THIỀN
ĐỊNH
(CON
ĐƯỜNG)
5.
Thiền định về Ý Nghĩa của cái Thấy
Về
thiền định, sau khi đã thấu hiểu cái thấy thoát khỏi những
cực đoan nhị biên, người ta tham thiền về cái thấy để
tịnh hóa những phiền não nhiễm ô và để hoàn thiện những
con đường và những giai đoạn hầu tiến đến mục đích
tối thượng. Longchenpa tổng kết thiền định trong ba phạm
trù của sự tiếp cận với thiền định đối với ba cấp
độ của hành giả trong chương thứ mười một của Shingta
Chenpo.
THIỀN
ĐỊNH SAU KHI ĐÃ XÁC QUYẾT CÁI THẤY
Sau
khi đã xác quyết rõ ràng cái thấy (tri kiến), cần thiết
phải tham thiền trong trạng thái thiền định. Nếu không người
ta sẽ không hoàn thành giải thoát khỏi đám đông những nhiễm
ô phiền não và sẽ không có thể hoàn thiện những giai đoạn
và những con đường. Thế nên chắc chắn người ta cần thực
hành thiền định. Thiền định là tham thiền trong trạng thái
tự nhiên, nó tự nhiên như hư không, bằng phương tiện là
sự tự do thoát khỏi những ý niệm, nghi ngờ và mong cầu....
Trước
hết, người ta cần học hỏi, rồi tư duy và sau đó người
ta cần đi vào thực hành về nó, vì cần thiết phải phát
sanh nghĩa cốt yếu trong chính mình.
NHỮNG
THIỀN ĐỊNH CHO NHỮNG CẤP ĐỘ
KHÁC
NHAU CỦA TRÍ NĂNG
Thiền
định cho Người Trí Năng Cao
(i)
Người có trí năng cao nhất đạt giải thoát nơi chứng ngộ.
Người phước đức có trí năng cao nhất, họ đã tích tập
công đức trong quá khứ, đạt giải thoát chỉ bằng chứng
ngộ trạng thái tự nhiên của Tâm, nghĩa như hư không, siêu
việt khỏi thiền định và không thiền định, nhờ vào những
trường hợp (của những những ban phước) của Lama. Họ an
trụ tự nhiên trong trạng thái yoga của dòng Tâm luôn luôn
trong mọi lúc, không cần đến thiền định với cố gắng.
(ii)
Với người chứng ngộ hoàn toàn, không có thiền định nào
để thực hành. Khi một người đạt trạng thái chứng ngộ
hoàn toàn (Klong-Gyur).... bởi vì nó đã giải thoát khỏi luyến
chấp vào (ý niệm) hiện hữu có thật, bấy giờ sẽ không
có những cái dùng để đối trị nào để thiền định. Thế
nên trạng thái chứng ngộ là không-có-thiền-định. Đã an
trụ trong sự tương tục vắng mặt luyến chấp vào hiện
hữu có thật, nó là trò chơi nhậm vận của vô trụ không
kẽ hở, siêu việt những chiều kích, phương diện, và nó
là sự thọ hưởng cõi Phật của Phổ Hiền vốn tự giải
thoát.... Trong cái ấy không có những dấu hiệu và cấp độ,
vì không có những loại thiền định hữu tướng.... Trong
đó không có chỗ cho lầm lạc, vì nó không đi đâu cả. Không
có những che ám của người canh chừng vì nó không được
canh chừng....
Sự
xảy ra những che ám và sai lầm : khi thiền giả canh chừng
Tâm, nó vốn không thể tri giác được bằng sự canh chừng,
thì sự canh chừng tự trở thành che ám. Tiến đến (nơi không
có) có chỗ để đi đến thì tự nó trở thành sai lầm....
Trước hết đã có sự xác tín rằng Tâm mình tự nhiên là
chân Phật từ vô thủy, sau đó người ta chứng ngộ rằng
không cần ước mong Phật quả từ nguồn gốc nào khác. Ngay
lúc ấy, người ta an trụ trong Phật quả.
(iii)
Với người trí năng bình thường và thấp kém, cần phải
thiền định. Đối với người trí năng bình thường và thấp,
cần thiết phải thiền định với sự chuyên cần lớn lao,
bởi vì họ chưa giải thoát khỏi sự nắm bắt bản ngã,
nguyên nhân của sanh tử. Sự phân biệt giữa thiền định
và không thiền định là theo sự việc (cái ý niệm) người
nắm bắt và cái được nắm bắt (chủ thể và đối tượng)
trong tâm đã tiêu tan hay chưa.
(iv)
Sự đúng đắn của hành thiền. Bao giờ những sanh khởi (trong
tâm mình) không là tự-khởi lên và tự-giải thoát, thì mọi
tư tưởng chỉ là những ý niệm bình thường tạo ra sanh
tử và dẫn đến những cõi thấp.... Bằng cách thiền định
để làm bình lặng những ý niệm này, chắc chắn trí huệ,
tức là sự giải thoát của những hiện tượng, sẽ sanh ra.
(v)
Cần hợp nhất an định và quán chiếu. An định (Chỉ) hàng
phục nhiễm ô phiền não, quán chiếu (Quán) nhổ gốc nhiễm
ô phiền não....
Có
hai phương diện của an định và quán chiếu, (sự đồng đẳng
và những bản sắc tách biệt của an định và quán chiếu).
Về đồng đẳng : Phương diện an trụ là an định và phương
diện sáng tỏ là quán chiếu. Sự hợp nhất của an định
và quán chiếu, sự chứng ngộ sáng tỏ và tánh Không thoát
khỏi những biên kiến, giải thoát người ta khỏi sanh tử....
Về
tách biệt : theo ngữ nguyên, tâm tập trung vào ý nghĩa của
cái đã học được là an định và sự chứng ngộ ý nghĩa
là quán chiếu. Theo ý nghĩa, có thể qua thiền định tập
trung nhất tâm vào lúc ban đầu là an định và rồi thấu
hiểu vô tự tánh là quán chiếu.
(vi)
Lý do (tại sao thiền định là cần thiết). Đối với người
trí năng cao, cũng như trên một đảo bằng vàng, dầu cho bạn
có tìm kiếm, bạn sẽ không tìm ra đất hay đá, bất cứ
cái gì sanh khởi đều được giải thoát trong bản tánh tối
hậu. Thế nên những cái đối trị được tịnh hóa ở trong
cảnh giới tối hậu (dByings), và không cần thiết những thời
kỳ tham thiền nữa....
Đối
với người trí năng bình thường : sau khi đã thấu hiểu
cái thấy, bằng cách tham thiền mà không có sự chuyển động,
trong trạng thái không sanh khởi thoát khỏi hôn trầm và trạo
cử, như một ao nước không dơ bẩn, người ta hợp nhất
an định và quán chiếu, tức định và huệ, và làm tan biến
những ý niệm vào cảnh giới tối hậu, và sự ‘chứng ngộ
như hư không’ xảy ra....
Đối
với người trí năng kém, người ta cần thiền định và thuần
hóa cái tâm hoang dã như khỉ vượn, nó không chịu ở yên
dù chốc lát, bằng an định nhất tâm. Khi người ta có thể
tập trung được, bấy giờ bằng thiền định, như cái đối
trị, trên sự quán chiếu phân biệt chẳng hạn về tánh Không,
vô tự tánh của hiện tượng, và bằng cách thiền quán rằng
tất cả hình tướng là huyễn, người ta chứng ngộ nghĩa
của sự không sanh khởi.
ĐƯỜNG
LỐI THAM THIỀN CHO NGƯỜI TRÍ NĂNG BÌNH THƯỜNG
Phương
pháp Thiền định
(i)
Lời khuyên tham thiền về vô niệm. Khi có những sóng mạnh
trong nước thì không có những phản chiếu, dù nước có tiềm
năng phản chiếu. Cũng thế, tâm tự nhiên có những phẩm
tính như thần thông, nhưng bởi vì tốc độ của những con
sóng của tư tưởng lan man, những phẩm tính không biểu lộ.
Thế nên quan trọng là tham thiền nhất tâm.... Nếu bạn tham
thiền, bấy giờ những con sóng quấy nhiễu của những ý
niệm sẽ biến mất và ánh sáng của ngọn đèn Tâm sáng ngời
sẽ tự nhiên chiếu rọi. Thế nên hãy tham thiền mà không
quấy nhiễu nước tâm.
(ii)
Những tư thế của thân và cách tham thiền. Người ta cần
tham thiền trong ba trạng thái thoát khỏi những cực đoan....
(a)
Để cho một thân thể bất động, có tư thế bảy điểm
của thân : chân xếp tréo, tay trong cử chỉ tham thiền, xương
sống thẳng, lưỡi chạm vòm miệng trên, thở chậm, mắt
nhìn (ngang tầm) đầu mũi và cổ hơi cong.
(b)
Để cho những khả năng giác quan bất động : mắt không chuyển
động và không làm ngừng những khả năng giác quan của tai,
mũi, lưỡi, thân, và tâm. Dầu gặp sắc, thanh, hương, vị,
xúc và tư tưởng nào, chớ đóng chặt cửa cũng không theo
nó. Nếu những khả năng giác quan này bị đóng chặn, bấy
giờ ngũ nhãn, như thiên nhãn và lục thông của tâm, chúng
là những công đức của phương diện đã thanh tịnh của
những khả năng giác quan, sẽ không đạt được. Nếu chạy
theo những tư tưởng, chuỗi xích liên tục của những tư
tưởng sẽ không ngừng và người ta vẫn không khác gì một
người bình thường. Bởi thế, người ta tham thiền trong cái
hồ bất động của những khả năng giác quan với sự khởi
lên không ngừng của nhiều đối tượng xuất hiện, như những
phản chiếu của những ngôi sao. Nếu những đối tượng khác
nhau không bị những tư tưởng nắm bắt, bấy giờ những
đối tượng xuất hiện không chỉ không làm hại sự tham
thiền, mà những phẩm tính của chúng sẽ sinh khởi. Đó gọi
là “trí huệ bổn nguyên vô niệm”, vì những hình sắc
xuất hiện nhưng không có những ý niệm. Nếu không có sự
xuất hiện của những hình sắc, bấy giờ không có trí năng
để thấy chúng, và bấy giờ không có vấn đề có tư tưởng
hay không có tư tưởng, và cũng không có “trí huệ bổn nguyên
vô niệm”. Bởi thế, khi những đối tượng xuất hiện với
những giác quan, bằng cách ở trong vô niệm, vị thầy (Lama)
đã có trí huệ phân biệt sẽ trực tiếp đạt được sự
dứt diệt những tư tưởng đến và đi, và điều này được
gọi là “sự dứt diệt của hơi thở.” Dù cho hơi thở
qua miệng và mũi có tiếp tục, những tư tưởng sẽ không
dao động. Sự chấm dứt việc ý niệm hóa được xem là cái
chết của những tư tưởng. Khi không có việc ý niệm hóa,
không cần thiền định như là một đối trị của nó và
không cần trí huệ, tức là thiền giả nữ của sự tự do
thoát khỏi những ý niệm hóa, nó là cái đối trị của việc
ý niệm hóa....
Khi
người ta hoàn thiện điểm cốt yếu này (của việc dừng
dứt hơi thở), đó gọi là (trạng thái của) sáu thức tự
nhiên hay không tạo tác. Bởi vì những đối tượng xuất
hiện với những giác quan, mà những giác quan không tạo ra
ý niệm về những đối tượng, và dù cho “những giác quan
rơi vào trong những đối tượng” hay những đối tượng
trở nên trong sáng (trong những giác quan), thì không chỉ những
giác quan không làm hại tham thiền, cái nhìn thấy sáng suốt,
mà chúng còn giúp tham thiền tiến bộ....
(c)
Để cho một tâm bất động : sự tham thiền trong sự tự
do với những cực đoan xảy ra tự nhiên khi thân thể và những
khả năng giác quan bất động. Nó là sự tham thiền không
chuyển động khỏi trạng thái tâm trong trẻo và sáng ngời
thoát khỏi mọi phóng chiếu và thu hồi....
Vào
lúc đó, nếu bạn bị phóng dật vì những ý niệm về những
đối tượng bên ngoài có chất thể xuất hiện và về những
cái không chất thể của tâm bên trong, bấy giờ mọi sự
ràng buộc được tạo ra làm che ám Phật tánh, Tâm vốn tròn
đủ. Thế nên người ta phải không có sự nắm bắt và luyến
bám dù nhỏ nhất vào sanh tử và niết bàn như là xấu hay
tốt, và thậm chí vào sự tham thiền. Như thế, không có những
ý niệm về chất thể hay không chất thể, không có những
tư tưởng về bất cứ sự vật nào khác. Vào lúc đó, tất
cả những chuyển động của tư tưởng tan biến vào Tâm,
cái nền tảng. Bấy giờ khi tâm trở nên bất biến và vững
chắc, người ta đạt giải thoát khỏi sinh tử và sẽ không
có luyến chấp vào ta và người và sự nắm bắt nhị nguyên.
Đó là sự đạt được Thân Tối Hậu (Pháp thân) tuyệt hảo,
siêu vượt khỏi những tạo tác, ý niệm và diễn tả.
(iii)
Cách khai triển những đức hạnh. Khi tham thiền (theo cách
như vậy), mọi sự ý niệm hóa sẽ được giải thoát....
Bấy giờ vì những ý niệm được thăng hoa vào bản tánh
tối hậu và mọi tư tưởng được tan biến vào cảnh giới
tối hậu, Đại Toàn Thiện quang minh hiển lộ ra, nó là sự
chứng ngộ một vị như là Pháp thân, siêu vượt mọi dấu
hiệu, ý nghĩa của lạc, sáng tỏ và vô niệm cùng với những
kinh nghiệm về chúng.
(iv)
Chứng ngộ bản tánh tối hậu. Vào lúc trí huệ bổn nguyên
vốn sẵn khởi hiện trong tâm thiền giả, ....nó thấy một
cách toàn triệt tánh không thể phân chia của tánh Không và
những hình tướng như tám ví dụ về huyễn, và bản tánh
tối hậu của mọi hiện tượng, tức là bản tánh vô sanh....
Tâm hiển lộ như trò chơi phô diễn của tính bất nhị của
sanh tử và niết bàn, trí huệ bổn nguyên siêu việt có và
không, và sự bất biến của Sáng Tỏ.... Vào lúc đó, trí
huệ bổn nguyên thì bất nhị với những đối tượng được
biết và trí năng hiểu biết khởi hiện trong trạng thái bình
đẳng nhất như.
(v)
Nó là nguyên nhân trực tiếp của trí huệ bổn nguyên của
những bậc cao cả. Sau tiến bộ vô biên trong những kinh nghiệm
về trí huệ bổn nguyên của sự không ý niệm hóa, như là
kết quả của những hành động, những chứng đắc cao như
Con Đường Quán Thấy (Kiến Đạo vị) sẽ tự nhiên thành
tựu.
Phương
Pháp Tham Thiền
(i)
Tham thiền trong sự không dao động và không ý niệm hóa. Trong
Tâm như hư không, bằng cách để cho những tư tưởng của
những biến cố tâm thức ở yên tự nhiên, chúng tan biến
như mây biến mất (trong bầu trời). Người ta cần tham thiền
trong trạng thái của cái thấy này, bản tánh của bầu trời,
mà không dao động.
(ii)
Tham thiền trong sự trong trẻo và sáng tỏ không có những
ô nhiễm. Hãy tham thiền với sự sáng tỏ trong trạng thái
không bị làm bẩn bởi những ý niệm về người nắm bắt
và cái được nắm bắt và trong sự sáng tỏ không hôn trầm
và trong an tĩnh không trạo cử, như một đại dương bình
an, nó trụ trong chính nó.
(iii)
Tham thiền không thiên chấp, như hư không. Hãy tham thiền trong
trạng thái của Tâm, nó là tánh Không xưa nay như hư không,
không có những phóng chiếu và thu hồi của những tư tưởng.
(iv)
Tham thiền một cách tự nhiên và không gắng sức. Hãy tham
thiền về tâm trong trạng thái không biến đổi như núi Tu
Di, không có ý niệm ngăn chận hay bảo vệ và mong cầu hay
nghi ngờ nào.
(v)
Tham thiền về những đối tượng của những xuất hiện không
dứt. Trong trạng thái thanh tịnh và sáng tỏ của tâm, hãy
tham thiền về những đối tượng của những hình tướng
xuất hiện trước các giác quan, sống động mà không có những
ý niệm nắm bắt hay dao động.
(vi)
Tham thiền trong sự sáng tỏ và thanh tịnh vốn giải thoát.
Hãy tham thiền trong sự sáng tỏ và thanh tịnh sống động
mà không hôn trầm hay trạo cử.... Tham thiền như thế, người
ta sẽ chứng ngộ những hình tướng là tánh Không, như những
ánh sáng cầu vồng.
(vii)
Tham thiền nhất tâm như một người bắn cung. Hãy tham thiền
về tâm trong trạng thái của bản tánh tối hậu, trần truồng
và thẳng tắp, không dao động, như nhắm thẳng một mũi tên.
(viii)
Tham thiền trong sự không gắng sức và tự nhiên. (Trước
tiên) có sự thâm tín Pháp thân thường trụ nơi địa vị
của nó bằng cách tham thiền tâm một cách tự nhiên, sau đó
hãy tham thiền bằng cách buông xả trong trạng thái tự do
khỏi những mong cầu và nghi ngờ.... Không cần sự gom tụ
rất sống động, mà buông xả ba cửa tự nhiên và đơn giản
an trụ, không có lang thang. Dầu cho (tâm) phóng dật tự do,
nhưng bởi vì nó đã rơi vào trạng thái bình thường, hãy
tham thiền một cách tự nhiên trong tâm bình thường (Tha-Mal-Gyi
Shes-Pa) mà không dao động.
(ix)
Kết luận về tám cách tham thiền. (Trong những cách tham thiền
trên) không có cái được nắm bắt và người nắm bắt, thế
nên chúng là những tham thiền thanh tịnh một cách tự nhiên.
Chúng là sự hợp nhất giữa an định và quán chiếu, định
và huệ. Dù cho có nói rằng phương diện an trụ trong “cái
đang là” của chúng là an định và phương diện sáng tỏ
của chúng là quán chiếu, (thực sự) chúng không phân chia,
và được gọi là hợp nhất. Ở điểm này, không có những
phân biệt về phương diện nào, ý niệm về an định lắng
mất và quán chiếu cũng không còn được quan niệm như quán
chiếu. Đó là sự hợp nhất bất phân và vốn sẵn đủ.
Sự
Tiến Bộ Trên Con Đường trong Bảy Phương Diện
(i)
Đường lối thấy (cái) không thể diễn tả nhờ tám tham
thiền. Sự giải thích về tiến bộ trên con đường qua bốn
cấp độ của trí huệ bổn nguyên như là kết quả của tham
thiền.... Đã làm yên lặng những thâm nhập của trí thức
vào trạng thái của Tâm vốn siêu vượt khỏi những tư tưởng
và diễn tả, sự hiện khởi trong lần đầu trí huệ bổn
nguyên trong sáng, chiếu rạng và không biến đổi là (1) “trí
huệ bổn nguyên biểu lộ” (Con đường của những Tích Tập).
Nó là sự hoàn thiện của trí huệ bổn nguyên quang minh.
(ii)
Những dấu hiệu đạt đến con đường giải thoát. Đã chứng
biết, (1) “trí huệ bổn nguyên quang minh biểu lộ”, người
ta nhận biết Tâm, trí huệ vốn sẵn đủ. Do đã đi vào con
đường giải thoát, hạt giống giác ngộ đã được gieo (trong
chính mình).... Khi một người nhận ra Tâm, “trí huệ bổn
nguyên quang minh nền tảng” (A’od-gSal gZhi’i Ye-Shes), những
tư tưởng ngoại sanh tức thời được giải thoát và ánh
sáng rực rỡ con và mẹ được kết hợp. Bởi vì mọi hoạt
động đã trở thành thuần chỉ đức hạnh, nó thoát khỏi
bám chấp vào những hiện tượng, năm đối tượng bên ngoài
và sự hồi ức bên trong và ý thức phủ định và xác định.
Qua trạng thái của tâm tự sáng và trống không, nó hưởng
thụ những đức hạnh của lòng bi khai triển đến tất cả
chúng sanh không phân biệt xa gần và cỡ loại. Nó cũng gây
cảm hứng cho những người khác (dấn thân vào những hoạt
động) công đức. Nó từ bỏ xao lãng phóng dật và tiêu khiển,
hưởng thụ cô đơn trong rừng núi.
Dù
trong những giấc mộng, chỉ có những tư tưởng thanh tịnh
và đức hạnh. Bởi vì thân, khẩu, tâm đã được tu hành
cao, nó khai triển những phẩm tính của “Con đường Tích
Tập” và thấy nhiều thị kiến ánh sáng trong thất thiền.
(iii)
Trí huệ bổn nguyên của tiến bộ. Khi người ta đã tiến
bộ lớn lao trong những kinh nghiệm nhờ sự thiền định ở
trước, và những che ám với tâm sáng tỏ và trống không
đã được giảm trừ, bấy giờ trí huệ, tham thiền và những
kinh nghiệm trở nên mãnh liệt. Những hình tướng bên ngoài
sẽ tự nhiên được thấy như mộng, như huyễn. Sự chứng
nghiệm (thấy) những hiện tượng khác nhau đều có cùng một
vị sẽ khởi lên và an trụ trong trạng thái như hư không.
Đó là (2) “trí huệ bổn nguyên của tiến bộ” (Con đường
của Áp dụng).
(iv)
Những dấu hiệu đạt đến hơi nóng (nỗn địa). (Vào lúc
đó), khi sự chứng nghiệm thành trong trắng phi thường, người
ta đạt được những dấu hiệu mềm dẻo phi thường của
thân và tâm. Trụ suốt ngày và đêm trong tham thiền hợp nhất
phi thường, người ta không thể lìa khỏi nó. Vì lòng bi người
ta hành động cho lợi lạc của chúng sanh và khai triển sự
chán sợ đặc biệt và sự ngoi lên quyết liệt khỏi sanh
tử. Thậm chí trong giấc mộng, người ta thấy những hiện
tượng là mộng và huyễn.... Sẽ không còn sâu trùng hay sán
lãi và trứng của chúng trong thân. Những cái này là những
đạt được những dấu hiệu của “Con đường Áp dụng”
và người ta sớm đến “Con đường Thấy.”
(v)
Trí huệ bổn nguyên cao cả được chứng ngộ. Trước hết
đã thấy Tâm, trí huệ bổn nguyên quang minh và bất nhiễm,
người ta đạt được cái gọi là (3) “trí huệ bổn nguyên
được chứng ngộ”. (Vào lúc đó,) khí trăm cánh hoa ở trong
luân xa trái tim sẽ được tịnh hóa. Trí huệ của tinh túy
trong sáng trở nên sáng rỡ cao độ, và bằng cách cũng làm
tỏa sáng những luân xa khác, 1200 khí và tâm đức hạnh sẽ
được làm vững chắc và 1200 khí phiền não sẽ dừng dứt.
Bấy giờ (như một kết quả) theo những tantra, những tịnh
độ vốn hiện diện xuất hiện trong tinh túy bên trong (Nang
Gi Khams) (của người ta). Theo kinh, những tịnh độ bên ngoài,
như khuôn mặt của hàng trăm vị Phật xuất hiện (trước
nó). Người ta sẽ thành tựu một số lượng rất nhiều loại
nhãn và các thông thanh tịnh và không che ám hơn là các nhãn
và các thông của người bình thường đầy che ám và giới
hạn. Người ta đã giải thoát khỏi những nhiễm ô phiền
não của vọng tưởng, “những đối tượng cần đoạn trừ
của Con đường Thấy”, và đã thể hiện trí huệ bổn nguyên,
cái nhìn thấy (thị kiến) quang minh.
(vi)
Bằng cách tu hành theo cái đã chứng ngộ, trí huệ bổn nguyên
hiện khởi. Tu hành theo cái đã được thấy (trong con đường
thấy) là “con đường thiền định”. Người ta đạt được
những trình tự thấp, trung và cao của con đường này, và
trong mỗi giai đoạn người ta thành tựu những đức hạnh
đã nói ở trước lên gấp nhiều lần và hành động cho lợi
lạc của chúng sanh. Từ sự chứng đắc giai đoạn thứ nhất
(sơ địa) qua đến giai đoạn thứ bảy (thất địa), sẽ
còn những ý niệm trong những lúc ngoài thiền định và những
khác biệt giữa thiền định và ngoài thiền định. Trong ba
giai đoạn thanh tịnh (địa thứ tám đến thứ mười), vì
không có những tư tưởng trực tiếp (mNgon-Gyur), lúc đó có
sự hợp nhất (của thiền định và ngoài thiền định), và
ở đây mọi sự là một vị trong trí huệ bổn nguyên tối
sơ.
(vii)
Hoàn thiện trọn vẹn, sự thành tựu con đường cao cả. Trí
huệ bổn nguyên của “con đường thiền định” được
gọi là “trí huệ bổn nguyên được chứng ngộ trọn vẹn”.
Đã thiền định về tám con đường cao cả, người ta đã
tịnh hóa những nhiễm ô của chín giai đoạn (của con đường
thiền định). Tổng quát, những đức hạnh của con đường
và những giai đoạn (địa) xuất hiện bằng cách dựa trên
những kinh mạch, khí và tinh chất (hạt). Những tích tập
công đức và trí huệ bổn nguyên được phát sanh qua những
hoàn thiện (về những kinh mạch, khí và tinh chất) và qua
những nỗ lực tu hành hoàn thiện chúng.
(Con
Đường Cho) Người Trí Năng Kém
(i)
Những
giai đoạn của thiền định
(a)
AN ĐịNH (Zhi-gNas)
(1)
THUầN HÓA NHữNG TƯ TƯởNG
Trước
hết vấn đề là làm sao tìm thấy sự an định.... Người
ta cần tham thiền ở một nơi không có những gai góc (quấy
nhiễu) cho tham thiền, như mối nguy hiểm từ con người, những
tiêu khiển và tiếng ồn, một nơi tâm tự nhiên có thể buông
xả. Hãy ngồi trên một chỗ ngồi tiện nghi trong tư thế
tréo chân, bàn tay phủ lên đầu gối và quán tưởng ba kinh
mạch. Khi thở ra, nghĩ rằng người ta thở ra qua kinh mạch
Roma màu trắng bên phải và rồi qua lỗ mũi phải, và tất
cả bệnh tật, chướng ngại và che ám bất thiện được
tẩy sạch như khói qua một ống khói lò sưởi. Khi thở vào,
nghĩ rằng những thu hút chư Phật trong hình thức ánh sáng
đi vào qua lỗ mũi trái, kinh mạch Kyangma màu đỏ bên trái
và rồi đi vào kinh mạch trung ương. Trong một chốc, giữ
hơi thở ngay dưới rốn (bằng cách ép hơi thở một chút)
vừa cả đi xuống và đi lên. Rồi chầm chậm thở ra như
trước, nhưng giữ lại một ít. Trong ba tháng mùa xuân, không
khí là không khí thuộc đất, và đó là thời gian đờm dãi
phát triển. Thế nên, như đối trị của nó, người ta cần
quán tưởng nó là không khí của không khí có màu lục. Ba
tháng hè, để xua tan hơi nóng của lửa, hãy quán tưởng nó
là không khí của nước màu trắng. Ba tháng mùa thu, để loại
trừ những chuyển động của mật, hãy quán tưởng nó là
không khí của đất có màu vàng. Trong ba tháng mùa đông, như
đối trị cái lạnh của nước, hãy quán tưởng nó là không
khí-lửa có màu đỏ. Về hình thể của không khí, hãy quán
tưởng tinh túy của tâm và khí trong hình cái cung, tam giác,
vòng tròn, hình vuông trong trái tim. (Quán tưởng chúng) như
có cùng cảm nhận. Về số hơi thở, đếm lên đến bảy
chu kỳ trong tâm. Một người mới học cần quán tưởng khí
trong hình thể hình vuông v.v.... và khi nó phát ra qua hai lỗ
mũi, nó dần dần lớn cho đến mức trở thành kích cỡ của
ba ngàn thế giới.... Người ta cần tham thiền về nó với
một tâm không dao động. Khi những đại bị đầy nghẽn,
cần vượt qua bằng cách nói mạnh một chữ Ha ! mà không
giữ hơi thở nào. Khi phúc lạc và sùng mộ v.v.... khởi lên,
người ta nên giữ hơi thở (một chốc lát). Bằng cách thực
hành hơi thở trong vài ngày đêm, sự an định của tâm trong
sáng và rạng rỡ không có ý niệm sẽ hiện khởi. Vào lúc
đó, vì không có không khí thô và những tư tưởng, mặt trăng
trắng và mặt trời đỏ, tinh chất của hai kinh mạch Roma
và Kyangma, sẽ trở nên vững chắc ổn định. Trong đó sẽ
không có ngay cả một chuyển động vi tế của không khí,
bởi vì người ta ở yên trong trạng thái không tư tưởng
(vô niệm) trong kinh mạch trung ương và nhờ đó chứng ngộ
trí huệ bổn nguyên vốn sẵn.
(2)
TậP
TRUNG NHấT TÂM
Sau
khi thải bỏ những tư tưởng thô, ....người ta cần tu hành
bốn trạng thái vô biên của tâm (bốn vô lượng tâm) và
hai tâm của giác ngộ (Bồ đề tâm), chúng là những nguyện
vọng và thực hành. Bồ tát hạnh nói : “Đã làm an những
tư tưởng, hãy thiền định về Bồ đề tâm.” Hoặc tập
trung vào giai đoạn phát triển hay vào (những đối tượng
như) những khối và hình vẽ những thần bổn tôn. Kinh Samadhiraja
nói : “Trên màu của vàng của hình ảnh trang nghiêm thế
giới, bất cứ ai tập chú tâm mình đều là một Bồ tát
đang tham thiền.” Nói tóm, một người chưa kinh nghiệm thiền
định “vô niệm” cần tham thiền về bất cứ đối tượng
đức hạnh nào mà không dao động, lạc vào những đối tượng
khác.
(3)
Sự
NHậP ĐịNH THậT Sự CủA AN ĐịNH
Khi
không có những phóng chiếu của tư tưởng người ta không
bỏ sự tham thiền tập trung vào đối tượng, tâm và thân
thoải mái, ngữ giảm thiểu, lời nói trở nên dịu dàng và
vẻ mặt trở nên ấm áp tráng lệ ; bấy giờ người ta đã
hoàn thành an định nhất tâm.
(b)
QUÁN
CHIếU (Lhag-mThong)
(1)
CÁCH TU HÀNH QUÁN CHIếU
Hãy
thiền định về (những hiện tượng là) không hiện hữu
từ cội nguồn của chúng mà xuất hiện như tám thí dụ như
huyễn.... Trong thật nghĩa của chúng, mọi sự, thế giới
và chúng sanh, đều là những tri giác bất tịnh của tâm mê
lầm và Tam Bảo, là những tri giác thanh tịnh, đều không
hiện hữu như một giấc mộng. Nhưng trong tâm mê lầm chúng
xuất hiện bởi vì sự tích tập những thói quen tập khí.
Mọi hình tướng có vẻ là thật, nhưng chúng là giả bởi
vì chúng xuất hiện đối với những tri giác nhị nguyên....
Chư Phật xuất hiện với những tri giác mê lầm là giả bởi
vì bản chất của những thân thể biểu lộ thì giống như
những phản chiếu của mặt trăng trên mặt nước và vì đó
là những hình tướng (cho người thường) trong khi (bản thân
chư Phật) không lìa khỏi Pháp thân và Báo thân. Tuy nhiên,
bản tánh thanh tịnh của chư Phật thường trụ trong cảnh
giới chân thật tuyệt đối thì không giả. Bởi vì những
tư tưởng sai lầm, có vẻ như người ta lang thang trong sanh
tử đời này sang đời khác và kinh nghiệm sướng khổ liên
tiếp. Nhưng ngay vào khoảnh khắc (lang thang đó), theo cái thấy
trạng thái vô sanh của Tâm, thì không có phân biệt giữa
lang thang hay không lang thang trong sanh tử. Những hình tướng
như mộng của mê lầm là không hiện hữu, vô tự tánh ngay
lúc vừa xuất hiện suốt giấc ngủ của những tập khí huyễn
ảo....
Tóm
tắt, những hiện tượng hình tướng và sự gán tên là không
hiện hữu mà chỉ xuất hiện giống như tám ví dụ như huyễn.
Người ta cần tham thiền về điều này với sự sáng tỏ
mà không tìm cách nắm bắt chúng.
(2)
CÁCH
LÀM KHởI LÊN QUÁN CHIếU
Đó
là thiền định (thấy tất cả) như hư không mà không có
bất cứ sự ý niệm hóa nào dù là ý niệm tri giác những
sự vật là như huyễn.... Thậm chí (cái thấy rằng) “xuất
hiện nhưng không có thật” bản thân nó chỉ là một khẳng
định. Trong thật nghĩa, bản tánh không phải là một đối
tượng cho sự ý niệm hóa để nói là có hay không. Thế nên
người ta cần tham thiền về nghĩa này. Do thực hành này,
ý tưởng thấy những hiện tượng bên ngoài là thật hay không
thật, như huyễn cũng ngừng dứt. Như vậy, khi người ta chứng
ngộ sự không thể ý niệm hóa của những đối tượng nắm
bắt, bởi vì ý tưởng về cái được nắm bắt không có,
sự bám chấp cũng không có, từ đó người ta chứng ngộ
sự không hiện hữu của người nắm bắt. Hãy tham thiền
về sự chứng ngộ bản tánh vô tự tánh của tất cả mọi
sự và bản tánh siêu việt khỏi mọi ý niệm.
(ii)
Phân
tích tham thiền
(a)
PHÂN TÍCH TÂM
Trong
tâm, khi chuỗi dây những tư tưởng thích và không thích, đúng
và sai, sướng và khổ khởi sanh, người ta cần cố gắng
khảo sát nó mà không dao động dù chỉ một khoảnh khắc
: lúc khởi đầu những tư tưởng đến từ đâu, hiện giờ
chúng ở đâu, và cuối cùng chúng đi đâu, màu sắc, hình
dáng và những đặc tính của chúng là gì ?
(b)
CÁCH NHÌN THấY BảN TÁNH
Tri
giác về sự hiện hữu của tâm chính là một nhiễm ô do
những tư tưởng. Bởi vì trong thật nghĩa của nó, tâm không
có hiện hữu, tâm không có nguyên nhân nào để sanh khởi.
Thế nên nó trống không nguyên nhân sanh khởi. Không có cái
gì hiện hữu bởi vì không có cái gì đã từng sanh ra. Thế
nên sự hiện hữu của tâm là trống không mọi thực thể.
Vì tâm không hiện diện, không có cái gì diệt mất. Thế
nên sự diệt mất trống không mọi đặc tính. Tâm không có
màu sắc, hình dáng và không có cái gì để chỉ ra hay tìm
thấy, dù cho khảo sát và tìm kiếm nó khắp bên ngoài, bên
trong hay ở giữa. Sự không tìm thấy này giống như hư không,
trong sáng, bình đẳng, thoát khỏi chỉ định và phân tích,
và không dính dáng gì đến chủ thể tác động và cái được
tác động. Đó là cái thấy bản tánh của Thân Tối Hậu
(Pháp thân).
(c)
THAM
THIềN TRONG TRạNG THÁI BUÔNG Xả
Như
yên nghỉ sau khi kiệt sức vì vác nặng, bằng cách buông bỏ
những kinh nghiệm quá khứ về phân tích thô và tế, người
ta ở trong trạng thái hoàn toàn thong dong, như đạt đến đích
hay nghỉ ngơi tại chỗ khi hoàn toàn kiệt sức. Theo truyền
thống này, hãy tham thiền bằng cách ở yên trong thong dong
toàn diện qua buông xả, trong trạng thái mọi hình tướng
bày hiện rõ ràng, trọn vẹn và toàn hảo, thoát khỏi mọi
trí nhớ hay tư tưởng và sự không dứt của ánh sáng tự
nhiên (mDangs) của tánh giác và phúc lạc.... Nói chung, thật
là tự nhiên nếu bạn thiền định và tập trung nhất tâm
mà tâm vẫn phóng chiếu. Nếu bạn buông thả cho tâm thong
dong, nghĩ rằng, “Hãy đi nơi nào mày muốn đi”, nó sẽ
ở yên như nó vẫn là, giống như một con lạc đà.... Khi
bạn để cho tâm đi, nói rằng, “Chớ có trở về dù một
chút”, dù nếu nó có vẻ đã ra đi, nó sẽ trở về bên
trong và an trụ như tánh Không tự-an trụ. Nó cũng giống như
một con quạ trên chiếc tàu giữa biển khơi.... Khi tâm phóng
chiếu đến những đối tượng như các hình sắc, bởi vì
những đối tượng là không thực, tâm sẽ không tiếp tục
nương dựa vào chúng dù chỉ một chốc lát. Tâm sẽ trở
về lại và trụ trong tánh Không thoát khỏi những ràng buộc
của phân tích. Ví dụ, một con quạ bay đi từ một chiếc
tàu giữa biển sẽ không đậu xuống chỗ nào khác được
và sẽ trở lại chiếc tàu.
(d)
CÁCH
KHởI SANH CHứNG NGộ
Bằng
cách có được kinh nghiệm trong ý nghĩa của sự không tìm
thấy tư tưởng luyến bám vào cái “tôi” và “bản ngã”
khi truy cứu, người ta chứng ngộ sự vô ngã của người
nắm bắt và do đó chứng ngộ sự không hiện hữu của người
nắm bắt (chủ thể). Người ta đã chứng ngộ (trong những
bài học ở trước) sự không hiện hữu của “bản ngã của
những hiện tượng”, bởi vì cái được nắm bắt thì vô
tự tánh. Sau khi chứng ngộ hai cái không có bản ngã (vô ngã
và vô pháp), những đối tượng trong đó người ta nhận lấy
sự tái sanh trong sanh tử và chủ thể để tái sanh cả hai
được xác định là không hiện hữu. Sự giải thoát của
sanh tử như là không hiện hữu trong thật tánh là sự đạt
được cái thấy niết bàn, bởi vì sanh tử không là gì khác
hơn tâm.... Nếu người ta thấu hiểu như thế, dù cho người
ta không thể đạt giải thoát trong đời này, chắc chắn người
ta sẽ được giải thoát trong đời tới.... Nó giống như
“định nghiệp”, nghĩa là nếu người ta phạm vào một
tội ác trầm trọng hay một hành động đức hạnh, người
ta sẽ không thể không kinh nghiệm những hậu quả của nó
trong đời tới.
(e)
ĐạT
ĐƯợC VữNG CHắC (TRONG AN ĐịNH VÀ QUÁN CHIếU)
Khi
sự phản chiếu của mặt trăng xuất hiện trong một cái ao,
nước và sự phản chiếu không thể tách rời. Cũng thế,
khi (những sự vật) xuất hiện (trước tâm) và khi chúng được
tâm nắm hiểu, tâm không tách lìa với những hình tướng.
Cần hiểu rằng những sự xuất hiện (trước tâm) là (những
hiện tượng) được nắm hiểu và không phải là những đối
tượng thực sự xuất hiện. Đối tượng của những xuất
hiện hình tướng và tánh Không của nó thì không thể tách
rời như phản chiếu của mặt trăng và nước.
(f)
HọC
NGHĨA BấT NHị NHƯ THế NÀO
Do
nắm lấy đối tượng không hiện hữu như là bản ngã, người
ta tự làm mê lầm mình vào trong sanh tử, như khi tri giác nước
trong một giấc mộng thấy là đáng sợ, cái sợ còn trầm
trọng thêm. Những sáng tạo thuộc về những thói quen đã
kiên cố của những tri giác sai lầm là không chỗ kiến lập
(không gì khác hơn là những mê vọng). Nền tảng để khởi
sanh những mê vọng, cái tâm, thì vốn thanh tịnh và vô tự
tánh. Thế nên nó không bao giờ bị ô nhiễm bởi những cấu
uế.... Người ta cần tham thiền trong trí huệ bổn nguyên
vô nhiễm như hư không, cái cốt lõi không nhiễm ô bởi những
cực đoan và cái tinh túy thoát khỏi những sự ý niệm hóa,
mà không có sự tìm tòi nào bằng khảo sát hay phân tích.
Nếu bạn tìm kiếm, Tâm sẽ bị ô nhiễm và do đó những
tư tưởng thế gian sẽ tăng trưởng. Nếu bạn để yên một
con rắn độc trong một cái lồng, nó sẽ không làm hại ai,
nhưng nếu bạn quấy phá nó, nó sẽ cắn. Cũng thế, tâm (tự
nó) là thoát khỏi những gắng sức, nhận và bỏ.
(g)
CÁCH
CHứNG NGộ TRUNG ĐạO, THOÁT KHỏI NHữNG BIÊN KIếN
Bởi
thế người ta làm bình lặng những nhiễm ô của phiền não,
và qua sự trầm mình không có ý niệm hóa vào trí huệ bổn
nguyên, nó vốn thoát khỏi nhị nguyên của cái được nắm
bắt và người nắm bắt, người ta thành tựu những nhãn
và những thông...., những công đức của chứng ngộ và giải
thoát.
(h)
GIảI
THOÁT KHỏI Sự THIềN ĐịNH VÀ NGƯờI THIềN ĐịNH LÀ CHứNG
NGộ CủA PHậT
Khi
một người đang ở trong tham thiền, dù đối tượng có xuất
hiện, không có gì cả trong tâm nó mà chỉ an trụ trong (tánh)
như hư không vắng bặt mọi phóng chiếu và thu hồi. Thế
nên với nó không có ý niệm về người nắm bắt. Đó là
trí huệ bổn nguyên bất nhị, bởi vì ý niệm về nhị nguyên
không có chỗ dùng, và đó chính là giải thoát khỏi người
tạo ra và sự tạo ra bởi vì vắng bặt trò nhị nguyên của
người thiền định và sự thiền định. Vào lúc đó, người
ta đạt đến cảnh giới bổn nguyên tự nhiên bằng cách làm
tan biến tâm và những biến cố của tâm thức vào trong cảnh
giới thực tại tối hậu, và người ta trụ trong sự chứng
ngộ Tâm, tức là Phật tuyệt đối, sự tự-hiện diện của
Pháp thân.... Vào lúc đó, tâm và những biến cố tâm thức
tan biến trong tánh thanh tịnh tự nhiên của Tâm, như muối
hòa tan trong nước, và không có những tư tưởng chập chờn
như đom đóm nữa.
(i)
CÁCH
CHứNG NGộ BảN TÁNH TốI HậU
Bằng
cách thấu suốt năm đối tượng được nắm bắt bên ngoài
như là những phản chiếu của mặt trăng (trong nước) và
là một ảo ảnh, sẽ không có chút khuynh hướng nhỏ nào
bám níu do những ý niệm bám nắm vào (những đối tượng
như là) thật có. Bằng cách thấu suốt những giác quan nắm
bắt bên trong là không có phần tử như hư không, người nắm
bắt chúng là trống không trong thực thể của nó. Cảm giác
tự nhiên, vắng dứt người nắm bắt và cái được nắm
bắt, và tự do khỏi những phóng chiếu và thu hồi là trí
huệ ba la mật như cam lồ. Nó là tánh sáng ngời tự nhiên,
sâu thẳm, an bình, tự do và là trí huệ bổn nguyên tự-phân
biệt.... Nó là sự hoàn thiện của trí huệ trong đó không
có sanh tử ở đây, niết bàn ở kia, hay con đường tu hành
ở giữa.
(j)
CÁCH
LÀM VIÊN MÃN CÁI THấY
Ở
trong trạng thái chứng ngộ nghĩa của cái thấy vĩ đại bao
la như một con tàu, người ta vượt qua đại dương ý niệm
hóa của sanh tử, và rồi không có ý niệm nào, người ta
hợp nhất trí năng của mình với cái nền tảng vốn thoát
khỏi mọi sự ý niệm hóa. Bởi vì cảnh giới tối hậu và
trí huệ vốn không thể chia cách, cái thấy được gọi là
trạng thái của Đại Toàn Thiện, và thế nên nó được gọi
là sự hoàn thiện của Đại Toàn Thiện. Đó là sự hiển
lộ của chứng ngộ cái toàn thiện của nghĩa tự hữu và
vô sanh.
(k)
Sự
NHậN BIếT AN ĐịNH VÀ QUÁN CHIếU TOÀN HảO
Khi
người ta tham thiền như vậy, tâm tự nhiên an trụ mà không
có những phóng chiếu và thu hồi. Phương diện vô niệm và
trống không do an trụ (trong tham thiền) là sự an định. Nó
là sự hoàn thành của tích tập trí huệ bổn nguyên và là
giai đoạn hoàn thiện của trí huệ, nguyên nhân của Pháp
thân. Phương diện những hình tướng xuất hiện do sự sáng
tỏ là quán chiếu. Nó là sự hoàn thành của tích tập công
đức và là giai đoạn phát triển của phương diện thiện
xảo, nguyên nhân của Sắc thân. Vào lúc đó người ta thành
tựu sáu ba la mật tuyệt đối, sự tự do đối với ý niệm
hóa.... Tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục,.... là sự nhẫn
chịu trong chúng và nó không phải là sự hoàn thiện dần
dần hay vượt lên chúng. Khi Bồ tát siêu vượt chúng, nó
trở thành sự hoàn thiện của chúng. Vào lúc đó, người
ta hoàn thiện giới luật tuyệt đối. Trong kinh Arya-susthitamatidevaputra-pariprccha-nama-mahayana
có nói : “Trong người nào không có ý niệm về giới cũng
như những dấu vết nhiễm ô của giới, đó là sự hoàn thiện
của giới.”
(l)
CHứC
NĂNG CủA AN ĐịNH VÀ QUÁN CHIếU
Đạt
được kinh nghiệm trong quán chiếu đã chứng ngộ ở trước
tùy thuộc vào an định. Thế nên chắc chắn người ta cần
những nỗ lực để thành tựu sự hợp nhất (của an định
và quán chiếu).
(m)
THờI
GIAN CHứNG NGộ VÔ NIệM SAU KHI CÓ ĐƯợC
KINH
NGHIệM
Khi
thực hành về nghĩa toàn thiện, chứng ngộ rằng những chủ
thể và những đối tượng và những chất thể và những
không chất thể đều không có tự tánh là quán chiếu, nó
đến trước tiên. An trụ trong trạng thái chứng ngộ ấy
mà không có sự sanh khởi của những hình sắc trong tâm trí
là an định, nó đến sau. Khi cõi giới và trí huệ bổn nguyên
trở thành không thể chia tách, sự không thể chia tách của
chúng phải được biết như là sự đạt đến kết quả của
hợp nhất.
(iii)Đã
được kinh nghiệm, cách hoàn thiện sự tham thiền
(a)
NHữNG ĐứC HạNH CủA THAM THIềN
Trong
tâm, những đức hạnh hiện diện một cách bổn nguyên, vốn
có, nhưng khi tâm bị che phủ bởi những che ám thì những
đức hạnh không biểu lộ. Bằng cách thiền định về an
định và quán chiếu, người ta tịnh hóa một số che ám (như
những ý niệm ngoại sanh) và thành tựu những chứng đắc
phần hạn. Khi những ý niệm tâm thức tan vào cõi giới tối
hậu, ....bởi vì đã tịnh hóa những ý niệm tâm thức, với
thời gian người ta hoàn thành nhiều đức hạnh, như những
định.
(b)
CHÍN
ĐịNH
Chín
định là tâm của sự ngừng dứt, bốn cấp độ định (của
sắc giới) và bốn cấp độ của vô sắc giới. Chúng là
chín tham thiền, những hoàn thiện của chín định....
Tâm
nhất tâm với trí huệ của lạc, sáng tỏ và vô niệm được
thành tựu trong đời của những chúng sanh dục giới, như
con người, nhờ sự tu hành an định và quán chiếu, như đã
giải thích ở trước. Nó được thành tựu nhờ cuộc đời
làm người quý báu, bởi thế nó liên hệ với con người....
Tâm của bốn định của những cõi sắc : (1) Định thứ nhất
: Khi người ta thực hành tham thiền nhất tâm, cái sơ bộ
là khả năng tham thiền. Nó sẽ bắt đầu với tư tưởng
(thô) rằng tôi nên tham thiền, và qua áp dụng sự gom tụ
những tư tưởng phân tích vi tế để tham thiền trong trạng
thái vô niệm, trí huệ thoát khỏi những ý niệm, thiền định
thực sự được khởi sanh. Trong thời gian ngoài thiền định,
người ta sẽ có vừa cả những tư tưởng (thô) và những
tư tưởng phân tích (tế). (2) Định thứ hai : Qua những sơ
bộ của cấp độ tâm thức định thứ nhất và bằng sự
áp dụng không có những tư tưởng (vô niệm) thô mà chỉ
có những tư tưởng phân tích tế, định thực sự của sáng
tỏ và vô niệm sanh khởi. (3) Định thứ ba : Qua những sơ
bộ của cấp độ tâm thức của định thứ hai và bằng sự
áp dụng sự dứt bặt những tư tưởng thô và những tư tưởng
phân tích tế, định phi thường thực sự của vô niệm khởi
sanh trực tiếp. (4) Định thứ tư : Qua những sơ bộ của
cấp độ tâm thức của định thứ ba và bằng áp dụng những
tham thiền, định phi thường thực sự của hỷ và lạc sanh
khởi. Trung Bát Nhã Ba la mật nói :
“Một
cái định với những tư tưởng (thô) và phân tích (tế) là
định thứ nhất. Với phân tích mà không có những tư tưởng
là định thứ hai. Không có những tư tưởng lẫn phân tích
là định thứ ba. Tâm hoan hỷ là định thứ tư.”
(c)
NHữNG
ĐịNH CủA VÔ SắC GIớI
Nhờ
tâm của bốn định sắc giới, những tâm phi thường của
bốn cõi vô sắc được phát sanh. (1) Thứ nhất là trạng
thái (thiền) vô biên như hư không. Nó là một ý niệm vững
chắc rằng tất cả hiện tượng là thanh tịnh và không dơ
nhiễm như hư không. (2) Trạng thái vô biên của thức. Nó
ý niệm rằng ngay cả sự vô biên như hư không cũng chỉ là
tâm và tâm thức đó là vô hạn, tự do từ vô thủy đến
vô chung. (3) Trạng thái của không. Nó là cái ý niệm không
quan sát thậm chí sự vô biên của thức, và (trong nó) không
có gì được thấy bởi tâm. (4) Trạng thái đỉnh cao của
hiện hữu. Nó ý niệm sự vượt khỏi cả hai cực đoan hiện
hữu và không hiện hữu.
Trạng
thái dứt diệt (diệt tận định) : Nó là sự dứt diệt của
tất cả mọi thứ ý niệm hóa.... Có hai sự dứt diệt : Sự
dứt diệt phân tích thuộc cá nhân (đạt được qua) những
phân biệt và phân tích bởi tâm. Sự dứt diệt không phân
tích (đạt được qua) tham thiền về bản tánh tối hậu mà
không có những phân biện (của tâm thức). Trong trường hợp
dứt diệt của những Bồ tát, các vị (vẫn) phụng sự chúng
sanh qua (năng lực của) lòng bi....
Câu
hỏi : (Nếu vị ấy có lòng bi,) bấy giờ làm sao vị ấy
có thể thoát khỏi những ý niệm hóa ?
Trả
lời : Không có những ý niệm hóa bởi vì vị ấy sở hữu
lòng bi của trí huệ vô niệm.
(d)
NHữNG
PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH CHÍN ĐịNH
Bằng
cách thiền định về những định sau chót, người ta phát
lộ (năm) nhãn thiêng liêng và (sáu) thông mà nó chưa có. Nó
sẽ thấy những giai đoạn khác nhau của những cõi Phật và
những đức hạnh Phật khi tiến bộ trong những giai đoạn
của con đường. Nó nhận được những chỉ dạy và hoàn
thiện những tích tập của mình.
(e)
THờI
GIAN ĐạT ĐƯợC BA THAM THIềN
Mặt
trời độc nhất được biết (qua nhiều tên như) “cái chiếu
sáng” vì nó xua tan bóng tối, “cái ngàn ánh sáng” vì nó
phóng chiếu những tia sáng, và “bạn của hoa sen” vì nó
làm hoa sen nở. Cũng như vậy, sự tham thiền được biết
có tên là “định như huyễn”, vì nó là tham thiền nhất
tâm về sự chứng ngộ những hình tướng là huyễn, “định
không ô nhiễm như mặt trăng”, vì nó xua tan bóng tối và
đau đớn của phiền não, “định không che ám như hư không”,
vì nó là sự chứng ngộ mọi hiện tượng là như hư không
v.v.... Sự tham thiền là cùng một bản tánh, nhưng tùy theo
sự tiến bộ của nó, những đức hạnh của nó tăng thêm
và có hàng trăm ngàn đức hạnh nữa sẽ đạt được.
(f)
ĐạT
ĐếN THAM THIềN HợP NHấT
Những
lời và những ý nghĩa của Pháp được chứng ngộ hoàn toàn
bởi quán chiếu phân biện, và chúng được duy trì nhất tâm
trong tâm bằng an định. Thế nên quán chiếu là sự gom tụ
(nghĩa là chứng ngộ) và an định là tham thiền. Trong Ye-Shes
rGyas-Pa có nói :
Quán
chiếu là sự gom tụ (chứng ngộ) của Pháp,
An
định là tham thiền.
6.
Hai Mươi Bảy Bài Giảng về
Tu
hành Đại Toàn Thiện
Trong
Những Giáo Huấn Ý Nghĩa về Ba Đức Hạnh Buông Xả trong
Trạng Thái Tự Nhiên của Tâm, Longchen Rabjam trình bày một
trăm bốn mươi mốt bài giảng về tu hành chia thành ba chương.
Chương thứ nhất về những giáo lý chung bên ngoài của Kinh,
chương hai về những giáo lý mật bên trong của Tantra, và
chương ba về những giáo lý sâu nhất của Đại Toàn Thiện.
Phần sau đây là một rút ngắn của chương ba, gồm hai mươi
bảy bài giảng về tu hành.
NHẬN
BIẾT (NỀN TẢNG) QUA (THẤU HIỂU) CÁI THẤY
Những
Đối Tượng Bên ngoài Được Nắm Bắt là
Tánh
Không Vô Tự Tánh
(i)
Những hình tướng là những phản chiếu không thực như tám
thí dụ về huyễn. Mỗi phương diện của năm đối tượng,
như sắc, gồm trong những hiện tượng của thế giới và
chúng sanh, chỉ là những hình tướng không có hiện hữu thật
sự. Mọi hình tướng xuất hiện với cả hai những tri giác
thanh tịnh của chư Phật và những tri giác bất tịnh của
chúng sanh mê lầm đều là những cái thấy biết của trí
huệ và tâm. Khi những hình tướng xuất hiện với cả hai
loại tri giác, chúng xuất hiện mà vô tự tánh, như sự phản
chiếu trong một tấm gương và những tia cầu vồng trong bầu
trời. Với tri giác thanh tịnh của trí huệ, những hình tướng
siêu vượt khỏi những cực đoan có và không vì không có
những nhiễm ô của người nắm bắt và cái được nắm bắt.
Vì không có tạo ra, diệt mất và biến đổi, tất cả thoát
khỏi những tính cách của những hiện tượng hợp tạo hữu
vi và những xuất hiện không hợp tạo vô vi, và hoàn toàn
thoát khỏi mọi ý niệm hóa. Còn với tri giác của tâm mê
lầm, (những hình tướng) chỉ xuất hiện như đối tượng
cho sự nắm bắt của bản ngã, sự nắm bắt này rơi vào
(những ý niệm) cực đoan có và không, lìa khỏi (bản tánh)
không hợp tạo, và làm mạnh thêm những thói quen ngoại sanh
và theo duyên. Thế nên, ở đây, người ta sẽ hiểu rằng
những đối tượng, những hình tướng xuất hiện huyễn ảo
của tâm, là không thực. Những hình tướng khác biệt bên
ngoài, như trắng và đỏ, chỉ là những cái thấy biết của
thói quen khô cứng, như một giấc mộng do một người say
rượu trong giấc ngủ vô minh tạo ra. Không có chút hiện hữu
nào (trong chúng) như là đối tượng trong thật nghĩa. Lại
nữa, những hình tướng ấy không phải là tâm từ điểm
ban đầu sanh khởi, bởi vì những tính cách chất thể của
chúng như màu sắc, kích cỡ và những phân biệt, phủ nhận
tính chất của tâm. Đồng thời chúng không khác tâm, bởi
vì ngoài hiện thể của chúng vốn chỉ là những tri giác
hư vọng (của tâm) thì không có vật thể nào khác được
xác lập như vậy cả. Những hình tướng xuất hiện với
tâm chỉ là những loại kinh nghiệm của thói quen khô cứng
tiếp tục từ vô thủy. Nó giống như nằm mộng đêm qua về
một màn trình diễn ảo thuật đã thấy buổi hôm kia. Bởi
thế, người ta phải nghĩ rằng bất cứ cái gì xuất hiện
đều là những hình tướng của không hiện hữu, và không
có nền tảng, chỗ ở, hiện hữu tự nhiên và (thực thể)
có thể phân biệt. Chúng chỉ là một hình tướng xuất hiện
trong suốt của bản tánh trống không như một giấc mộng,
một trò huyễn thuật, một ảo ảnh, một tiếng vang, một
cái nhìn thấy bóng dáng mập mờ, một mặt trăng trong nước,
một phép lạ hóa hiện và như một thành phố của những
kẻ ăn mùi hương (một thế giới hồn ma). Bất cứ cái gì
xuất hiện, ta và người, thù và bạn, đồng quê hay thành
thị, nơi chốn hay nhà cửa, thức ăn, thức uống hay tài sản
và bất cứ điều gì người ta làm, ăn hay ngủ, đi hay ngồi,
người ta phải tu hành thấy chúng là không thật. Người ta
cần hiến mình cho sự tu hành này trong mọi phương diện :
những thực hành sơ bộ, chánh yếu và kết thúc.
(ii)
Những đối tượng, nếu phân tích, là trống không. Nếu những
hình tướng được khảo sát từ thô đến tế xuống đến
những nguyên tử, chúng là không có phần tử và không hiện
hữu. Thế nên sắc là Không. (Cũng thế,) bằng cách khảo
sát màu sắc và nhận biết âm thanh, nó sẽ được tìm thấy
là trống không. Bằng cách khảo sát hình sắc và bản chất
của mùi hương, nó sẽ được tìm thấy là trống không. Bằng
cách khảo sát những phương diện của vị, chúng sẽ được
tìm thấy là trống không. Đặc biệt, bằng cách khảo sát
những nguồn gốc (những đối tượng giác quan) sự trống
không của xúc chạm sẽ được đạt đến. Dù chúng khác
nhau trong sự xuất hiện, chúng là như nhau trong bản tánh của
chúng là tánh Không, thế nên tánh Không của nhiều đối tượng
khác nhau không phải là những phạm trù tách biệt. Bản tánh
của chúng, như hư không thanh tịnh, siêu vượt khỏi tách
biệt hay đồng nhất. Thế nên, bản tánh của những xuất
hiện đối tượng là trống không trong tinh túy của nó.
Người
Nắm Bắt Không Có Nền Tảng và Không Gốc Rễ
(i)
Những thức là tự-sáng tỏ mà không nền tảng. (Có tám thức).
Năm thức giác quan khởi sanh như là năm đối tượng như sắc....,
ý thức tri nhận ấn tượng tổng thể (của những đối tượng
xuất hiện) và chỉ định chúng như là những đối tượng,
ý thức nhiễm ô là cảm thức phủ nhận, chấp nhận, ghét
bỏ và thù địch...., ý thức khởi sanh sau sáu thức (năm
thức giác quan và thức nền tảng của tất cả hiện hữu
– a lại da thức), ....và thức của nền tảng phổ quát là
tự-sáng tỏ (Rang-gSal) và vô niệm không dính dáng đến những
đối tượng : đấy là tám thức. Ngay vào lúc phát động
của bất cứ cái nào trong bản thân tám thức ấy, dầu bất
cứ thức nào cũng là trong sáng, sống động và tự-sáng tỏ
mà không có những nền tảng. Dù chúng có vẻ trong sáng, không
có thực thể chất thể nào. Chúng xuất hiện mà không có
sự hiện hữu, như hư không quang đãng và một ngọn gió mát
nhẹ không có bụi bặm. Sự sáng tỏ của chúng thì hiện
diện tự nhiên như bầu trời không mây. Những chuyển động
của chúng giống như gió, không có những chất thể phân biệt.
Từ lúc tối sơ xuất hiện, những thức như là những người
nắm bắt là tự-sáng tỏ và không phân biệt. Hãy quan sát
chúng khi chúng khởi sanh và khi chúng trụ. Hãy buông xả tự
nhiên và quan sát cách thức xuất hiện của người nắm bắt.
Nhờ đó người ta sẽ thấu hiểu những người nắm bắt
(những thức) thực chất chỉ là một hình tướng xuất hiện
của sự sáng tỏ mà không có tự tánh, trống không không
thiên chấp, và là sự tự-sáng tỏ không nền tảng.
(ii)
Chủ thể, nếu phân tích, là trống không, không có gốc rễ.
Bằng cách phân tích (hoặc là) tâm tự-sáng, không có căn
cứ trong những hình tướng bên ngoài, trong thân thể hay nơi
những chuyển động ở chặng giữa, hoặc nếu thực thể
của tâm tự trụ được nhận biết theo hình dáng, màu sắc,
sanh, trụ, diệt của nó, người ta sẽ chứng ngộ rằng bản
tánh của tâm là không hiện hữu, không có căn cứ, và thoát
khỏi những cực đoan có hay không. Trong sự tu hành này, lòng
sùng tín đối với Lama là điều quan trọng nhất.
KÉO
DÀI TRẠNG THÁI (CHỨNG NGỘ CÁI THẤY)
BẰNG
THAM THIỀN
Phác
Họa sự Tham Thiền cho Người thuộc Ba Cấp Độ Trí Năng
(i)
Cấp
độ tham thiền cho người trí năng kém.
(a)
TÌM
KIếM Sự AN ĐịNH
(1)
THUầN HÓA NHữNG TƯ TƯởNG
Trước
hết người ta cần thực hành Guru Yoga. Rồi ngồi trong tư
thế Vairocana (Tỳ Lô Giá Na) có bảy điểm. Đặc biệt, bày
tay phủ lên đầu gối và cổ cần giữ thẳng. Hãy quán tưởng
ba kinh mạch, và khi thở ra từ những phần dưới chót của
kinh mạch Roma và Kyangma hãy thở ra không khí sáng rỡ như
như một chuỗi khói cuộn (nhiều màu và bản chất khác nhau)
: Trắng và trong sáng, xanh và lan tỏa, đỏ và sâu, vàng và
trong sáng, lục và ấm áp, xanh và đơn điệu. Khi thở vào,
đếm đến năm trong tâm bạn. Như thế, bằng cách tham thiền
một xâu chuỗi (108 chu kỳ thở), những tư tưởng thô sẽ
bình lặng.
(2)
TậP
TRUNG CủA TÂM
Hãy
giữ một đối tượng như một hình ảnh, một cuốn kinh,
một hòn sỏi hay một miếng gỗ trước mặt bạn. Giữ sự
trông chừng đối tượng mà không chuyển động và tập trung
vào nó mà không xao lãng. Khi tập trung, bất kỳ khó chịu,
mùi hương, tư tưởng nào khởi lên, hãy cắt lìa chúng và
để chúng ra đi. Xem đối tượng tập trung với một tâm trống
trơn. Nếu tâm nhất tâm, bấy giờ hãy thiền định nhất
tâm bằng cách nhắm mắt, và tập trung trên hình sắc những
của đối tượng (in trong tâm). Nếu tâm trở nên phóng dật,
hãy mở mắt ra và tập trung thẳng vào chính đối tượng.
Bằng cách thực hành theo cách này, hãy khai triển sự an định
của tâm, sự tập trung vào những hình tướng của năm đối
tượng của năm giác quan và những hiện tượng, đối tượng
của tâm.
(3)
TậP
TRUNG VÀO ÂM THANH VÀ NHữNG CÁI KHÁC
Cũng
thế người ta tu hành trên âm thanh.... Hãy tham thiền bằng
cách tập trung tai nhất tâm vào âm thanh của người, gió,
những con chó.... Lại nữa, tham thiền bằng cách xoay vào trong,
thôi nghe tiếng động thực sự và nghe tiếng được in vào
trong tâm. Bằng cách lập lại hai sự tu hành (về âm thanh)
này lần lượt, người ta sẽ hoàn thiện sự tập trung vào
âm thanh. Trong cùng cách đó, hãy thực hành trên hương, vị
và xúc dùng cùng những kỹ thuật. Bằng cách làm những thực
hành này, về sau, khi người ta tham thiền (về bất cứ loại
thiền định nào,) năm đối tượng giác quan sẽ không có
những phóng dật mà là những hỗ trợ. Thế nên nó rất quan
trọng.
(4)
TU
HÀNH TRÊN PHÁP
Hãy
tự quán tưởng mình là một hóa thần bổn tôn và tham thiền
trong trạng thái ấy mà không dao động. Khi người ta có thể
duy trì sự tập trung nhất tâm, hãy tham thiền rằng những
hóa thần ấy ban phước cho chúng sanh khi phát ra và thu hồi
những tia sáng, hoặc bốn tâm vô lượng với chúng sanh, tập
chú vào những thiền định ấy với tâm sáng tỏ và nhất
niệm mà không dao động. Lập lại hai sự tu hành này (chỉ
tập trung và ban phước cho chúng sanh) lần lượt kế tiếp
nhau, người ta sẽ khai triển an định khi duy trì sự tập
trung vào tính bình đẳng (của hai trường hợp) phóng chiếu
và an trụ của tâm.
(b)
KHAI
TRIểN QUÁN CHIếU
(1)
THAM THIềN TRONG TRạNG THÁI BÌNH ĐẳNG NHƯ HƯ KHÔNG DứT BặT
NHữNG ĐốI TƯợNG BÊN NGOÀI Để NắM BắT
Nhiều
đối tượng khác nhau xuất hiện biểu lộ như mộng và huyễn
thuật, nhưng nếu được phân tích xuống tới những nguyên
tử không có phần tử, chúng (được thấy) là trống không,
vì chúng không hiện hữu. Thế nên, hãy tham thiền tự nhiên
trong trạng thái tự-sáng tỏ và trống không, không có đối
tượng cũng như các giác quan nắm bắt để hiểu biết. Đây
là một điểm quan trọng cho sự chứng ngộ vô ngã của những
đối tượng và những tri giác.
(2)
NGƯờI
NắM BắT BÊN TRONG LÀ KHÔNG CÓ GốC Rễ VÀ
TRốNG
KHÔNG
Khi
người ta tìm kiếm bản chất của tâm, cái tâm hiểu biết
những chủ thể và những đối tượng, người ta sẽ không
tìm thấy nó có bất kỳ hiện hữu nào, quá khứ hay hiện
tại, vật chất hay chẳng phải vật chất, đến, trụ và
đi, hay màu sắc và hình dáng v.v.... Đến đây, hãy an trụ
tự nhiên trong trạng thái của tâm không gốc rễ, vô trụ
mà không có sự nắm bắt. Điều này sẽ đưa đến chứng
ngộ tánh Không của sự nắm bắt cho là “tôi” và “bản
thân tôi”.
(3)
THAM
THIềN Về Sự HợP NHấT (CủA AN ĐịNH VÀ QUÁN CHIếU)
Đây
là sự tu hành hợp nhất an định và quán chiếu, trong khi
sự tu hành ở trước chúng được thực hành riêng rẽ....
Bất cứ cái gì xuất hiện (trong tâm), hãy tham thiền trong
trạng thái bình thản tự nhiên, bằng phẳng một cách an lạc,
trong sáng không dấu vết, tự do bao la, và rỗng rang không
giới hạn mà không có một biên giới nào của phân tích dựng
lên. Vào lúc đó sự chứng ngộ như hư không hiện khởi,
nó không có trong, ngoài hay ở giữa. Nó là sự thành tựu
tự nhiên của an định vì nó an trụ, của quán chiếu vì
nó trong sáng và của hợp nhất một vị vì nó không thể
chia tách.
(ii)
Cách
thiền định cho người trí năng bình thường.
(a)
THIềN ĐịNH Về TÁNH KHÔNG NHƯ HƯ KHÔNG
Thân
ở trong tư thế Vairocana bảy điểm không cử động, như núi
Tu Di. Những giác quan ở yên một cách trong sáng trong sự tự-sáng
tỏ không ngừng, như phản chiếu của mặt trăng trong một
cái ao. Bất cứ hình tướng gì khởi lên (trong tâm), chớ
tập trung vào phương diện xuất hiện mà ở yên với phương
diện tánh Không của nó, đó là sự sáng tỏ toàn triệt,
vô trụ và tràn đầy mà không có (những phân biệt và giới
hạn) ngoài, trong hay giữa. Qua sự thiền định này người
ta chứng ngộ tất cả mọi hiện tượng là tánh Không không
kẽ hở không gián đoạn như hư không.
(b)
THIềN
ĐịNH Về Sự SÁNG Tỏ NHƯ TấM GƯƠNG
Tư
thế của thân và sự tập chú của những khả năng giác quan
thì tương tự với thiền định ở trước. Ở đây người
ta không tập trung vào phương diện tánh Không mà tham thiền
trạng thái tự-sáng tỏ không có nắm bắt của những thấy
biết, một cách trong sáng, sống động và mãnh liệt. Bấy
giờ sự chứng ngộ về không định nghĩa (những tri giác
hay những hình tướng không được định nghĩa) (Khral-Ma Khrol)
hiện khởi, trong đó mọi hiện tượng xuất hiện mà không
có sự nắm hiểu.
(c)
THIềN
ĐịNH Về NHữNG SANH KHởI NHƯ SÓNG
Tư
thế của thân và sự tập chú của những khả năng giác quan
giống như ở trên. Ở đây, người ta đặc biệt tập chú
vào sự sanh khởi của những tư tưởng phóng ra và thu vào,
qua trạng thái của tánh giác vốn có sẵn (Rig-pa). Từ đó,
hiện khởi sự chứng ngộ về giải thoát những tư tưởng
là không có căn cứ và không thể nắm bắt như những cơn
sóng tan biến trong nước.
(iii)
Cách
thiền định cho người trí năng cao.
Ở
đây, (trạng thái thiền định và chứng ngộ) là một dòng
tương tục không ngừng như sự chảy của một dòng sông.
Trong sự chứng ngộ tánh giác là Pháp thân, những phóng chiếu
và thu hồi (của tâm thức) khởi lên và tan biến như trò
chơi của bản tánh tối hậu. Từ đó, mọi sự khởi sanh
như là sự tu hành làm sáng tỏ cho chứng ngộ, mà không có
những lấy hay bỏ và những lệch lạc hay che ám. Trên một
đảo bằng vàng, đá thường và đất là không thể có dù
cố sức tìm kiếm. Cũng thế, bởi vì bất cứ cái gì sanh
khởi trong tâm thức là sanh khởi như trí huệ tự nhiên sanh
khởi, những tư tưởng nơi chủ thể không gì khác hơn là
sự chứng ngộ của Phổ Hiền (Samantabhadra) vốn giải thoát
từ vô thủy. Bất cứ cái gì sanh khởi như đối tượng là
sanh khởi như sắc tướng của tánh Không. Thế nên, (đối
với thiền giả) những tư tưởng về đối tượng không gì
khác hơn là pháp giới thênh thang của Phổ Hiền Nữ (Samantabhadri)
vốn tự giải thoát từ vô thủy. (Với thiền giả đó) tất
cả mọi phương diện hiện tượng, chúng thường được nắm
bắt riêng rẽ như tâm và đối vật, đã dừng dứt trong cảnh
giới Đại Toàn Thiện bất nhị. Trong đó mọi hiện tượng
vốn khởi sanh trong pháp giới của trí huệ mà không có (những
phân biệt) ngoài và trong, vốn trở thành bình đẳng nhất
như không có đỉnh cao hay đáy thấp, vốn sanh khởi như trí
huệ bổn nguyên tự-khởi mà không có phương hướng và điểm
trụ, vốn sanh khởi như trò chơi của bản tánh tối hậu
không thiên trệ, vốn tự hoàn thiện chính chúng trong trạng
thái tự nhiên trụ mà không có ta và người, và vốn đạt
đến cảnh giới bổn nguyên không thời gian không nơi chốn.
Đó là lúc mà trí năng của thiền giả đã cạn kiệt, nó
hân hoan hạnh phúc trong trạng thái tịch diệt, cạn sạch
những hình tướng trong bản tánh tối hậu. Ở đây, do đã
được đưa vào sự chứng ngộ không gián đoạn và sự tỉnh
giác đã trở thành trần truồng, người ta hộ trì tâm thanh
tịnh tự nhiên không thiền định, trôi nổi phiêu bồng một
cách trần truồng và hoàn toàn không ngăn ngại, và với sự
tin cậy sâu thẳm vào Nó.
Giải
Thích Những Phương Tiện Thiện Xảo trong Chi Tiết
(i)
An
định.
(a)
ĐắC AN ĐịNH
(1)
THAM THIềN Về NHữNG ĐốI TƯợNG THấY ĐƯợC
Tham
thiền về những đối tượng thấy được ở bên ngoài như
một hình vẽ thì giống như đã nói ở trước. Đối với
tham thiền về những đối tượng xuất hiện bên trong, khi
những giác quan bị phóng dật và không an trụ trong tập trung,
hãy quán tưởng trong tim một hoa sen trắng hay một chày kim
cương chữ thập...., và hãy quán tưởng phần đỉnh chót
của nó kéo dài xuống dưới và đụng đến “nền đất
bằng vàng uy nghi” và được ổn định. Khi tâm đã có thể
tham thiền, hãy rút phần đỉnh chót vào tim và an trụ nhất
tâm. Bằng sự thực hành này, (sự chứng ngộ) “vô niệm”
sẽ hiện khởi.
(2)
TậP
TRUNG VÀO NHữNG ĐốI TƯợNG KHÔNG XUấT HIệN
Nó
là sự tham thiền trong trạng thái không có những tư tưởng
trong tâm. Nó là một tu hành tham thiền trong trạng thái của
tánh Không, (trong đó), đã làm tan biến mọi hiện tượng
bên trong và bên ngoài, hay bằng cách quán tưởng khuôn mặt
hay những tay.... của những thần bổn tôn, người ta làm tan
biến mọi tư tưởng khác vào trong quán tưởng, và rồi người
ta tham thiền về quán tưởng đó cũng trong trạng thái không
hình tướng. Qua những thực hành này, an định của không
ý niệm hóa sẽ hiện khởi.
(b)TIếN
Bộ
Đi
bộ một lát khi tập chú (tâm thức) vào sự tham thiền ở
trước (sự an định không có ý niệm hóa). Bằng cách tham
thiền trong an định, hòa trộn nó với nói chuyện và suy nghĩ
chút chút, kinh nghiệm (của tham thiền) sẽ tiến bộ. Nếu
sự tham thiền trở nên không trong sáng, hãy nâng cao nó bằng
cách để cho tâm dao động. Rồi sự tham thiền sẽ trở thành
rất trong sáng.
(ii)
Quán
Chiếu.
(a)
ĐắC QUÁN CHIếU
(1)
TU HÀNH VớI NHữNG HÌNH TƯớNG XUấT HIệN
Nghĩ
rằng bất cứ cái gì xuất hiện là không thực, tham thiền
rằng những hình tướng của những đối tượng hiện tượng
là sự xuất hiện huyễn thuật và là những giấc mộng. Có
một khác biệt lớn giữa “Nó là xuất hiện huyễn thuật”
và “Nó giống như xuất hiện huyễn thuật”. Trong những
tu hành ở trước có dạy rằng những hiện tượng là giống
như một xuất hiện huyễn thuật, và ở đây dạy rằng chúng
quả thực là xuất hiện huyễn thuật.
(2)
TU
HÀNH TÁNH KHÔNG
Ngay
khoảnh khắc xuất hiện của hiện tượng, dầu người ta
quán sát cái gì, hãy thấy chúng là bản tánh trống không,
không có dấu vết gì và hãy trụ trong bản tánh như hư không
mà không suy nghĩ cái gì cả. Những tu hành ở trước về
tánh Không được đạt đến bằng phân tích, và ở đây là
tu hành về tánh Không (do) tiếp cận trực tiếp với sự tự-sáng
tỏ. Thế nên có một khác biệt lớn.
(b)
TIếN
Bộ CủA QUÁN CHIếU
Bất
cứ hoạt động nào của người ta, hãy thiền định bằng
cách hợp nhất chúng với tánh Không do tập trung vào việc
làm tan biến những hình tướng vào tánh Không. Sau đó, không
một phút giây phóng dật đến những đối tượng như sắc....,
hãy tu hành tự nhiên trong tánh sáng tỏ, tánh Không và vắng
dứt sự nắm bắt.
(iii)
Hợp
nhất (An định và Quán chiếu).
(a)
HợP NHấT THựC Sự
Hãy
ngồi trong tư thế thích hợp. Bất cứ cái gì xuất hiện
hay sanh khởi, ngay lúc đó, không có phân biệt, hãy quan sát
triệt để tánh giác nội tại, miếng đất cội nguồn của
sự sanh khởi. Hãy tham thiền tại đó mà không phân tích chỗ
nào khác. Đây là điểm sâu xa nhất. Bấy giờ, bởi vì luôn
luôn an trụ trong trạng thái bình đẳng của phóng chiếu và
an trụ (của những tư tưởng), những chuyển động của tâm
sẽ không làm hại sự an trụ (trong trạng thái tánh giác nội
tại). Đây là sự đạt đến tinh túy của tánh giác nội
tại, sự hợp nhất của tánh Không, sự sáng tỏ và sự sanh
khởi. Nó là sự chứng ngọâ trạng thái nguyên thủy của
ba thân.
(b)
TIếN Bộ (CủA HợP NHấT)
Khi
bầu trời sạch mây, hãy xoay lưng về mặt trời và nhìn đăm
đăm vào chiều sâu của bầu trời trong “những tư thế quan
sát” (lTa-sTangs). Vì bầu trời bên ngoài trong sáng, bầu trời-giác
quan bên trong cũng trong sáng. Bấy giờ tức thời hiển lộ
bản tánh tối hậu (Ch’os Nyid) của bầu trời trong sáng của
tinh túy quang minh bí mật, siêu vượt những cực đoan hay trung
tâm. Đây là giáo huấn tối thâm sâu do Kamasri ở Nepal ban
cho. Nếu (những kinh nghiệm) không sáng sủa rõ ràng, hãy tu
hành sự thiện xảo của an định và quán chiếu ; nếu chúng
hôn trầm, hãy nâng cao chúng, và nếu chúng trạo cử, hãy
làm chúng lặng xuống. Áp dụng phương pháp này cho tất cả
mọi hoạt động ban ngày là một điểm rất quan trọng để
hoàn thiện sự khéo léo thiện xảo.
(iv)
Hoàn
thiện (phương tiện thiện xảo của tu hành).
Khi
thiền định như vậy, mọi kinh nghiệm, sự an trụ của tâm
trong thiền định, những tư tưởng tốt, những tư tưởng
xấu, những tri giác thanh tịnh và bất tịnh, đều là một
vị tánh Không không chỗ trụ bao la, sự cạn sạch vĩ đại
của những hiện tượng, siêu vượt trí thức, tánh bình đẳng
vĩ đại không thiên trệ và là sự rỗng rang vĩ đại giải
thoát khỏi mọi căn cứ trụ trước. Thế nên chớ bám nắm
cái gì, chớ suy nghĩ về cái gì, chớ hỏi ai điều gì, chớ
nương tựa vào cái gì, và hãy cắt đứt sợ hãi và sự bám
níu những hy vọng và nghi ngờ, mà hãy đi vào trong trạng
thái siêu việt vĩ đại khỏi trí thức và sự tan biến của
những hiện tượng (vào trong bản tánh tối hậu), hãy đi
đến cảnh giới vĩ đại của không có hành động và không
bao giờ trở lại. Đây là sự khai triển xác tín tự tin vào
cái hiện tiền.
KẾT
QUẢ, SỰ THOÁT KHỎI MỌI MONG CẦU VÀ NGHI NGỜ
Tự
Tánh của Cảnh Giới Tối Hậu của Bản Tánh Tối Hậu
Đây
là chân lý tuyệt đối, cảnh giới tối hậu, trong đó không
có cái gọi là sanh tử hay niết bàn. Nó không rơi vào những
cực đoan của bất kỳ phương diện nào, mà là căn cứ cho
sự khởi lên của mọi sự. Nó cũng được gọi là mục tiêu
rốt ráo của chứng ngộ, nguồn của sự cạn sạch, mục
đích của chứng đắc, và cõi giới tối hậu của trạng
thái bổn nguyên. Nó không gì khác hơn là trí huệ bổn nguyên
tự hữu. Nó là cái tự giác, thoát khỏi những ý niệm hóa
và không rơi vào những nhị biên của mọi phương diện, chiều
kích, mà vị Lama đã giới thiệu người ta vào. Cái ấy sẽ
không được tìm thấy trong những nguồn (bên ngoài) nào khác....
Bởi vì cảnh giới tối hậu của Phật đã bị chúng ta che
ám bởi những nhiễm ô ngoại sanh, mặc dù nó được định
nghĩa như là “tánh thanh tịnh tự nhiên”, người ta cần
hiểu rằng trong tinh túy không có cái gì là xấu hay tốt trong
đó. Đây là sự chứng đắc xác tín vào sự hợp nhất hiện
tiền của tánh giác và tánh Không như là cảnh giới tối
hậu vốn tự viên thành.
Bản
Tánh của những Thân, những Hình Tướng Xuất Hiện của
Cõi
Giới Tối Hậu
Trong
cõi giới tối hậu này hiện tiền sự thành tựu của sự
hợp nhất của thân và trí huệ bổn nguyên. Phương diện
hiện tiền của bản tánh của cảnh giới tối hậu này, tự
do khỏi sanh diệt và biến đổi và lìa ngoài lời nói, ý
niệm và diễn tả, là Pháp thân. Phương diện sanh khởi tự
nhiên những tướng chánh và những tướng phụ, siêu vượt
khỏi thường kiến và đoạn kiến, thường trụ trong cảnh
giới sáng ngời, là Báo thân. Phương diện phóng chiếu lòng
bi không thiên vị, như cảnh giới của sự sanh khởi không
ngừng, là Hóa thân. Phương diện của sự tự nhiên sở hữu
những công đức thanh tịnh một cách nguyên thủy như là mười
lực và vốn vô úy của Phật, nhiều như cát sông Hằng, trong
cảnh
giới tối hậu, là Tam Bồ đề (Sambodhi) thân. Phương diện
hiện tiền viên thành của bản tánh tối hậu của cõi giới
tối hậu không biến đổi trong ba thời là “Thân Kim cương
vĩnh cửu”. Dù những nhiễm ô ngoại sanh có được tịnh
hóa hay không, từ vô thủy của đời sống người ta như một
chúng sanh bình thường, tinh túy của cái giác là tánh Không,
bản tánh của nó là sự sáng tỏ, cách thế khởi hiện của
nó là không ngừng, mọi sự (mọi công đức, đức hạnh)
là hiện tiền và không biến đổi khỏi bản tánh của cái
giác. Những cái ấy là những phương diện của năm thân,
chúng hiện có mặt (trong chúng ta) ngay giờ đây. Thế nên
người ta phải tin rằng năm thân là tự nhiên hiện diện
(trong bản thân mình) mà không cần tìm kiếm chúng từ bất
cứ nguồn nào khác. Đó là thấu hiểu rằng sự hợp nhất
của tánh giác nội tại và tánh Không là năm thân.
Sự
Phô Diễn của những Trí huệ Bổn Nguyên từ những Thân (Phật)
Trí
huệ bổn nguyên của Pháp thân là sự siêu vượt khỏi ngôn
ngữ, ý niệm và diễn tả. Trí huệ bổn nguyên của Báo thân
có năm tính chất. Trí huệ bổn nguyên của Hóa thân là sự
hiểu biết chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối. Những
nhiễm ô dù có được tịnh hóa hay không, những trí huệ
bổn nguyên này tự nhiên hiện tiền hoàn toàn trong cõi giới
tối hậu. Thế nên chúng có mặt trong sự tỉnh giác ngay vào
lúc này. Tánh Không-Giác và trí huệ phân biệt vốn có sẵn,
năm độc và sự tự-giải thoát không có dấu vết, là những
tinh túy và phẩm tính hay những hiện tượng và bản tánh
của những hiện tượng, và chúng hiện hữu trọn vẹn trong
tánh giác như là những phương diện của nó. Đặc biệt khi
một tư tưởng tham muốn chớp nhoáng trong người nào, dù
nó là một nhiễm ô phiền não bình thường, nhưng bằng cách
nhận ra nó và tham thiền về nó, nó sẽ sanh khởi như phúc
lạc không có nắm bắt. Đó là Trí Huệ Bổn Nguyên Phân Biệt
(Diệu Quan Sát Trí). Thù ghét khởi sanh đối với một đối
tượng là giận dữ bình thường. Bằng cách nhận ra nó, nó
khởi sanh như sự sáng tỏ, thoát khỏi những ý niệm. Đó
là Trí Huệ Bổn Nguyên Như Tấm Gương (Đại Viên Cảnh Trí).
Sự khởi lên của cái không biết là vô minh. Bằng cách nhận
biết nó, nó khởi sanh như sự sáng tỏ tự nhiên không có
những ý niệm. Nó là cảnh giới tối hậu của trí huệ bổn
nguyên. Khoa trương, tự phụ mình tốt hơn những người khác
là sự kiêu hãnh bình thường. Bằng cách nhận biết nó, người
ta chứng ngộ bất nhị và bình đẳng. Đó là Trí Huệ Bổn
Nguyên của Bình Đẳng (Bình Đẳng Tánh Trí). Sự khởi sanh
của tư tưởng tranh đua là sự ghen ghét bình thường. Bằng
cách nhận ra nó, nó được rửa sạch vì thoát khỏi thiên
chấp. Đó là Trí Huệ Bổn Nguyên của Thành Tựu (Thành Sở
Tác Trí). Trong tánh giác, mặc dù hậu quả của sự không
nhận biết (chính tánh giác vốn sẵn đủ) khởi sanh như là
năm độc, một khi nó được nhận biết, các độc khởi sanh
như năng lực hay trò chơi của năm trí huệ bổn nguyên. Thế
nên vào khoảnh khắc tối sơ này, nghĩa không chia tách của
những thân (Phật) và những trí huệ bổn nguyên là tự nhiên
hiện diện (trong chính mình). Hãy khai triển xác tín. Chớ
có nghi ngờ hay hy vọng hão huyền. Hãy quyết định và phát
sanh can đảm. Đây là sự đưa vào (Đại Toàn Thiện).
7.
Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, Đại Toàn Thiện
Sanskrit
: Mahasandhicittatasvamukti-nama
Tây
Tạng : rDzogs-Pa Ch’en-Po Sems-Nyid Rang-Grol.
Phần
này là một bản dịch trọn vẹn bản văn Tâm Giải Thoát
Tự Nhiên. Nó là một của Ba Vòng nói về Giải Thoát Tự
Nhiên trong Dzogpa Chenpo của Longchen Rabjam. Nó gồm ba chương.
Chương thứ nhất là về những cái thấy, những tri kiến
về “nền tảng”, chương hai về con đường thiền định,
và chương ba về sự hoàn thiện quả. Trong phần này chúng
tôi cố gắng giữ gìn chuỗi thứ tự những dòng kệ Tây
Tạng trong bản dịch, nhưng có một số chỗ không thể tránh
khỏi phải xáo trộn chữ từ dòng này sang dòng khác.
Kính
lễ Phổ Hiền (Kuntu Zangpo)(1) Vinh Quang
Từ
tinh túy(2) rốt ráo thanh tịnh siêu việt khỏi tư tưởng về
đối tượng
Khởi
lên như vầng sáng tĩnh lặng(3) tinh túy của bản tánh(4) tự
nhiên thành tựu
Thanh
tịnh khỏi những tính cách khác nhau của nhị nguyên người
nắm bắt và cái được nắm bắt,(5)
Tâm,(6)
thoát khỏi những phân biệt về phương diện và thiên chấp
: con tôn kính quy mệnh.
Những
hiện hữu hiện tượng là vô sanh, tự tánh bình đẳng ;
Trong
đó thuần chỉ những hình tướng vốn tự giải thoát và
tâm(7) thuần không có chút nắm bắt ;
Về
vương quyền kỳ diệu này, Tâm Tự Nhiên Giải Thoát.
Hãy
nghe khi tôi nói cho các bạn cái tôi đã chứng ngộ.
“SỰ
GIẢI THOÁT BẰNG CÁCH CHỨNG NGỘ NỀN TẢNG,”
chương
một của
TÂM
GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN
Cái
thấy rốt ráo thanh tịnh không có những cực biên hay trung
tâm.
Nó
không thể được chỉ ra bằng cách nói “Nó là cái này”,
trong nó cũng không có bất kỳ phân biệt cao thấp
hay
rộng hẹp nào,
Nó
siêu vượt khỏi thường và đoạn, thoát khỏi những nhiễm
ô của bốn khẳng định cực đoan.(8)
Tìm,
sẽ không bao giờ tìm ra ; quan sát, nó không thể thấy.
Nó
xa lìa phương hướng và thiên vị, siêu thoát khỏi mọi đối
tượng của ý niệm.
Nó
không có lập trường quan điểm, không phải không mà cũng
chẳng không không.
Không
có chứng ngộ và không chứng ngộ, không tính đếm, không
mục tiêu đối tượng.
Tất
cả mọi hiện tượng vốn thanh tịnh và giác ngộ một cách
bổn nguyên,
Thế
nên nó không sanh không diệt, không quan niệm và diễn tả.
Trong
cõi giới(9) tối hậu, thanh tịnh và bất tịnh vốn là tự
nhiên thanh tịnh và
Những
hiện tượng là đại toàn thiện bình đẳng, lìa ý niệm
vọng tưởng.
Vì
không có trói buộc và giải thoát, trong đó không có đi, có
đến, có ở.
Hình
tướng và tánh Không là những quy ước đặt bày, người
nắm bắt và cái được nắm bắt là huyễn hóa.
Hạnh
phúc và khổ đau của sanh tử và niết bàn như những giấc
mộng tốt và xấu.
Từ
khoảnh khắc ban đầu xuất hiện, bản tánh của nó thoát
khỏi mọi tạo tác.
Từ
đó và trong nó, nhân quả duyên sanh của khởi diệt vĩ đại
Xuất
hiện như một giấc mộng, như huyễn hóa, một ảo ảnh thị
giác, một thành Càn Thát Bà,
Một
tiếng vang, một phản chiếu, không có thực tại nào.
Mọi
biến cố như sanh, trụ, diệt, trong thực tánh của chúng là
vô sanh.
Thế
nên chúng sẽ không bao giờ diệt cũng không chịu đựng đổi
thay nào trong ba thời.
Chúng
không đến từ đâu cũng không đi về đâu.
Chúng
không trụ ở đâu : chúng như mộng như huyễn.
Một
người ngu mê bị bám chấp vào hiện tượng cho là có thực,
Và
nắm bắt chúng như những hiện tượng vật chất thô nặng,
“tôi” và “bản ngã tôi”, trong khi
Chúng
như một cô gái huyễn biến mất khi chạm đến.
Chúng
không thật bởi vì chúng lừa dối và chỉ tác động như
hình tướng xuất hiện.
Sáu
cõi chúng sanh và những Tịnh Độ của chư Phật cũng
Không
phải là những tập hợp của nguyên tử, mà chỉ là những
tự-xuất hiện của những tâm chúng sanh.
Ví
dụ, trong một giấc mộng chư Phật và những chúng sanh
Xuất
hiện như là thật, với những đặc tính không thể nghĩ bàn.
Tuy
nhiên, khi người ta thức dậy, chúng chỉ là một đối tượng
thoáng chốc của tâm.
Mọi
hiện tượng của sanh tử và niết bàn phải được thấu
hiểu theo cùng cách ấy.
Không
có tánh Không tách lìa với những hiện tượng
bề
ngoài nào.
Cũng
như lửa và sức nóng, những phẩm tính của lửa.
Quan
niệm về sự tách biệt của chúng chỉ là một phân chia bởi
vọng tâm.
Nước
và phản chiếu của mặt trăng trong nước là một,
bất
khả phân trong ao.
Cũng
thế, những hình tướng(10) và tánh Không(11) là một trong
Pháp tánh(12) vĩ đại.
Những
hình tướng ấy là không sanh từ vô thủy, và chúng là Pháp
thân.
Chúng
giống như những phản chiếu, vốn tự nhiên không nhiễm ô
và thanh tịnh.
Sự
tạo tác của tâm ra hiện hữu và không hiện hữu của chúng
là một ảo tưởng,
Thế
nên chớ ý niệm hóa bất kỳ hình tướng nào sanh khởi ;
Những
đối tượng xuất hiện ấy cũng là những phản chiếu của
tâm.
Chúng
như một khuôn mặt và hình phản chiếu của nó trong một
tấm gương.
Trong
khi vốn không làm gì có nhị nguyên, tri giác nhị nguyên là
Đặc
tính tự nhiên của những kinh nghiệm của thói quen(13) từ
vô thủy.
Tâm
và những giấc mộng không tách lìa nhau,
Hơn
nữa nó giống như sự xuất hiện của những giấc mộng với
một người bị nhiễm độc bởi giấc ngủ.
Người
ta phải biết rằng, không làm gì có một phân biệt căn bản
giữa (chủ thể và đối tượng).
Chẳng
hạn, giống như một đứa bé nhìn một tấm gương,
Người
không biết thì lấy hay bỏ những đối tượng bên ngoài.
Khi
một người mẹ thấy tấm gương, bà lau sạch nó ; tương
tự
Thừa
Nhân và Quả(14) biến đổi những đối tượng bên ngoài.
Một
phu nhân, thấy nó, lau sạch mặt mình ; cũng thế
Người
biết tánh Như(15) nhìn vào Tự Tâm.
Đây
là Thừa Cốt Yếu, không hình tướng.
Trong
tâm vốn vô tự tánh, những sự vật khác nhau
Khởi
lên do những duyên như những phản chiếu
Xuất
hiện trong một tấm gương hay trong đại dương.
Tinh
túy tánh Không, bản tánh bất đoạn, và
Tính
cách xuất hiện đa thù, trò phô diễn huyễn thuật, là
Sự
phóng chiếu phân hai của sanh tử và niết bàn trong Nhất Tâm.
Nó
giống như màu của một pha lê bị biến đổi bởi áo đen
hay trắng.
Tinh
túy thì không biến đổi, nhưng do những tri giác làm duyên
như căn cứ của sự sanh khởi,
Những
tri giác khác nhau có vẻ như thay đổi vào lúc chúng xuất
hiện ;
Nhưng
thực tế nó không thay đổi như sự thanh tịnh của pha lê.
Tâm
vốn nguyên trống không, không có gốc rễ,
Nó
không nhiễm ô bởi những hình tướng xuất hiện của sanh
tử và niết bàn.
Suốt
khắp ba thời từ vô thủy, trạng thái Phổ Hiền,
Tinh
túy của sự toàn thiện bất biến tự nền tảng
Thì
không bị nhiễm ô bởi những hình tướng của sáu đối tượng,(16)
như trăng trong nước.
Với
những hình tướng không hiện hữu của sanh tử niết bàn
như một trò huyễn thuật,
Chớ
nỗ lực phân biệt lấy bỏ, phủ nhận và bảo vệ, hay hy
vọng và e sợ.
Đạt
giải thoát bằng cách biết bản tánh của trò phô diễn huyễn
thuật :
Đó
như là, thấy đạo quân của huyễn hóa thì người ta bị
bắt vào, nhưng
Do
biết thực tại, không có gì sợ hãi. Cũng thế
Không
cần thiết phải nhất thiết từ chối những hình tướng
đối tượng.
Bản
tánh của sanh tử là tinh túy của tâm,
Nó
vốn nguyên là không sanh và giác ngộ,
Thế
nên bằng cách thấy Tâm, sự chứng ngộ bản tánh của toàn
bộ đời sống đạt được.
Bấy
giờ không có Thái Bình nào khác để thành tựu.
Đó
như sợ hãi những lực lượng của chính mình lầm cho là
của những ai khác,
Rồi
sau, nhận biết chúng, người ta cất khỏi gánh nặng.
Giờ
đây do sự ban phước của Đạo Sư vinh quang,
Những
tư tưởng thế gian được chứ