PHẦN
II
MỘT
HỢP TUYỂN NHỮNG TÁC PHẨM
CỦA
LONGCHEN RABJAM
VỀ
ĐẠI
TOÀN THIỆN
Tóm
lược các mục
CÁI
THẤY (NỀN TẢNG)
1.
SANH TỬ VÀ NIẾT BÀN PHÁT SANH TỪ “NỀN TẢNG” NHƯ “NHỮNG
HÌNH TƯỚNG XUẤT HIỆN CỦA NỀN TẢNG”
Chương
thứ nhất nói về sự sanh khởi của “những hình tướng
xuất hiện của nền tảng”, sanh tử và niết bàn, từ “nền
tảng” (gZhi). Cái thấy, tri kiến triết học này là độc
nhất của Đại Toàn Thiện. Chương này gồm những trích đoạn
từ bốn chương đầu của Tshigdon Dzod, căn cứ trên những
tantra Đại Toàn Thiện gồm Thal-Gyur, Klong-Drug-Pa, Rig-Pa Rang-Shar,
Mutig Phreng-Ba, Seng-Ge rTsal-rDrogs và rDorje sNying-Gi Me-Long.
“Nền
tảng” là cái thấy thanh tịnh bổn nguyên, tự do khỏi mọi
diễn tả và ý niệm. Nó có tánh chất ba mặt : tinh túy thanh
tịnh bổn nguyên (Ngo-Bo), bản tánh thành tựu tự nhiên (Rang-bZhin)
và lòng bi toàn khắp (năng lực) (Thugs-rJe). Lòng bi, “những
hình tướng xuất hiện tự nhiên của nền tảng”, khởi
sanh từ “nền tảng” với “tám cách thế sanh khởi của
những thành tựu tự nhiên.” Nếu khi chúng sanh khởi, người
ta lại không thấu biết chúng là những tự-xuất hiện, nghĩa
là, “nền tảng” và “những xuất hiện của nền tảng”,
mà thấy chúng là khác với những tự-xuất hiện, thì người
ta thành ra phối hợp với ba cái không giác ngộ, ba cái vô
minh (Ma-Rig-Pa). Người ta sẽ bị phóng dật vào những phân
biệt giữa sanh tử niết bàn và sẽ bị gom nhốt vào hai cái
đó. “Tám cách thế sanh khởi của những thành tựu tự nhiên”
của “những xuất hiện của nền tảng” khởi lên từ “nền
tảng”. Nếu, khi chúng khởi lên, người ta thấu biết, chứng
ngộ chúng là tự-xuất hiện, thì không có phóng dật nào
xảy ra, và những hình tướng xuất hiện sẽ hòa tan vào cái
thanh tịnh bổn nguyên. Đó là sự chứng đắc Phật tánh bổn
nguyên. “Những xuất hiện của nền tảng” chính là cái
nền tảng của giải thoát nếu người ta thấu biết chúng
là những tự-xuất hiện. Chúng là nền tảng của mê lầm
nếu người ta tri giác chúng như là cái gì khác với những
tự-xuất hiện.
“Nền
tảng” trong Đại Toàn Thiện hoàn toàn khác với “nền tảng
phổ quát” (Kun-gZhi) (để chỉ thức phổ quát a lại da) của
học phái Duy Thức. “Nền tảng phổ quát” là nền tảng
cho những phân biệt giữa sanh tử và niết bàn. “Nền tảng”
ở đây có ba phương diện : tinh túy, bản tánh và lòng bi,
chúng là những Trí Huệ Bổn Nguyên của Thân Tối Hậu (Pháp
thân). Nó là Tánh Giác Bổn Nhiên (Rig-Pa) như hư không, không
có ô nhiễm bởi những hiện tượng sanh tử.
Cũng
rất quyết định phải biết những khác biệt giữa tâm (Sems)
và Trí Huệ Bổn Nguyên (Ye-shes). Tâm là một hiện tượng
thuộc sanh tử có những dơ nhiễm của nghiệp và những dấu
vết của nó. Những đối tượng của tâm là những hình tướng
xuất hiện huyễn hóa của sanh tử, những đối tượng có
sáu tính chất. Khi bản tánh chân thật của tâm, Tánh Giác
Bổn Nhiên, tự do đối với tâm, đó là sự chứng đắc giác
ngộ. Trí Huệ Bổn Nguyên là những đức hạnh của niết
bàn ; nó thoát khỏi nghiệp, những dấu vết và những ý niệm
của sanh tử. Đối tượng của Trí Huệ Bổn Nguyên là Bản
Tánh Tối Hậu như hư không và những cõi Phật Sáng Rỡ của
những thân Phật và những Trí Huệ Bổn Nguyên. Để chứng
đắc giải thoát, “những hiện tượng xuất hiện của nền
tảng” chính là nền tảng của giải thoát ; và “nền tảng”
là mục tiêu trong đó người ta đạt được giải thoát.
2.
NGHIỆP CỦA NHỮNG HÀNH VI SANH TỬ, NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ LUÂN
LẠC CỦA CHÚNG SANH TRONG SANH TỬ HUYỄN ẢO
Chương
hai nói về nghiệp của những hành vi sanh tử. Chương này
là một bản dịch rút ngắn phần đầu của chương thứ tư
của Shingta Chenpo, nó dựa vào những kinh và bản văn Đại
thừa gồm Karmasataka, Mahayanaratnakuta-sutra, Suvarnaprabha-sottama-sutra,
Avatamsaka-sutra (kinh Hoa Nghiêm), Uttara-tantra-sastra, Ratnavali, Madhyamikavatara,
Abhidharma-kosa và Abhisamayalamkara.
Trong
cái thấy, kiến giải về nghiệp – những đường lối lưu
lạc trong sanh tử sau khi mê lầm – Đại Toàn Thiện và các
truyền thống kinh điển Đại thừa khác là đồng nhất. Người
thường, sau khi mê lầm lạc vào sanh tử vì sự bất giác
của họ, bắt đầu bám chấp vào cái ngã của họ, bao bọc
trong bóng tối của vô minh và thấm đẫm trong những phiền
não độc hại. Một kết quả là họ bị trói buộc vào sự
hành hạ của sanh tử bởi chuỗi xích nhân quả nghiệp báo.
Người
Phật giáo tin rằng chừng nào người ta chưa giác ngộ hoặc
giải thoát, người ta sẽ lang thang không dứt trong thế giới
do những nhân quả tương thuộc của những hành vi của chính
họ và của những dấu vết do những hành vi ấy tạo ra, mà
nguồn gốc của cái này là những nắm bắt của tâm thức
và sự bất giác. Mười hành vi tốt và mười hành vi xấu
của thân, ngữ, tâm với những dấu vết của chúng tạo ra
những tái sanh sướng khổ trong các chốn lưu đày khác nhau.
Tác động toàn bộ hệ thống của nhân và quả gọi là nghiệp.
Chương này cũng minh họa sự tạo nhân của những hiện tượng
bên ngoài và những hiện tượng bên trong như là vòng xích
mười hai nhân duyên.
3.
NGHIỆP CỦA NHỮNG ĐỨC HẠNH GIẢI THOÁT,
NHỮNG
PHƯƠNG TIỆN ĐỂ GIẢI THOÁT KHỎI SANH TỬ
Chương
ba là về nghiệp của những hành vi giải thoát. Nó là một
dịch thuật rút gọn của phần chót chương thứ tư của Shingta
Chenpo, chủ yếu căn cứ vào các kinh Đại thừa về “lần
chuyển Bánh Xe Pháp thứ hai” và những bình giảng của chúng.
Chúng
sanh vốn có tinh túy Phật (S. tathagatagarbha, Như Lai tạng),
chân lý tuyệt đối, dù cho Phật tánh ấy bị che chướng
bởi nghiệp và những dấu vết của nó tạo ra bởi sự nắm
bắt của họ vào một cái ngã, đến độ tâm bất giác và
những phiền não bao phủ Phật tánh như những mây che khuất
mặt trời. Chúng sanh có tiềm năng để thành Phật, nếu mỗi
người đi theo con đường của sự chứng ngộ và hoàn thiện
tinh túy Phật. Để xua tan những chướng ngại và đạt giải
thoát, người ta phải tu hành hai loại tích tập công đức
và trí huệ. Bằng cách hoàn thiện những tích tập hai phần
này, người ta tịnh hóa nghiệp tiêu cực và những dấu vết
của nó cùng với cái tâm không giác ngộ. Nhờ đó người
ta chứng ngộ tinh túy Phật, Phật tánh, và bằng cách hoàn
thiện sự chứng ngộ bằng thiền định về nó người ta
đạt đến Phật quả. Kiến giải này là chung cho truyền thống
Đại Toàn Thiện và nhiều truyền thống kinh Đại thừa và
tantra Mật thừa khác.
Quan
trọng cần ghi nhận ở đây, như tôi đã giải thích trong
phần dẫn nhập, là Đại Toàn Thiện xác nhận rằng tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh, như kinh điển của “Lần
Chuyển Bánh Xe Pháp thứ hai” và những người theo nó, trong
đó có học phái Duy Thức, chủ trương và như những tantra
cũng dạy như vậy. Nhưng thay vì thấy Phật tánh như là “hoàn
toàn được thiết lập” như Duy Thức đã làm, thì Đại
Toàn Thiện thấy Phật tánh là tự do, giải thoát khỏi mọi
đối cực của những tạo tác, diễn tả, chỉ định và ý
niệm như Prasangika Madhyamika (Hệ Quả Trung Đạo) đã làm.
Longchen Rabjam kết luận rằng trong sự thấu hiểu sự tự
do thoát khỏi những cực biên, Đại Toàn Thiện tương tự
những cái thấy của Prasangika Madhyamika.
4.
CÁI THẤY TRIẾT HỌC VỀ NHỮNG HIỆN HỮU HIỆN TƯỢNG
Chương
bốn nói về những cái thấy triết học về sự chứng ngộ
cái “nền tảng” Trí Huệ Bổn Nguyên không trụ trong hai
cực biên, thường và đoạn, có và không. Chương này là một
bản dịch rút ngắn chương thứ mười của Shingta Chenpo, đặt
nền trên những kinh Đại thừa, những tanra, những tantra Đại
Toàn Thiện và những bình giảng của chúng.
Chương
này giải thích tinh túy của những hiện hữu hiện tượng,
tinh túy đó là vô sanh (tánh không) ; cái thấy của sự chứng
ngộ ; tâm không giác ngộ cần được tịnh hóa ; và Trí Huệ
Tánh Giác, bản tánh chân thật của tâm thoát khỏi những
cực biên, nó tịnh hóa những che ám. Nó nhấn mạnh rằng
qua ngôn từ cái hiểu lý thuyết hay trí thức người ta sẽ
không chứng ngộ tinh túy cũng không hoàn thiện sự chứng
ngộ cái “nền tảng” được. Chương này đặt nền cho
những cái thấy, tri kiến chung của Đại Toàn Thiện và những
truyền thống kinh Đại thừa và tantra khác.
THIỀN
ĐỊNH (CON ĐƯỜNG)
5.
THIỀN ĐỊNH VỀ Ý NGHĨA CỦA CÁI THẤY
Chương
thứ năm nói về thiền định về cái thấy. Nó là một bản
dịch rút gọn phần đầu của chương thứ mười một của
Shingta Chenpo, căn cứ trên những kinh Đại thừa, những tantra,
những tantra Đại Toàn Thiện và những bình giảng của chúng.
Sau
khi xác định cái thấy hay tri kiến, người ta cần thiền
định về nó để đạt chứng ngộ về nghĩa của nó. Chương
này tóm lược những cấp độ khác nhau của thiền định
cho những thiền giả trí năng cấp cao, cấp trung và cấp thấp.
Những thiền giả trí năng cao đạt giải thoát nơi sự chứng
ngộ trạng thái tự nhiên của tâm, trạng thái tối hậu.
Những thiền giả trí năng trung bình tu hành và chứng ngộ
trí huệ bẩm sinh nhờ năm phương diện của thiền định
và tám cách tham thiền. Những thiền giả trí năng kém tu hành
và đạt được những đức hạnh của các hình thức nhập
định khác nhau qua những thiền định trong an định (chỉ),
quán chiếu (quán) và sự hợp nhất của chúng. Những thiền
định này trực tiếp hay gián tiếp đưa vào, dẫn đến hay
đặt nền cho những thiền định và chứng ngộ của tantra
và Đại Toàn Thiện.
6.
HAI MƯƠI BẢY BÀI GIẢNG VỀ TU HÀNH ĐẠI TOÀN THIỆN
Chương
sáu là về thiền định Đại Toàn Thiện. Nó là một bản
dịch rút ngắn của Changchub Lamzang. Nó là một giáo huấn
về sự tu hành thiền định Đại Toàn Thiện được ban cho
trong cuốn Semnyid Ngalso, Thư Giãn trong Trạng Thái Tự Nhiên
của Tâm, sắp xếp thành những thời kỳ thiền định. Nó
gồm hai mươi bảy bài tu hành : bốn bài xác định cái thấy,
hai mươi bài thiền định về duy trì sự chứng ngộ về cái
thấy, và ba bài về sự chứng đắc xác tín vào quả của
thiền định. Giáo huấn nói rằng những thiền giả đã sẵn
sàng cho sự tu hành này cần thiền định về mỗi bài trong
năm ngày, ba ngày hay ít nhất là một ngày.
7.
TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN
Chương
bảy là bản dịch trọn vẹn của Tâm Giải Thoát Tự Nhiên.
Bản văn này khó hiểu ở nhiều chỗ, và không có bình giảng
để làm rõ nó. Nó làm sáng tỏ tri kiến sự Phân Chia của
Tâm (Sems-sDe) của những giáo lý Đại Toàn Thiện, cái thấy
rằng mọi hiện hữu hiện tượng không là gì cả ngoài chỉ
là Tâm, Tâm này thoát khỏi tất cả nhiễm ô và tạo tác.
Bản văn gồm ba chương tổng cộng bảy trăm bốn mươi ba
dòng kệ. Nó cung cấp những giáo huấn về cái thấy, thiền
định và quả của tâm giải thoát và giác ngộ tự nhiên,
tâm ấy là vô sanh và thoát khỏi mọi ý niệm, tri giác và
nắm hiểu. Chương đầu là về sự chứng đắc tự-giải
thoát bằng cách chứng ngộ cái thấy về “nền tảng”.
Chương hai về chứng đắc tự-giải thoát qua những kinh nghiệm
của con đường thiền định. Chương ba là về sự chứng
đắc tự-giải thoát bằng cách hoàn thành quả thành tựu
tự nhiên vĩ đại của Đại Toàn Thiện.
8.
NHỮNG GIÁO HUẤN THIỀN ĐỊNH VỀ TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN,
ĐẠI TOÀN THIỆN
Chương
tám là bản dịch trọn vẹn Lamrim Nyingpo’i Donthrid, Giáo Huấn
Nghĩa về Tinh Túy của những Giai Đoạn của Con Đường. Nó
trình bày những đường lối tu hành về những giáo lý thiết
yếu trong Tâm Giải Thoát Tự Nhiên. Nó chia sự tu hành thành
ba phạm trù. Thứ nhất là những giáo huấn cho những thiền
giả trí năng cao về sự chứng đắc tự-giải thoát trong
đời này. Nó bao gồm những sơ bộ, sự đưa vào thực sự
và thiền định, và sự chuyển những hoạt động khác nhau
của những thời kỳ xuất định vào tu hành hay hỗ trợ cho
tu hành. Thứ hai là những giáo huấn cho những thiền giả
trí năng trung bình về sự chứng đắc tự-giải thoát bằng
tham thiền về các định quang minh, nền tảng cho sự sanh khởi
của trạng thái Trung Ấm (Bardo). Thứ ba là những giáo huấn
cho những thiền giả trí năng kém để phát sanh những tri
giác đức hạnh và những thiền định trong trạng thái Trung
Ấm để đạt tự giải thoát hay ít nhất có một tái sanh
tốt hơn. Kết quả rốt ráo của những tu hành này là chứng
đắc Phật quả với ba thân Phật và năm Trí Huệ Bổn Nguyên.
9.
SỰ TU HÀNH VÀ NHỮNG CHỨNG ĐẮC NĂM CON ĐƯỜNG
ĐẠI
THỪA
Chương
chín nói về những giai đoạn của năm con đường dạy trong
kinh. Nó là một bản dịch rút ngắn phần cuối của chương
thứ mười một của Shingta Chenpo, căn cứ vào các kinh Đại
thừa, những bản văn và những bình giảng.
Nó
giải thích những tu hành và những hoàn thiện của “ba mươi
bảy phương diện của giác ngộ” trong những giai đoạn của
bốn con đường đầu tiên – những con đường của sự tích
tập, áp dụng, thấy và thiền định – và như là kết quả,
sự chứng đắc con đường “không tu hành nữa”, nó là
quả vị Phật. Quan trọng cần ghi nhận rằng không có những
khác biệt lớn lao giữa những phương pháp tu hành được
dùng trong những giai đoạn của những con đường của kinh,
tantra và Đại Toàn Thiện. Tất cả chúng đều tu hành và
hoàn thiện “ba mươi bảy phương diện của giác ngộ” trong
những giai đoạn của “năm con đường”. Bởi thế, để
hiểu con đường tu hành Đại Toàn Thiện, quan trọng là nghiên
cứu những phương diện, giai đoạn và những con đường trong
chương này và trong các kinh điển chung khác.
10.
SỰ TU HÀNH VÀ CHỨNG ĐẮC NHỮNG CON ĐƯỜNG VÀ NHỮNG GIAI
ĐOẠN CỦA TANTRA
Chương
mười là về những giai đoạn của con đường tu hành tantra.
Nó là một bản dịch rút ngắn chương thứ hai mươi mốt
của Pema Karpo, trình bày một nghiên cứu so sánh những con
đường kinh và tantra dựa trên những bản văn kinh và tantra.
Bằng
cách hoàn thiện tâm (sems) và những năng lực (rlung) trong bốn
bánh xe của những kinh mạch (luân xa), người ta hoàn thiện
“ba mươi bảy phương tiện của giác ngộ” trong bốn cấp
độ đầu tiên của con đường và đánh thức những đức
hạnh của mười địa. Như là kết quả rốt ráo, người
ta đạt đến con đường “không tu hành nữa”, tức quả
vị Phật, và đã làm bình lặng tâm và những biến cố tâm
thức vào trong cõi giới tối hậu, người ta tồn tại với
những thân Phật và những Trí Huệ Bổn Nguyên.
11.
SỰ CHỨNG ĐẮC NHỮNG CON ĐƯỜNG, NHỮNG GIAI ĐOẠN VÀ NHỮNG
THỊ KIẾN CỦA ĐẠI TOÀN THIỆN
Chương
mười một nói về những chứng đắc những con đường của
Đại Toàn Thiện. Phần này là những trích đoạn từ Choying
Dzod, Namkha Longchen, Namkha Longsal của các cuốn Lama Yangtig, Sem-nyid
Rangtrol và Tshigdon Dzog. Chúng giải nghĩa sự chứng đắc Tâm
Giác Ngộ và “bốn thị kiến”, những chứng đắc của
tu hành Thodgal và Thregchod của Đại Toàn Thiện. Do tu hành
và hoàn thiện “tâm giác ngộ” và “bốn thị kiến” của
Đại Toàn Thiện, người ta hoàn thành những con đường và
giai đoạn với “ba mươi bảy phương diện của giác ngộ”.
Tâm và những biến cố tâm thức tan biến vào cõi giới tối
hậu và từ cõi giới của Thân Tối Hậu khởi lên những
Sắc thân Phật với tất cả những đức hạnh Phật khác.
Chúng phụng sự những nhu cầu của chúng sanh, đảm nhận
sự xuất hiện thành nhiều biểu lộ khác nhau với trí huệ
bổn nguyên của Hiểu Biết hai phần (mKhyen-gNgis) (hiểu biết
chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối).
Chương
này rất ngắn. Tôi không đưa thêm bản văn nào của Longchen
Rabjam cho thêm những giải thích chi tiết về “bốn thị kiến”.
Mục
tiêu chính của chương này chỉ là bày tỏ những nguyên lý
của con đường tu hành chung cho những tantra Đại Toàn Thiện
và những kinh chung và những tantra khác. Trình bày đầy đủ
chi tiết của giáo lý như vậy chỉ thích hợp cho những người
đã chín, đã trưởng thành do những tu hành chung.
QUẢ
12.
CHỨNG ĐẮC QUẢ, NHỮNG THÂN PHẬT VÀ NHỮNG TRÍ HUỆ BỔN
NGUYÊN CỦA PHẬT QUẢ TRONG NHỮNG KINH ĐẠI THỪA VÀ NHỮNG
TANTRA
Chương
thứ mười hai nói về quả của con đường tu hành. Nó là
một bản dịch rút ngắn của chương hai mươi hai cuốn Pema
Karpo.
Khi
người ta hoàn thành địa thứ mười và con đường thứ tư,
người ta đạt được quả, con đường thứ năm, nó là quả
vị Phật. Phật quả gồm những thân Phật như là nền tảng
và những Trí Huệ Bổn Nguyên như là tinh túy.
Chương
này căn cứ vào Manjusrinamasamgiti-tantra và Guhyagarbhamayajala-tantra,
xếp những thân Phật thành năm phương diện. Chúng là ba thân
Phật : Thân Tối Hậu (Pháp thân), Báo thân và Hóa thân. Thêm
vào ba thân này, Thân Đại Lạc và Thân Kim Cương Bất Biến
tạo thành năm thân Phật. Trong nhiều kinh điển, như Suvarnaprabhasottama-sutra,
những thân Phật được xếp thành ba thân. Mahaya-nottaratantra-sastra
và Mahayana-sutralamkara v.v.... xếp chúng thành bốn thân Phật
– ba thân Phật Pháp, Báo, Hóa và Thân Tinh Túy. Dvikalpa-hevajra-tantra
v.v.... xếp thành bốn thân ; ba thân Phật và Thân Đại Lạc.
Những cách xếp loại này được làm căn cứ trên những đức
hạnh khác biệt của những thân Phật, nhưng tất cả chúng
là một trong tinh túy và như nhau trong Phật quả. Trong Shingta
Chenpo có nói :
Những
hệ thống khác nhau phân chia các thân Phật chỉ là những
cách phân chia và cô đọng những loại và đức hạnh của
thân Phật. Trong thực nghĩa, chúng không sai khác, vì chúng
chỉ là những cách khác nhau để xếp loại cái Pháp của
địa vị Phật. Tinh túy của chúng là một.
Trí
Huệ Bổn Nguyên, tinh túy của những thân Phật, có năm phân
chia. Đó là Trí Huệ Bổn Nguyên của Cõi Giới Tối Hậu,
Trí Huệ Bổn Nguyên như Tấm Gương (Đại Viên Cảnh Trí),
Trí Huệ Bổn Nguyên của Bình Đẳng (Bình Đẳng Tánh Trí),
Trí Huệ Bổn Nguyên Phân Biệt (Diệu Quan Sát Trí) và Trí
Huệ Bổn Nguyên của Thành Tựu (Thành Sở Tác Trí). Chương
này kết thúc với sự diễn tả những hành động Phật, chúng
đáp ứng những nhu cầu của chúng sanh một cách tự nhiên.
13.
NHỮNG THÂN PHẬT VÀ NHỮNG TRÍ HUỆ BỔN NGUYÊN TRONG ĐẠI
TOÀN THIỆN
Chương
mười ba là về quả của con đường tu hành. Nó là một bản
dịch rút ngắn chương thứ mười một của Tshigdon Dzod. Chương
này đặt nền trên Thal-Gyur và Rang-Shar, hai tantra cổ. Nó cũng
gồm những trích dẫn từ những kinh điển khác gồm Avatamsaka-sutra,
Mahayana-sutralamkara, Abhisamayalamkara, Mahayanottaratantra và Madhyamakavatara.
Nó
diễn tả sự chứng đắc những thân Phật và những Trí Huệ
Bổn Nguyên, những quả của con đường tu hành. Thân Phật
gồm ba phương diện : Thân Tối Hậu hay Pháp thân, Báo thân
và Hóa thân. Thân Tối Hậu phú bẩm với ba Trí Huệ Bổn
Nguyên, gọi là “những Trí Huệ Bổn Nguyên ở tại nền
tảng”. Chúng là những Trí Huệ Bổn Nguyên của tinh túy
bổn lai thanh tịnh, bản tánh tự nhiên thành tựu và lòng
bi toàn khắp. Sự xếp loại Trí Huệ Bổn Nguyên của Thân
Tối Hậu căn cứ riêng trên những tantra Đại Toàn Thiện.
Báo thân phú bẩm với năm Trí Huệ Bổn Nguyên, gọi là “những
Trí Huệ Bổn Nguyên với những Đặc Tính”. Chúng là Trí
Huệ Bổn Nguyên của Cõi Giới Tối Hậu, Trí Huệ Bổn Nguyên
như Tấm Gương, Trí Huệ Bổn Nguyên của Bình Đẳng, Trí
Huệ Bổn Nguyên Phân Biệt và Trí Huệ Bổn Nguyên của Thành
Tựu. Hóa thân phú bẩm với hai Trí Huệ Bổn Nguyên, gọi
là “Trí Huệ Bổn Nguyên Toàn Khắp”. Chúng là những Trí
Huệ Bổn Nguyên của hai loại Hiểu Biết, Hiểu Biết về
tánh Như và Hiểu Biết về những “sai khác”.
Truyền
thống Đại Toàn Thiện đồng ý với những kinh Đại thừa
và những tantra trong những giải thích của chúng về cái thấy,
thiền định, và quả tổng quát về chân lý tương đối và
sự trình bày của chúng về nghĩa tổng quát của chân lý
tuyệt đối. Nhưng về nghĩa rốt ráo nhất của tinh túy bên
trong nhất của Chân Lý Tuyệt Đối, Đại Toàn Thiện có một
giải thích độc nhất về cái thấy, thiền định và quả.
Căn bản, ba phương diện độc nhất của Đại Toàn Thiện
là :
Cái
Thấy : (tri kiến) : “Nền tảng” là cái thanh tịnh tuyệt
đối và “những hình tướng xuất hiện của nền tảng”
là cội nguồn và đường lối sanh khởi của những mê lầm
như là sanh tử và niết bàn.
Thiền
Định : Tinh túy bên trong nhất của đường lối tu hành
là người ta phân biệt Tánh Giác Bổn Nhiên (Rig-Pa), Phật
tánh, khỏi tâm thức, và an trụ trong tánh giác đó mà không
có những nhiễm ô và dao động ; và người ta thành tựu những
xuất hiện như là thần lực, trò chơi và thị kiến của
Tánh Giác Bổn Nhiên.
Quả
: Sự chứng đắc Thân Tối Hậu, tức là sự hợp nhất của
tinh túy thanh tịnh bổn nguyên (tánh không), bản tánh tự nhiên
thành tựu (tánh sáng tỏ), và lòng bi toàn khắp (thần lực).
CÁI
THẤY
(NỀN
TẢNG)
1.
Sanh tử và Niết bàn phát sanh từ “Nền tảng” như “những
Hình tướng Xuất hiện của Nền tảng” như thế nào theo
những giáo lý Đại Toàn Thiện thậm thâm
Trong
Thegchog Dzod, Tshigdon Dzod và những tác phẩm khác, Longchen Rabjam
cho những giải thích về cái “nền tảng”, cái thanh tịnh
bổn nguyên và sự khởi lên của “những hình tướng xuất
hiện của cái nền tảng” và những mê lầm qua chuỗi mười
hai nhân duyên theo những giáo lý Mật truyền Sâu Thẳm nhất
của Đại Toàn Thiện. Ngài giải thích sự phân biệt giữa
cái “nền tảng phổ quát” (a lại da) bốn phần và Pháp
thân (thân tối hậu) và giữa “tâm” và “trí huệ bổn
nguyên (Jnana). Phần sau là những đoạn dịch rút ngắn những
đoạn chọn lọc từ Tshig-Don Rinpoche’i mDzod.
NỀN
TẢNG (gZhi) : CÁI TINH TÚY (Ngo-Bo) THANH TỊNH BỔN NGUYÊN (Ka-Dag)
Cái
thanh tịnh bổn nguyên của nền tảng nguyên sơ siêu vượt
khỏi những cực đoan của hiện hữu (có) và không hiện hữu
(không), khỏi mọi ý niệm và diễn tả. Vì tinh túy (Ngo-Bo)
của nền tảng là thanh tịnh một cách bổn nguyên, nó siêu
việt cực đoan hiện hữu, thường kiến và nó không kiến
lập như một hiện tượng sự vật hay có những đặc tính.
Vì bản tánh (của nền tảng) là thành tựu tự nhiên, nó
siêu việt khỏi cực đoan không hiện hữu, đoạn kiến, và
nó hiện diện như là cái thanh tịnh, bản tánh tối hậu của
sự sáng tỏ trống không, như là bản tánh của Phật bổn
nguyên như trạng thái của thân tối hậu bất biến, như không
phải sanh tử hay niết bàn, và như đại trí huệ bổn nguyên
tự-khởi lên vốn hiện tiền từ vô thủy như hư không.
Tantra
Rang-Shar nói : “Cái thanh tịnh bổn nguyên, cái nền tảng,
hiện diện (trong cách thế) tinh túy [thực thể], bản tánh
[tính cách] và lòng bi [năng lực]. Tinh túy là sự không dứt
của trí huệ bổn nguyên bất biến, và được gọi là bản
tánh của “thân thể cái bình trẻ trung”. Bản tánh là những
xuất hiện không dứt của năm ánh sáng. Những xuất hiện
của lòng bi là (tỏa khắp) như bầu trời không mây. Những
cái ấy được gọi là bản tánh của thanh tịnh bổn nguyên
vì chúng không rơi vào những cực biên nào của những phương
diện hay những thiên chấp.”
NHỮNG
XUẤT HIỆN CỦA NỀN TẢNG KHỞI LÊN NHƯ THẾ NÀO
Phá
vỡ cái vỏ của “thân thể cái bình trẻ trung”, nền tảng
bổn nguyên của cõi giới tối hậu bên trong thanh tịnh nguyên
sơ, do dòng chảy của năng lực/khí trí huệ bổn nguyên, những
tự-xuất hiện của tánh giác bổn nguyên lóe ra từ nền tảng
như là “tám cửa thành tựu tự nhiên.” [1]
Vì
mọi sự (niết bàn và sanh tử) thì tự nhiên khởi lên từ
những xuất hiện của “tám cửa thành tựu tự nhiên”,
nó được gọi là “sự khởi lên đồng thời vĩ đại của
những xuất hiện của sanh tử và niết bàn.” Khi những xuất
hiện khởi lên tự nhiên từ sự sáng tỏ bên trong như là
sự sáng tỏ bên ngoài, những xuất hiện của tinh túy là
sự tự-sáng tỏ, nó là không gian của sự không chướng ngại,
những xuất hiện của bản tánh là vầng sáng nguyên thủy
(hay tự nhiên) như là năm ánh sáng, và những xuất hiện của
lòng bi là phương diện không gian cung cấp như bầu trời không
mây. (Đây là sự khởi lên của những xuất hiện của nền
tảng từ nền tảng.)
Khi
(những xuất hiện của nền tảng) khởi lên, những hiện
hữu hiện tượng khởi lên như những ánh sáng và những thân
(Phật). Đó được gọi là những xuất hiện của mọi sự
như là cõi Phật thành tựu tự nhiên. Từ năng lực của tinh
túy của cõi ấy khởi lên những xuất hiện của Báo thân,
từ năng lực của những phẩm tính của chúng khởi lên những
xuất hiện của Tự Tánh Hóa thân (Svabhavanirmanakaya), và từ
năng lực lòng bi của chúng khởi lên cửa (những mặt) của
sanh tử, như những giấc mộng.
NỀN
TẢNG
Nền
Tảng Bổn Nguyên : Tinh túy của nó vốn thanh tịnh như một
pha lê vô nhiễm. Nó không hiện hữu như sự vật hay tính
cách. Bản tánh của nó là tự nhiên thành tựu, và mặc dù
trong sự bạch tịnh (của bản tánh như pha lê) tự-ánh sáng
hiện diện như là sự sáng tỏ sâu xa (hay bên trong), nó không
xuất hiện ra ngoài vì không có những điều kiện. Thế nên
nền tảng hiện diện trong cách thế “thân thể cái bình
trẻ trung” bởi vì vỏ bao bên ngoài còn chưa vỡ. Tinh túy
của nền tảng bổn nguyên là tánh không vì nó vốn hằng
hằng thanh tịnh và không có sự vật trong đó. Nhưng tánh
giác bổn nguyên, tự ánh sáng vốn thành tựu tự nhiên không
chướng ngại. Thế nên nó tự hiện diện như là “nền tảng
của sự khởi lên” của mọi xuất hiện hình tướng. Tuy
nhiên tinh túy của nó không xuất hiện bên ngoài trong những
đặc tính ánh sáng, hình thể hay màu sắc. Trong pháp giới
bao la của tinh túy, sự thanh tịnh bổn nguyên, hiện hữu tự-ánh
sáng tự nhiên thành tựu của sự sáng tỏ vi tế và sâu xa
và trí huệ bổn nhiên. Chúng không phải là một, khác hay
phân cách, mà hiện diện như sự sáng tỏ tối thượng, như
lõi của thành tựu tự nhiên quý báu, và như bản tánh của
tinh túy, bản tánh của lòng bi. Vì tinh túy của nó là tánh
không, nó không hiện hữu như sự vật hay tính cách. Vì bản
tánh của nó là sáng tỏ, nó không bao giờ từ bỏ tự tánh
của những xuất hiện của vầng sáng bổn nguyên. Vì lòng
bi của nó là tánh giác bổn nhiên, nó hiện diện như là nền
tảng không dứt của sự khởi lên của hiểu biết như là
trí huệ bổn nguyên.
Bản
tánh của sự thanh tịnh bổn nguyên là tự nhiên thành tựu.
Cõi giới tối hậu của nó thoát khỏi thường kiến vì không
có sự khẳng định rằng nó là sự sáng tỏ thô bên ngoài
đang phóng chiếu. Nó thoát khỏi đoạn kiến vì nó được
xác định như là sự sáng tỏ vi tế bên trong. Như thế, trí
huệ bổn nguyên tự nhiên khởi lên, thoát khỏi những cực
đoan, là không hiện hữu vì nó là tánh không trong tinh túy,
và nó là những xuất hiện không ngừng vì nó là sự sáng
tỏ trong bản tánh. Đây là nền tảng của mọi hiện khởi
vì nó là không dứt trong năng lực lòng bi của nó. Đây là
cách thế của thật tánh của nền tảng.
NHỮNG
XUẤT HIỆN CỦA NỀN TẢNG KHỞI LÊN NHƯ THẾ NÀO
Trong
cõi giới bổn nguyên tối hậu, “thân thể cái bình trẻ
trung” hiện diện trong tinh túy của nó như thân Phật, trong
bản tánh như là ngữ và trong lòng bi như là tâm. Bằng sự
xuất lộ ra bên ngoài của vầng sáng của năm năng lực, năng
lực-đời sống với bốn nhánh của nó, vốn ở trong tánh
giác bổn nhiên như trái tim, phá vỡ cái vỏ bọc của “thân
thể cái bình trẻ trung”. Bấy giờ từ vầng sáng của sự
thành tựu tự nhiên khởi lên những xuất hiện của năm ánh
sáng. Đồng thời vầng sáng của lòng bi, tánh giác bổn nhiên,
khởi lên như nhận thức, nó phân tích những cách thức (của
những xuất hiện). Vào lúc đó, phương diện không thấu hiểu
tự-tinh túy (hay tự tánh) (của nhận thức và những xuất
hiện) khởi động vận hành như là cái gọi là không giác
ngộ (Ma-Rig-Pa, vô minh), thiết lập liên hệ với giác ngộ.
Lúc ấy, mặc dù nền tảng không thay đổi, nó có vẻ như
bị biến đổi bởi vì những xuất hiện hình tướng của
tánh giác bổn nhiên. Bấy giờ, từ trạng thái những xuất
hiện như bầu trời không mây của sự thanh tịnh bổn nguyên,
khởi lên “tám cách khởi lên của sự thành tựu tự nhiên”
như là những “tự-xuất hiện”.
SỰ
KHỞI LÊN CỦA MÊ LẦM
Trong
“nền tảng bổn nguyên” không có mê lầm. Nhưng khi “những
xuất hiện của nền tảng” khởi lên, cũng khởi lên nhận
thức, nhận thức này nếu không thấu hiểu tự-tinh túy (hay
tự tánh), và đó là một nhận thức trung tính cắm rễ vào
vô minh, nó xem “những xuất hiện của nền tảng” như là
(những thực thể) tách biệt, và do đó người ta trở nên
mê lầm như một chúng sanh.
Do
phương diện không thấu hiểu tinh túy của “những xuất
hiện của nền tảng” (như chúng thật sự là), người ta
trở nên phóng dật vào những mê lầm.... Khi những hiện tượng
xuất hiện như “những xuất hiện của nền tảng”, khởi
lên nhận thức đó là năng lực của lòng bi khởi lên tự
nhiên (trong bản tánh của) sự sáng tỏ và tánh giác với
khả năng phân tích những đối tượng. Lúc đó, do không thấu
hiểu chính nó, nó trở thành phối hợp với ba cái không giác
ngộ (Ma-Rig-Pa, vô minh) : (a) Không biết bản thân nhận thức
khởi lên là sự thanh tịnh bổn nguyên, đó là sự không giác
ngộ tự thể đơn nhất, cái nguyên nhân. (b) Sự đồng khởi
lên của nhận thức và sự không biết tự-tinh túy (xem những
xuất hiện tự nhiên thành tựu mà không biết chúng là những
tự-xuất hiện vô tự tánh) là “không giác ngộ bẩm sanh”.
(c) Sự phân tích những tự-xuất hiện như là những cái khác
là không giác ngộ những vọng tưởng.
Ba
cái này là một trong tinh túy và có những phương diện khác
nhau. Thế nên, khi người ta phân tích những tự-xuất hiện,
vì không thấu hiểu “nền tảng” và “những xuất hiện
của nền tảng”, rằng “nền tảng” là tinh túy, bản tánh
và năng lực lòng bi và phương thức của những thành tựu
tự nhiên chính là “những xuất hiện của nền tảng”,
và bởi vì nắm bắt những tự-xuất hiện như là những cái
khác, người ta trở nên phóng dật vào những mê lầm. Khi
do nguyên nhân, tức là ba cái không giác ngộ và vì bốn duyên,[2]
những ý niệm bất tịnh, những xuất hiện (của nền tảng),
người ta mê lầm theo những xuất hiện của nền tảng như
là những nhận thức của cái được nắm hiểu và người
nắm hiểu, bấy giờ sáu loại tư tưởng khởi lên như là
những người nắm hiểu không ngừng dứt ; và sáu phiền não
căn bản khởi lên trong trạng thái thùy miên ; chúng trói buộc
tánh giác bổn nhiên và người ta trở nên mê lầm theo những
xuất hiện của sáu đối tượng sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp.
Đó
là quá trình của vòng mười hai nhân duyên khiến người ta
bỏ quên tánh giác mà lang thang trong sanh tử. Mười hai nhân
duyên là : (1) Khi “những xuất hiện của nền tảng” khởi
lên từ “nền tảng”, nhận thức thuộc tâm thức khởi
lên từ năng lực của tánh giác bổn nhiên, và nhận thức
này được đi kèm với sự không thấu hiểu tinh túy của
chính nó, đó là không giác ngộ (Ma-Rig-Pa, vô minh). (2) Từ
sự không giác ngộ này khởi lên những mê lầm, và đó là
yếu tố cấu tạo (hành : sự tạo thành nghiệp). (3) Từ đây
khởi lên những phân tích những kiểu cách của những đối
tượng, và chúng là thức. (4) Từ đây khởi lên sự phân
biệt bằng cách chỉ định như “đây là một đối tượng”
và đây là một “hình tướng xuất hiện”, và rồi thức
nắm hiểu những đối tượng được đặt tên như là những
hình sắc. Đó là sự mê lầm ban đầu theo sanh tử, đó là
danh sắc. (5) Từ đây khởi lên những giác quan và những phóng
chiếu về những đối tượng, và đó là sáu nguồn (lục
căn). (6) Từ đây khởi lên sự nắm bắt những đối tượng,
và đó là sự tiếp xúc (giữa những đối tượng, những
khả năng và những thức) (xúc). (7) Từ đây khởi lên tham
bám, ghét bỏ và trung tính, và từ đó là cảm giác (thọ).
(8) Từ đây khởi lên tham luyến những đối tượng, đó là
khao khát (ái). (9) Từ đây khởi lên người nắm bắt và hành
động nắm bắt những đối tượng, và đó là nắm bắt (thủ).
(10) Từ đây khởi lên sự hình thành những hình tướng xuất
hiện không chắc chắn và những kinh nghiệm của nhiều mê
lầm, và đó là sự trở thành (hữu). (11) Từ đây khởi lên
sự sanh vào dục giới, sắc giới và vô sắc giới, đó là
sanh. (12) Từ đây khởi lên già, bịnh, chết.
Chính
sự khởi lên đầu tiên của sợi xích mười hai duyên sanh,
nguyên nhân của sanh tử, là từ “những xuất hiện của
nền tảng”. Khi những vòng xích mười hai duyên sanh xảy
ra nối tiếp nhau, người ta lang thang trong nhiều hiện hữu
khác nhau của sanh tử không dứt.
Như
thế, những hình tướng xuất hiện huyễn ảo biểu lộ như
sanh tử do sức mạnh của những dấu vết tập khí của sự
không biết (bản tánh thực sự của những xuất hiện), và
do sự nắm bắt chúng như là cái ngã. Bởi đó những xuất
hiện trở thành được thiết lập như năm uẩn, mười tám
yếu tố (xứ) và mười hai nguồn (thập nhị nhập) của thân
xác cá nhân, y lang thang qua những đời tương tục và ở mãi
trong sanh tử.
Phật
tánh thì hiện tiền và tràn ngập khắp bản tánh của mọi
chúng sanh.... Tantra nói : “Trong mọi chúng sanh của thế giới,
Phật tánh hiện diện và tràn ngập khắp như dầu trong những
hạt mè.”
VÀI
ĐIỂM CỐT YẾU CỦA QUAN ĐIỂM ĐẠI TOÀN THIỆN :
Sự
Phân Biệt giữa Nền Tảng Phổ Quát và Pháp Thân
Vì
nền tảng phổ quát (Kun-gZhi) là gốc của sanh tử, nó là
nền tảng của mọi dấu vết, như một cái ao. Vì Pháp thân
là (thân tối hậu) là gốc của niết bàn, nó là sự giải
thoát khỏi hết mọi dấu vết, và nó là sự cạn kiệt của
tất cả mọi ô nhiễm....
Trong
trạng thái Pháp thân như đại dương trong suốt, thường trụ
ở căn bản, nền tảng phổ quát như con tàu chở đầy hành
khách – tâm và thức, và nhiều ghe thuyền, những nghiệp
và dấu vết – ra đi trên con đường giác ngộ, băng qua trạng
thái của tánh giác bổn nhiên, Pháp thân.
Trong
một số kinh và tantra, phương diện “căn bản” được gọi
là nền tảng phổ quát. Ở đây một số người không hiểu
nghĩa thực cho là căn bản và nền tảng phổ quát là như
nhau. Đó là một sai lầm trầm trọng. Nếu chúng là như nhau,
bấy giờ sẽ có nhiều lỗi : vì nền tảng phổ quát có những
dấu vết, Pháp thân cũng có dấu vết : vì nền tảng phổ
quát thay đổi, Pháp thân cũng thay đổi, và vì nền tảng
phổ quát tạm thời, Pháp thân cũng tạm thời.
Nền
Tảng Phổ Quát
Thực
thể : Nó là trạng thái không giác ngộ và trung tính, thuộc
về (phạm trù) tâm và những biến cố tâm thức, và nó đã
trở thành nền của mọi nghiệp và dấu vết của sanh tử
và niết bàn....
Định
nghĩa : Nó được gọi là nền tảng phổ quát (Kun-gZhi) vì
nó là căn bản của những khối lượng dấu vết.
Phân
chia : Có bốn thứ. (a) Phương diện (không giác ngộ, sự không
biết tánh giác bổn nhiên) đồng thời khởi lên cùng tánh
giác bổn nhiên, như vàng và oxit vàng từ thời gian nguyên
thủy, đó là “nền tảng phổ quát bổn nguyên tối hậu”.
Sự không giác ngộ này được định nghĩa như vậy trong tương
quan với giác ngộ. Đây là nền móng ban đầu cốt yếu cho
tất cả những hiện tượng sanh tử. (b) Một trạng thái trung
tính nó là nền móng của phương diện hành động (nghiệp)
và là nền móng gốc nối kết người ta với sanh tử và với
niết bàn qua những hành vi khác nhau là “nền tảng phổ quát
tối hậu của hợp nhất”. (c) Một trạng thái trung tính
nó là phương diện của những nghiệp còn ngủ yên của tâm
và những biến cố tâm thức chúng tạo ra những tái sanh trong
sanh tử là “nền tảng phổ quát của những dấu vết khác
nhau”. (d) Phương diện của sự không giác ngộ, nó là nền
móng của sự khởi lên của ba phương diện khác nhau của
những xuất hiện thân thể : những xuất hiện trong thân thô
với thân thể, tay chân, làm bằng nguyên tử (của cõi dục)
; thân tịnh quang (của cõi sắc), và thân xuất hiện khi nhập
định (của cõi vô sắc) là “nền tảng phổ quát của thân
của những dấu vết”.
Pháp
Thân (Thân Tối Hậu)
Thực
thể : Nó là tánh giác bổn nhiên như hư không không bị ô
nhiễm bởi sanh tử...
Định
nghĩa : Trong Tantra Thalgyur, có nói : “Theo định nghĩa, Pháp
là con đường toàn thiện. Thân nghĩa là sự thành tựu phát
sanh từ con đường.”
Phân
chia : Lại có nói : “Được chia thành Pháp thân, Báo thân
và Hóa thân....”
Theo
giải thích của Đại Toàn Thiện, Pháp thân được diễn tả
là thân tối hậu, bản tánh thanh tịnh và ở trong nền tảng
với những tính cách tinh túy, bản tánh và lòng bi. Trong Tantra
Rangshar có nói : “Tinh túy, bản tánh và lòng bi là những
tính cách của Pháp thân.”
NHỮNG
PHÂN BIỆT GIỮA TÂM VÀ TRÍ HUỆ BỔN NGUYÊN
Dầu
tâm là gì, đó là những hình tượng của sanh tử. Khi những
lỗi lầm, nghiệp và những dấu vết, khởi lên như những
nhiễm ô và được phối hợp với tánh giác bổn nhiên của
nó, đó gọi là một chúng sanh. Với tâm, những chúng sanh
bị mê lầm trong sáu nẻo luân hồi. Khi tánh giác bổn nhiên
của người ta trở nên thoát khỏi tâm thức, người ta được
gọi là Phật, bậc thoát khỏi những nhiễm ô ngoại sanh.
Dầu tánh giác bổn nhiên là gì, đó là thuộc về niết bàn.
Nó thiêu cháy nghiệp và những dấu vết như một ngọn lửa.
Vì nó vĩnh viễn xa lìa khỏi những ý niệm, bản tánh của
nó là tánh không và sự sáng tỏ, như hư không.
Tâm
theo Đại Toàn Thiện Thậm Thâm
Thực
thể của tâm (Sems) là một nhận thức (trong cách thế) người
nắm bắt và cái được nắm bắt và những tâm thái của
ba cõi. Tâm có ba phương diện : tâm (Sems), nó là thức của
nền tảng phổ quát ; tư tưởng (Yid), nó đi vào trong mọi
sự và thưởng thức những đối tượng ; thức (rNam-Shes),
nó là thức của (sáu cửa nhập) vào. Ba nhận thức này là
cùng một thực thể, nó cắm rễ vào trong sự không tự nhận
biết chính nó (và đi kèm) bởi năm độc.
Trí
Huệ Bổn Nguyên
Thực
thể : Nó là tánh giác bổn nhiên sáng rỡ, tinh túy-Phật (Tathagatagarbha
: Như Lai Tạng)....
Định
nghĩa : Nó là trí huệ bổn nguyên vì nó hiện diện một cách
nguyên thủy (Ye) và nó là nhận thức thánh thiêng (Shes)....
Phân
chia : Có ba : Trí huệ bổn nguyên ở tại nền tảng ; trí
huệ bổn nguyên phú bẩm những đặc tính ; và trí huệ bổn
nguyên thấm khắp mọi đối tượng hiện tượng.... Tinh túy,
bản tánh và lòng bi là trí huệ bổn nhiên ở tại nền tảng.
Những trí huệ bổn nguyên của cõi giới tối hậu, như tấm
gương, bình đẳng, phân biệt và thành tựu là trí huệ bổn
nguyên phú bẩm những đặc tính. Biết chân lý tối hậu (phẩm
tính) như nó là và biết tất cả hiện tượng (của chân
lý tương đối như chúng xuất hiện, số lượng) là trí huệ
bổn nguyên thắm khắp những đối tượng hiện tượng....
Chỗ
trụ : Chỗ trụ của tâm là nền tảng phổ quát và chỗ trụ
của trí huệ bổn nguyên là Pháp thân.
GIẢI
THOÁT NHƯ LÀ PHẬT BỔN NGUYÊN
Ngay
chuyển động ban sơ của sự khởi lên từ nền tảng, “tám
xuất hiện tự nhiên của nền tảng” khởi lên một cách
tự nhiên. (Ngay lúc đó) do không nắm bắt những xuất hiện
này như là những cái khác và do thấu hiểu chúng như là vầng
ánh sáng tự nhiên (hay sự tự-sáng chiếu) với tâm thanh tịnh,
những chuyển động (của tánh giác bổn nhiên) tự dừng trong
chính chúng. Vào khoảnh khắc chứng ngộ, những ‘không giác
ngộ’ sẽ được tịnh hóa và cách thế của “tám thành
tựu tự nhiên” của nền tảng sẽ tan biến vào trong trạng
thái của sự thanh tịnh bổn nhiên và trụ trong đó.
Ngay
chuyển động đầu tiên, do thấu hiểu tự tánh của những
tự-xuất hiện, sự thấu hiểu (thực nghĩa) khai triển....
Vào ngay chuyển động thứ hai, những mê lầm được xóa sạch
và sự toàn thiện của trí huệ bổn nguyên khai triển. Đó
là sự khai triển của chính nền tảng như là quả của giác
ngộ. Nó được gọi là giác ngộ lại (hay tự-giải thoát)
qua sự thấu hiểu cái tinh túy, Phật quả bổn nguyên. Đã
hòa tan những tự-xuất hiện vào trong sự thanh tịnh bổn
nguyên và giác ngộ ở nền tảng trước tất cả, nó cũng
được gọi là Bậc Tốt Đẹp Cùng Khắp (Phổ Hiền, Phật
bổn nguyên).
Ngay
lúc khởi lên của “những xuất hiện của nền tảng”,
do nhận biết bản tánh của nhận thức và thấu hiểu những
xuất hiện tự nhiên thành tựu như là những tự-xuất hiện
và vô tự tánh, người ta đạt được giải thoát tức thời.
Đó gọi là cách đạt được giác ngộ như là Phật Bổn
Nguyên, cái Tốt Toàn Khắp (Samantabhadra, Phổ Hiền).
(Trong
Đại Toàn Thiện, sự đắc Phật quả không phải là tìm kiếm
cái gì từ những nguồn nào khác mà là sự giải thoát của
tánh giác bổn nhiên vào trong bản tánh của chính nó. Jigmed
Lingpa viết :
Đại
Toàn Thiện xem sự chứng đắc Phật quả là sự giải thoát
của tánh giác bổn nhiên vào trong trạng thái tự nhiên của
chính nó. Nó không có nguyện vọng hay tìm kiếm Phật quả
từ một nguồn nào khác. Thế nên chư Phật trong ba đời được
hoàn thiện trong trạng thái tánh giác bổn nhiên tự nhiên,
vượt thoát khỏi cái được nắm bắt và người nắm bắt.)
2.
Nghiệp của những Hành vi Sanh tử,
Nguyên
nhân của sự Luân lạc của Chúng sanh trong Sanh tử Huyễn
ảo
Trong
chương bốn cuốn Shingta Chenpo, về nhân quả của hành động,
Longchen Rabjam chia nghiệp làm hai phạm trù, những hành vi sanh
tử và những đức hạnh giải thoát. Để minh giải những
hành vi sanh tử ngài đặt tên cõi giới tối hậu là “nền
tảng phổ quát”, nó là một trạng thái trung tính đối với
sanh tử và niết bàn. Khác với sự giải thích trong phần
trước, ngài chia nó thành hai phương diện thay vì bốn : nền
tảng phổ quát tối hậu của sự hợp nhất và nền tảng
phổ quát của những dấu vết khác nhau của sanh tử với
gốc rễ của nó, không giác ngộ (vô minh) và tám thức. Mặc
dù nền tảng phổ quát tự nó là một thực thể không có
phân chia, nó xuất hiện như là hai bởi vì hai phương diện
đặt nền trên nó, như đất vẫn y nguyên nhưng vì ngày và
đêm mà nó xuất hiện là sáng và tối. Ngài cũng giải thích
tiến trình nhân quả của hành động trong trường hợp mười
hành vi bất thiện với gốc rễ của chúng là vô minh. Pema
Karpo và Thegchod Dzod có những cách xếp loại khác nhau và những
ý nghĩa khác nhau đối với những nền tảng phổ quát.
BẢN
CHẤT CỦA NGHIỆP
Đâu
là lý do hạnh phúc của khổ đau xảy ra cho mỗi cá nhân khi
lưu lạc trong vòng luân hồi nhọc nhằn ? Đó là vì nghiệp....
Kết quả của những nghiệp khác nhau, hợp tạo bằng những
điều kiện (duyên) khác nhau làm nhân, của mỗi cá nhân chín
muồi trong hình thức những luân lạc và những tài nguyên
cá nhân, cũng như những kinh nghiệm sướng khổ. Trong Karmasataka
có nói :
Emaho
! Thế giới khởi lên từ nghiệp.
Hạnh
phúc và khổ đau là những tranh vẽ của nghiệp.
Sự
hình thành của nghiệp xảy ra khi những điều kiện đã trọn
vẹn.
Nghiệp
lại sản sinh ra những kết quả hạnh phúc và khổ đau.
Và
:
Nghiệp
trong trăm đại kiếp
Sẽ
không cạn kiệt, và khi thời gian đến
Với
duyên hoàn cảnh tụ hội,
Chắc
chắn những hậu quả sẽ được trải nghiệm với chúng sanh.
Trong
Kinh Pháp Hoa có nói :
Nghiệp
sáng tạo như một nghệ sĩ,
Nghiệp
tạo hình như một vũ sư.
Có
hai phạm trù của nghiệp sanh tử nhìn từ quan điểm những
hậu quả của chúng. Thứ nhất là những ngiệp xấu hay bất
thiện hạnh, chúng tạo ra khổ đau. Thứ hai là những nghiệp
của những hành vi đức hạnh phối hợp với công đức, chúng
tạo ra hạnh phúc trong sanh tử.
NGHIỆP
SANH TỬ
Sanh
tử được tạo ra bởi mười thiện hạnh và mười ác hạnh....
Ác hạnh phát sinh những khổ đau và sự tái sanh trong những
nơi lưu lạc thấp và với thiện hạnh người ta có được
tái sanh ở những nơi lưu lạc cao và giữa những chúng sanh
hạnh phúc.
NỀN
TẢNG CỦA NGHIỆP, NỀN TẢNG PHỔ QUÁT VÀ NHỮNG THỨC
Tóm
tắt : Những nghiệp có căn cứ ở đâu và được chứa giữ
ở đâu ? Tất cả những nghiệp của cả sanh tử lẫn giác
ngộ được đặt nền trên nền tảng phổ quát như là hột
giống. Trong kinh Jam-dPal Ye-Shes Dri-ma Med-Pa’i có nói : “Nền
tảng phổ quát là nền tảng của tất cả. Nó là căn bản
của sanh tử và sự dừng dứt của sanh tử (niết bàn) và
là căn bản của giác ngộ.”
Cõi
giới tối hậu của tánh Như được xem là nền tảng phổ
quát, căn bản của những phân chia, và nó là phương diện
của trạng thái trung tính không thể phân chia (đối với sanh
tử và niết bàn).
Phương
diện tánh giác (Rig-Pa), bản tánh của cái vốn không hợp
tạo, và tự nhiên đặt nền trên trạng thái của cõi giới
tối hậu, được gọi là nền tảng phổ quát tối hậu hợp
nhất.
Bởi
vì không thấu hiểu, chứng ngộ nó (tánh giác bổn nhiên của
cõi giới tối hậu của tánh Như), những yếu tố sanh tử
như là tám thức và những khuynh hướng tập khí của chúng
được thiết lập và phối kết đặt nền trên nó. Phương
diện này được gọi là nền tảng phổ quát của những dấu
vết khác nhau. Với mọi phạm trù hợp tạo của những hành
động đức hạnh và không đức hạnh đặt nền trên nền
tảng phổ quát của những dấu vết này, những kinh nghiệm
khác nhau về hạnh phúc và khổ đau khởi lên....
Trong
Chi Tiết : Tất cả những hiện tượng của những nghiệp
bất thiện và của nghiệp thiện nhưng kém cỏi, chúng là
những nhân và quả của sanh tử, được đặt nền trên nền
tảng phổ quát trung tính, và tất cả nghiệp thiện phối
hợp với giải thoát, nó đưa tới tự do của niết bàn và
những chứng ngộ của con đường giác ngộ, cũng đặt nền
trên đó. Phương diện những nghiệp thiện phối hợp với
giải thoát và thuộc về chân lý của con đường, chúng là
hợp tạo và ngẫu sanh, được đặt nền trên nền tảng phổ
quát của những dấu vết như là nguyên nhân cho tự do. Quả
của tự do đặt nền trên tinh túy (Rigs), như sự sáng tỏ
của mặt trời bởi vì sự tan mây đặt nền trên chính mặt
trời....
Trong
Tâm, nó vốn tự do như hư không, hiện diện một cách nguyên
sơ những cõi tịnh độ và những phẩm tính của chư Phật
trong hình thức hai dòng, chúng là bản tánh đức hạnh vô
thủy (nghĩa là Phật tánh). Nó là căn bản của tự do, và
nó là căn bản của niết bàn.
Về
sự chứng đắc tự do, có bốn phương diện cần hiểu : (a)
Căn bản của tự do là bản tánh thiết yếu hay tinh túy. (b)
Nguyên nhân của sự tự do là phương tiện những đức hạnh
phối hợp với giải thoát và phương tiện tịnh hóa những
nhiễm ô khỏi bản tánh thiết yếu. (c) Kết quả của tự
do là trở thành Phật tánh thoát khỏi mọi nhiễm ô và đạt
được những phẩm tính của Phật tánh. (d) Phương diện cần
thoát khỏi là tám thức với những thói quen của chúng, vì
chúng đặt nền trên nền tảng phổ quát của những dấu
vết.
Trong
kinh điển mật thừa bốn phương diện này được biết là
căn bản của sự tịnh hóa, phương tiện của sự tịnh hóa,
kết quả của sự tịnh hóa và phương diện cần được tịnh
hóa. Ngôn từ thì khác nhưng nghĩa của chúng không khác. Như
thế, trên bản chất không giác ngộ của nền tảng phổ quát
của những dấu vết, nguyên nhân của sanh tử bất tịnh với
những thức và những phương diện đức hạnh hợp tạo đưa
đến giải thoát, đều có vẻ đặt nền trên đó một thời
gian lâu dài mà thực sự không được đặt nền (ở đâu
cả). Từ quan điểm của chúng sanh, cõi giới tối hậu là
căn bản của những phẩm tính của niết bàn, và nó được
gọi là nền tảng phổ quát tuyệt đối.
Tinh
túy của nền tảng phổ quát tuyệt đối là tánh không, bản
tánh của nó là sự sáng tỏ, lòng bi của nó (nghĩa là năng
lực biểu lộ) là toàn khắp, và những phẩm tính của nó
là thành tựu tự nhiên như những viên ngọc như ý. Nó không
bị ô nhiễm cũng không lìa ô nhiễm. Nó là nghĩa tuyệt đối,
sáng rỡ từ trạng thái bổn nguyên, cái thấy về sự không
trộn lẫn và không chia tách của những thân và những trí
huệ. Dù về quan điểm sự thanh tịnh của bản tánh của
nó, nó được ví dụ như hư không, thoát khỏi những đặc
tính, tánh không, không hợp tạo và v.v...., nó không phải
không là gì cả, một rỗng không cùng cực, bởi vì nó là
một trạng thái tự nhiên thành tựu của những thân sáng
rỡ và những trí huệ, và nó sự giải thoát và tánh không
của mọi yếu tố sanh tử.
Trong
kinh Ghananyuha có nói :
Dĩa
(mạn đà la) mặt trăng vô nhiễm
Hằng
không vết dơ và tròn đầy.
Nhưng
trong liên hệ với những ngày của thế giới
Nó
được tri giác như có khuyết có đầy.
Cũng
thế, nền tảng phổ quát tối hậu
Hằng
ở với Phật tánh
Và
tánh này dưới dạng nền tảng phổ quát
Đã
được chỉ dạy bởi Như Lai
Những
người ngu không biết nó,
Bởi
vì những thói quen của họ, thậm chí thấy nền tảng phổ
quát
Như
là có những hạnh phúc và khổ đau
Và
những hành động và nhiễm ô phiền não.
Bản
tánh của nó là thanh tịnh và không nhiễm,
Những
phẩm tính của nó như những viên ngọc như ý,
Không
có những biến dịch cũng không những diệt dứt.
Người
nào thấu hiểu nó thì đạt giải thoát....
Có
nhiều từ đồng nghĩa cho nền tảng phổ quát tối hậu theo
căn bản, nguồn gốc và nguyên nhân cho giải thoát, như nền
tảng phổ quát tối hậu, đức hạnh của bản tánh tối hậu
vô thủy, Phật tánh, bản tánh, bản tánh quang minh của tâm,
cõi giới tối hậu, nghĩa của tánh Như, cái Như tự nhiên
thanh tịnh, trí huệ ba la mật v.v....
Phương
diện những thói quen tập khí của sanh tử đặt nền trên
tâm (Sems-Nyid, nghĩa là trạng thái trung tính của nền tảng
phổ quát) được gọi là nền tảng phổ quát của những
dấu vết. Tại sao ? Bởi vì nó là căn cứ của sự tích tập
những nghiệp đức hạnh, không đức hạnh, giải thoát và
giác ngộ, chúng không hiện hữu trong bản tánh chân thật
từ trạng thái bổn nguyên mà khởi lên một cách ngẫu sanh.
Nó là căn bản của cả nghiệp thiện và bất thiện, bản
chất của nó là vô minh, và nó trung tính đối với nghiệp
thiện và bất thiện.
Một
số người nói rằng nền tảng phổ quát không phải là vô
minh bởi vì nó là căn bản của tất cả năm độc (gồm cả
vô minh) cũng như của giác ngộ. Đó đích thực là một sự
hiểu sai. Nó không phải là vô minh của năm độc. Mà nó là
sự không giác ngộ bẩm sanh khởi lên từ lúc mê lầm dẫn
vào sanh tử, và nó cũng được gọi là vô minh. Cũng thế
nó cần được khảo sát xem nó có là căn bản của giác ngộ
hay không. Nó không phải là căn bản của cả tinh túy lẫn
trí huệ của Phật, bậc sở hữu hai sự thanh tịnh, sự thanh
tịnh từ trạng thái bổn nguyên và sự thanh tịnh thoát khỏi
những nhiễm ô ngẫu sanh, bởi vì nền tảng phổ quát phải
chuyển hóa thành trí huệ. Kinh Suvarnaprabhasottama nói “Nền
tảng phổ quát được chuyển hóa là tinh túy, thân tối hậu.”
Trong
Byung-bZhi Zad-Pa’i rGyud có nói “Nền tảng phổ quát đã tịnh
hóa là cõi giới tối hậu.” Nền tảng phổ quát của những
dấu vết không phải là căn bản của bản tánh (Khams), vì
nó chỉ là căn bản hay nguyên nhân của sự thoát khỏi những
nhiễm ô. Thế nên chức năng của nó không gì khác hơn chỉ
là căn bản của sự trở nên giác ngộ qua tu hành trên con
đường hợp tạo tích tập công đức và trí huệ. Những
tích tập đó thuộc về phạm trù “chân lý của con đường”,
và chúng là tạm thời và như huyễn, bởi vì chúng đặt nền
trên nền tảng phổ quát của những dấu vết. Sự tu hành
làm tổn hại cho nền tảng phổ quát của những dấu vết
như thế nào khi dựa trên nó ? Như ngọn lửa đặt nền trên
sáp thiêu hủy chính sáp và ngọn lửa đặt nền trên gỗ
thiêu cháy chính gỗ, bằng cách đặt nền trên nền tảng
phổ quát của những dấu vết, con đường của hai sự tích
tập tịnh hóa những thói quen của sanh tử và xóa hết những
vết dơ khỏi bản tánh thiết yếu, và khiến giác ngộ được
đạt đến trọn vẹn, như nó vốn là một cách nguyên sơ.
Bởi thế, hai sự tích tập được xem là những điều kiện
thanh tịnh. Từ đó, những đối trị, những phương tiện
của những tịnh hóa (hai sự tích tập) cũng sẽ bị thiêu
rụi bởi vì chúng là những đức hạnh do tâm thức nghĩ ra....
Trong
Madhyamakavatara có nói “An lạc (thành tựu) do thiêu sạch toàn
bộ nhiên liệu của những chủ đề để tìm hiểu là thân
tối hậu của chư Phật....”
Những
đồng nghĩa với nền tảng phổ quát của những dấu vết
là không giác ngộ bẩm sinh (vô minh bẩm sinh), sự che ám vô
thủy, tối tăm vĩ đại, sự ‘không biết’ hiện diện một
cách bổn nguyên v.v....
Tâm
(Sems-Nyid), cõi giới vô thủy, hiện diện như hư không : từ
quan điểm giải thoát đặt nền trên nó, nó được biết
như là nền tảng phổ quát tối hậu và từ quan điểm nó
là căn cứ của sanh tử, nó được biết như là nền tảng
phổ quát của thói quen tập khí. Và từ cõi giới vô thủy,
hạnh phúc và khổ đau của đủ loại hình tướng xuất hiện
của sanh tử và niết bàn, và những lỗi lầm và đức hạnh
khởi lên. Trong bình giảng về Uttaratantra có nói :
Cõi
giới tối hậu của thời gian vô thủy vô chung
Là
chỗ ở của tất cả các pháp.
Nhờ
sự hiện diện của Nó (trong họ), mỗi một chúng sanh
Có
thể đạt được niết bàn.
SỰ
PHÂN CHIA CỦA NỀN TẢNG PHỔ QUÁT VÀ TÁM THỨC
Nền
tảng phổ quát của những dấu vết khác nhau, trạng thái
trung tính (đối với thiện và bất thiện), thì giống như
một tấm gương. Về thức của nền tảng phổ quát (trong
Jam-dPal Ye-Shes rGyan), có nói “Tâm (Sems) là thức của nền
tảng phổ quát. Nắm hiểu ngã tính là tư tưởng.” Nó giống
như phương diện sáng tỏ của một tấm gương. Năm thức
của năm cửa giống như sự khởi lên của những phản chiếu
trong gương. Khởi lên trước tiên, sự phân tích về cái tri
giác của năm cửa giác quan như “cái này là cái này” là
ý thức của tâm. Theo nó sự khởi lên của những xúc tình
ghét thương.... hay trung tính đối với những đối tượng
là thức bị ô nhiễm của tâm.
Một
số vị thầy nói rằng sáu thức không tích tập nghiệp nếu
người ta không phân tích những tri giác với thức ô nhiễm
của tâm, bởi vì chúng không được tạo thành bởi ba độc.
Những nhận xét này cần phải xem xét. Khi người ta theo đuổi
con đường cái thấy thiền định và hạnh, sau khi chứng ngộ
bản tánh của những hiện hữu hiện tượng, sẽ có một
trạng thái như vậy (không sinh ra bất cứ nghiệp nào), nhưng
người mà tâm chưa đạt đến một mức độ như vậy thì
còn vô minh và họ sẽ tạo ra nghiệp xấu.
Phương
tiện sản sinh ra nghiệp là khả năng của tâm thức và năm
khả năng của các giác quan với những căn cứ của chúng.
Những cái sản sanh ra nghiệp là tâm thức ô nhiễm, tâm thức
thiện và tâm thức trung tính. Căn bản trên đó những nghiệp
được tích tập là nền tảng phổ quát (của trạng thái
trung tính). Thức của nền tảng phổ quát cung cấp không gian
cho sự phát triển, duy trì, suy tàn.... của nghiệp. Trong đại
bình giảng về Mahayanasutralamkara của Acarya Sthiramati có nói
:
Tâm
thức và năm khả năng (năm căn) như nhãn căn là chỗ vào,
những cửa của nghiệp. Những tâm thức thiện bất thiện
và trung tính là những cái sản sanh ra nghiệp. Sáu cái tri
giác, như sắc, là những đối tượng của nghiệp. Thức của
nền tảng phổ quát cung cấp không gian cho sự sanh ra nghiệp.
Nền tảng phổ quát là căn bản, như nơi chốn và nhà ở
của nghiệp.
Ở
đây thức của nền tảng phổ quát là phương diện của giác
quan, nó trong sáng nhưng không nhận thức đối tượng hay chủ
thể. Từ cái này những giác quan (những thức) của năm cửa
vào khởi lên. Nhãn thức là phương diện của một giác quan,
nó thấy đối tượng như là sắc, nhưng những tư tưởng
phân tích còn chưa khởi lên. Cũng thế, những giác quan chỉ
thấy một cách tổng quát, những đối tượng tương ứng,
thanh, hương vị, xúc như là những đối tượng của những
giác quan tai, mũi, lưỡi, và thân trong khi những tư tưởng
còn chưa khởi lên (là những thức của chúng).
Những
xuất hiện trong suốt khởi lên từ đối tượng tri giác của
năm cửa vào hay một hình thức tương tự của tri giác khởi
lên (trước những giác quan) là hiện tượng (Ch’os, S. dharma,
pháp), và nó cũng là thức của tâm. Ở đây, phương diện
của đối tượng là những hiện tượng và phương diện của
sự khởi lên những hiện tượng ấy trong những giác quan
được gọi là thức.... Thức khởi lên tức khắc ngay điểm
chấm dứt của phương diện thức của nền tảng phổ quát
và sáu giác quan, năm thức của cửa vào tri giác đối tượng
lúc trước được gọi là tư tưởng (Yid). Trong Abhidharmakosa
có nói : “Thức khởi tức khắc sau sự dừng dứt của sáu
thức là tâm.”
Chẳng
hạn, khi một sắc được tri giác, phương diện của đối
tượng thấy một cách rõ ràng trong suốt mà không có sự
nắm bắt là thức của nền tảng phổ quát, và phương diện
của sự khởi lên của sắc cho các giác quan là nhãn thức.
Lìa bỏ (hay di chuyển khỏi) hai trạng thái này được gọi
là sự dừng dứt của chúng, và rồi sự khởi lên của tư
tưởng khoảnh khắc, “Đây là sắc” tức là tư tưởng
(Yid) hay tâm (Sems). (Trong một số văn cảnh, Sems được giải
thích là thức của nền tảng phổ quát.) Cái tư tưởng khoảnh
khắc này chuyển động rất nhanh và không nghĩ một cách vi
tế, thế nên nó được gọi là “không tư tưởng” (rTog-Med).
Nó cũng được gọi là cái được tri giác hay (hay tư tưởng
thuộc về đối tượng) vì nó thấy đối tượng trước tiên.
Sau đó, sự phân tích vi tế (về cái được tri giác đã khởi
lên) được gọi là người tri giác (hay tư tưởng thuộc về
chủ thể). Dù người ta trước tiên thấy những cái được
tri giác, nếu người ta không tiếp tục nó bằng cách phân
tích (qua người tri giác), sẽ không sản sanh ra nghiệp. Tất
cả các bậc thánh triết đều chấp nhận điều này.
NHỮNG
THỨC SẢN SANH RA NGHIỆP NHƯ THẾ NÀO
Do
nghiệp thiện, bất thiện và trung tính với những tư tưởng
phân biệt của cái được nắm bắt và người nắm bắt dạng
thô, người ta rơi vào cõi dục. Sự tham thiền trong trạng
thái nhập định mà trạng thái này không phải là bản tánh
thiết yếu, và trong đó cái được tri giác xuất hiện nhưng
không có tư tưởng khởi lên, sẽ tích tập nghiệp trong nền
tảng phổ quát để tái sanh trong cõi sắc. Sự tham thiền
về không tư tưởng (vô niệm) bằng cách ngăn ngừa những
tri giác, sẽ gieo những hạt giống nghiệp trong nền tảng
phổ quát để sanh ra trong cõi vô sắc....
Tâm
người ta chảy một dòng nhất niệm mà không có bất kỳ
tư tưởng nào đến một đối tượng là trạng thái của
nền tảng phổ quát. Giai đoạn thấy biết những cái được
tri giác một cách rõ ràng, trong suốt mà vẫn không có tư
tưởng về chúng là thức của nền tảng phổ quát. Giai đoạn
tri giác bất kỳ cái gì trong nhiều cái được tri giác, chúng
đã khởi lên rõ ràng (trước bất kỳ giác quan nào) là những
thức của năm cửa vào. Khi người ta tri giác bất kỳ đối
tượng nào, trong giai đoạn đầu, trong một khoảnh khắc,
nó khởi lên như một cái được tri giác, rồi trong giai đoạn
hai, người phân tích trộn lẫn với phiền não khởi lên như
người tri giác, như thế lần lượt chúng là thức của tâm
và thức bị ô nhiễm của tâm.
NHỮNG
TRẠNG THÁI NHẬN THỨC KHÁC NHAU
Có
những cấp độ khác nhau của nhận thức, chúng không nối
kết với giải thoát và chúng đều ở trong trạng thái nền
tảng phổ quát. Đó là (a) nhận thức nó ở trong trạng thái
tham thiền, một an định nhất niệm vững chắc, (b) nhận
thức ở trong trạng thái tham thiền về sự sáng tỏ và vô
niệm, vững chắc và là một quán chiếu thiên lệch (Chag-mThong),
và (c) nhận thức thô khởi lên theo sau những xuất hiện của
những đối tượng với những điều kiện thống trị là
sáu khả năng giác quan. Những nghiệp thiện và bất thiện
tích tập qua ba loại nhận thức này làm mê lầm chúng sanh
lần lượt vào cõi vô sắc, cõi sắc và cõi dục.... Lý do
là vì chúng không đưa đến giải thoát và không siêu vượt
khỏi người nắm bắt và cái được nắm bắt. Ở đây trạng
thái tham thiền vô niệm là cái được nắm bắt và tham thiền
về nó một cách nhất tâm không dao động là người nắm
bắt. Sự tham thiền thanh tịnh là như sau : dù nó là một
thiền định về phương tiện thiện xảo của lòng bi và về
trí huệ thoát khỏi những cực đoan, nó không có sự ý niệm
hóa ra chủ thể và đối tượng và không có sự thiền định
được chỉ định là “trong trạng thái này”. Thế nên nó
thuộc về bản tánh không thể nghĩ bàn. Dù trong tham thiền
này người ta thành tựu hỷ, lạc, những thần thông và trí
biết trước, không nên bám luyến vào sự thích thú với nó,
mà chúng cũng không phải là cái được nắm bắt như hình
tướng.
THỨC
NÀO CÓ VAI TRÒ CHỦ YẾU TRONG BA CÕI
Những
thức khác nhau có những vai trò khác nhau như chánh hay phụ
trong cõi của chúng và những cõi của các thức khác.... Trong
bình giảng về Kun-gZhi Dang Ye-Shes brTag-Pa của Acarya Budhaguhya
có nói :
Trong
cõi dục, bảy thức như nhãn thức, là chánh và các thức
khác (nền tảng phổ quát và thức của nền tảng phổ quát)
là phụ. Trong cõi sắc, thức của nền tảng phổ quát và
những thức của những cửa vào (những thức của năm khả
năng, của tâm và của tâm nhiễm ô) là chánh và cái kia (nền
tảng phổ quát) là phụ. Trong cõi vô sắc, bản thân nền
tảng phổ quát là chánh và những cái khác (tám thức) không
hoạt động.
SỰ
TAN VÀO CỦA CÁC THỨC
Một
người của cõi dục đi ngủ, trước hết những thức của
năm cửa vào và của tâm nhiễm ô tan vào thức của tâm. Thức
của tâm tan vào thức của nền tảng phổ quát và rồi một
trạng thái sáng tỏ và vô niệm khởi lên trong một lúc. Một
số đạo sư của Tân Tantra xác nhận rằng những người nào
có thể đạt đến trạng thái này và có thể tham thiền về
nó, sẽ hưởng thọ bản tánh tối hậu của sáng tỏ mà không
có giấc mộng nào. Thức của nền tảng phổ quát tan vào
nền tảng phổ quát vô niệm. Rồi trên sự hòa tan của nền
tảng phổ quát vào cõi giới tối hậu, những tri giác thô
và tế tiêu tan và bản tánh tối hậu, tức là sự hợp nhất
của tánh không và sự sáng tỏ, thoát khỏi mọi tạo tác,
khởi lên. Nếu người ta thực hiện được điều này, bấy
giờ mọi mê lầm sẽ bị đánh bại.... Rồi các thức khởi
sanh trở lại. Từ cõi giới tối hậu khởi lên nền tảng
phổ quát, từ nền tảng phổ quát khởi lên thức của nền
tảng phổ quát và từ đó thức của tâm khởi lên một mình.
Ở điểm này, nhiều loại giấc mộng (như những hiện tượng)
khởi lên và người ta nắm hiểu những hiện tượng, những
đối tượng của ‘tâm thức của những thói quen’.
HỢP
NHẤT VÀ PHÓNG CHIẾU CỦA CÁC THỨC TRONG NHỮNG TRẠNG THÁI
KHÁC NHAU
Ngủ
là thời gian khi tất cả các thức hợp nhất với nền tảng
phổ quát, và không có sự phóng chiếu ra ngoài của thức
nào. Khi mộng, thức của tâm khởi lên từ thức của nền
tảng phổ quát. Đó là thời gian khi thức phóng chiếu nhẹ
nhàng ra ngoài và nền tảng phổ quát và thức của nền tảng
phổ quát và tâm hợp thành một thực thể. Khi người ta thức
dậy, những thức của người ta phóng chiếu ra ngoài từ nền
tảng phổ quát và nền tảng phổ quát với tám thức hợp
thành một thực thể.
TÓM
KẾT
Tâm
(Sems-Nyid) sáng rỡ là căn bản và nguồn gốc của mọi hiện
hữu. Trong Tâm không có sự khác biệt giữa sanh tử và niết
bàn, và chúng thì không thể phân cách và đồng một vị.
Thế nên nó là bản tánh tối hậu của hợp nhất, là Phật
tánh và là nguồn gốc của sanh tử và niết bàn. Trong Doha
có nói :
Chỉ
tâm là hạt giống của tất cả.
Đối
với chúng sanh, nó phóng chiếu sanh tử và niết bàn ;
Nó
cung cấp quả trái ước nguyện :
Tâm
như viên ngọc như ý, tôi xin kính lễ.
Trong
Kinh Ghanaryuha có nói :
Những
giai đoạn khác nhau của con đường là nền tảng phổ quát.
Phật
tánh (Như Lai tạng) cũng là đó.
Tinh
túy ấy, được chỉ định là nền tảng phổ quát,
Mà
Như Lai đã khai thị.
Ngài
tuyên bố tinh túy là nền tảng phổ quát.
Nhưng
người mê mờ không hiểu nó.
Vì
bản tánh này là nguyên nhân của những hoàn thiện như những
thân và những trí huệ (của Phật quả), nó được gọi là
nền tảng phổ quát tối hậu không vết nhơ. Vì nó là căn
bản của sanh tử, nó được gọi là nền tảng phổ quát
của những dấu vết nhơ bẩn. Tinh túy của căn bản, nền
tảng phổ quát là một, nhưng nó chia thành hai bởi vì những
phẩm tính khác nhau đặt nền trên nó....
Trong
bản tánh của mặt trăng, không có tăng không có giảm, nhưng
bởi vì những hoàn cảnh, trong bốn châu lục chúng ta thấy
những khác nhau có khuyết có tròn. Cũng thế, trong bản tánh
của Tâm sáng rỡ sau khi giác ngộ không có hạnh phúc thực
cũng không có khổ đau thực, nhưng chúng sanh trong sanh tử
tri giác những thực thể khác nhau, như những cõi lưu lạc
cao và thấp. Nếu người ta tu hành nghĩa tuyệt đối, đó
gọi là đạt được sự hoàn thiện của nền tảng phổ quát
như là nghĩa tuyệt đối....
Những
nghiệp được sản sanh bởi những mê lầm của thức tâm
không giác ngộ. Trong kinh Udanavarga có nói : “Tâm là thủ
lĩnh và nhanh nhẹn. Tâm là người tiền phong của mọi sự.”
Vì
những vọng tưởng và do không biết bản tánh thường trụ,
người ta trở nên lệ thuộc vào những xuất hiện bất tịnh
mà như huyễn. Để làm sụp đổ sanh tử như mộng như huyễn,
người ta phải chứng ngộ Tâm thường trụ và thiền định
về con đường không sai lầm của giai đoạn phát triển và
giai đoạn thành tựu, phương tiện và trí huệ, để đạt
được bản tánh thiết yếu trong trạng thái bổn nguyên, như
nó vốn là vậy xưa nay.
VÔ
MINH, GỐC RỄ CỦA NGHIỆP
Tất
cả chúng sanh mê lầm trong sanh tử do đặt nền móng cho cái
được nắm bắt (đối tượng) và người nắm bắt (chủ
thể) bởi không thấu hiểu bản lai diện mục của Tâm. Trong
Bát nhã ba la mật có nói : “Tất cả mọi chúng sanh căn cơ
thấp, trung bình và tốt đều khởi lên từ vô minh (không
giác ngộ). Bậc Thiện Thệ đã nói như vậy.”
Những
chúng sanh của những cõi thấp kém, trung bình, cõi người
và cao hơn là cõi chư thiên đều kinh nghiệm hạnh phúc và
khổ đau do những nghiệp khác nhau của họ tạo ra. Gốc rễ
của nghiệp là vô minh đi cùng ba độc và các nghiệp bất
thiện và thiện tạo ra những kết quả hạnh phúc và khổ
đau của sanh tử.
NGƯỜI
TẠO RA NGHIỆP, NHỮNG ĐỨC HẠNH CÔNG ĐỨC VÀ NHỮNG HÀNH
VI KHÔNG ĐỨC HẠNH
Những
nghiệp đức hạnh tạo ra hạnh phúc và tái sanh trong những
cõi lưu lạc hạnh phúc, và những nghiệp không đức hạnh
tạo ra khổ đau và tái sanh trong những cõi thấp.
(A)
NHỮNG
NGHIỆP BẤT THIỆN
Có
mười hành vi bất thiện khiến người ta rơi từ những cõi
cao xuống những cõi thấp và chúng chỉ gây ra khổ đau. Đó
là :
Ba
nghiệp bất thiện của thân :
Giết,
lấy của không cho, và tà dâm.
Bốn
nghiệp bất thiện của ngữ :
Nói
dối, nói chia rẽ, lời thô ác và lời vô nghĩa.
Ba
nghiệp bất thiện của tâm :
Tham
lam, ác ý và tà kiến.
Những
hậu quả của những nghiệp bất thiện
Tóm
tắt : Những nghiệp bất thiện được phát sanh qua đối tượng,
ý định, tư tưởng và cố gắng bất thiện. Chúng sản sanh
ra ba phạm trù hậu quả. Trong những kinh điển, chúng được
xếp loại thành những hậu quả của sự chín muồi (là hậu
quả chính), tương hợp và nổi trội (hay môi trường). Trong
những luận giảng, có bốn phạm trù, cọng thêm hậu quả
lũy tích....
(1)
Hậu quả của sự chín muồi : Trong kinh Arya-saddhar-masmrtyupasthana
có nói :
Sự
chín muồi của hậu quả của một nghiệp nhỏ (trong mười
nghiệp bất thiện) tạo ra sự tái sanh trong cõi thú, của
một nghiệp vừa tạo ra sự tái sanh trong cõi quỷ đói và
của một nghiệp nặng là tái sanh vào địa ngục.
(Sau
khi hoàn tất kinh nghiệm của hậu quả của những nghiệp
xấu như là hậu quả của chín muồi trong ba cõi thấp, dầu
được tái sanh vào một cõi cao hơn nhờ những nghiệp thiện
khác, người ta còn phải kinh nghiệm ba hậu quả sau đó nữa)
:
(2)
Hậu quả của sự tương hợp : Nó có hai phạm trù : hậu
quả tương hợp của nguyên nhân và hậu quả tương hợp của
những kinh nghiệm....
(a)
Về hậu quả tương hợp của nguyên nhân, trong kinh Karmasataka
có nói :
Bởi
vì một người đã quen với những nghiệp bất thiện dù sau
khi đã kinh nhiệm hậu quả của sự chín muồi, nó sẽ sanh
ra nơi nào có thể dựa vào những hành vi bất thiện và thực
hiện theo đuổi chúng.
(b)
Hậu quả tương hợp của kinh nghiệm : trong hậu quả này
có hai loại cho mỗi cái của mười nghiệp bất thiện.
Trong
kinh Karmasataka nói :
Dù
một người tái sanh trong cõi trời hay cõi người (nhờ những
hành vi đức hạnh khác), nó vẫn còn phải kinh nghiệm những
hậu quả sau đó như sau : có một cuộc sống ngắn ngủi và
nhiều bệnh bởi vì nghiệp giết trong quá khứ, có ít tài
sản và phải chia xẻ chúng cho những kẻ thù vì lấy của
không cho, có một người hôn phối không hấp dẫn và phải
chia xẻ người ấy với những người khác vì nghiệp ngoại
tình, bị những người khác lừa đảo lường gạt vì nói
dối, có những người sống chung xấu và bất hòa vì nghiệp
vu khống, nghe những chửi mắng và (dù khi người ta nói dịu
dàng) khiêu khích bởi vì đã nói lời thô ác, lời nói không
được coi trọng và không được tin cậy vì đã nói vô nghĩa,
trở
nên tham lam và không toại ý vì tính thèm khát, ít có lợi
ích mà chỉ có thiệt hại vì ác ý, và bị bao bọc bởi những
quan điểm xấu và xảo quyệt vì tà kiến....
(3)
Hậu quả nổi trội : Trong Semnyid Ngalso có nói :
Hậu
quả nổi trội ám chỉ những hậu quả trên môi trường.
Khi
người ta ở trong sanh tử bị những yếu tố bên ngoài điều
khiển :
Do
giết (người ta sinh) vào một xứ sở xấu xí
Nơi
thuốc thang, cây trái, ngũ cốc, thức ăn thức uống v.v....
Sẽ
cho ít bổ dưỡng, khó tiêu hóa và dễ độc hại.
Do
lấy của không cho, sanh vào một xứ sở không có ngũ cốc,
Nơi
có những hiểm nguy sương mù, mưa đá, nạn đói.
Do
ngoại tình, sanh giữa chỗ phân và nước tiểu, dơ bẩn, hôi
thối.
Trong
một xứ sở chật hẹp, đáng sợ không vui vẻ.
Do
nói dối, sanh vào một xứ sở xung đột và kinh hãi
Nơi
sự sung túc không bảo đảm và người ta bị người khác
lừa dối.
Do
nói lời chia rẽ, sanh vào một xứ sở đi lại khó khăn, núi
sông hiểm trở,
Với
nhiều hoàn cảnh không thuận lợi.
Do
nói lời thô ác, sanh vào một xứ sở vô đạo đức, đầy
sỏi đá, gai góc,
Bụi
bặm, rác rưởi, ngũ cốc nghèo nàn, một môi trường gồ
ghề, muối mặn.
Do
lời vô nghĩa, sanh vào vùng ngũ cốc và trái cây không chín,
bốn mùa bất ổn,
Nơi
không có gì vững bền và lâu dài.
Do
tham lam, sanh vào những xứ sở mùa màng ít mà nhiều vỏ trấu,
Những
thời tốt đẹp chuyển thành xấu.
Do
ác ý, sanh vào một xứ sở nơi hạt và trái có vị đắng
cay,
Nơi
có những người cai trị độc tài, bọn cướp, người hoang
dã và rắn rít....
Nhiều
hoàn cảnh gây họa hại của thiên nhiên.
Do
tà kiến, sanh vào những xứ sở nơi không có nguồn chất
liệu quý giá
Và
ít cây thuốc, hoa và trái.
Nơi
không có những chỗ nương tựa quy y, người bảo hộ hay năng
lực hộ trì....
(4)
Hậu quả lũy tích : Trong Arya-saddharma-smrttyupas-thana có nói
: “Những người vô minh và đã phạm những hành vi xấu trong
quá khứ sẽ tăng thêm những hành vi xấu của họ và sẽ
chịu khổ hơn.”
Kết
luận
Trong
Vinayagama có nói :
Những
nghiệp bất thiện như thuốc độc, dù nhỏ nhưng tạo khổ
lớn lao. Chúng giống như người hoang dã phá hoại những công
đức tích tập được. Bởi thế, người ta cần cố gắng
từ bỏ những hành vi không đức hạnh và dấn thân vào những
hành vi đức hạnh.
(B)
NHỮNG
NGHIỆP THIỆN
Chỉ
sự vắng mặt của mười nghiệp bất thiện không trở thành
mười nghiệp thiện bởi vì thiếu sự điều phục của tâm
làm theo mười nghiệp thiện. Sự từ bỏ mười nghiệp bất
thiện là mười nghiệp thiện khi phối hợp với sự tích
tập công đức.
Những
hậu quả của những nghiệp thiện
Theo
những hậu quả chín muồi của chúng, những đức hạnh nhỏ
đưa đến sự tái sanh trong cõi người, những đức hạnh
cỡ trung sanh vào cõi thiên của dục giới, và những đức
hạnh lớn, phối hợp với tham thiền, sanh vào những cõi sắc
và vô sắc. Do những hành vi đức hạnh người ta thành tựu
hạnh phúc của những cõi cao và niêm kín những cửa vào cõi
thấp.
DUYÊN
SANH
Nhân
bên ngoài
Đó
là những xuất hiện thuộc đối tượng của tâm thức, những
xuất hiện là những hiện tượng bên ngoài như những hình
tướng núi non, tường vách, đất, nước, lửa, không khí
và không gian, chúng được xem là những phẩm tính phụ của
các nguyên tố hay những hình dạng của các nguyên tố. Những
cái này phát triển trong nhân loại khác nhau qua những nhân
duyên chung và riêng biệt của chúng, như vải từ sợi và
len từ sợi len. Nó được gọi là duyên sanh của những hiện
tượng bên ngoài, bởi vì chúng khởi lên do nương dựa lẫn
nhau và xuất hiện như những vật vô tri bên ngoài.
Nhân
bên trong
(a)
Nhân tương thuộc
Tiến
trình từ vô minh khởi lên các hình thành (hành).... cho đến
già và chết là duyên sanh bên trong.
Mười
hai nhân duyên sanh lẫn nhau là : (1) không giác ngộ (vô minh)
: Nó là sự không biết trọn vẹn tinh túy tuyệt đối, bản
tánh tuyệt đối, bản tánh vốn thanh tịnh và là những hiện
tượng mang tính cách vô minh. Từ đây khởi lên sự hình thành
của nghiệp, tạo thành nghiệp của sanh tử. (2) Hình thành
của nghiệp : Những hành vi đức hạnh phối hợp với công
đức, mười nghiệp bất thiện, và những nghiệp trung tính
của thân, ngữ, tâm, chúng bị che ám bởi vô minh, là sự
hình thành. (3) Thức : Bây giờ, thuận theo nghiệp được hình
thành (nó được gieo trong thức của nền tảng phổ quát),
người ta đi vào một trong sáu nẻo lưu lạc và phát triển
nhận thức đặc trưng của cõi đó. (4) Danh và sắc : Bấy
giờ khi thức vào trong cõi lưu lạc của nó nhờ sự gặp
gỡ của tâm, năng lực (rLung) và tinh chất trắng và đỏ
của cha mẹ, người ta thiết lập năm uẩn : “bốn danh”
– thọ, tưởng, hành, thức – và “sắc”. Khi vào bụng
mẹ, danh và sắc được thiết lập.... (5) Những giác quan
: Bấy giờ mắt, tai, mũi, lưỡi thân và tâm phát triển....
(6) Xúc : Bấy giờ sự gặp gỡ của những đối tượng, những
khả năng giác quan và sự tác dụng của tâm thức là tiếp
xúc. (7) Thọ : Từ xúc khởi lên thọ. (8) Từ thọ khởi lên
khao khát (ái) thọ ấy. Khao khát có ba thứ : khao khát cái
thích (khao khát tham muốn), khao khát bỏ cái không thích (khao
khát ghét bỏ) và khao khát trung tính.... (9) Thủ : Từ khao
khát khởi lên bám nắm.... (10) Trở thành (hữu) : Từ bám
nắm khởi lên trở thành. Sự khởi lên năm uẩn, là sự trở
thành.... (11) Sanh : Từ trở thành khởi lên sanh.... (12) Từ
sanh khởi lên già, chết.
(b)
Duyên Phụ Thuộc Bên Trong
Bởi
vì trong mười hai mắt xích nhân duyên này, cái trước gây
ra sự tiếp nối của những cái sau, nó được gọi là nhân
duyên tương thuộc. Bởi vì những sự phát sanh tương thuộc
này được phát triển nhờ sự gặp gỡ các bốn đại bên
trong và thức, chúng được gọi là phát sanh từ những nhân
duyên tương thuộc.
3.
Nghiệp của những Đức hạnh Giải thoát,
những
Phương tiện Thoát khỏi Sanh Tử
Nghiệp
của những hành vi đức hạnh phối hợp với những đức
hạnh giải thoát dẫn người ta đến giác ngộ. Longchen Rabjam
giải thích trong tác phẩm Shingta Chenpo (Cỗ Xe Ngựa Chiến
Lớn), một tự bình giảng về Simnyid Nyalso (Thư giãn trong
tâm Tự Nhiên) sự hiện diện của hai “dòng” Phật tánh
(Như Lai Tạng) trong tất cả chúng sanh, nhờ nó chúng ta có
tiềm năng trở thành những vị Phật nếu chúng ta tu hành
những nghiệp đức hạnh dẫn đến Phật quả. Dòng (Rigs)
thứ nhất là “Dòng hiện diện tự nhiên”, nó là phương
diện của dòng hay của tinh túy, hiện diện một cách bổn
nguyên như là bản tánh tối hậu của chúng sanh. Dòng hay tinh
túy thứ hai là “dòng phát triển”, nó là phương diện tinh
túy được phát triển bằng cách xóa tan những che đậy nhiễm
ô. Ngài giải thích người ta cần đánh thức “dòng” và
bằng phương tiện nào, hay khác đi người ta sẽ đi lạc vào
sanh tử như thế nào nếu người ta không chứng ngộ, thấu
hiểu “dòng”, và quan trọng là tu hành những đức hạnh
giải thoát như thế nào để chứng ngộ “dòng”.
TỔNG
QUÁT VỀ NGHIỆP ĐỨC HẠNH GIẢI THOÁT
Những
nghiệp đức hạnh vượt khỏi cả hai những đức hạnh tạo
công đức và những hành vi xấu và giải thoát mọi vết dơ
là những nguyên nhân làm tái sanh trong sanh tử chính là những
nghiệp, những nguyên nhân của giải thoát. Trong những nghiệp
đó, những đức hạnh với những ý niệm, như là mười nghiệp
thiện và năm ba la mật đầu của sự tích tập công đức,
là những hành vi của cấp độ chân lý tương đối. Những
đức hạnh không ý niệm, trí huệ thoát khỏi hai cực đoan,
là sự tích tập trí huệ bổn nguyên (chân lý tuyệt đối).
Sự hợp nhất của hai sự tích tập này, hiện thân trong những
giai đoạn của năm con đường, dẫn người ta đến Phật
quả. Thế nên nó siêu vượt những đức hạnh thuộc sanh
tử. Chúng sanh sanh tử tri giác những hành vi đức hạnh là
có bản chất và có những đặc tính. Nhưng đối với những
đức hạnh giải thoát, từ lúc khởi đầu của sự tu hành
không có tri giác về chúng như là có bản chất hay có những
đặc tính. Chúng thoát khỏi ý niệm công đức hay không công
đức, và chúng có tinh túy là tánh không và đại bi....
Bố
thí...., năm ba la mật đầu là cho sự tích tập công đức,
và trí huệ là cho sự tích tập trí huệ bổn nguyên. Qua sự
tu hành phối hợp hai cái này, người ta đạt được hai thân
(Pháp thân và Sắc thân) của chư Phật.
NHỮNG
ĐỨC HẠNH, NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA GIẢI THOÁT
Những
đức hạnh giải thoát thực sự thuộc về “chân lý của
con đường”, nguyên nhân của dừng dứt khỏi khổ. Dù chúng
đặt trên nền tảng phổ quát của những tập khí, thì kết
quả – bản thân sự dừng dứt – được hoàn thành nhờ
nguyên nhân của dừng dứt khổ đau và sanh tử, được đặt
nền trên “dòng” (Rigs) hay tinh túy (Phật tánh). Đó là tại
sao những đức hạnh trở thành nguyên nhân của giải thoát
tối thượng bất biến. Trong bản văn gốc có nói :
Căn
bản của những đức hạnh là “dòng”.
Đó
là trạng thái tự nhiên sáng rỡ của tâm,
Bản
tánh vô nhiễm, và nó là “dòng hiện diện tự nhiên”.
Phương
diện xuất hiện của bản tánh là hai thân,
Chúng
đặc trưng bởi chín thí dụ.
Đó
là bản tánh của lòng bi hiện diện một cách bổn nguyên,
và
Nó
là “dòng phát triển”. Điều này do Như Lai nói ra....
Những
kinh điển của lần chuyển bánh xe Pháp thứ ba khai thị nghĩa
quyết định và chỉ ra bí mật vĩ đại của tất cả chư
Phật. Những kinh điển đó là :
Arya-dharanesvaraja-pariprccha
sutra.
Arya-srimaladevi-simhadana-pariprccha
sutra.
Bu-Mo
Rin-Ch’en Gyis Zhus Pa’i mDo.<