và sự vượt khỏi thế giới ? (6) Khi nào tôi trở thành một
vị Phật và nhổ sạch gốc những khổ đau của chúng sanh
? (7) Khi nào tôi không bao giờ có những tái sanh không làm
lợi lạc cho chúng sanh mà biết phân tích vị của chân lý
tuyệt đối, không nói lời lơ là với lợi lạc của chúng
sanh, có đời sống, thân thể, trí năng, sung túc hay oai nghi
làm lợi cho những người khác và không thiết tha làm hại
những người khác ? (8) Khi nào tôi chịu kinh nghiệm những
kết quả của những hành vi bất thiện của những người
khác và cho những người khác kinh nghiệm những kết quả
của những hành vi thiện của tôi ?
CON
ĐƯỜNG ÁP DỤNG [NỖ LỰC] (sByor-Lam)
Căn
cứ : Những giai đoạn chót của chi phần lớn của Con Đường
Tích Tập được phát sanh trong chúng sanh của sáu cõi. Trong
kinh có nói rằng (Con Đường Áp Dụng hay Nỗ Lực) được
phát sanh trong nhiều chúng sanh chư thiên, rồng (long) và bán
thiên.
Căn
cứ để thực hiện : Đó là tâm của những cõi dục hay của
sáu giai đoạn định.
Nguyên
nhân : Nó là giai đoạn cuối cùng của cấp độ lớn của
Con Đường Tích Tập.
Tinh
túy : Nó là trí huệ thế gian phát sanh bởi thiền định.
Phân
chia : Có bốn : hơi nóng (nỗn địa), đỉnh cao (đỉnh địa),
nhẫn chịu (nhẫn địa) và chứng ngộ tối thượng thuộc
thế gian (thế đế đệ nhất địa).
Thiền
định : Trong “hơi nóng” và “đỉnh cao” người ta thực
hành năm khả năng (ngũ căn) : niềm tin, chuyên cần, tỉnh
giác, tham thiền và trí huệ. Chúng được gọi là những khả
năng vì chúng trực tiếp làm mạnh sự phát sanh giác ngộ....
Trong “nhẫn chịu” và chứng ngộ tối thượng thuộc thế
gian người ta thực hành năm lực : niềm tin, chuyên cần, tỉnh
giác, tham thiền và trí huệ.
Trí
Huệ Bổn Nguyên : Trong bốn chi phần của Con Đường Áp Dụng
có bốn trí huệ bổn nguyên :
(1)
Sự đạt được ánh sáng của trí huệ bổn nguyên của “hơi
nóng” của Đại thừa là cái đối trị với sự nắm bắt
những đối tượng như là thật, bằng cách thấy mọi hiện
tượng chỉ là những ánh sáng của tâm, một ánh sáng nhỏ
phát sanh do thiền định thuộc thế gian.... Ở đây, ánh sáng
nghĩa là sự nhẫn chịu của tập trung thật sự vào Pháp....
(2)
Sự tăng trưởng của ánh sáng của trí huệ bổn nguyên của
“đỉnh cao” là sự đạt được ánh sáng bình thường phát
sanh bởi thiền định thế gian qua những nỗ lực thiền định
về vô ngã với mục đích tăng trưởng ánh sáng của bản
thân Pháp....
(3)
Trí huệ bổn nguyên của việc đi vào một phần trong cái
nhẫn tánh Như là cái đối trị cho những phóng dật đối
với những hiện tượng bên ngoài (thấy chúng) như là những
đối tượng, qua việc đạt được ánh sáng lớn phát sanh
do thiền định về sự an trụ trong tâm thuần túy....
(4)
Trí huệ bổn nguyên của chứng ngộ tối thượng thuộc thế
gian (được thành tựu) “ngay trước” sự đạt đến Con
Đường Thấy mà không gián đoạn (bởi bất kỳ chứng đắc
nào khác). Trí huệ bổn nguyên này là sự hoàn thành trọn
vẹn những thị kiến phát sanh bởi những tham thiền thế
gian, vì không có phóng dật do nắm bắt những đối tượng.
Chi
phần : Mỗi cái trong bốn phương diện của Con Đường Áp
Dụng có ba chi phần, xếp loại như nhỏ, bình thường, và
lớn....
Đối
trị : Nó là sự từ bỏ những nhiễm ô bằng cách đè nén
chúng. Thông thường có bốn loại đối trị : đối trị của
tấn công, từ bỏ, căn cứ và sự nhổ gốc, như con đường
không đứt đoạn nhổ sạch từ gốc rễ....
Đoạn
trừ : Nó giảm thiểu hạt giống và những che chướng trực
tiếp, và giải thoát khỏi sự suy tàn và nghèo khó của chúng
sanh bình thường.
Thấu
hiểu : Thấu hiểu tổng quát về hai vô ngã qua trí huệ bổn
nguyên do những thiền định thế gian phát sanh.
Đức
hạnh : Trong Kinh Ratnamegha đề cập đến nhiều đức hạnh
như tham thiền, nhớ nghĩ và các thông.
Tối
cao hơn Con Đường Tích Tập : Không có sự khác biệt giữa
cái này và Con Đường Tích Tập phát sanh do thiền định,
nhưng trong cái này trí huệ bổn nguyên của vô niệm thì sáng
tỏ hơn và gần với Con Đường Thấy hơn.
CON
ĐƯỜNG THẤY (mThong-Lam)
Trí
huệ bổn nguyên của Con Đường Thấy (Kiến đạo vị) khởi
hiện lúc chấm dứt của sự chứng ngộ tối thượng thuộc
thế gian (của Con Đường Áp dụng) và nó xảy ra trong khoảnh
khắc thứ mười sáu. Những khoảnh khắc đó là sự nhẫn
của hiểu biết về các pháp, sự hiểu biết về các pháp,
những nhẫn của hiểu biết theo sau đó, và sự hiểu biết
theo sau đó của bốn chân lý : khổ, tập, diệt, đạo....
Căn
cứ : Căn cứ hiện khởi của trí huệ bổn nguyên là như
nhau trong đại chứng ngộ cao nhất thuộc thế gian (của Con
Đường Áp Dụng) và ở nơi bất kỳ chúng sanh nào của sáu
cõi.
Căn
cứ của tâm : Nó là định thứ tư (tứ thiền).
Nguyên
nhân : Sự chứng ngộ cao nhất thuộc thế gian của Con Đường
Áp Dụng là nguyên nhân trực tiếp và những khía cạnh khác
của Con Đường Tích Tập và Con Đường Áp Dụng là những
nguyên nhân gián tiếp.
Kết
quả : Nó là sự khai triển của hai con đường về sau.
Tinh
túy : Có mười sáu khoảnh khắc liên quan đến (những cấp
độ của) sự tịnh hóa những nhiễm ô thuộc về bản chất
bởi những phần nhỏ của bốn chân lý.
Những
đoạn trừ : Có mười nhiễm ô : năm nhiễm ô liên quan đến
cái thấy và năm nhiễm ô không liên quan đến cái thấy. Năm
cái liên quan đến cái thấy là : những cái thấy về những
tổ hợp tạm thời (tôi và cái của tôi là thực), cái thấy
chấp các cực biên, cái thấy sai lầm (tà kiến), thấy (một
tà kiến) là tối thượng, và thấy rằng đạo đức và khổ
hạnh là tối thượng (giới cấm thủ). Năm cái không liên
quan đến cái thấy là : tham, sân, kiêu mạn, vô minh và nghi
ngờ.
Trong
cõi dục, mười đoạn trừ trở thành 40 do nhân mỗi cái với
bốn chân lý. Đối với hai cõi trên (sắc và vô sắc), loại
trừ sân, còn có chín nhiễm ô, và nhân chúng lên (với bốn
chân lý) chúng thành 72. Thế nên tổng cộng có 112 nhiễm ô
phiền não của ba cõi cần được đoạn trừ trong Con Đường
Thấy....
Trong
bốn định (sắc giới) và bốn định của vô sắc giới,
sân không có mặt để đoạn trừ, vì tâm thức của chúng
sanh được thấm nhuần bởi an định, vì họ không có chín
căn cứ của sân, tư tưởng làm hại. Chín căn cứ là : (nghĩ
rằng người này) đã hại ta trong quá khứ, đang hại ta trong
hiện tại, và sẽ hại ta trong tương lai. Cùng cách đó, ba
đối với những bạn bè mình và ba đối với những kẻ thù
của mình, nghĩ rằng nó làm lợi cho kẻ thù của mình và
v.v.... Mười nhiễm ô phiền não này dẫn vào con đường sai
lầm. Chẳng hạn, trong trường hợp chân lý về khổ (khổ
đế) : (1) do cái thấy về tổ hợp tạm thời người ta hiểu
chân lý về khổ như là “tôi” và “của tôi”. (2) Do cái
thấy chấp các cực biên người ta hiểu chân lý về khổ
như là hiện hữu hay không hiện hữu và thường hay đoạn.
(3) Do cái thấy sai lầm người ta hiểu rằng chân lý về khổ
là không hiện hữu. (4) Do vô minh người ta đi vào nó mà không
biết những tính cách của nó. (5) Do nghi ngờ người ta đi
vào nó với nghi ngờ rằng chân lý về khổ không biết có
thật hay không. Có năm cách nhiễm ô liên quan đến chân lý
về khổ. (6) Tham phát sanh bám luyến. (7) Kiêu mạn phát sanh
tự cao và khoe khoang. (8) Hiểu (những tà kiến) như là cái
thấy tối thượng phát sanh sự nắm hiểu chúng là tối thượng.
(9) Kiến giải cho đạo đức và khổ hạnh là tối thượng
phát sanh sự chấp chúng như là đường lối của giải thoát
và thanh tịnh. (10) Sân tạo ra ác ý đối với bất cứ cái
gì không phù hợp với năm cách liên hệ này. Vì mười nhiễm
ô này áp dụng cho chân lý về khổ, chúng cũng áp dụng cho
ba chân lý kia. Trong trường hợp chân lý về diệt, phương
diện danh xưng được liên quan đến, mà không phải là ý
nghĩa....
Đối
trị : Tất cả nhiễm ô phiền não của ba cõi, chúng là những
đoạn trừ của Con Đường Thấy, cùng được tịnh hóa. Bốn
cái nhẫn của sự hiểu biết về các pháp của bốn chân
lý khổ, tập, diệt, đạo là một trong những hiện tượng
tâm thức của chúng, nhưng chúng là bốn trong những yếu tố
riêng rẽ. Khi cái đối trị khởi lên, trong chỉ một khoảnh
khắc sát na, nó trở thành con đường tương tục bất đoạn,
đó là cái đối trị từ bỏ cái cần đoạn trừ của Con
Đường Thấy từ gốc rễ. Nó từ bỏ 112 cái cần đoạn
trừ của Con Đường Thấy trong một khoảnh khắc. (Tiến trình
đoạn trừ : Trong khoảnh khắc thứ nhất,) nguyên nhân phụ
của những nhẫn và sự hiểu biết về thuộc tính của mỗi
cái trong bốn chân lý và những đoạn trừ tương ứng hoạt
động gặp gỡ nhau. Trong khoảnh khắc thứ hai, nguyên nhân
thực sự (của những nhẫn và sự hiểu biết về thuộc tính
của mỗi cái trong bốn chân lý) và những đoạn trừ tương
ứng không hoạt động gặp gỡ nhau. Trong khoảnh khắc thứ
ba, bốn nhẫn của các thuộc tính khởi lên và sự dừng diệt
của toàn bộ đoạn trừ các vi tế xảy ra tự nhiên....
Bốn
thuộc tính của bốn chân lý thuộc về cá nhân là những
hiện tượng tâm thức như nhau. Thế nên sự giải thoát khỏi
những nhiễm ô của những hình sắc của bốn chân lý trong
ba cõi là con đường giải thoát (Con Đường Thấy), những
cái đối trị. Tương tự, bốn nhẫn có ra từ đó và bốn
hiểu biết có ra từ đó là con đường phân cách (sanh tử
và niết bàn), cái đối trị xa lìa.... Những cái cần đoạn
trừ này gồm trong hai che chướng, và những đối trị giải
thoát người ta khỏi chúng....
Sự
phân biệt của hai che chướng là : Tánh chất của khổ và
v.v...., của những che chướng bất thiện hay trung tính làm
cho tâm rất không an bình là “những che chướng thuộc phiền
não” (phiền não chướng). Chủ thể và đối tượng của
ý niệm người nắm bắt và cái được nắm bắt với bản
chất ô nhiễm hay trung tính không che ám, nó không thoát khỏi
sự bám luyến vào ba chu kỳ (ba luân : chủ thể, đối tượng,
và hành động), là “che chướng thuộc trí thức” (sở tri
chướng). Trong hai loại che chướng đó, những che chướng
phiền não do vọng tưởng là những cái cần đoạn trừ của
Con Đường Thấy, và những phiền não bẩm sinh là những cái
cần đoạn trừ của Con Đường Thiền Định. Ý niệm thô
về người nắm bắt và cái được nắm bắt, những che chướng
thuộc trí thức, là những cái cần đoạn trừ của Con Đường
Thấy, và những cái vi tế là những cái cần đoạn trừ của
Con Đường Thiền Định....
Chứng
ngộ : Nó là sự chứng ngộ trực tiếp hai vô ngã nhờ Trí
huệ bổn nguyên xuất thế gian.
Những
đức hạnh : Một ngàn hai và vân vân, của giai đoạn thứ
nhất (địa thứ nhất, sơ địa) đã được nói ở trước.
Thời
gian : Trước hết, bốn nhẫn của những thuộc tính của bốn
chân lý khởi sanh đồng thời. Sau đó, bốn hiểu biết về
những thuộc tính khởi sanh đồng thời. Sau đó, bốn nhẫn
có từ đó khởi sanh đồng thời. Sau đó, bốn hiểu biết
từ đó khởi sanh đồng thời. Thế nên, trong bốn bộ “những
khoảnh khắc trong đó một hành động có thể được thành
tựu” khởi sanh tất cả bốn loại thực thể với mười
sáu yếu tố tách biệt của chúng, bởi vì sự chứng ngộ
bốn chân lý sanh khởi tức thời và hai bộ của bốn nhẫn
và hai bộ của bốn hiểu biết của chúng được khai triển
liên tục. Những đoạn trừ của Con Đường Thấy được
từ bỏ trong một khoảnh khắc bởi những nhẫn của những
thuộc tính, và Con Đường Thấy sanh khởi trong bốn phần
một cách liên tục....
Thiền
định : Trong địa thứ nhất, người ta thiền định về bảy
chi của giác ngộ (bảy giác chi)....
Kinh
Aryabodhipaksanirdesa nói :
(1)
Văn Thù, người nào thấy tất cả những hiện tượng là
không có gì cả, bởi vì không có những ý niệm và sự nhớ
nghĩ là chi tỉnh giác của giác ngộ. (2) Văn Thù, người nào
tách biệt khỏi mọi hiện tượng mà không có những sự ý
niệm hóa, vì nó không khi nào lập ra những hành vi thiện,
bất thiện hay trung tính, đó là chi phân biệt của giác ngộ.
(3) Văn Thù, người nào không bỏ không lấy ba cõi, vì nó
đã đoạn diệt tri giác về thân, là chi tinh tấn của giác
ngộ. (4) Văn Thù, người nào không phát sanh hỷ trong những
sự thành lập hữu vi, vì nó đã đoạn diệt vui và buồn,
là chi hỷ của giác ngộ. (5) Văn Thù, người nào có sự mềm
dẻo hoàn toàn của tâm trong mọi hiện tượng, vì không có
sự ý niệm hóa về những sự vật vốn không-ý-niệm hóa,
là chi mềm dẻo của giác ngộ (theo Hán Việt : khinh an giác
chi). (6) Văn Thù, người nào tâm họ không ý niệm hóa, vì
nhờ đó mà hình dung được sự hủy diệt của những hiện
tượng, là chi tham thiền của giác ngộ. (7) Văn Thù, người
nào không trú trong, không trụ vào hiện tượng nào và như
thế không tham luyến và không bị chúng trói buộc và giữ
trung tính về mọi cái thấy được và có được niềm vui
là chi bình thản của giác ngộ (xả giác chi).
CON
ĐƯỜNG THIỀN ĐỊNH (bsGom-Lam)
Chính
sự thiền định làm tiến triển những kinh nghiệm về những
ý nghĩa của (những tu hành và những chứng ngộ) của những
phương diện phù hợp với Con Đường Áp Dụng và Con Đường
Thấy hiện giờ đã được chứng ngộ....
Có
chín cấp độ trong con đường này : nhỏ, vừa và lớn, mỗi
cái như vậy còn phân chia thành những cấp độ nhỏ, vừa
và lớn....
Những
cái cần Đoạn Trừ : Trong Con Đường Thiền Định có những
cái cần đoạn trừ lớn, vừa và nhỏ, chúng lại được
chia thành chín phần ; cái lớn của cái lớn, cái vừa của
cái lớn, cái nhỏ của cái lớn, cái lớn của cái vừa, cái
vừa của cái vừa, cái nhỏ của cái vừa, cái lớn của cái
nhỏ, cái vừa của cái nhỏ và cái nhỏ của cái nhỏ. Chín
cái phải đoạn trừ này được đoạn trừ trong chín địa,
như cái “không nhiễm” (Ly cấu địa, địa thứ hai). Trong
cấp độ nhỏ của nhỏ của Con Đường Thiền Định, địa
không nhiễm (Ly cấu địa) những cái đoạn trừ là cái lớn
của cái lớn, và trong cấp độ lớn của lớn tức địa
thứ mười của Con Đường Thiền Định những cái nhỏ của
cái nhỏ cần được đoạn trừ. Ở đây những nhiễm ô thô
được gọi là những cái lớn cần được đoạn trừ và
những nhiễm ô tế được gọi là những cái nhỏ....
Căn
cứ : Căn cứ sanh ra cho sự hiện khởi của Con Đường Thiền
Định thì tương tự với Con Đường Thấy. Và mỗi đời
người sanh ra là thích đáng nếu nó giữ gìn trong nó những
chứng đắc đã từng phát sanh trong bản thân nó....
Căn
cứ của tâm thức : Hầu hết những chứng đắc của Con đường
thiền định được đặt nền trên định thứ tư (tứ thiền),
nhưng cũng có thể được đặt nền trên những định khác.
Nguyên
nhân : Ba con đường trước là nguyên nhân của nó.
Kết
quả : Đó là con đường “không tu nữa”....
Tinh
túy : Từ quan điểm đoạn trừ những nhiễm ô của chín địa,
có bốn cấp độ (trong mỗi địa) ; con đường sơ bộ, con
đường không ngừng dứt, con đường giải thoát và con đường
đặc biệt. Hai con đường sơ bộ và không ngừng dứt là
những đối trị của sự từ bỏ những cái cần đoạn trừ.
Con đường giải thoát là căn cứ của cái đối trị. Con
đường đặc biệt là xa lìa cái đối trị. Ví dụ, (1) Chấm
dứt địa thứ nhất (“con đường sơ bộ”) nó là khoảnh
khắc cuối cùng trước khi trí huệ của địa thứ hai hiện
khởi, “người ta trừ những phiền não biểu lộ”, chúng
che ám sự hiện khởi của địa thứ hai, (2) do “con đường
không ngừng dứt”, nó là sự hiện khởi của địa thứ
hai, người ta “từ bỏ những lỗi lầm về giới luật của
địa này từ gốc rễ”, (3) con đường giải thoát, bắt
đầu từ khoảnh khắc thứ hai (của sự hiện khởi địa
thứ hai), là “căn cứ của cái đối trị”, và (4) con đường
đặc biệt, con đường chót của địa, là “xa lìa cái đối
trị”.
Như
thế, mọi nhiễm ô tương ứng với địa này được trừ
bỏ khi bắt đầu từ khoảnh khắc thứ nhất đến sự tròn
vẹn của địa. Tất cả những nhiễm ô của mỗi địa tương
ứng được trừ bỏ vào thời gian mà mỗi địa chấm dứt.
Những
đức hạnh : Giải thích ở trước....
Cách
Trừ Bỏ Chín Nhiễm Ô của Chín Địa : Có sáu nhiễm ô bẩm
sinh ; tham, sân, kiêu mạn, si, cái thấy có những hợp thể
tạm thời (tôi và của tôi là thật), cái thấy chấp vào
những cực đoan biên kiến. Chúng có thể được chia nhỏ
thành hai cách khác nhau. (a) Theo quan điểm về các cõi, có
mười sáu nhiễm ô. Đó là sáu nhiễm ô của cõi dục, và
đối với những định (những cõi sắc) và những cõi vô
sắc mỗi cõi có năm nhiễm ô, chỉ trừ sân. (b) Theo những
cấp độ, có bốn mươi sáu nhiễm ô. Sáu của cõi dục, mỗi
năm cái đối với bốn định và bốn cõi vô sắc. Nếu mỗi
cái còn được chia nhỏ thành chín mức độ lớn, vừa, nhỏ,
bấy giờ sáu nhiễm ô của cõi dục trở thành năm mươi bốn
và năm nhiễm ô, ngoại trừ sân, của bốn định trở thành
bốn bộ bốn mươi lăm (= 180) cái phải đoạn trừ. Tương
tự, trong cõi vô sắc có bốn bộ bốn mươi lăm (= 180) nhiễm
ô. Thế nên tổng cộng có bốn trăm mười bốn cái phải
đoạn trừ trên Con Đường Thiền Định.
“Con
Đường sơ bộ” hàng phục những cái cần đoạn trừ, “con
đường không ngừng dứt” đoạn trừ chúng một cách trực
tiếp, “con đường giải thoát” tạo ra căn cứ của cái
đối trị và “con đường đặc biệt” xa lìa những cái
đối trị....
Trong
những địa này người ta thực hành Bát Chánh Đạo.... Trong
Kinh Aryabodhipaksanirdesa có nói :
(1)
Văn Thù, người nào thấy mọi hiện tượng mà không mất
sự thản nhiên bình đẳng và với sự bất nhị thì có chánh
kiến. (2) Văn Thù, người nào thấy rằng mọi hiện tượng
là không bao giờ hiện hữu, chưa từng hiện hữu và hoàn
toàn không bao giờ hiện hữu qua đường lối không thấy tướng
thì có chánh tư duy. (3) Văn Thù, thấy mọi hiện tượng là
không thể diễn tả là chánh ngữ. (4) Văn Thù, thấy mọi
hiện tượng giải thoát khỏi người sáng tạo và sự được
tạo là chánh hạnh (hành động chân chánh, chánh nghiệp trong
Hán Việt).
(5)
Văn Thù, thấy mọi hiện tượng không tăng không giảm là
chánh mạng. (6) Văn Thù, thành tựu mọi hiện tượng mà không
có những cố gắng và tạo tác là chánh tinh tấn. (7) Văn
Thù, thấy mọi hiện tượng mà không có những ý niệm và
những nhớ nghĩ là chánh niệm. (8) Văn Thù, thấy mọi hiện
tượng trong thiền định tự nhiên mà không động và không
có những sự ý niệm hóa bởi vì chúng thoát khỏi những
ý niệm hóa là chánh định.
Những
giai đoạn này, theo bản tánh của chúng, thoát khỏi những
ý niệm và suy nghĩ.... Nhưng chúng được phân chia riêng rẽ
bởi vì sự đạt đến giác ngộ, nó là sự chuyển hóa vào
trong bản tánh tối hậu, dựa trên sự tịnh hóa những mức
độ của những che chướng cái bản tánh. Vào lúc thanh tịnh
tối hậu, người ta thấy sự tự-sáng tỏ của cõi bổn nguyên
hay Phật Vô Lượng Quang, như thấy mặt trăng tròn vì đó
là ngày rằm.
CON
ĐƯỜNG KHÔNG TU NỮA (Mi-Slob-Lam)
Những
cái cần Đoạn Trừ : Nó từ bỏ hai che chướng tận dấu
vết của chúng.
Chứng
ngộ Đặc biệt : Nó chứng ngộ Pháp thân trọn vẹn một
cách trực tiếp.
Những
đức hạnh : Chúng làm trọn vẹn những phẩm tính vô cùng
của những đức hạnh thế gian và xuất thế gian.
Mục
Đích của những Con Đường và những Địa
Phật
quả không gì sánh không thể đạt được cho đến khi nào
người ta hoàn thành những con đường và những địa.
Hoặc
Phật quả được đạt trong mười sáu đời v.v...., hay rất
nhanh trong chỉ một đời, người ta phải tiến bộ qua những
cấp độ của những con đường và những địa đúng như
chúng là, bởi vì cần thiết các nhiễm ô (của những cấp
độ khác nhau) phải được đoạn trừ, và những đức hạnh
cần phải thành tựu. Ngày nay người ta nói rằng dù không
dựa vào những con đường và những địa, Phật tánh sẽ
có thể đạt được, và không có sự làm trọn vẹn những
tích tập và sự tịnh hóa những che chướng, những con đường
và những địa cùng giác ngộ sẽ được hoàn thành. Rõ ràng
họ bị ai đó (Ma) ám chướng. Bởi vì họ ngược với những
học giả, những đệ tử, những kinh và tantra và những bản
văn vĩ đại. Bởi thế, người ta cần tinh tấn tu hành những
địa và con đường thanh tịnh.
10.
Sự Tu Hành và những Chứng đắc
những
Con đường và những Giai đoạn của Tantra
Trong
tantra sự chứng đắc những con đường và những địa được
nói đến trong chương liên hệ với sự tu hành thuộc kinh,
được hoàn thành nhờ sự thiện xảo phi thường trong những
phương tiện tu hành. Trong tantra, qua những thực hành trên
hai giai đoạn, giai đoạn phát triển và giai đoạn thành tựu,
người ta chứng đắc những kết quả. Trong chương hai mươi
mốt của Pema Karpo, Longchen Rabjam giải thích rằng bằng cách
tháo những cái nút thắt của kinh mạch trung ương do làm trưởng
thành tâm và năng lực khí của bốn luân xa, dần dần người
ta đạt được mười địa và năm con đường.
Ở
đây, tôi giải thích bằng cách phối hợp những đường lối
tu hành của cái bên trong (tantra) và cái bên ngoài (sutra, kinh).
Những tantra trình bày “ba mươi bảy phương tiện của giác
ngộ” là phương tiện của chuyển hóa (của những tri giác)
như là những mạn đà la ; và phương tiện này trong một số
đường lối tương tự với những giáo lý không sai lầm của
cách tiếp cận đặc trưng của kinh.
Cả
hai truyền thống tân dịch và cựu dịch (của Tây Tạng) đồng
ý rằng bằng cách dần dần làm trưởng thành, “đưa đến
độ chín” khí và tâm trong bốn luân xa của những kinh mạch
(trong thân), những đức hạnh do sự hoàn thiện “bốn con
đường” sẽ hiện khởi. Đó là những con đường tích tập,
áp dụng, thấy và thiền định. Do sự tháo mở hai trong hai
mươi mốt nút thắt của những kinh mạch Roma và Kyangma quanh
kinh mạch trung ương cho mỗi địa trong mười địa, người
ta đạt những đức hạnh của mười địa liên tiếp nhau
; và bằng cách tháo mở nút thắt cuối cùng, người ta đạt
trạng thái Phật tánh. Đây là quan điểm của những học
giả và đệ tử cũng như các đạo sư Vimalamitra và Padmasambhava....
Sự
tu hành này có hai phạm trù : sự trưởng thành của năng lực
khí và tâm và sự hoàn thiện chúng. Sự nhận vào (của khí
và tâm) trong chúng (tức là những luân xa lần lượt của
những
kinh mạch trung ương) là sự trưởng thành, đưa đến độ
chín, và sự tháo mở những nút thắt của chúng gồm cả
những nút thắt của những nhánh phụ, là sự hoàn thiện.
Với
sự trưởng thành của khí và tâm trong những cánh hoa (hay
nan hoa) của “luân xa của sáng tạo” ở rốn, sanh khởi
sức nóng, những dấu hiệu của những cấp độ nhỏ, vừa
và lớn của “con đường tích tập”. Rồi người ta thấy
những khuôn mặt của chư Phật trong hình thức Hóa thân và
trở nên có thể phô diễn những biểu lộ và những thần
thông bởi vì người ta đã hoàn thành những nhãn, những thông
và những thần thông thuộc loại nhỏ như là kết quả của
thiền định và bằng cách kiểm soát, chế ngự được sự
hâm mộ và các thứ khác, tức là “bốn bước thần diệu”
của tham thiền. Một số người trí năng thô nói rằng trong
“con đường áp dụng” người ta hoàn thành những thần
thông mà không phải ở trên cấp độ lớn của “con đường
tích tập”. Điều đó không đúng.
CON
ĐƯỜNG TÍCH TẬP (Tshogs-Lam)
Bằng
cách làm trưởng thành khí và tâm trong “luân xa sáng tạo”
ở rốn, bèn khởi sanh những dấu hiệu của sức nóng của
những cấp độ nhỏ, vừa và lớn của Con Đường Tích Tập.
Người ta có được năng lực sáng tạo những biểu lộ vì
người ta đã hoàn thành sự chứng đắc các nhãn, các thông
và những thần thông loại nhỏ.
Cấp
Độ Nhỏ của Con Đường Tích Tập
Trên
cấp độ nhỏ của Con Đường Tích Tập, người ta hoàn thiện
tỉnh giác bốn phần (bốn niệm xứ) :
(a)
Quán tưởng thân là hóa thần bổn tôn là tỉnh giác về thân
(và đó là giai đoạn phát triển).
(b)
Sự chuyển hóa của những tư tưởng của cảm thọ như là
trí huệ bổn nguyên.
Là
tỉnh giác về thọ.
(c)
Tham thiền về sự bình lặng toàn bộ những tạo tác của
tâm và những biến cố tâm thức
Là
tỉnh giác về tâm ; và chúng (b và c) là giai đoạn thành tựu
(d)
Chứng ngộ rằng những hiện tượng của những tri giác và
những quy kết đặt tên là như huyễn
Là
những tỉnh giác về những hiện tượng. Có nói như thế
trong các tantra.
Trong
Guhyagarbhamayajala-tantra có nói :
Do
một hành giả tu tantra : (a) ban phước thân thể của nó là
“tỉnh giác về thân”, vì nó tri giác chính mình trong hình
thể của hóa thần, như một hình phản chiếu, (b) (chuyển
hóa) những tư tưởng của nó thành trạng thái của đại
trí huệ bổn nguyên là bản tánh của “tỉnh giác về thọ”,
đại lạc, (c) chiến thắng với những tạo tác là “tỉnh
giác về tâm”, thoát khỏi sự ý niệm hóa, và (d) chứng
ngộ (những hiện tượng là không thật) như những phản chiếu
là “tỉnh giác về những hiện tượng”.
Cấp
Độ Vừa của Con Đường Tích Tập
Người
ta thực hành “bốn sự tịnh hóa hoàn hảo” (bốn chánh
cần).
Bằng
cách ở lại trong (sự tu hành và hoàn thiện của) những giai
đoạn phát triển và thành tựu, người ta tịnh hóa những
bám luyến vào bốn cái cần phải đoạn trừ và bốn đối
trị của chúng như là thực. Người ta tham thiền nhất tâm
với những nỗ lực hoan hỷ của thân, ngữ, tâm như sau :
(a) không phát sanh cái không đức hạnh chưa sanh khởi, (b)
tịnh hóa cái không đức hạnh đã sanh khởi, (c) phát triển
những đức hạnh chưa sanh khởi, và (d) phát triển những
đức hạnh đã sanh khởi.
Cấp
Độ Lớn của Con Đường Tích Tập
Người
ta thực hành “bốn bước thần diệu” (bốn như ý túc).
Khi
nỗ lực trong sự thực hành những giai đoạn phát triển và
thành tựu ngày và đêm, người ta (a) nắm hiểu những sự
tu hành bằng tỉnh giác mà không mất nghĩa của chúng, (b)
tham thiền với sự ngưỡng mộ, (c) phân biệt bằng phân tích
cái gì là tu hành sai và tu hành đúng, và (d) tham thiền nhất
tâm không dao động. Nhờ vậy, đã hoàn thiện sự tham thiền,
và qua những “thần thông” do đã hoàn thành sự tiến đến
độ chín của khí và tâm, người ta đến những cõi biểu
lộ của Phật như Pema Chen, nhận lãnh những giáo lý từ chư
Phật, tịnh hóa những nhiễm ô trong bản tính và nhận những
tiên tri từ những hóa thần bổn tôn trong những thị kiến
thanh tịnh.
CON
ĐƯỜNG ÁP DỤNG (sByor-Lam)
Bằng
cách làm trưởng thành khí và tâm trong Luân xa của Pháp (ở
tim),
Những
đức hạnh của con đường áp dụng hiện khởi....
Với
“năm khả năng” (ngũ căn), người ta thiền định về ý
nghĩa của sự tu hành ở trước hợp nhất hai giai đoạn phát
triển và thành tựu : những khả năng (a) niềm tin, (b) chuyên
cần,
(c)
tỉnh giác, (d) tham thiền, và (e) trí huệ. Người ta hoàn thành
sự kiểm soát trên sự tu hành và những khả năng trở thành
có thể hủy diệt những cái cần đoạn trừ.
Qua
sự tu hành năm khả năng, người ta đạt được (hai cái đầu
trong bốn cấp độ của con đường áp dụng) : (a) vô niệm
(không có tư tưởng), ánh sáng của trí huệ bổn nguyên là
những cấp độ “hơi nóng” (nỗn) với những đặc tính
là sự tận diệt hết những nghi ngờ và không có tự do và
v.v...., và (b) sự vững chắc của những đức hạnh, sự “tăng
trưởng của trí huệ bổn nguyên” là cấp độ “Đỉnh”
với đặc tính thấu hiểu mọi hiện tượng như một giấc
mộng....
(Như
là dấu hiệu của sự hoàn thiện), bất cứ lời nào của
chân lý người ta thốt ra đều trở nên thành tựu và người
ta luôn luôn sống trong mười hai sự tu hành đức hạnh.
Khi
những hiệu quả của năm khả năng (năm căn) trở nên rất
mạnh mẽ và có thể phá hủy những cái cần đoạn trừ,
chúng là “năm thần lực” (năm lực) (và người ta đạt
hai cái sau cùng của bốn cấp độ của con đường áp dụng)
: (a) “Trí huệ bổn nguyên được thấu hiểu” và sự chứng
đắc từng phần trí huệ bổn nguyên về tánh Như, là cấp
độ “các nhẫn” (với đặc trưng là) sự tái sanh trong
những cõi thấp chấm dứt. (b) “Trí huệ bổn nguyên được
thấu hiểu thông suốt”, sự tham thiền của khoảnh khắc
tức thời (trước sự quán thấy), là cấp độ “sự chứng
ngộ tối thượng thuộc thế gian” (với đặc trưng là) những
đức hạnh của người ta là nguyên nhân không thay đổi của
giác ngộ và người ta chứng đắc những tham thiền và những
thần thông v.v.... cao hơn những cái trước.
CON
ĐƯỜNG THẤY (mThong-Lam)
Bằng
cách làm trưởng thành tâm và khí trong “luân xa của hưởng
thọ” ở cổ họng, người ta chứng ngộ “con đường thấy”
và đạt địa thứ nhất trong mười địa cao cả với một
ngàn hai trăm đức hạnh. (Một kết quả là) người ta có
thể đi đến và nghe những giáo lý trong những cõi tịnh độ
của chư Phật năm bộ của thân thọ hưởng (Báo thân). Một
ngàn hai trăm đức hạnh là : những thành tựu đồng thời
100 tham thiền, thấy 100 vị Phật, biết sự nhận lãnh 100
ban phước, đi đến 100 hệ thống thế giới, đi đến 100
tịnh độ, phóng ánh sáng đến 100 thế giới, làm trưởng
thành 100 chúng sanh, trụ lại được 100 kiếp, áp dụng trí
huệ bổn nguyên của mình với 100 biến cố (biến cố của)
quá khứ và tương lai, diễn bày 100 giáo lý, biểu lộ 100
hình thể, mỗi hình thể kèm với tướng tốt của 100 đức
hạnh....
Trong
con đường này người ta (tu hành và) hoàn thiện bảy chi của
giác ngộ : niềm tin, chuyên cần, tỉnh giác, tham thiền, xả,
hỷ và khinh an.
CON
ĐƯỜNG THIỀN ĐỊNH (bsGom-Lam)
Bằng
cách làm trưởng thành khí và tâm trong “luân xa của đại
lạc” ở đỉnh đầu, người ta đạt được chín địa (tiếp
theo) của con đường thiền định.
Trong
con đường này người ta tu hành và làm hoàn thiện “tám
chánh đạo”. Từ địa thứ nhứt đến địa thứ mười,
người ta cũng chủ yếu hoàn thiện mỗi cái của mười sự
hoàn thiện (mười ba la mật) liên tiếp nhau và những sự
hoàn thiện khác là phụ. Mười sự hoàn thiện là bố thí,
trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, phương
tiện thiện xảo, năng lực, nguyện vọng và trí huệ....
Trong
mười địa này, một khi những thắt nút vi tế của những
cánh hoa của những kinh mạch được mở thoát, khí của trí
huệ bổn nguyên được đi vào trong những kinh mạch và nó
làm cạn kiệt hay phá hủy tâm và khí nhiễm ô thuộc thế
gian với căn cứ của chúng là những kinh mạch....
Vấn
đề đi đến những cõi tịnh độ khác đồng thời ở yên
trong tham thiền không có gì là mâu thuẫn, vì trong ba địa
thanh tịnh (địa thứ tám đến thứ mười) người ta có năng
lực kiểm soát sự tham thiền về vô niệm.... Trong địa thứ
tám, người ta cũng đạt được sự kiểm soát đối với
vô niệm vì tâm thức đã được chuyển hóa, trong địa thứ
chín người ta đạt được sự kiểm soát đối với những
tịnh độ vì thức của năm giác quan đã được chuyển hóa,
và trong địa thứ mười người ta đạt được sự kiểm
soát đối với những hoạt động giác ngộ phong phú vì thức
của nền tảng phổ quát đã được chuyển hóa....
(Trong
hai mươi mốt nút thắt của những kinh mạch), do tháo mở
hai mươi nút thắt đầu tiên của ba kinh mạch (trung ương,
Roma và Kyangma) người ta đạt địa thứ nhất, (và cũng như
thế bằng cách tháo mở những nút thắt còn lại người ta
đạt đến những địa) cho đến địa thứ mười. Bằng cách
tháo mở nút thắt cuối cùng (cái thứ hai mươi mốt) người
ta đạt đến địa của Vajradhara, “địa tối thượng của
đỉnh đầu”....
Như
khi mặt trời mọc lên, những tia sáng xuất hiện đồng thời,
khi người ta đạt được những chứng đắc những con đường
và những địa, tự nhiên là người ta có được một cách
tất yếu những nhãn và thông, những đức hạnh đoạn trừ
và chứng ngộ.
(KẾT
LUẬN)
Khi
người ta tiến lên những địa và con đường cao hơn, những
đức hạnh tăng trưởng như cây cỏ xanh tươi, như rừng và
ngũ cốc vào mùa hè. Khi người ta đạt Phật tánh giống như
viên ngọc như ý, những bình và cây như ý, dù không có những
ý niệm, thì những thân, những trí huệ bổn nguyên, và những
hành động giác ngộ tự nhiên thành tựu xuất hiện vì lợi
lạc cho chúng sanh, đầy khắp cả không gian. Những cái ấy
là những thí dụ (của phương diện xuất hiện của những
biểu lộ giác ngộ tức là những hoạt động vì chúng sanh),
nhưng không phải nói lên rằng Phật tánh không có mười lực,
lòng bi và lòng từ không có ý niệm. Bởi thế, dù cho tâm
và những biến cố tâm thức tan biến vào cõi giới tối hậu,
thì sự thành tựu những thân và những trí huệ phân biệt
là hiện diện vĩnh cửu và tự nhiên trong bản tánh của quang
minh như mặt trời và mặt trăng.
11.
Sự Chứng đắc những Con đường,
những
Giai đoạn và những Thị kiến của Đại Toàn Thiện (Dzogpa
Chenpo)
Sự
tu hành Đại Toàn Thiện làm hoàn thiện những con đường
và những địa của sự chứng đắc theo kinh và tantra đã
chỉ ra ở hai chương 9 và 10. Phần sau được trích từ Choying
Rinpoche’i Dzod, Namkha Longchen, Tshigdon Dzod, Semnyid Rangtrol và
Namkha Longsal. Trong những đoạn này Longchen Rabjam giải thích
những chứng đắc của sự chứng ngộ “Tâm Giác Ngộ”
và bốn thị kiến hay những chứng ngộ đạt được bằng
thực hành Thregchod và Thodal. “Bốn thị kiến” là một từ
kỹ thuật để chỉ những cấp độ chứng đắc trong Đại
Toàn Thiện. Longchen Rabjam so sánh “tâm giác ngộ” và “bốn
thị kiến” của Đại Toàn Thiện với những chứng đắc
năm con đường và với những hoàn thiện “ba mươi bảy phương
diện của giác ngộ” và những Thân Phật như chúng được
giải thích trong kinh điển Phật giáo.
TẤT
CẢ CÁC THỪA ĐƯỢC BAO HÀM
TRONG
TÂM GIÁC NGỘ CỦA ĐẠI TOÀN THIỆN<