THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 
Mật TôngTây Tạng
 

 
MỤC LỤC.
.
PHẬT TÂM
Một Hợp Tuyển Những Tác Phẩm của Longchen Rabjam về Đại Toàn
Nguyên tác: BUDDHA MIND
An Anthology of Longchen Rabjam’s Writings on Dzogpa Chenpo
Tulku Thondup Rinpoche – Snow Lion, 1989
Việt Dịch: Đương Đạo - Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2000
PHẦN II
MỘT HỢP TUYỂN NHỮNG TÁC PHẨM 
CỦA LONGCHEN RABJAM 
VỀ 
ĐẠI TOÀN THIỆN

Tóm lược các mục

CÁI THẤY (NỀN TẢNG)

1. SANH TỬ VÀ NIẾT BÀN PHÁT SANH TỪ “NỀN TẢNG” NHƯ “NHỮNG HÌNH TƯỚNG XUẤT HIỆN CỦA NỀN TẢNG”

Chương thứ nhất nói về sự sanh khởi của “những hình tướng xuất hiện của nền tảng”, sanh tử và niết bàn, từ “nền tảng” (gZhi). Cái thấy, tri kiến triết học này là độc nhất của Đại Toàn Thiện. Chương này gồm những trích đoạn từ bốn chương đầu của Tshigdon Dzod, căn cứ trên những tantra Đại Toàn Thiện gồm Thal-Gyur, Klong-Drug-Pa, Rig-Pa Rang-Shar, Mutig Phreng-Ba, Seng-Ge rTsal-rDrogs và rDorje sNying-Gi Me-Long.

“Nền tảng” là cái thấy thanh tịnh bổn nguyên, tự do khỏi mọi diễn tả và ý niệm. Nó có tánh chất ba mặt : tinh túy thanh tịnh bổn nguyên (Ngo-Bo), bản tánh thành tựu tự nhiên (Rang-bZhin) và lòng bi toàn khắp (năng lực) (Thugs-rJe). Lòng bi, “những hình tướng xuất hiện tự nhiên của nền tảng”, khởi sanh từ “nền tảng” với “tám cách thế sanh khởi của những thành tựu tự nhiên.” Nếu khi chúng sanh khởi, người ta lại không thấu biết chúng là những tự-xuất hiện, nghĩa là, “nền tảng” và “những xuất hiện của nền tảng”, mà thấy chúng là khác với những tự-xuất hiện, thì người ta thành ra phối hợp với ba cái không giác ngộ, ba cái vô minh (Ma-Rig-Pa). Người ta sẽ bị phóng dật vào những phân biệt giữa sanh tử niết bàn và sẽ bị gom nhốt vào hai cái đó. “Tám cách thế sanh khởi của những thành tựu tự nhiên” của “những xuất hiện của nền tảng” khởi lên từ “nền tảng”. Nếu, khi chúng khởi lên, người ta thấu biết, chứng ngộ chúng là tự-xuất hiện, thì không có phóng dật nào xảy ra, và những hình tướng xuất hiện sẽ hòa tan vào cái thanh tịnh bổn nguyên. Đó là sự chứng đắc Phật tánh bổn nguyên. “Những xuất hiện của nền tảng” chính là cái nền tảng của giải thoát nếu người ta thấu biết chúng là những tự-xuất hiện. Chúng là nền tảng của mê lầm nếu người ta tri giác chúng như là cái gì khác với những tự-xuất hiện.

“Nền tảng” trong Đại Toàn Thiện hoàn toàn khác với “nền tảng phổ quát” (Kun-gZhi) (để chỉ thức phổ quát a lại da) của học phái Duy Thức. “Nền tảng phổ quát” là nền tảng cho những phân biệt giữa sanh tử và niết bàn. “Nền tảng” ở đây có ba phương diện : tinh túy, bản tánh và lòng bi, chúng là những Trí Huệ Bổn Nguyên của Thân Tối Hậu (Pháp thân). Nó là Tánh Giác Bổn Nhiên (Rig-Pa) như hư không, không có ô nhiễm bởi những hiện tượng sanh tử.

Cũng rất quyết định phải biết những khác biệt giữa tâm (Sems) và Trí Huệ Bổn Nguyên (Ye-shes). Tâm là một hiện tượng thuộc sanh tử có những dơ nhiễm của nghiệp và những dấu vết của nó. Những đối tượng của tâm là những hình tướng xuất hiện huyễn hóa của sanh tử, những đối tượng có sáu tính chất. Khi bản tánh chân thật của tâm, Tánh Giác Bổn Nhiên, tự do đối với tâm, đó là sự chứng đắc giác ngộ. Trí Huệ Bổn Nguyên là những đức hạnh của niết bàn ; nó thoát khỏi nghiệp, những dấu vết và những ý niệm của sanh tử. Đối tượng của Trí Huệ Bổn Nguyên là Bản Tánh Tối Hậu như hư không và những cõi Phật Sáng Rỡ của những thân Phật và những Trí Huệ Bổn Nguyên. Để chứng đắc giải thoát, “những hiện tượng xuất hiện của nền tảng” chính là nền tảng của giải thoát ; và “nền tảng” là mục tiêu trong đó người ta đạt được giải thoát.

2. NGHIỆP CỦA NHỮNG HÀNH VI SANH TỬ, NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ LUÂN LẠC CỦA CHÚNG SANH TRONG SANH TỬ HUYỄN ẢO

Chương hai nói về nghiệp của những hành vi sanh tử. Chương này là một bản dịch rút ngắn phần đầu của chương thứ tư của Shingta Chenpo, nó dựa vào những kinh và bản văn Đại thừa gồm Karmasataka, Mahayanaratnakuta-sutra, Suvarnaprabha-sottama-sutra, Avatamsaka-sutra (kinh Hoa Nghiêm), Uttara-tantra-sastra, Ratnavali, Madhyamikavatara, Abhidharma-kosa và Abhisamayalamkara.

Trong cái thấy, kiến giải về nghiệp – những đường lối lưu lạc trong sanh tử sau khi mê lầm – Đại Toàn Thiện và các truyền thống kinh điển Đại thừa khác là đồng nhất. Người thường, sau khi mê lầm lạc vào sanh tử vì sự bất giác của họ, bắt đầu bám chấp vào cái ngã của họ, bao bọc trong bóng tối của vô minh và thấm đẫm trong những phiền não độc hại. Một kết quả là họ bị trói buộc vào sự hành hạ của sanh tử bởi chuỗi xích nhân quả nghiệp báo.

Người Phật giáo tin rằng chừng nào người ta chưa giác ngộ hoặc giải thoát, người ta sẽ lang thang không dứt trong thế giới do những nhân quả tương thuộc của những hành vi của chính họ và của những dấu vết do những hành vi ấy tạo ra, mà nguồn gốc của cái này là những nắm bắt của tâm thức và sự bất giác. Mười hành vi tốt và mười hành vi xấu của thân, ngữ, tâm với những dấu vết của chúng tạo ra những tái sanh sướng khổ trong các chốn lưu đày khác nhau. Tác động toàn bộ hệ thống của nhân và quả gọi là nghiệp. Chương này cũng minh họa sự tạo nhân của những hiện tượng bên ngoài và những hiện tượng bên trong như là vòng xích mười hai nhân duyên.

3. NGHIỆP CỦA NHỮNG ĐỨC HẠNH GIẢI THOÁT, 
NHỮNG PHƯƠNG TIỆN ĐỂ GIẢI THOÁT KHỎI SANH TỬ

Chương ba là về nghiệp của những hành vi giải thoát. Nó là một dịch thuật rút gọn của phần chót chương thứ tư của Shingta Chenpo, chủ yếu căn cứ vào các kinh Đại thừa về “lần chuyển Bánh Xe Pháp thứ hai” và những bình giảng của chúng.

Chúng sanh vốn có tinh túy Phật (S. tathagatagarbha, Như Lai tạng), chân lý tuyệt đối, dù cho Phật tánh ấy bị che chướng bởi nghiệp và những dấu vết của nó tạo ra bởi sự nắm bắt của họ vào một cái ngã, đến độ tâm bất giác và những phiền não bao phủ Phật tánh như những mây che khuất mặt trời. Chúng sanh có tiềm năng để thành Phật, nếu mỗi người đi theo con đường của sự chứng ngộ và hoàn thiện tinh túy Phật. Để xua tan những chướng ngại và đạt giải thoát, người ta phải tu hành hai loại tích tập công đức và trí huệ. Bằng cách hoàn thiện những tích tập hai phần này, người ta tịnh hóa nghiệp tiêu cực và những dấu vết của nó cùng với cái tâm không giác ngộ. Nhờ đó người ta chứng ngộ tinh túy Phật, Phật tánh, và bằng cách hoàn thiện sự chứng ngộ bằng thiền định về nó người ta đạt đến Phật quả. Kiến giải này là chung cho truyền thống Đại Toàn Thiện và nhiều truyền thống kinh Đại thừa và tantra Mật thừa khác.

Quan trọng cần ghi nhận ở đây, như tôi đã giải thích trong phần dẫn nhập, là Đại Toàn Thiện xác nhận rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, như kinh điển của “Lần Chuyển Bánh Xe Pháp thứ hai” và những người theo nó, trong đó có học phái Duy Thức, chủ trương và như những tantra cũng dạy như vậy. Nhưng thay vì thấy Phật tánh như là “hoàn toàn được thiết lập” như Duy Thức đã làm, thì Đại Toàn Thiện thấy Phật tánh là tự do, giải thoát khỏi mọi đối cực của những tạo tác, diễn tả, chỉ định và ý niệm như Prasangika Madhyamika (Hệ Quả Trung Đạo) đã làm. Longchen Rabjam kết luận rằng trong sự thấu hiểu sự tự do thoát khỏi những cực biên, Đại Toàn Thiện tương tự những cái thấy của Prasangika Madhyamika.

4. CÁI THẤY TRIẾT HỌC VỀ NHỮNG HIỆN HỮU HIỆN TƯỢNG

Chương bốn nói về những cái thấy triết học về sự chứng ngộ cái “nền tảng” Trí Huệ Bổn Nguyên không trụ trong hai cực biên, thường và đoạn, có và không. Chương này là một bản dịch rút ngắn chương thứ mười của Shingta Chenpo, đặt nền trên những kinh Đại thừa, những tanra, những tantra Đại Toàn Thiện và những bình giảng của chúng.

Chương này giải thích tinh túy của những hiện hữu hiện tượng, tinh túy đó là vô sanh (tánh không) ; cái thấy của sự chứng ngộ ; tâm không giác ngộ cần được tịnh hóa ; và Trí Huệ Tánh Giác, bản tánh chân thật của tâm thoát khỏi những cực biên, nó tịnh hóa những che ám. Nó nhấn mạnh rằng qua ngôn từ cái hiểu lý thuyết hay trí thức người ta sẽ không chứng ngộ tinh túy cũng không hoàn thiện sự chứng ngộ cái “nền tảng” được. Chương này đặt nền cho những cái thấy, tri kiến chung của Đại Toàn Thiện và những truyền thống kinh Đại thừa và tantra khác.

THIỀN ĐỊNH (CON ĐƯỜNG)

5. THIỀN ĐỊNH VỀ Ý NGHĨA CỦA CÁI THẤY

Chương thứ năm nói về thiền định về cái thấy. Nó là một bản dịch rút gọn phần đầu của chương thứ mười một của Shingta Chenpo, căn cứ trên những kinh Đại thừa, những tantra, những tantra Đại Toàn Thiện và những bình giảng của chúng.

Sau khi xác định cái thấy hay tri kiến, người ta cần thiền định về nó để đạt chứng ngộ về nghĩa của nó. Chương này tóm lược những cấp độ khác nhau của thiền định cho những thiền giả trí năng cấp cao, cấp trung và cấp thấp. Những thiền giả trí năng cao đạt giải thoát nơi sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên của tâm, trạng thái tối hậu. Những thiền giả trí năng trung bình tu hành và chứng ngộ trí huệ bẩm sinh nhờ năm phương diện của thiền định và tám cách tham thiền. Những thiền giả trí năng kém tu hành và đạt được những đức hạnh của các hình thức nhập định khác nhau qua những thiền định trong an định (chỉ), quán chiếu (quán) và sự hợp nhất của chúng. Những thiền định này trực tiếp hay gián tiếp đưa vào, dẫn đến hay đặt nền cho những thiền định và chứng ngộ của tantra và Đại Toàn Thiện.

6. HAI MƯƠI BẢY BÀI GIẢNG VỀ TU HÀNH ĐẠI TOÀN THIỆN

Chương sáu là về thiền định Đại Toàn Thiện. Nó là một bản dịch rút ngắn của Changchub Lamzang. Nó là một giáo huấn về sự tu hành thiền định Đại Toàn Thiện được ban cho trong cuốn Semnyid Ngalso, Thư Giãn trong Trạng Thái Tự Nhiên của Tâm, sắp xếp thành những thời kỳ thiền định. Nó gồm hai mươi bảy bài tu hành : bốn bài xác định cái thấy, hai mươi bài thiền định về duy trì sự chứng ngộ về cái thấy, và ba bài về sự chứng đắc xác tín vào quả của thiền định. Giáo huấn nói rằng những thiền giả đã sẵn sàng cho sự tu hành này cần thiền định về mỗi bài trong năm ngày, ba ngày hay ít nhất là một ngày.

7. TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN

Chương bảy là bản dịch trọn vẹn của Tâm Giải Thoát Tự Nhiên. Bản văn này khó hiểu ở nhiều chỗ, và không có bình giảng để làm rõ nó. Nó làm sáng tỏ tri kiến sự Phân Chia của Tâm (Sems-sDe) của những giáo lý Đại Toàn Thiện, cái thấy rằng mọi hiện hữu hiện tượng không là gì cả ngoài chỉ là Tâm, Tâm này thoát khỏi tất cả nhiễm ô và tạo tác. Bản văn gồm ba chương tổng cộng bảy trăm bốn mươi ba dòng kệ. Nó cung cấp những giáo huấn về cái thấy, thiền định và quả của tâm giải thoát và giác ngộ tự nhiên, tâm ấy là vô sanh và thoát khỏi mọi ý niệm, tri giác và nắm hiểu. Chương đầu là về sự chứng đắc tự-giải thoát bằng cách chứng ngộ cái thấy về “nền tảng”. Chương hai về chứng đắc tự-giải thoát qua những kinh nghiệm của con đường thiền định. Chương ba là về sự chứng đắc tự-giải thoát bằng cách hoàn thành quả thành tựu tự nhiên vĩ đại của Đại Toàn Thiện.

8. NHỮNG GIÁO HUẤN THIỀN ĐỊNH VỀ TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN

Chương tám là bản dịch trọn vẹn Lamrim Nyingpo’i Donthrid, Giáo Huấn Nghĩa về Tinh Túy của những Giai Đoạn của Con Đường. Nó trình bày những đường lối tu hành về những giáo lý thiết yếu trong Tâm Giải Thoát Tự Nhiên. Nó chia sự tu hành thành ba phạm trù. Thứ nhất là những giáo huấn cho những thiền giả trí năng cao về sự chứng đắc tự-giải thoát trong đời này. Nó bao gồm những sơ bộ, sự đưa vào thực sự và thiền định, và sự chuyển những hoạt động khác nhau của những thời kỳ xuất định vào tu hành hay hỗ trợ cho tu hành. Thứ hai là những giáo huấn cho những thiền giả trí năng trung bình về sự chứng đắc tự-giải thoát bằng tham thiền về các định quang minh, nền tảng cho sự sanh khởi của trạng thái Trung Ấm (Bardo). Thứ ba là những giáo huấn cho những thiền giả trí năng kém để phát sanh những tri giác đức hạnh và những thiền định trong trạng thái Trung Ấm để đạt tự giải thoát hay ít nhất có một tái sanh tốt hơn. Kết quả rốt ráo của những tu hành này là chứng đắc Phật quả với ba thân Phật và năm Trí Huệ Bổn Nguyên.

9. SỰ TU HÀNH VÀ NHỮNG CHỨNG ĐẮC NĂM CON ĐƯỜNG 
ĐẠI THỪA

Chương chín nói về những giai đoạn của năm con đường dạy trong kinh. Nó là một bản dịch rút ngắn phần cuối của chương thứ mười một của Shingta Chenpo, căn cứ vào các kinh Đại thừa, những bản văn và những bình giảng.

Nó giải thích những tu hành và những hoàn thiện của “ba mươi bảy phương diện của giác ngộ” trong những giai đoạn của bốn con đường đầu tiên – những con đường của sự tích tập, áp dụng, thấy và thiền định – và như là kết quả, sự chứng đắc con đường “không tu hành nữa”, nó là quả vị Phật. Quan trọng cần ghi nhận rằng không có những khác biệt lớn lao giữa những phương pháp tu hành được dùng trong những giai đoạn của những con đường của kinh, tantra và Đại Toàn Thiện. Tất cả chúng đều tu hành và hoàn thiện “ba mươi bảy phương diện của giác ngộ” trong những giai đoạn của “năm con đường”. Bởi thế, để hiểu con đường tu hành Đại Toàn Thiện, quan trọng là nghiên cứu những phương diện, giai đoạn và những con đường trong chương này và trong các kinh điển chung khác.

10. SỰ TU HÀNH VÀ CHỨNG ĐẮC NHỮNG CON ĐƯỜNG VÀ NHỮNG GIAI ĐOẠN CỦA TANTRA

Chương mười là về những giai đoạn của con đường tu hành tantra. Nó là một bản dịch rút ngắn chương thứ hai mươi mốt của Pema Karpo, trình bày một nghiên cứu so sánh những con đường kinh và tantra dựa trên những bản văn kinh và tantra.

Bằng cách hoàn thiện tâm (sems) và những năng lực (rlung) trong bốn bánh xe của những kinh mạch (luân xa), người ta hoàn thiện “ba mươi bảy phương tiện của giác ngộ” trong bốn cấp độ đầu tiên của con đường và đánh thức những đức hạnh của mười địa. Như là kết quả rốt ráo, người ta đạt đến con đường “không tu hành nữa”, tức quả vị Phật, và đã làm bình lặng tâm và những biến cố tâm thức vào trong cõi giới tối hậu, người ta tồn tại với những thân Phật và những Trí Huệ Bổn Nguyên.

11. SỰ CHỨNG ĐẮC NHỮNG CON ĐƯỜNG, NHỮNG GIAI ĐOẠN VÀ NHỮNG THỊ KIẾN CỦA ĐẠI TOÀN THIỆN

Chương mười một nói về những chứng đắc những con đường của Đại Toàn Thiện. Phần này là những trích đoạn từ Choying Dzod, Namkha Longchen, Namkha Longsal của các cuốn Lama Yangtig, Sem-nyid Rangtrol và Tshigdon Dzog. Chúng giải nghĩa sự chứng đắc Tâm Giác Ngộ và “bốn thị kiến”, những chứng đắc của tu hành Thodgal và Thregchod của Đại Toàn Thiện. Do tu hành và hoàn thiện “tâm giác ngộ” và “bốn thị kiến” của Đại Toàn Thiện, người ta hoàn thành những con đường và giai đoạn với “ba mươi bảy phương diện của giác ngộ”. Tâm và những biến cố tâm thức tan biến vào cõi giới tối hậu và từ cõi giới của Thân Tối Hậu khởi lên những Sắc thân Phật với tất cả những đức hạnh Phật khác. Chúng phụng sự những nhu cầu của chúng sanh, đảm nhận sự xuất hiện thành nhiều biểu lộ khác nhau với trí huệ bổn nguyên của Hiểu Biết hai phần (mKhyen-gNgis) (hiểu biết chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối).

Chương này rất ngắn. Tôi không đưa thêm bản văn nào của Longchen Rabjam cho thêm những giải thích chi tiết về “bốn thị kiến”. 
Mục tiêu chính của chương này chỉ là bày tỏ những nguyên lý của con đường tu hành chung cho những tantra Đại Toàn Thiện và những kinh chung và những tantra khác. Trình bày đầy đủ chi tiết của giáo lý như vậy chỉ thích hợp cho những người đã chín, đã trưởng thành do những tu hành chung.

QUẢ

12. CHỨNG ĐẮC QUẢ, NHỮNG THÂN PHẬT VÀ NHỮNG TRÍ HUỆ BỔN NGUYÊN CỦA PHẬT QUẢ TRONG NHỮNG KINH ĐẠI THỪA VÀ NHỮNG TANTRA

Chương thứ mười hai nói về quả của con đường tu hành. Nó là một bản dịch rút ngắn của chương hai mươi hai cuốn Pema Karpo.

Khi người ta hoàn thành địa thứ mười và con đường thứ tư, người ta đạt được quả, con đường thứ năm, nó là quả vị Phật. Phật quả gồm những thân Phật như là nền tảng và những Trí Huệ Bổn Nguyên như là tinh túy.

Chương này căn cứ vào Manjusrinamasamgiti-tantra và Guhyagarbhamayajala-tantra, xếp những thân Phật thành năm phương diện. Chúng là ba thân Phật : Thân Tối Hậu (Pháp thân), Báo thân và Hóa thân. Thêm vào ba thân này, Thân Đại Lạc và Thân Kim Cương Bất Biến tạo thành năm thân Phật. Trong nhiều kinh điển, như Suvarnaprabhasottama-sutra, những thân Phật được xếp thành ba thân. Mahaya-nottaratantra-sastra và Mahayana-sutralamkara v.v.... xếp chúng thành bốn thân Phật – ba thân Phật Pháp, Báo, Hóa và Thân Tinh Túy. Dvikalpa-hevajra-tantra v.v.... xếp thành bốn thân ; ba thân Phật và Thân Đại Lạc. Những cách xếp loại này được làm căn cứ trên những đức hạnh khác biệt của những thân Phật, nhưng tất cả chúng là một trong tinh túy và như nhau trong Phật quả. Trong Shingta Chenpo có nói :

Những hệ thống khác nhau phân chia các thân Phật chỉ là những cách phân chia và cô đọng những loại và đức hạnh của thân Phật. Trong thực nghĩa, chúng không sai khác, vì chúng chỉ là những cách khác nhau để xếp loại cái Pháp của địa vị Phật. Tinh túy của chúng là một.

Trí Huệ Bổn Nguyên, tinh túy của những thân Phật, có năm phân chia. Đó là Trí Huệ Bổn Nguyên của Cõi Giới Tối Hậu, Trí Huệ Bổn Nguyên như Tấm Gương (Đại Viên Cảnh Trí), Trí Huệ Bổn Nguyên của Bình Đẳng (Bình Đẳng Tánh Trí), Trí Huệ Bổn Nguyên Phân Biệt (Diệu Quan Sát Trí) và Trí Huệ Bổn Nguyên của Thành Tựu (Thành Sở Tác Trí). Chương này kết thúc với sự diễn tả những hành động Phật, chúng đáp ứng những nhu cầu của chúng sanh một cách tự nhiên.

13. NHỮNG THÂN PHẬT VÀ NHỮNG TRÍ HUỆ BỔN NGUYÊN TRONG ĐẠI TOÀN THIỆN

Chương mười ba là về quả của con đường tu hành. Nó là một bản dịch rút ngắn chương thứ mười một của Tshigdon Dzod. Chương này đặt nền trên Thal-Gyur và Rang-Shar, hai tantra cổ. Nó cũng gồm những trích dẫn từ những kinh điển khác gồm Avatamsaka-sutra, Mahayana-sutralamkara, Abhisamayalamkara, Mahayanottaratantra và Madhyamakavatara.

Nó diễn tả sự chứng đắc những thân Phật và những Trí Huệ Bổn Nguyên, những quả của con đường tu hành. Thân Phật gồm ba phương diện : Thân Tối Hậu hay Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. Thân Tối Hậu phú bẩm với ba Trí Huệ Bổn Nguyên, gọi là “những Trí Huệ Bổn Nguyên ở tại nền tảng”. Chúng là những Trí Huệ Bổn Nguyên của tinh túy bổn lai thanh tịnh, bản tánh tự nhiên thành tựu và lòng bi toàn khắp. Sự xếp loại Trí Huệ Bổn Nguyên của Thân Tối Hậu căn cứ riêng trên những tantra Đại Toàn Thiện. Báo thân phú bẩm với năm Trí Huệ Bổn Nguyên, gọi là “những Trí Huệ Bổn Nguyên với những Đặc Tính”. Chúng là Trí Huệ Bổn Nguyên của Cõi Giới Tối Hậu, Trí Huệ Bổn Nguyên như Tấm Gương, Trí Huệ Bổn Nguyên của Bình Đẳng, Trí Huệ Bổn Nguyên Phân Biệt và Trí Huệ Bổn Nguyên của Thành Tựu. Hóa thân phú bẩm với hai Trí Huệ Bổn Nguyên, gọi là “Trí Huệ Bổn Nguyên Toàn Khắp”. Chúng là những Trí Huệ Bổn Nguyên của hai loại Hiểu Biết, Hiểu Biết về tánh Như và Hiểu Biết về những “sai khác”.

Truyền thống Đại Toàn Thiện đồng ý với những kinh Đại thừa và những tantra trong những giải thích của chúng về cái thấy, thiền định, và quả tổng quát về chân lý tương đối và sự trình bày của chúng về nghĩa tổng quát của chân lý tuyệt đối. Nhưng về nghĩa rốt ráo nhất của tinh túy bên trong nhất của Chân Lý Tuyệt Đối, Đại Toàn Thiện có một giải thích độc nhất về cái thấy, thiền định và quả. Căn bản, ba phương diện độc nhất của Đại Toàn Thiện là :

Cái Thấy : (tri kiến) : “Nền tảng” là cái thanh tịnh tuyệt đối và “những hình tướng xuất hiện của nền tảng” là cội nguồn và đường lối sanh khởi của những mê lầm như là sanh tử và niết bàn.

Thiền Định : Tinh túy bên trong nhất của đường lối tu hành là người ta phân biệt Tánh Giác Bổn Nhiên (Rig-Pa), Phật tánh, khỏi tâm thức, và an trụ trong tánh giác đó mà không có những nhiễm ô và dao động ; và người ta thành tựu những xuất hiện như là thần lực, trò chơi và thị kiến của Tánh Giác Bổn Nhiên.

Quả : Sự chứng đắc Thân Tối Hậu, tức là sự hợp nhất của tinh túy thanh tịnh bổn nguyên (tánh không), bản tánh tự nhiên thành tựu (tánh sáng tỏ), và lòng bi toàn khắp (thần lực).

CÁI THẤY 
(NỀN TẢNG)


1. Sanh tử và Niết bàn phát sanh từ “Nền tảng” như “những Hình tướng Xuất hiện của Nền tảng” như thế nào theo những giáo lý Đại Toàn Thiện thậm thâm

Trong Thegchog Dzod, Tshigdon Dzod và những tác phẩm khác, Longchen Rabjam cho những giải thích về cái “nền tảng”, cái thanh tịnh bổn nguyên và sự khởi lên của “những hình tướng xuất hiện của cái nền tảng” và những mê lầm qua chuỗi mười hai nhân duyên theo những giáo lý Mật truyền Sâu Thẳm nhất của Đại Toàn Thiện. Ngài giải thích sự phân biệt giữa cái “nền tảng phổ quát” (a lại da) bốn phần và Pháp thân (thân tối hậu) và giữa “tâm” và “trí huệ bổn nguyên (Jnana). Phần sau là những đoạn dịch rút ngắn những đoạn chọn lọc từ Tshig-Don Rinpoche’i mDzod.

NỀN TẢNG (gZhi) : CÁI TINH TÚY (Ngo-Bo) THANH TỊNH BỔN NGUYÊN (Ka-Dag)

Cái thanh tịnh bổn nguyên của nền tảng nguyên sơ siêu vượt khỏi những cực đoan của hiện hữu (có) và không hiện hữu (không), khỏi mọi ý niệm và diễn tả. Vì tinh túy (Ngo-Bo) của nền tảng là thanh tịnh một cách bổn nguyên, nó siêu việt cực đoan hiện hữu, thường kiến và nó không kiến lập như một hiện tượng sự vật hay có những đặc tính. Vì bản tánh (của nền tảng) là thành tựu tự nhiên, nó siêu việt khỏi cực đoan không hiện hữu, đoạn kiến, và nó hiện diện như là cái thanh tịnh, bản tánh tối hậu của sự sáng tỏ trống không, như là bản tánh của Phật bổn nguyên như trạng thái của thân tối hậu bất biến, như không phải sanh tử hay niết bàn, và như đại trí huệ bổn nguyên tự-khởi lên vốn hiện tiền từ vô thủy như hư không.

Tantra Rang-Shar nói : “Cái thanh tịnh bổn nguyên, cái nền tảng, hiện diện (trong cách thế) tinh túy [thực thể], bản tánh [tính cách] và lòng bi [năng lực]. Tinh túy là sự không dứt của trí huệ bổn nguyên bất biến, và được gọi là bản tánh của “thân thể cái bình trẻ trung”. Bản tánh là những xuất hiện không dứt của năm ánh sáng. Những xuất hiện của lòng bi là (tỏa khắp) như bầu trời không mây. Những cái ấy được gọi là bản tánh của thanh tịnh bổn nguyên vì chúng không rơi vào những cực biên nào của những phương diện hay những thiên chấp.”

NHỮNG XUẤT HIỆN CỦA NỀN TẢNG KHỞI LÊN NHƯ THẾ NÀO

Phá vỡ cái vỏ của “thân thể cái bình trẻ trung”, nền tảng bổn nguyên của cõi giới tối hậu bên trong thanh tịnh nguyên sơ, do dòng chảy của năng lực/khí trí huệ bổn nguyên, những tự-xuất hiện của tánh giác bổn nguyên lóe ra từ nền tảng như là “tám cửa thành tựu tự nhiên.” [1]

Vì mọi sự (niết bàn và sanh tử) thì tự nhiên khởi lên từ những xuất hiện của “tám cửa thành tựu tự nhiên”, nó được gọi là “sự khởi lên đồng thời vĩ đại của những xuất hiện của sanh tử và niết bàn.” Khi những xuất hiện khởi lên tự nhiên từ sự sáng tỏ bên trong như là sự sáng tỏ bên ngoài, những xuất hiện của tinh túy là sự tự-sáng tỏ, nó là không gian của sự không chướng ngại, những xuất hiện của bản tánh là vầng sáng nguyên thủy (hay tự nhiên) như là năm ánh sáng, và những xuất hiện của lòng bi là phương diện không gian cung cấp như bầu trời không mây. (Đây là sự khởi lên của những xuất hiện của nền tảng từ nền tảng.)

Khi (những xuất hiện của nền tảng) khởi lên, những hiện hữu hiện tượng khởi lên như những ánh sáng và những thân (Phật). Đó được gọi là những xuất hiện của mọi sự như là cõi Phật thành tựu tự nhiên. Từ năng lực của tinh túy của cõi ấy khởi lên những xuất hiện của Báo thân, từ năng lực của những phẩm tính của chúng khởi lên những xuất hiện của Tự Tánh Hóa thân (Svabhavanirmanakaya), và từ năng lực lòng bi của chúng khởi lên cửa (những mặt) của sanh tử, như những giấc mộng.

NỀN TẢNG

Nền Tảng Bổn Nguyên : Tinh túy của nó vốn thanh tịnh như một pha lê vô nhiễm. Nó không hiện hữu như sự vật hay tính cách. Bản tánh của nó là tự nhiên thành tựu, và mặc dù trong sự bạch tịnh (của bản tánh như pha lê) tự-ánh sáng hiện diện như là sự sáng tỏ sâu xa (hay bên trong), nó không xuất hiện ra ngoài vì không có những điều kiện. Thế nên nền tảng hiện diện trong cách thế “thân thể cái bình trẻ trung” bởi vì vỏ bao bên ngoài còn chưa vỡ. Tinh túy của nền tảng bổn nguyên là tánh không vì nó vốn hằng hằng thanh tịnh và không có sự vật trong đó. Nhưng tánh giác bổn nguyên, tự ánh sáng vốn thành tựu tự nhiên không chướng ngại. Thế nên nó tự hiện diện như là “nền tảng của sự khởi lên” của mọi xuất hiện hình tướng. Tuy nhiên tinh túy của nó không xuất hiện bên ngoài trong những đặc tính ánh sáng, hình thể hay màu sắc. Trong pháp giới bao la của tinh túy, sự thanh tịnh bổn nguyên, hiện hữu tự-ánh sáng tự nhiên thành tựu của sự sáng tỏ vi tế và sâu xa và trí huệ bổn nhiên. Chúng không phải là một, khác hay phân cách, mà hiện diện như sự sáng tỏ tối thượng, như lõi của thành tựu tự nhiên quý báu, và như bản tánh của tinh túy, bản tánh của lòng bi. Vì tinh túy của nó là tánh không, nó không hiện hữu như sự vật hay tính cách. Vì bản tánh của nó là sáng tỏ, nó không bao giờ từ bỏ tự tánh của những xuất hiện của vầng sáng bổn nguyên. Vì lòng bi của nó là tánh giác bổn nhiên, nó hiện diện như là nền tảng không dứt của sự khởi lên của hiểu biết như là trí huệ bổn nguyên.

Bản tánh của sự thanh tịnh bổn nguyên là tự nhiên thành tựu. Cõi giới tối hậu của nó thoát khỏi thường kiến vì không có sự khẳng định rằng nó là sự sáng tỏ thô bên ngoài đang phóng chiếu. Nó thoát khỏi đoạn kiến vì nó được xác định như là sự sáng tỏ vi tế bên trong. Như thế, trí huệ bổn nguyên tự nhiên khởi lên, thoát khỏi những cực đoan, là không hiện hữu vì nó là tánh không trong tinh túy, và nó là những xuất hiện không ngừng vì nó là sự sáng tỏ trong bản tánh. Đây là nền tảng của mọi hiện khởi vì nó là không dứt trong năng lực lòng bi của nó. Đây là cách thế của thật tánh của nền tảng.

NHỮNG XUẤT HIỆN CỦA NỀN TẢNG KHỞI LÊN NHƯ THẾ NÀO

Trong cõi giới bổn nguyên tối hậu, “thân thể cái bình trẻ trung” hiện diện trong tinh túy của nó như thân Phật, trong bản tánh như là ngữ và trong lòng bi như là tâm. Bằng sự xuất lộ ra bên ngoài của vầng sáng của năm năng lực, năng lực-đời sống với bốn nhánh của nó, vốn ở trong tánh giác bổn nhiên như trái tim, phá vỡ cái vỏ bọc của “thân thể cái bình trẻ trung”. Bấy giờ từ vầng sáng của sự thành tựu tự nhiên khởi lên những xuất hiện của năm ánh sáng. Đồng thời vầng sáng của lòng bi, tánh giác bổn nhiên, khởi lên như nhận thức, nó phân tích những cách thức (của những xuất hiện). Vào lúc đó, phương diện không thấu hiểu tự-tinh túy (hay tự tánh) (của nhận thức và những xuất hiện) khởi động vận hành như là cái gọi là không giác ngộ (Ma-Rig-Pa, vô minh), thiết lập liên hệ với giác ngộ. Lúc ấy, mặc dù nền tảng không thay đổi, nó có vẻ như bị biến đổi bởi vì những xuất hiện hình tướng của tánh giác bổn nhiên. Bấy giờ, từ trạng thái những xuất hiện như bầu trời không mây của sự thanh tịnh bổn nguyên, khởi lên “tám cách khởi lên của sự thành tựu tự nhiên” như là những “tự-xuất hiện”.

SỰ KHỞI LÊN CỦA MÊ LẦM

Trong “nền tảng bổn nguyên” không có mê lầm. Nhưng khi “những xuất hiện của nền tảng” khởi lên, cũng khởi lên nhận thức, nhận thức này nếu không thấu hiểu tự-tinh túy (hay tự tánh), và đó là một nhận thức trung tính cắm rễ vào vô minh, nó xem “những xuất hiện của nền tảng” như là (những thực thể) tách biệt, và do đó người ta trở nên mê lầm như một chúng sanh.

Do phương diện không thấu hiểu tinh túy của “những xuất hiện của nền tảng” (như chúng thật sự là), người ta trở nên phóng dật vào những mê lầm.... Khi những hiện tượng xuất hiện như “những xuất hiện của nền tảng”, khởi lên nhận thức đó là năng lực của lòng bi khởi lên tự nhiên (trong bản tánh của) sự sáng tỏ và tánh giác với khả năng phân tích những đối tượng. Lúc đó, do không thấu hiểu chính nó, nó trở thành phối hợp với ba cái không giác ngộ (Ma-Rig-Pa, vô minh) : (a) Không biết bản thân nhận thức khởi lên là sự thanh tịnh bổn nguyên, đó là sự không giác ngộ tự thể đơn nhất, cái nguyên nhân. (b) Sự đồng khởi lên của nhận thức và sự không biết tự-tinh túy (xem những xuất hiện tự nhiên thành tựu mà không biết chúng là những tự-xuất hiện vô tự tánh) là “không giác ngộ bẩm sanh”. (c) Sự phân tích những tự-xuất hiện như là những cái khác là không giác ngộ những vọng tưởng.

Ba cái này là một trong tinh túy và có những phương diện khác nhau. Thế nên, khi người ta phân tích những tự-xuất hiện, vì không thấu hiểu “nền tảng” và “những xuất hiện của nền tảng”, rằng “nền tảng” là tinh túy, bản tánh và năng lực lòng bi và phương thức của những thành tựu tự nhiên chính là “những xuất hiện của nền tảng”, và bởi vì nắm bắt những tự-xuất hiện như là những cái khác, người ta trở nên phóng dật vào những mê lầm. Khi do nguyên nhân, tức là ba cái không giác ngộ và vì bốn duyên,[2]  những ý niệm bất tịnh, những xuất hiện (của nền tảng), người ta mê lầm theo những xuất hiện của nền tảng như là những nhận thức của cái được nắm hiểu và người nắm hiểu, bấy giờ sáu loại tư tưởng khởi lên như là những người nắm hiểu không ngừng dứt ; và sáu phiền não căn bản khởi lên trong trạng thái thùy miên ; chúng trói buộc tánh giác bổn nhiên và người ta trở nên mê lầm theo những xuất hiện của sáu đối tượng sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Đó là quá trình của vòng mười hai nhân duyên khiến người ta bỏ quên tánh giác mà lang thang trong sanh tử. Mười hai nhân duyên là : (1) Khi “những xuất hiện của nền tảng” khởi lên từ “nền tảng”, nhận thức thuộc tâm thức khởi lên từ năng lực của tánh giác bổn nhiên, và nhận thức này được đi kèm với sự không thấu hiểu tinh túy của chính nó, đó là không giác ngộ (Ma-Rig-Pa, vô minh). (2) Từ sự không giác ngộ này khởi lên những mê lầm, và đó là yếu tố cấu tạo (hành : sự tạo thành nghiệp). (3) Từ đây khởi lên những phân tích những kiểu cách của những đối tượng, và chúng là thức. (4) Từ đây khởi lên sự phân biệt bằng cách chỉ định như “đây là một đối tượng” và đây là một “hình tướng xuất hiện”, và rồi thức nắm hiểu những đối tượng được đặt tên như là những hình sắc. Đó là sự mê lầm ban đầu theo sanh tử, đó là danh sắc. (5) Từ đây khởi lên những giác quan và những phóng chiếu về những đối tượng, và đó là sáu nguồn (lục căn). (6) Từ đây khởi lên sự nắm bắt những đối tượng, và đó là sự tiếp xúc (giữa những đối tượng, những khả năng và những thức) (xúc). (7) Từ đây khởi lên tham bám, ghét bỏ và trung tính, và từ đó là cảm giác (thọ). (8) Từ đây khởi lên tham luyến những đối tượng, đó là khao khát (ái). (9) Từ đây khởi lên người nắm bắt và hành động nắm bắt những đối tượng, và đó là nắm bắt (thủ). (10) Từ đây khởi lên sự hình thành những hình tướng xuất hiện không chắc chắn và những kinh nghiệm của nhiều mê lầm, và đó là sự trở thành (hữu). (11) Từ đây khởi lên sự sanh vào dục giới, sắc giới và vô sắc giới, đó là sanh. (12) Từ đây khởi lên già, bịnh, chết.

Chính sự khởi lên đầu tiên của sợi xích mười hai duyên sanh, nguyên nhân của sanh tử, là từ “những xuất hiện của nền tảng”. Khi những vòng xích mười hai duyên sanh xảy ra nối tiếp nhau, người ta lang thang trong nhiều hiện hữu khác nhau của sanh tử không dứt.

Như thế, những hình tướng xuất hiện huyễn ảo biểu lộ như sanh tử do sức mạnh của những dấu vết tập khí của sự không biết (bản tánh thực sự của những xuất hiện), và do sự nắm bắt chúng như là cái ngã. Bởi đó những xuất hiện trở thành được thiết lập như năm uẩn, mười tám yếu tố (xứ) và mười hai nguồn (thập nhị nhập) của thân xác cá nhân, y lang thang qua những đời tương tục và ở mãi trong sanh tử.

Phật tánh thì hiện tiền và tràn ngập khắp bản tánh của mọi chúng sanh.... Tantra nói : “Trong mọi chúng sanh của thế giới, Phật tánh hiện diện và tràn ngập khắp như dầu trong những hạt mè.”

VÀI ĐIỂM CỐT YẾU CỦA QUAN ĐIỂM ĐẠI TOÀN THIỆN :

Sự Phân Biệt giữa Nền Tảng Phổ Quát và Pháp Thân

Vì nền tảng phổ quát (Kun-gZhi) là gốc của sanh tử, nó là nền tảng của mọi dấu vết, như một cái ao. Vì Pháp thân là (thân tối hậu) là gốc của niết bàn, nó là sự giải thoát khỏi hết mọi dấu vết, và nó là sự cạn kiệt của tất cả mọi ô nhiễm....

Trong trạng thái Pháp thân như đại dương trong suốt, thường trụ ở căn bản, nền tảng phổ quát như con tàu chở đầy hành khách – tâm và thức, và nhiều ghe thuyền, những nghiệp và dấu vết – ra đi trên con đường giác ngộ, băng qua trạng thái của tánh giác bổn nhiên, Pháp thân.

Trong một số kinh và tantra, phương diện “căn bản” được gọi là nền tảng phổ quát. Ở đây một số người không hiểu nghĩa thực cho là căn bản và nền tảng phổ quát là như nhau. Đó là một sai lầm trầm trọng. Nếu chúng là như nhau, bấy giờ sẽ có nhiều lỗi : vì nền tảng phổ quát có những dấu vết, Pháp thân cũng có dấu vết : vì nền tảng phổ quát thay đổi, Pháp thân cũng thay đổi, và vì nền tảng phổ quát tạm thời, Pháp thân cũng tạm thời.

Nền Tảng Phổ Quát

Thực thể : Nó là trạng thái không giác ngộ và trung tính, thuộc về (phạm trù) tâm và những biến cố tâm thức, và nó đã trở thành nền của mọi nghiệp và dấu vết của sanh tử và niết bàn....

Định nghĩa : Nó được gọi là nền tảng phổ quát (Kun-gZhi) vì nó là căn bản của những khối lượng dấu vết.

Phân chia : Có bốn thứ. (a) Phương diện (không giác ngộ, sự không biết tánh giác bổn nhiên) đồng thời khởi lên cùng tánh giác bổn nhiên, như vàng và oxit vàng từ thời gian nguyên thủy, đó là “nền tảng phổ quát bổn nguyên tối hậu”. Sự không giác ngộ này được định nghĩa như vậy trong tương quan với giác ngộ. Đây là nền móng ban đầu cốt yếu cho tất cả những hiện tượng sanh tử. (b) Một trạng thái trung tính nó là nền móng của phương diện hành động (nghiệp) và là nền móng gốc nối kết người ta với sanh tử và với niết bàn qua những hành vi khác nhau là “nền tảng phổ quát tối hậu của hợp nhất”. (c) Một trạng thái trung tính nó là phương diện của những nghiệp còn ngủ yên của tâm và những biến cố tâm thức chúng tạo ra những tái sanh trong sanh tử là “nền tảng phổ quát của những dấu vết khác nhau”. (d) Phương diện của sự không giác ngộ, nó là nền móng của sự khởi lên của ba phương diện khác nhau của những xuất hiện thân thể : những xuất hiện trong thân thô với thân thể, tay chân, làm bằng nguyên tử (của cõi dục) ; thân tịnh quang (của cõi sắc), và thân xuất hiện khi nhập định (của cõi vô sắc) là “nền tảng phổ quát của thân của những dấu vết”.

Pháp Thân (Thân Tối Hậu)

Thực thể : Nó là tánh giác bổn nhiên như hư không không bị ô nhiễm bởi sanh tử...

Định nghĩa : Trong Tantra Thalgyur, có nói : “Theo định nghĩa, Pháp là con đường toàn thiện. Thân nghĩa là sự thành tựu phát sanh từ con đường.”

Phân chia : Lại có nói : “Được chia thành Pháp thân, Báo thân và Hóa thân....”

Theo giải thích của Đại Toàn Thiện, Pháp thân được diễn tả là thân tối hậu, bản tánh thanh tịnh và ở trong nền tảng với những tính cách tinh túy, bản tánh và lòng bi. Trong Tantra Rangshar có nói : “Tinh túy, bản tánh và lòng bi là những tính cách của Pháp thân.”

NHỮNG PHÂN BIỆT GIỮA TÂM VÀ TRÍ HUỆ BỔN NGUYÊN

Dầu tâm là gì, đó là những hình tượng của sanh tử. Khi những lỗi lầm, nghiệp và những dấu vết, khởi lên như những nhiễm ô và được phối hợp với tánh giác bổn nhiên của nó, đó gọi là một chúng sanh. Với tâm, những chúng sanh bị mê lầm trong sáu nẻo luân hồi. Khi tánh giác bổn nhiên của người ta trở nên thoát khỏi tâm thức, người ta được gọi là Phật, bậc thoát khỏi những nhiễm ô ngoại sanh. Dầu tánh giác bổn nhiên là gì, đó là thuộc về niết bàn. Nó thiêu cháy nghiệp và những dấu vết như một ngọn lửa. Vì nó vĩnh viễn xa lìa khỏi những ý niệm, bản tánh của nó là tánh không và sự sáng tỏ, như hư không.

Tâm theo Đại Toàn Thiện Thậm Thâm

Thực thể của tâm (Sems) là một nhận thức (trong cách thế) người nắm bắt và cái được nắm bắt và những tâm thái của ba cõi. Tâm có ba phương diện : tâm (Sems), nó là thức của nền tảng phổ quát ; tư tưởng (Yid), nó đi vào trong mọi sự và thưởng thức những đối tượng ; thức (rNam-Shes), nó là thức của (sáu cửa nhập) vào. Ba nhận thức này là cùng một thực thể, nó cắm rễ vào trong sự không tự nhận biết chính nó (và đi kèm) bởi năm độc.

Trí Huệ Bổn Nguyên

Thực thể : Nó là tánh giác bổn nhiên sáng rỡ, tinh túy-Phật (Tathagatagarbha : Như Lai Tạng)....

Định nghĩa : Nó là trí huệ bổn nguyên vì nó hiện diện một cách nguyên thủy (Ye) và nó là nhận thức thánh thiêng (Shes)....

Phân chia : Có ba : Trí huệ bổn nguyên ở tại nền tảng ; trí huệ bổn nguyên phú bẩm những đặc tính ; và trí huệ bổn nguyên thấm khắp mọi đối tượng hiện tượng.... Tinh túy, bản tánh và lòng bi là trí huệ bổn nhiên ở tại nền tảng. Những trí huệ bổn nguyên của cõi giới tối hậu, như tấm gương, bình đẳng, phân biệt và thành tựu là trí huệ bổn nguyên phú bẩm những đặc tính. Biết chân lý tối hậu (phẩm tính) như nó là và biết tất cả hiện tượng (của chân lý tương đối như chúng xuất hiện, số lượng) là trí huệ bổn nguyên thắm khắp những đối tượng hiện tượng....

Chỗ trụ : Chỗ trụ của tâm là nền tảng phổ quát và chỗ trụ của trí huệ bổn nguyên là Pháp thân.

GIẢI THOÁT NHƯ LÀ PHẬT BỔN NGUYÊN

Ngay chuyển động ban sơ của sự khởi lên từ nền tảng, “tám xuất hiện tự nhiên của nền tảng” khởi lên một cách tự nhiên. (Ngay lúc đó) do không nắm bắt những xuất hiện này như là những cái khác và do thấu hiểu chúng như là vầng ánh sáng tự nhiên (hay sự tự-sáng chiếu) với tâm thanh tịnh, những chuyển động (của tánh giác bổn nhiên) tự dừng trong chính chúng. Vào khoảnh khắc chứng ngộ, những ‘không giác ngộ’ sẽ được tịnh hóa và cách thế của “tám thành tựu tự nhiên” của nền tảng sẽ tan biến vào trong trạng thái của sự thanh tịnh bổn nhiên và trụ trong đó.

Ngay chuyển động đầu tiên, do thấu hiểu tự tánh của những tự-xuất hiện, sự thấu hiểu (thực nghĩa) khai triển.... Vào ngay chuyển động thứ hai, những mê lầm được xóa sạch và sự toàn thiện của trí huệ bổn nguyên khai triển. Đó là sự khai triển của chính nền tảng như là quả của giác ngộ. Nó được gọi là giác ngộ lại (hay tự-giải thoát) qua sự thấu hiểu cái tinh túy, Phật quả bổn nguyên. Đã hòa tan những tự-xuất hiện vào trong sự thanh tịnh bổn nguyên và giác ngộ ở nền tảng trước tất cả, nó cũng được gọi là Bậc Tốt Đẹp Cùng Khắp (Phổ Hiền, Phật bổn nguyên).

Ngay lúc khởi lên của “những xuất hiện của nền tảng”, do nhận biết bản tánh của nhận thức và thấu hiểu những xuất hiện tự nhiên thành tựu như là những tự-xuất hiện và vô tự tánh, người ta đạt được giải thoát tức thời. Đó gọi là cách đạt được giác ngộ như là Phật Bổn Nguyên, cái Tốt Toàn Khắp (Samantabhadra, Phổ Hiền).

(Trong Đại Toàn Thiện, sự đắc Phật quả không phải là tìm kiếm cái gì từ những nguồn nào khác mà là sự giải thoát của tánh giác bổn nhiên vào trong bản tánh của chính nó. Jigmed Lingpa viết :

Đại Toàn Thiện xem sự chứng đắc Phật quả là sự giải thoát của tánh giác bổn nhiên vào trong trạng thái tự nhiên của chính nó. Nó không có nguyện vọng hay tìm kiếm Phật quả từ một nguồn nào khác. Thế nên chư Phật trong ba đời được hoàn thiện trong trạng thái tánh giác bổn nhiên tự nhiên, vượt thoát khỏi cái được nắm bắt và người nắm bắt.)

2. Nghiệp của những Hành vi Sanh tử, 
Nguyên nhân của sự Luân lạc của Chúng sanh trong Sanh tử Huyễn ảo

Trong chương bốn cuốn Shingta Chenpo, về nhân quả của hành động, Longchen Rabjam chia nghiệp làm hai phạm trù, những hành vi sanh tử và những đức hạnh giải thoát. Để minh giải những hành vi sanh tử ngài đặt tên cõi giới tối hậu là “nền tảng phổ quát”, nó là một trạng thái trung tính đối với sanh tử và niết bàn. Khác với sự giải thích trong phần trước, ngài chia nó thành hai phương diện thay vì bốn : nền tảng phổ quát tối hậu của sự hợp nhất và nền tảng phổ quát của những dấu vết khác nhau của sanh tử với gốc rễ của nó, không giác ngộ (vô minh) và tám thức. Mặc dù nền tảng phổ quát tự nó là một thực thể không có phân chia, nó xuất hiện như là hai bởi vì hai phương diện đặt nền trên nó, như đất vẫn y nguyên nhưng vì ngày và đêm mà nó xuất hiện là sáng và tối. Ngài cũng giải thích tiến trình nhân quả của hành động trong trường hợp mười hành vi bất thiện với gốc rễ của chúng là vô minh. Pema Karpo và Thegchod Dzod có những cách xếp loại khác nhau và những ý nghĩa khác nhau đối với những nền tảng phổ quát.

BẢN CHẤT CỦA NGHIỆP

Đâu là lý do hạnh phúc của khổ đau xảy ra cho mỗi cá nhân khi lưu lạc trong vòng luân hồi nhọc nhằn ? Đó là vì nghiệp.... Kết quả của những nghiệp khác nhau, hợp tạo bằng những điều kiện (duyên) khác nhau làm nhân, của mỗi cá nhân chín muồi trong hình thức những luân lạc và những tài nguyên cá nhân, cũng như những kinh nghiệm sướng khổ. Trong Karmasataka có nói :

Emaho ! Thế giới khởi lên từ nghiệp.
Hạnh phúc và khổ đau là những tranh vẽ của nghiệp.
Sự hình thành của nghiệp xảy ra khi những điều kiện đã trọn vẹn.
Nghiệp lại sản sinh ra những kết quả hạnh phúc và khổ đau.

Và :

Nghiệp trong trăm đại kiếp
Sẽ không cạn kiệt, và khi thời gian đến
Với duyên hoàn cảnh tụ hội,
Chắc chắn những hậu quả sẽ được trải nghiệm với chúng sanh.

Trong Kinh Pháp Hoa có nói :

Nghiệp sáng tạo như một nghệ sĩ,
Nghiệp tạo hình như một vũ sư.

Có hai phạm trù của nghiệp sanh tử nhìn từ quan điểm những hậu quả của chúng. Thứ nhất là những ngiệp xấu hay bất thiện hạnh, chúng tạo ra khổ đau. Thứ hai là những nghiệp của những hành vi đức hạnh phối hợp với công đức, chúng tạo ra hạnh phúc trong sanh tử.

NGHIỆP SANH TỬ

Sanh tử được tạo ra bởi mười thiện hạnh và mười ác hạnh.... Ác hạnh phát sinh những khổ đau và sự tái sanh trong những nơi lưu lạc thấp và với thiện hạnh người ta có được tái sanh ở những nơi lưu lạc cao và giữa những chúng sanh hạnh phúc.

NỀN TẢNG CỦA NGHIỆP, NỀN TẢNG PHỔ QUÁT VÀ NHỮNG THỨC

Tóm tắt : Những nghiệp có căn cứ ở đâu và được chứa giữ ở đâu ? Tất cả những nghiệp của cả sanh tử lẫn giác ngộ được đặt nền trên nền tảng phổ quát như là hột giống. Trong kinh Jam-dPal Ye-Shes Dri-ma Med-Pa’i có nói : “Nền tảng phổ quát là nền tảng của tất cả. Nó là căn bản của sanh tử và sự dừng dứt của sanh tử (niết bàn) và là căn bản của giác ngộ.”

Cõi giới tối hậu của tánh Như được xem là nền tảng phổ quát, căn bản của những phân chia, và nó là phương diện của trạng thái trung tính không thể phân chia (đối với sanh tử và niết bàn).

Phương diện tánh giác (Rig-Pa), bản tánh của cái vốn không hợp tạo, và tự nhiên đặt nền trên trạng thái của cõi giới tối hậu, được gọi là nền tảng phổ quát tối hậu hợp nhất.

Bởi vì không thấu hiểu, chứng ngộ nó (tánh giác bổn nhiên của cõi giới tối hậu của tánh Như), những yếu tố sanh tử như là tám thức và những khuynh hướng tập khí của chúng được thiết lập và phối kết đặt nền trên nó. Phương diện này được gọi là nền tảng phổ quát của những dấu vết khác nhau. Với mọi phạm trù hợp tạo của những hành động đức hạnh và không đức hạnh đặt nền trên nền tảng phổ quát của những dấu vết này, những kinh nghiệm khác nhau về hạnh phúc và khổ đau khởi lên....

Trong Chi Tiết : Tất cả những hiện tượng của những nghiệp bất thiện và của nghiệp thiện nhưng kém cỏi, chúng là những nhân và quả của sanh tử, được đặt nền trên nền tảng phổ quát trung tính, và tất cả nghiệp thiện phối hợp với giải thoát, nó đưa tới tự do của niết bàn và những chứng ngộ của con đường giác ngộ, cũng đặt nền trên đó. Phương diện những nghiệp thiện phối hợp với giải thoát và thuộc về chân lý của con đường, chúng là hợp tạo và ngẫu sanh, được đặt nền trên nền tảng phổ quát của những dấu vết như là nguyên nhân cho tự do. Quả của tự do đặt nền trên tinh túy (Rigs), như sự sáng tỏ của mặt trời bởi vì sự tan mây đặt nền trên chính mặt trời....

Trong Tâm, nó vốn tự do như hư không, hiện diện một cách nguyên sơ những cõi tịnh độ và những phẩm tính của chư Phật trong hình thức hai dòng, chúng là bản tánh đức hạnh vô thủy (nghĩa là Phật tánh). Nó là căn bản của tự do, và nó là căn bản của niết bàn.

Về sự chứng đắc tự do, có bốn phương diện cần hiểu : (a) Căn bản của tự do là bản tánh thiết yếu hay tinh túy. (b) Nguyên nhân của sự tự do là phương tiện những đức hạnh phối hợp với giải thoát và phương tiện tịnh hóa những nhiễm ô khỏi bản tánh thiết yếu. (c) Kết quả của tự do là trở thành Phật tánh thoát khỏi mọi nhiễm ô và đạt được những phẩm tính của Phật tánh. (d) Phương diện cần thoát khỏi là tám thức với những thói quen của chúng, vì chúng đặt nền trên nền tảng phổ quát của những dấu vết.

Trong kinh điển mật thừa bốn phương diện này được biết là căn bản của sự tịnh hóa, phương tiện của sự tịnh hóa, kết quả của sự tịnh hóa và phương diện cần được tịnh hóa. Ngôn từ thì khác nhưng nghĩa của chúng không khác. Như thế, trên bản chất không giác ngộ của nền tảng phổ quát của những dấu vết, nguyên nhân của sanh tử bất tịnh với những thức và những phương diện đức hạnh hợp tạo đưa đến giải thoát, đều có vẻ đặt nền trên đó một thời gian lâu dài mà thực sự không được đặt nền (ở đâu cả). Từ quan điểm của chúng sanh, cõi giới tối hậu là căn bản của những phẩm tính của niết bàn, và nó được gọi là nền tảng phổ quát tuyệt đối.

Tinh túy của nền tảng phổ quát tuyệt đối là tánh không, bản tánh của nó là sự sáng tỏ, lòng bi của nó (nghĩa là năng lực biểu lộ) là toàn khắp, và những phẩm tính của nó là thành tựu tự nhiên như những viên ngọc như ý. Nó không bị ô nhiễm cũng không lìa ô nhiễm. Nó là nghĩa tuyệt đối, sáng rỡ từ trạng thái bổn nguyên, cái thấy về sự không trộn lẫn và không chia tách của những thân và những trí huệ. Dù về quan điểm sự thanh tịnh của bản tánh của nó, nó được ví dụ như hư không, thoát khỏi những đặc tính, tánh không, không hợp tạo và v.v...., nó không phải không là gì cả, một rỗng không cùng cực, bởi vì nó là một trạng thái tự nhiên thành tựu của những thân sáng rỡ và những trí huệ, và nó sự giải thoát và tánh không của mọi yếu tố sanh tử.

Trong kinh Ghananyuha có nói :

Dĩa (mạn đà la) mặt trăng vô nhiễm
Hằng không vết dơ và tròn đầy.
Nhưng trong liên hệ với những ngày của thế giới
Nó được tri giác như có khuyết có đầy.
Cũng thế, nền tảng phổ quát tối hậu
Hằng ở với Phật tánh
Và tánh này dưới dạng nền tảng phổ quát
Đã được chỉ dạy bởi Như Lai
Những người ngu không biết nó,
Bởi vì những thói quen của họ, thậm chí thấy nền tảng phổ quát
Như là có những hạnh phúc và khổ đau
Và những hành động và nhiễm ô phiền não.
Bản tánh của nó là thanh tịnh và không nhiễm,
Những phẩm tính của nó như những viên ngọc như ý,
Không có những biến dịch cũng không những diệt dứt.
Người nào thấu hiểu nó thì đạt giải thoát....

Có nhiều từ đồng nghĩa cho nền tảng phổ quát tối hậu theo căn bản, nguồn gốc và nguyên nhân cho giải thoát, như nền tảng phổ quát tối hậu, đức hạnh của bản tánh tối hậu vô thủy, Phật tánh, bản tánh, bản tánh quang minh của tâm, cõi giới tối hậu, nghĩa của tánh Như, cái Như tự nhiên thanh tịnh, trí huệ ba la mật v.v....

Phương diện những thói quen tập khí của sanh tử đặt nền trên tâm (Sems-Nyid, nghĩa là trạng thái trung tính của nền tảng phổ quát) được gọi là nền tảng phổ quát của những dấu vết. Tại sao ? Bởi vì nó là căn cứ của sự tích tập những nghiệp đức hạnh, không đức hạnh, giải thoát và giác ngộ, chúng không hiện hữu trong bản tánh chân thật từ trạng thái bổn nguyên mà khởi lên một cách ngẫu sanh. Nó là căn bản của cả nghiệp thiện và bất thiện, bản chất của nó là vô minh, và nó trung tính đối với nghiệp thiện và bất thiện.

Một số người nói rằng nền tảng phổ quát không phải là vô minh bởi vì nó là căn bản của tất cả năm độc (gồm cả vô minh) cũng như của giác ngộ. Đó đích thực là một sự hiểu sai. Nó không phải là vô minh của năm độc. Mà nó là sự không giác ngộ bẩm sanh khởi lên từ lúc mê lầm dẫn vào sanh tử, và nó cũng được gọi là vô minh. Cũng thế nó cần được khảo sát xem nó có là căn bản của giác ngộ hay không. Nó không phải là căn bản của cả tinh túy lẫn trí huệ của Phật, bậc sở hữu hai sự thanh tịnh, sự thanh tịnh từ trạng thái bổn nguyên và sự thanh tịnh thoát khỏi những nhiễm ô ngẫu sanh, bởi vì nền tảng phổ quát phải chuyển hóa thành trí huệ. Kinh Suvarnaprabhasottama nói “Nền tảng phổ quát được chuyển hóa là tinh túy, thân tối hậu.”

Trong Byung-bZhi Zad-Pa’i rGyud có nói “Nền tảng phổ quát đã tịnh hóa là cõi giới tối hậu.” Nền tảng phổ quát của những dấu vết không phải là căn bản của bản tánh (Khams), vì nó chỉ là căn bản hay nguyên nhân của sự thoát khỏi những nhiễm ô. Thế nên chức năng của nó không gì khác hơn chỉ là căn bản của sự trở nên giác ngộ qua tu hành trên con đường hợp tạo tích tập công đức và trí huệ. Những tích tập đó thuộc về phạm trù “chân lý của con đường”, và chúng là tạm thời và như huyễn, bởi vì chúng đặt nền trên nền tảng phổ quát của những dấu vết. Sự tu hành làm tổn hại cho nền tảng phổ quát của những dấu vết như thế nào khi dựa trên nó ? Như ngọn lửa đặt nền trên sáp thiêu hủy chính sáp và ngọn lửa đặt nền trên gỗ thiêu cháy chính gỗ, bằng cách đặt nền trên nền tảng phổ quát của những dấu vết, con đường của hai sự tích tập tịnh hóa những thói quen của sanh tử và xóa hết những vết dơ khỏi bản tánh thiết yếu, và khiến giác ngộ được đạt đến trọn vẹn, như nó vốn là một cách nguyên sơ. Bởi thế, hai sự tích tập được xem là những điều kiện thanh tịnh. Từ đó, những đối trị, những phương tiện của những tịnh hóa (hai sự tích tập) cũng sẽ bị thiêu rụi bởi vì chúng là những đức hạnh do tâm thức nghĩ ra....

Trong Madhyamakavatara có nói “An lạc (thành tựu) do thiêu sạch toàn bộ nhiên liệu của những chủ đề để tìm hiểu là thân tối hậu của chư Phật....”

Những đồng nghĩa với nền tảng phổ quát của những dấu vết là không giác ngộ bẩm sinh (vô minh bẩm sinh), sự che ám vô thủy, tối tăm vĩ đại, sự ‘không biết’ hiện diện một cách bổn nguyên v.v....

Tâm (Sems-Nyid), cõi giới vô thủy, hiện diện như hư không : từ quan điểm giải thoát đặt nền trên nó, nó được biết như là nền tảng phổ quát tối hậu và từ quan điểm nó là căn cứ của sanh tử, nó được biết như là nền tảng phổ quát của thói quen tập khí. Và từ cõi giới vô thủy, hạnh phúc và khổ đau của đủ loại hình tướng xuất hiện của sanh tử và niết bàn, và những lỗi lầm và đức hạnh khởi lên. Trong bình giảng về Uttaratantra có nói :

Cõi giới tối hậu của thời gian vô thủy vô chung
Là chỗ ở của tất cả các pháp.
Nhờ sự hiện diện của Nó (trong họ), mỗi một chúng sanh
Có thể đạt được niết bàn.

SỰ PHÂN CHIA CỦA NỀN TẢNG PHỔ QUÁT VÀ TÁM THỨC

Nền tảng phổ quát của những dấu vết khác nhau, trạng thái trung tính (đối với thiện và bất thiện), thì giống như một tấm gương. Về thức của nền tảng phổ quát (trong Jam-dPal Ye-Shes rGyan), có nói “Tâm (Sems) là thức của nền tảng phổ quát. Nắm hiểu ngã tính là tư tưởng.” Nó giống như phương diện sáng tỏ của một tấm gương. Năm thức của năm cửa giống như sự khởi lên của những phản chiếu trong gương. Khởi lên trước tiên, sự phân tích về cái tri giác của năm cửa giác quan như “cái này là cái này” là ý thức của tâm. Theo nó sự khởi lên của những xúc tình ghét thương.... hay trung tính đối với những đối tượng là thức bị ô nhiễm của tâm.

Một số vị thầy nói rằng sáu thức không tích tập nghiệp nếu người ta không phân tích những tri giác với thức ô nhiễm của tâm, bởi vì chúng không được tạo thành bởi ba độc. Những nhận xét này cần phải xem xét. Khi người ta theo đuổi con đường cái thấy thiền định và hạnh, sau khi chứng ngộ bản tánh của những hiện hữu hiện tượng, sẽ có một trạng thái như vậy (không sinh ra bất cứ nghiệp nào), nhưng người mà tâm chưa đạt đến một mức độ như vậy thì còn vô minh và họ sẽ tạo ra nghiệp xấu.

Phương tiện sản sinh ra nghiệp là khả năng của tâm thức và năm khả năng của các giác quan với những căn cứ của chúng. Những cái sản sanh ra nghiệp là tâm thức ô nhiễm, tâm thức thiện và tâm thức trung tính. Căn bản trên đó những nghiệp được tích tập là nền tảng phổ quát (của trạng thái trung tính). Thức của nền tảng phổ quát cung cấp không gian cho sự phát triển, duy trì, suy tàn.... của nghiệp. Trong đại bình giảng về Mahayanasutralamkara của Acarya Sthiramati có nói :

Tâm thức và năm khả năng (năm căn) như nhãn căn là chỗ vào, những cửa của nghiệp. Những tâm thức thiện bất thiện và trung tính là những cái sản sanh ra nghiệp. Sáu cái tri giác, như sắc, là những đối tượng của nghiệp. Thức của nền tảng phổ quát cung cấp không gian cho sự sanh ra nghiệp. Nền tảng phổ quát là căn bản, như nơi chốn và nhà ở của nghiệp.

Ở đây thức của nền tảng phổ quát là phương diện của giác quan, nó trong sáng nhưng không nhận thức đối tượng hay chủ thể. Từ cái này những giác quan (những thức) của năm cửa vào khởi lên. Nhãn thức là phương diện của một giác quan, nó thấy đối tượng như là sắc, nhưng những tư tưởng phân tích còn chưa khởi lên. Cũng thế, những giác quan chỉ thấy một cách tổng quát, những đối tượng tương ứng, thanh, hương vị, xúc như là những đối tượng của những giác quan tai, mũi, lưỡi, và thân trong khi những tư tưởng còn chưa khởi lên (là những thức của chúng).

Những xuất hiện trong suốt khởi lên từ đối tượng tri giác của năm cửa vào hay một hình thức tương tự của tri giác khởi lên (trước những giác quan) là hiện tượng (Ch’os, S. dharma, pháp), và nó cũng là thức của tâm. Ở đây, phương diện của đối tượng là những hiện tượng và phương diện của sự khởi lên những hiện tượng ấy trong những giác quan được gọi là thức.... Thức khởi lên tức khắc ngay điểm chấm dứt của phương diện thức của nền tảng phổ quát và sáu giác quan, năm thức của cửa vào tri giác đối tượng lúc trước được gọi là tư tưởng (Yid). Trong Abhidharmakosa có nói : “Thức khởi tức khắc sau sự dừng dứt của sáu thức là tâm.”

Chẳng hạn, khi một sắc được tri giác, phương diện của đối tượng thấy một cách rõ ràng trong suốt mà không có sự nắm bắt là thức của nền tảng phổ quát, và phương diện của sự khởi lên của sắc cho các giác quan là nhãn thức. Lìa bỏ (hay di chuyển khỏi) hai trạng thái này được gọi là sự dừng dứt của chúng, và rồi sự khởi lên của tư tưởng khoảnh khắc, “Đây là sắc” tức là tư tưởng (Yid) hay tâm (Sems). (Trong một số văn cảnh, Sems được giải thích là thức của nền tảng phổ quát.) Cái tư tưởng khoảnh khắc này chuyển động rất nhanh và không nghĩ một cách vi tế, thế nên nó được gọi là “không tư tưởng” (rTog-Med). Nó cũng được gọi là cái được tri giác hay (hay tư tưởng thuộc về đối tượng) vì nó thấy đối tượng trước tiên. Sau đó, sự phân tích vi tế (về cái được tri giác đã khởi lên) được gọi là người tri giác (hay tư tưởng thuộc về chủ thể). Dù người ta trước tiên thấy những cái được tri giác, nếu người ta không tiếp tục nó bằng cách phân tích (qua người tri giác), sẽ không sản sanh ra nghiệp. Tất cả các bậc thánh triết đều chấp nhận điều này.

NHỮNG THỨC SẢN SANH RA NGHIỆP NHƯ THẾ NÀO

Do nghiệp thiện, bất thiện và trung tính với những tư tưởng phân biệt của cái được nắm bắt và người nắm bắt dạng thô, người ta rơi vào cõi dục. Sự tham thiền trong trạng thái nhập định mà trạng thái này không phải là bản tánh thiết yếu, và trong đó cái được tri giác xuất hiện nhưng không có tư tưởng khởi lên, sẽ tích tập nghiệp trong nền tảng phổ quát để tái sanh trong cõi sắc. Sự tham thiền về không tư tưởng (vô niệm) bằng cách ngăn ngừa những tri giác, sẽ gieo những hạt giống nghiệp trong nền tảng phổ quát để sanh ra trong cõi vô sắc....

Tâm người ta chảy một dòng nhất niệm mà không có bất kỳ tư tưởng nào đến một đối tượng là trạng thái của nền tảng phổ quát. Giai đoạn thấy biết những cái được tri giác một cách rõ ràng, trong suốt mà vẫn không có tư tưởng về chúng là thức của nền tảng phổ quát. Giai đoạn tri giác bất kỳ cái gì trong nhiều cái được tri giác, chúng đã khởi lên rõ ràng (trước bất kỳ giác quan nào) là những thức của năm cửa vào. Khi người ta tri giác bất kỳ đối tượng nào, trong giai đoạn đầu, trong một khoảnh khắc, nó khởi lên như một cái được tri giác, rồi trong giai đoạn hai, người phân tích trộn lẫn với phiền não khởi lên như người tri giác, như thế lần lượt chúng là thức của tâm và thức bị ô nhiễm của tâm.

NHỮNG TRẠNG THÁI NHẬN THỨC KHÁC NHAU

Có những cấp độ khác nhau của nhận thức, chúng không nối kết với giải thoát và chúng đều ở trong trạng thái nền tảng phổ quát. Đó là (a) nhận thức nó ở trong trạng thái tham thiền, một an định nhất niệm vững chắc, (b) nhận thức ở trong trạng thái tham thiền về sự sáng tỏ và vô niệm, vững chắc và là một quán chiếu thiên lệch (Chag-mThong), và (c) nhận thức thô khởi lên theo sau những xuất hiện của những đối tượng với những điều kiện thống trị là sáu khả năng giác quan. Những nghiệp thiện và bất thiện tích tập qua ba loại nhận thức này làm mê lầm chúng sanh lần lượt vào cõi vô sắc, cõi sắc và cõi dục.... Lý do là vì chúng không đưa đến giải thoát và không siêu vượt khỏi người nắm bắt và cái được nắm bắt. Ở đây trạng thái tham thiền vô niệm là cái được nắm bắt và tham thiền về nó một cách nhất tâm không dao động là người nắm bắt. Sự tham thiền thanh tịnh là như sau : dù nó là một thiền định về phương tiện thiện xảo của lòng bi và về trí huệ thoát khỏi những cực đoan, nó không có sự ý niệm hóa ra chủ thể và đối tượng và không có sự thiền định được chỉ định là “trong trạng thái này”. Thế nên nó thuộc về bản tánh không thể nghĩ bàn. Dù trong tham thiền này người ta thành tựu hỷ, lạc, những thần thông và trí biết trước, không nên bám luyến vào sự thích thú với nó, mà chúng cũng không phải là cái được nắm bắt như hình tướng.

THỨC NÀO CÓ VAI TRÒ CHỦ YẾU TRONG BA CÕI

Những thức khác nhau có những vai trò khác nhau như chánh hay phụ trong cõi của chúng và những cõi của các thức khác.... Trong bình giảng về Kun-gZhi Dang Ye-Shes brTag-Pa của Acarya Budhaguhya có nói :

Trong cõi dục, bảy thức như nhãn thức, là chánh và các thức khác (nền tảng phổ quát và thức của nền tảng phổ quát) là phụ. Trong cõi sắc, thức của nền tảng phổ quát và những thức của những cửa vào (những thức của năm khả năng, của tâm và của tâm nhiễm ô) là chánh và cái kia (nền tảng phổ quát) là phụ. Trong cõi vô sắc, bản thân nền tảng phổ quát là chánh và những cái khác (tám thức) không hoạt động.

SỰ TAN VÀO CỦA CÁC THỨC

Một người của cõi dục đi ngủ, trước hết những thức của năm cửa vào và của tâm nhiễm ô tan vào thức của tâm. Thức của tâm tan vào thức của nền tảng phổ quát và rồi một trạng thái sáng tỏ và vô niệm khởi lên trong một lúc. Một số đạo sư của Tân Tantra xác nhận rằng những người nào có thể đạt đến trạng thái này và có thể tham thiền về nó, sẽ hưởng thọ bản tánh tối hậu của sáng tỏ mà không có giấc mộng nào. Thức của nền tảng phổ quát tan vào nền tảng phổ quát vô niệm. Rồi trên sự hòa tan của nền tảng phổ quát vào cõi giới tối hậu, những tri giác thô và tế tiêu tan và bản tánh tối hậu, tức là sự hợp nhất của tánh không và sự sáng tỏ, thoát khỏi mọi tạo tác, khởi lên. Nếu người ta thực hiện được điều này, bấy giờ mọi mê lầm sẽ bị đánh bại.... Rồi các thức khởi sanh trở lại. Từ cõi giới tối hậu khởi lên nền tảng phổ quát, từ nền tảng phổ quát khởi lên thức của nền tảng phổ quát và từ đó thức của tâm khởi lên một mình. Ở điểm này, nhiều loại giấc mộng (như những hiện tượng) khởi lên và người ta nắm hiểu những hiện tượng, những đối tượng của ‘tâm thức của những thói quen’.

HỢP NHẤT VÀ PHÓNG CHIẾU CỦA CÁC THỨC TRONG NHỮNG TRẠNG THÁI KHÁC NHAU

Ngủ là thời gian khi tất cả các thức hợp nhất với nền tảng phổ quát, và không có sự phóng chiếu ra ngoài của thức nào. Khi mộng, thức của tâm khởi lên từ thức của nền tảng phổ quát. Đó là thời gian khi thức phóng chiếu nhẹ nhàng ra ngoài và nền tảng phổ quát và thức của nền tảng phổ quát và tâm hợp thành một thực thể. Khi người ta thức dậy, những thức của người ta phóng chiếu ra ngoài từ nền tảng phổ quát và nền tảng phổ quát với tám thức hợp thành một thực thể.

TÓM KẾT

Tâm (Sems-Nyid) sáng rỡ là căn bản và nguồn gốc của mọi hiện hữu. Trong Tâm không có sự khác biệt giữa sanh tử và niết bàn, và chúng thì không thể phân cách và đồng một vị. Thế nên nó là bản tánh tối hậu của hợp nhất, là Phật tánh và là nguồn gốc của sanh tử và niết bàn. Trong Doha có nói :

Chỉ tâm là hạt giống của tất cả.
Đối với chúng sanh, nó phóng chiếu sanh tử và niết bàn ;
Nó cung cấp quả trái ước nguyện :
Tâm như viên ngọc như ý, tôi xin kính lễ.

Trong Kinh Ghanaryuha có nói :

Những giai đoạn khác nhau của con đường là nền tảng phổ quát.
Phật tánh (Như Lai tạng) cũng là đó.
Tinh túy ấy, được chỉ định là nền tảng phổ quát,
Mà Như Lai đã khai thị.
Ngài tuyên bố tinh túy là nền tảng phổ quát.
Nhưng người mê mờ không hiểu nó.

Vì bản tánh này là nguyên nhân của những hoàn thiện như những thân và những trí huệ (của Phật quả), nó được gọi là nền tảng phổ quát tối hậu không vết nhơ. Vì nó là căn bản của sanh tử, nó được gọi là nền tảng phổ quát của những dấu vết nhơ bẩn. Tinh túy của căn bản, nền tảng phổ quát là một, nhưng nó chia thành hai bởi vì những phẩm tính khác nhau đặt nền trên nó....

Trong bản tánh của mặt trăng, không có tăng không có giảm, nhưng bởi vì những hoàn cảnh, trong bốn châu lục chúng ta thấy những khác nhau có khuyết có tròn. Cũng thế, trong bản tánh của Tâm sáng rỡ sau khi giác ngộ không có hạnh phúc thực cũng không có khổ đau thực, nhưng chúng sanh trong sanh tử tri giác những thực thể khác nhau, như những cõi lưu lạc cao và thấp. Nếu người ta tu hành nghĩa tuyệt đối, đó gọi là đạt được sự hoàn thiện của nền tảng phổ quát như là nghĩa tuyệt đối....

Những nghiệp được sản sanh bởi những mê lầm của thức tâm không giác ngộ. Trong kinh Udanavarga có nói : “Tâm là thủ lĩnh và nhanh nhẹn. Tâm là người tiền phong của mọi sự.”

Vì những vọng tưởng và do không biết bản tánh thường trụ, người ta trở nên lệ thuộc vào những xuất hiện bất tịnh mà như huyễn. Để làm sụp đổ sanh tử như mộng như huyễn, người ta phải chứng ngộ Tâm thường trụ và thiền định về con đường không sai lầm của giai đoạn phát triển và giai đoạn thành tựu, phương tiện và trí huệ, để đạt được bản tánh thiết yếu trong trạng thái bổn nguyên, như nó vốn là vậy xưa nay.

VÔ MINH, GỐC RỄ CỦA NGHIỆP

Tất cả chúng sanh mê lầm trong sanh tử do đặt nền móng cho cái được nắm bắt (đối tượng) và người nắm bắt (chủ thể) bởi không thấu hiểu bản lai diện mục của Tâm. Trong Bát nhã ba la mật có nói : “Tất cả mọi chúng sanh căn cơ thấp, trung bình và tốt đều khởi lên từ vô minh (không giác ngộ). Bậc Thiện Thệ đã nói như vậy.”

Những chúng sanh của những cõi thấp kém, trung bình, cõi người và cao hơn là cõi chư thiên đều kinh nghiệm hạnh phúc và khổ đau do những nghiệp khác nhau của họ tạo ra. Gốc rễ của nghiệp là vô minh đi cùng ba độc và các nghiệp bất thiện và thiện tạo ra những kết quả hạnh phúc và khổ đau của sanh tử.

NGƯỜI TẠO RA NGHIỆP, NHỮNG ĐỨC HẠNH CÔNG ĐỨC VÀ NHỮNG HÀNH VI KHÔNG ĐỨC HẠNH

Những nghiệp đức hạnh tạo ra hạnh phúc và tái sanh trong những cõi lưu lạc hạnh phúc, và những nghiệp không đức hạnh tạo ra khổ đau và tái sanh trong những cõi thấp.

(A) NHỮNG NGHIỆP BẤT THIỆN

Có mười hành vi bất thiện khiến người ta rơi từ những cõi cao xuống những cõi thấp và chúng chỉ gây ra khổ đau. Đó là :
Ba nghiệp bất thiện của thân :
Giết, lấy của không cho, và tà dâm.
Bốn nghiệp bất thiện của ngữ :
Nói dối, nói chia rẽ, lời thô ác và lời vô nghĩa.
Ba nghiệp bất thiện của tâm :
Tham lam, ác ý và tà kiến.

Những hậu quả của những nghiệp bất thiện

Tóm tắt : Những nghiệp bất thiện được phát sanh qua đối tượng, ý định, tư tưởng và cố gắng bất thiện. Chúng sản sanh ra ba phạm trù hậu quả. Trong những kinh điển, chúng được xếp loại thành những hậu quả của sự chín muồi (là hậu quả chính), tương hợp và nổi trội (hay môi trường). Trong những luận giảng, có bốn phạm trù, cọng thêm hậu quả lũy tích....

(1) Hậu quả của sự chín muồi : Trong kinh Arya-saddhar-masmrtyupasthana có nói :

Sự chín muồi của hậu quả của một nghiệp nhỏ (trong mười nghiệp bất thiện) tạo ra sự tái sanh trong cõi thú, của một nghiệp vừa tạo ra sự tái sanh trong cõi quỷ đói và của một nghiệp nặng là tái sanh vào địa ngục.

(Sau khi hoàn tất kinh nghiệm của hậu quả của những nghiệp xấu như là hậu quả của chín muồi trong ba cõi thấp, dầu được tái sanh vào một cõi cao hơn nhờ những nghiệp thiện khác, người ta còn phải kinh nghiệm ba hậu quả sau đó nữa) :
(2) Hậu quả của sự tương hợp : Nó có hai phạm trù : hậu quả tương hợp của nguyên nhân và hậu quả tương hợp của những kinh nghiệm....

(a) Về hậu quả tương hợp của nguyên nhân, trong kinh Karmasataka có nói :

Bởi vì một người đã quen với những nghiệp bất thiện dù sau khi đã kinh nhiệm hậu quả của sự chín muồi, nó sẽ sanh ra nơi nào có thể dựa vào những hành vi bất thiện và thực hiện theo đuổi chúng.

(b) Hậu quả tương hợp của kinh nghiệm : trong hậu quả này có hai loại cho mỗi cái của mười nghiệp bất thiện.

Trong kinh Karmasataka nói :

Dù một người tái sanh trong cõi trời hay cõi người (nhờ những hành vi đức hạnh khác), nó vẫn còn phải kinh nghiệm những hậu quả sau đó như sau : có một cuộc sống ngắn ngủi và nhiều bệnh bởi vì nghiệp giết trong quá khứ, có ít tài sản và phải chia xẻ chúng cho những kẻ thù vì lấy của không cho, có một người hôn phối không hấp dẫn và phải chia xẻ người ấy với những người khác vì nghiệp ngoại tình, bị những người khác lừa đảo lường gạt vì nói dối, có những người sống chung xấu và bất hòa vì nghiệp vu khống, nghe những chửi mắng và (dù khi người ta nói dịu dàng) khiêu khích bởi vì đã nói lời thô ác, lời nói không được coi trọng và không được tin cậy vì đã nói vô nghĩa, trở nên tham lam và không toại ý vì tính thèm khát, ít có lợi ích mà chỉ có thiệt hại vì ác ý, và bị bao bọc bởi những quan điểm xấu và xảo quyệt vì tà kiến....

(3) Hậu quả nổi trội : Trong Semnyid Ngalso có nói :

Hậu quả nổi trội ám chỉ những hậu quả trên môi trường.
Khi người ta ở trong sanh tử bị những yếu tố bên ngoài điều khiển : 
Do giết (người ta sinh) vào một xứ sở xấu xí
Nơi thuốc thang, cây trái, ngũ cốc, thức ăn thức uống v.v....
Sẽ cho ít bổ dưỡng, khó tiêu hóa và dễ độc hại.
Do lấy của không cho, sanh vào một xứ sở không có ngũ cốc,
Nơi có những hiểm nguy sương mù, mưa đá, nạn đói.
Do ngoại tình, sanh giữa chỗ phân và nước tiểu, dơ bẩn, hôi thối.
Trong một xứ sở chật hẹp, đáng sợ không vui vẻ.
Do nói dối, sanh vào một xứ sở xung đột và kinh hãi
Nơi sự sung túc không bảo đảm và người ta bị người khác lừa dối.
Do nói lời chia rẽ, sanh vào một xứ sở đi lại khó khăn, núi sông hiểm trở,
Với nhiều hoàn cảnh không thuận lợi.
Do nói lời thô ác, sanh vào một xứ sở vô đạo đức, đầy sỏi đá, gai góc,
Bụi bặm, rác rưởi, ngũ cốc nghèo nàn, một môi trường gồ ghề, muối mặn.
Do lời vô nghĩa, sanh vào vùng ngũ cốc và trái cây không chín, bốn mùa bất ổn,
Nơi không có gì vững bền và lâu dài.
Do tham lam, sanh vào những xứ sở mùa màng ít mà nhiều vỏ trấu,
Những thời tốt đẹp chuyển thành xấu.
Do ác ý, sanh vào một xứ sở nơi hạt và trái có vị đắng cay,
Nơi có những người cai trị độc tài, bọn cướp, người hoang dã và rắn rít....
Nhiều hoàn cảnh gây họa hại của thiên nhiên.
Do tà kiến, sanh vào những xứ sở nơi không có nguồn chất liệu quý giá
Và ít cây thuốc, hoa và trái.
Nơi không có những chỗ nương tựa quy y, người bảo hộ hay năng lực hộ trì....

(4) Hậu quả lũy tích : Trong Arya-saddharma-smrttyupas-thana có nói : “Những người vô minh và đã phạm những hành vi xấu trong quá khứ sẽ tăng thêm những hành vi xấu của họ và sẽ chịu khổ hơn.”

Kết luận

Trong Vinayagama có nói :

Những nghiệp bất thiện như thuốc độc, dù nhỏ nhưng tạo khổ lớn lao. Chúng giống như người hoang dã phá hoại những công đức tích tập được. Bởi thế, người ta cần cố gắng từ bỏ những hành vi không đức hạnh và dấn thân vào những hành vi đức hạnh.

(B) NHỮNG NGHIỆP THIỆN

Chỉ sự vắng mặt của mười nghiệp bất thiện không trở thành mười nghiệp thiện bởi vì thiếu sự điều phục của tâm làm theo mười nghiệp thiện. Sự từ bỏ mười nghiệp bất thiện là mười nghiệp thiện khi phối hợp với sự tích tập công đức.
Những hậu quả của những nghiệp thiện

Theo những hậu quả chín muồi của chúng, những đức hạnh nhỏ đưa đến sự tái sanh trong cõi người, những đức hạnh cỡ trung sanh vào cõi thiên của dục giới, và những đức hạnh lớn, phối hợp với tham thiền, sanh vào những cõi sắc và vô sắc. Do những hành vi đức hạnh người ta thành tựu hạnh phúc của những cõi cao và niêm kín những cửa vào cõi thấp.

DUYÊN SANH

Nhân bên ngoài

Đó là những xuất hiện thuộc đối tượng của tâm thức, những xuất hiện là những hiện tượng bên ngoài như những hình tướng núi non, tường vách, đất, nước, lửa, không khí và không gian, chúng được xem là những phẩm tính phụ của các nguyên tố hay những hình dạng của các nguyên tố. Những cái này phát triển trong nhân loại khác nhau qua những nhân duyên chung và riêng biệt của chúng, như vải từ sợi và len từ sợi len. Nó được gọi là duyên sanh của những hiện tượng bên ngoài, bởi vì chúng khởi lên do nương dựa lẫn nhau và xuất hiện như những vật vô tri bên ngoài.

Nhân bên trong
(a) Nhân tương thuộc

Tiến trình từ vô minh khởi lên các hình thành (hành).... cho đến già và chết là duyên sanh bên trong.

Mười hai nhân duyên sanh lẫn nhau là : (1) không giác ngộ (vô minh) : Nó là sự không biết trọn vẹn tinh túy tuyệt đối, bản tánh tuyệt đối, bản tánh vốn thanh tịnh và là những hiện tượng mang tính cách vô minh. Từ đây khởi lên sự hình thành của nghiệp, tạo thành nghiệp của sanh tử. (2) Hình thành của nghiệp : Những hành vi đức hạnh phối hợp với công đức, mười nghiệp bất thiện, và những nghiệp trung tính của thân, ngữ, tâm, chúng bị che ám bởi vô minh, là sự hình thành. (3) Thức : Bây giờ, thuận theo nghiệp được hình thành (nó được gieo trong thức của nền tảng phổ quát), người ta đi vào một trong sáu nẻo lưu lạc và phát triển nhận thức đặc trưng của cõi đó. (4) Danh và sắc : Bấy giờ khi thức vào trong cõi lưu lạc của nó nhờ sự gặp gỡ của tâm, năng lực (rLung) và tinh chất trắng và đỏ của cha mẹ, người ta thiết lập năm uẩn : “bốn danh” – thọ, tưởng, hành, thức – và “sắc”. Khi vào bụng mẹ, danh và sắc được thiết lập.... (5) Những giác quan : Bấy giờ mắt, tai, mũi, lưỡi thân và tâm phát triển.... (6) Xúc : Bấy giờ sự gặp gỡ của những đối tượng, những khả năng giác quan và sự tác dụng của tâm thức là tiếp xúc. (7) Thọ : Từ xúc khởi lên thọ. (8) Từ thọ khởi lên khao khát (ái) thọ ấy. Khao khát có ba thứ : khao khát cái thích (khao khát tham muốn), khao khát bỏ cái không thích (khao khát ghét bỏ) và khao khát trung tính.... (9) Thủ : Từ khao khát khởi lên bám nắm.... (10) Trở thành (hữu) : Từ bám nắm khởi lên trở thành. Sự khởi lên năm uẩn, là sự trở thành.... (11) Sanh : Từ trở thành khởi lên sanh.... (12) Từ sanh khởi lên già, chết.

(b) Duyên Phụ Thuộc Bên Trong

Bởi vì trong mười hai mắt xích nhân duyên này, cái trước gây ra sự tiếp nối của những cái sau, nó được gọi là nhân duyên tương thuộc. Bởi vì những sự phát sanh tương thuộc này được phát triển nhờ sự gặp gỡ các bốn đại bên trong và thức, chúng được gọi là phát sanh từ những nhân duyên tương thuộc.

3. Nghiệp của những Đức hạnh Giải thoát, 
những Phương tiện Thoát khỏi Sanh Tử

Nghiệp của những hành vi đức hạnh phối hợp với những đức hạnh giải thoát dẫn người ta đến giác ngộ. Longchen Rabjam giải thích trong tác phẩm Shingta Chenpo (Cỗ Xe Ngựa Chiến Lớn), một tự bình giảng về Simnyid Nyalso (Thư giãn trong tâm Tự Nhiên) sự hiện diện của hai “dòng” Phật tánh (Như Lai Tạng) trong tất cả chúng sanh, nhờ nó chúng ta có tiềm năng trở thành những vị Phật nếu chúng ta tu hành những nghiệp đức hạnh dẫn đến Phật quả. Dòng (Rigs) thứ nhất là “Dòng hiện diện tự nhiên”, nó là phương diện của dòng hay của tinh túy, hiện diện một cách bổn nguyên như là bản tánh tối hậu của chúng sanh. Dòng hay tinh túy thứ hai là “dòng phát triển”, nó là phương diện tinh túy được phát triển bằng cách xóa tan những che đậy nhiễm ô. Ngài giải thích người ta cần đánh thức “dòng” và bằng phương tiện nào, hay khác đi người ta sẽ đi lạc vào sanh tử như thế nào nếu người ta không chứng ngộ, thấu hiểu “dòng”, và quan trọng là tu hành những đức hạnh giải thoát như thế nào để chứng ngộ “dòng”.

TỔNG QUÁT VỀ NGHIỆP ĐỨC HẠNH GIẢI THOÁT 

Những nghiệp đức hạnh vượt khỏi cả hai những đức hạnh tạo công đức và những hành vi xấu và giải thoát mọi vết dơ là những nguyên nhân làm tái sanh trong sanh tử chính là những nghiệp, những nguyên nhân của giải thoát. Trong những nghiệp đó, những đức hạnh với những ý niệm, như là mười nghiệp thiện và năm ba la mật đầu của sự tích tập công đức, là những hành vi của cấp độ chân lý tương đối. Những đức hạnh không ý niệm, trí huệ thoát khỏi hai cực đoan, là sự tích tập trí huệ bổn nguyên (chân lý tuyệt đối). Sự hợp nhất của hai sự tích tập này, hiện thân trong những giai đoạn của năm con đường, dẫn người ta đến Phật quả. Thế nên nó siêu vượt những đức hạnh thuộc sanh tử. Chúng sanh sanh tử tri giác những hành vi đức hạnh là có bản chất và có những đặc tính. Nhưng đối với những đức hạnh giải thoát, từ lúc khởi đầu của sự tu hành không có tri giác về chúng như là có bản chất hay có những đặc tính. Chúng thoát khỏi ý niệm công đức hay không công đức, và chúng có tinh túy là tánh không và đại bi....

Bố thí...., năm ba la mật đầu là cho sự tích tập công đức, và trí huệ là cho sự tích tập trí huệ bổn nguyên. Qua sự tu hành phối hợp hai cái này, người ta đạt được hai thân (Pháp thân và Sắc thân) của chư Phật.

NHỮNG ĐỨC HẠNH, NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA GIẢI THOÁT

Những đức hạnh giải thoát thực sự thuộc về “chân lý của con đường”, nguyên nhân của dừng dứt khỏi khổ. Dù chúng đặt trên nền tảng phổ quát của những tập khí, thì kết quả – bản thân sự dừng dứt – được hoàn thành nhờ nguyên nhân của dừng dứt khổ đau và sanh tử, được đặt nền trên “dòng” (Rigs) hay tinh túy (Phật tánh). Đó là tại sao những đức hạnh trở thành nguyên nhân của giải thoát tối thượng bất biến. Trong bản văn gốc có nói :

Căn bản của những đức hạnh là “dòng”.
Đó là trạng thái tự nhiên sáng rỡ của tâm,
Bản tánh vô nhiễm, và nó là “dòng hiện diện tự nhiên”.
Phương diện xuất hiện của bản tánh là hai thân,
Chúng đặc trưng bởi chín thí dụ.
Đó là bản tánh của lòng bi hiện diện một cách bổn nguyên, và
Nó là “dòng phát triển”. Điều này do Như Lai nói ra....

Những kinh điển của lần chuyển bánh xe Pháp thứ ba khai thị nghĩa quyết định và chỉ ra bí mật vĩ đại của tất cả chư Phật. Những kinh điển đó là :

Arya-dharanesvaraja-pariprccha sutra.
Arya-srimaladevi-simhadana-pariprccha sutra.
Bu-Mo Rin-Ch’en Gyis Zhus Pa’i mDo.<