MỤC
LỤC.
Đề
minh
Lời
nói đầu
PHẦN
I: DẪN NHẬP.
(Phần
I này gồm 122 trang trong tổng số 420 trang của nguyên bản
không được in trong lần xuất bản này)
Dẫn
nhập
Những
phân biệt giữa Kinh và Tantra
Định
nghĩa Tantra
Những
Loại khác nhau của những Giáo lý về Tantra
Giai
đoạn Phát Triển và giai đoạn Thành Tựu của Tantra
BA
TANTRA NGOẠI
(A)
Kriyayoga
(B)
Caryayoga
(C)
Yogatantra
Những
phân biệt giữa những Tantra Ngoại và những Tantra Nội
Những
phân biệt giữa Ba Tantra Nội
Những
chia nhỏ của Ba Tantra Nội
Những
nguồn của các Kinh Điển Tantra Chính
Một
số Kinh Điển Tantra Chính của Ba Tantra Nội
BA
TANTRA NỘI
(A)
Mahayoga
(B)
Anuyoga
(C)
Atiyoga
BA
PHÂN CHIA CỦA ATIYOGA
(Đại
Toàn Thiện Dzogpa Chenpo)
(A)
Semde (Phân chia về Tâm)
(B)
Longde (Phân chia về Pháp giới)
(C)
Mengagde (Phân chia về giáo huấn Mật truyền)
Sự
ưu việt của Mengagde với hai sự Phân Chia Trước
Tri
kiến của Mengagde
Những
phân chia của Mengagde
Thiền
định của Mengagde
Những
Phân chia Thiền định của Mengagde
(a)
Thergchod (Cắt Đứt)
(b)
Thodgal (Tiếp Cận Trực Tiếp)
Những
Chứng đắc các Con Đường và các Giai Đoạn của Đại Toàn
Thiện (Atiyoga)
Những
Chứng đắc Quả vào khi Chết
ĐẠI
TOÀN THIỆN VÀ NHỮNG THỪA VÀ TRUYỀN THỐNG KHÁC
Tất
cả các Thừa và các Tu Hành là những Bước đến Đại Toàn
Thiện
Những
Phân biệt của Hai Lần Chuyển Bánh Xe Pháp
Mục
đích của Đại Toàn Thiện là Đạt Được Phật tánh
Đại
Toàn Thiện đặt nền trên Lần Chuyển Bánh Xe Pháp Thứ
Hai
Phật
tánh như được dạy trong những Thừa Kinh
Sự
Ưu việt của Phật tánh như được dạy trong Đại Toàn Thiện
Sự
Phân biệt giữa Phật tánh của Đại Toàn Thiện và Duy Thức
Những
khác biệt giữa Đại Toàn Thiện và Trung Đạo
Sự
Phân Biệt Độc Nhất của Đại Toàn Thiện
Nyingma
và Bon
Đại
Toàn Thiện và Ha-shang Đại Thừa
NHỮNG
ĐOẠN TRÍCH TỪ CUỘC ĐỜI CỦA CÁC ĐẠO SƯ ĐẠI TOÀN THIỆN
ĐỂ MINH GIẢI NHỮNG ĐƯỜNG LỐI TU HÀNH TRONG ĐẠI TOÀN THIỆN
Vài
Đạo Sư Đại Toàn Thiện thời xưa
Sùng
mộ gây ra chứng ngộ trong Gyalwa’i Nyuku
Những
đức hạnh khai triển trong những người có kinh nghiệm Đại
Toàn Thiện
Sự
chứng ngộ đạt đến tức thời bởi Nyoshul Lungtog
Patrul
đạt chứng ngộ qua năng lực yoga của thầy
Sự
quan trọng của tu hành quyết liệt
Sự
quan trọng cần nương dựa vào những kinh điển chính thống
Giữ
cho không bị thao túng bởi một số kinh nghiệm thần bí
Tâm
thành thật thì tốt hơn nhiều so vớicái gọi là chứng ngộ
cao
Di
chúc và sự trao truyền của Dodrup Chen vào lúc ngài chết
Những
dấu hiệu kỳ diệu vào lúc chết của Konme Khenpo
Thân
cầu vồng của Sodnam Namgyal
Yukhog
Chatralwa, một vị thầy Đại Toàn Thiện vĩ đại
CUỘC
ĐỜI CỦA KUNKHYEN LONGCHEN RABJAM
PHẦN
II.
MỘT
HỢP TUYỂN NHỮNG TÁC PHẨM CỦA.
LONGCHEN
RABJAM VỀ ĐẠI TOÀN THIỆN.
Tóm
lượt các mục
CÁI
THẤY (NỀN TẢNG).
1.
Sanh tử và niết bàn phát sanh từ “Nền tảng” như “những
Hình Tướng Xuất Hiện của Nền tảng” như thế nào theo
những giáo lý Đại Toàn Thiện thậm thâm
2.
Nghiệp của những Hành vi Sanh tử, Nguyên nhân của sự Luân
lạc của Chúng sanh trong Sanh tử Huyễn ảo trong Đại thừa
3.
Nghiệp của những Đức hạnh Giải thoát, những Phương tiện
của Thoát khỏi Sanh tử trong Đại thừa
4.
Cái Thấy Triết học về những Hiện hữu Hiện tượng trong
Đại thừa
THIỀN
ĐỊNH (CON ĐƯỜNG).
5.
Thiền định về Ý Nghĩa của cái Thấy trong Đại thừa
6.
Hai Mươi Bảy Bài Giảng về Tu hành Đại Toàn Thiện
7.
Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, Đại Toàn Thiện
8.
Những Giáo huấn Thiền định về Tâm Giải Thoát Tự Nhiên,
Đại Toàn Thiện
9.
Sự Tu hành và những Chứng đắc Năm Con đường của Đại
thừa
10.
Sự Tu hành và những Chứng đắc những Con đường và những
Giai đoạn của Tantra
11.
Sự Chứng đắc những Con đường, những Giai đoạn và những
Thị kiến của Đại Toàn Thiện
QUẢ.
12.
Chứng đắc Quả, những Thân Phật và những Trí Huệ Bổn
Nguyên của Phật quả trong những Kinh Đại thừa và những
Tantra
13.
Những Thân Phật và những Trí Huệ Bổn Nguyên trong Dzogpa
Chenpo
Đề
minh:
(Đại
Toàn Thiện) là con đường của định quang minh, tinh túy của
nghĩa rốt ráo tối hậu,
Và
chót đỉnh của những giáo lý kinh và tantra :
Đây
là nghĩa của những giáo huấn về sự tiếp cận trực tiếp
Với
bản tánh tối hậu, Phật tánh như nó vốn là. –Longchen
Rabjam
Tinh
túy của những bài pháp về Ba Cửa của Giải Thoát
Do
bậc Chiến Thắng thuyết trong lần chuyển Pháp Luân Thứ Hai,
Chính
là Tự-Tánh Giác Phân Biệt,
Nó
hiện diện tự nhiên trong bản chất của chúng sanh như Phật
tánh,
Và
nó được biết như là Đại Toàn Thiện.
Ý
nghĩa toàn bộ của những con đường tuyệt hảo, bao la
(của
đạo Phật)
Chỉ
là để tẩy sạch tâm thức.
Thế
nên ba nguyên tắc, sáu ba la mật, những giai đoạn phát triển
và thành tựu v.v....
Là
những bước đến con đường của Đại Toàn Thiện.
–Jigmed Lingpa
Những
hình tướng xuất hiện vốn giải thoát khỏi đối tượng,
tánh giác bổn nhiên vốn là sự giải thoát khỏi (thời gian)
nguyên thủy,
Cái
thấy và thiền định vốn thoát khỏi hành động và sáu thức
vốn thoát khỏi cái ta ;
Không
có cần sự nắm hiểu với những ghi nhớ hay những đối
trị :
Đại
Toàn Thiện vốn thoát khỏi hành động (vô vi) là sự dừng
dứt của những hiện tượng. –Jigmed
Lingpa
Lời
nói đầu
Trong
tánh không, cõi giới tối hậu, tinh túy mẹ,
Ở
trong đó là sự sáng tỏ, tánh giác bổn nhiên, bản tánh cha.
Với
sự hợp nhất của cha và mẹ bổn nguyên, dòng tương tục
của Đại Toàn Thiện,
Con
xin đảnh lễ trong trạng thái của Phật Tâm giải thoát tự
nhiên.
Cuốn
sách này gồm một hợp tuyển những tác phẩm của Longchen
Rabjam (1308-1363) về Dzogpa Chenpo (S. mahasandhi, Việt : Đại Toàn
Thiện). Những bản dịch có một giới thiệu chi tiết căn
cứ chặt chẽ trên kinh điển và những giải thích truyền
thống về phương diện bí truyền sâu xa nhất của Phật giáo.
Những
giáo lý của Dzogpa Chenpo (hay Dzogchen), Đại Toàn Thiện, là
sự tu hành bí truyền Phật giáo sâu xa nhất đã được giữ
gìn và thực hành cho đến ngày nay bởi những người theo
phái Nyingma của Tây Tạng. Nhấn mạnh chủ yếu của Đại
Toàn Thiện là đạt được và hoàn thiện sự thấu hiểu,
sự chứng ngộ bản tánh chân thật của tâm, Tánh Giác Bổn
Nhiên (Rig-Pa), nó là Tâm Phật hay tinh túy Phật. Nhờ đó người
ta đạt được và hoàn thiện sự thấu hiểu, chứng ngộ
về bản tánh chân thật của mọi hiện hữu hiện tượng,
tất cả chúng là đồng nhất trong tinh túy của chúng. Theo
kinh điển Đại Toàn Thiện, mọi hình thức tu hành Phật giáo
dẫn đến cùng mục đích như nhau, là sự chứng ngộ Tánh
Giác Bổn Nhiên được dạy trong Đại Toàn Thiện ; và hơn
nữa, tinh túy của tất cả những giáo lý Phật giáo nằm
trọn vẹn trong thiền định Đại Toàn Thiện và những kết
quả của nó. Nhiều thiền giả Đại Toàn Thiện đã thành
tựu, ngoài sự đạt được cái an lạc nội tâm và giác ngộ
cao cả nhất trong chỉ đời này, về mặt thân xác đã biểu
lộ những dấu hiệu của những thành tựu phi thường vào
lúc chết. Chẳng hạn, các vị đã làm tan biến thân xác thô
không để lại cái gì hay chuyển hóa thân xác thành những
thân ánh sáng vi tế.
Thiền
định Đại Toàn Thiện là phương pháp tu hành của sự đơn
giản tột bậc để đạt đến trạng thái đơn giản tối
hậu thoát khỏi những tạo tác ý niệm. Nhưng với người
bình thường như chúng ta, để đạt được trạng thái của
sự đơn giản và của thoải mái thong dong tối hậu là mục
tiêu khó thành tựu nhất. Như vậy, để sửa soạn cho tu hành
Đại Toàn Thiện, người ta phải làm các nghiên cứu và tu
hành khác nhau để học về con đường và tịnh hóa những
dơ bẩn của xúc cảm tiêu cực và những dấu vết của chúng
; phải phát sanh năng lực tích cực qua sức mạnh của những
đức hạnh ; và phải thực hiện, tinh lọc và hoàn thiện
những chứng đắc thiền định thông thường được dạy
trong những con đường chung của Phật giáo. Khi người ta sẵn
sàng, tùy theo sức mạnh của những kinh nghiệm tâm linh của
mình, người ta cần được chỉ dạy thiền định Đại Toàn
Thiện bởi một đạo sư đầy đủ phẩm chất.
Đối
với hạnh phúc và giác ngộ của chúng sanh, Phật giáo làm
việc ở gốc rễ, gốc rễ của sự có được niềm vui và
trừ sạch khổ đau, nó nằm trong những cá nhân ; để cho
xã hội là một tập hợp những cá nhân. Đối với một cá
nhân, tâm là yếu tố chính và là người tiên phong của mọi
hoạt động. Vậy thì sự cải thiện và hoàn thiện trạng
thái tâm thức là sự nhấn mạnh hàng đầu của tu hành Phật
giáo. Nếu người ta đã cải thiện và hoàn thiện tâm mình,
mọi hoạt động thể xác sẽ tự nhiên hoàn thiện và sự
có mặt và những hoạt động của người ta sẽ trở thành
một nguồn hạnh phúc chân thật và giác ngộ cho những người
khác. Từ giây phút trở thành một Phật tử Đại thừa, người
ta được hy vọng sẽ nỗ lực trong việc phụng sự người
khác. Toàn bộ nguyện vọng trong tu hành tâm linh là vì lợi
lạc của những người khác. Nhưng lúc bắt đầu, sự nhấn
mạnh nhằm vào tiến bộ tâm linh của chính mình, phát xuất
từ tâm mình. Không có sức mạnh tâm linh trong chính mình mà
cố gắng phụng sự cho những người khác thì sẽ như một
tục ngữ Tây Tạng nói : “Một người đang rớt xuống không
thể đưa vai cho người khác đang rơi dựa vào.”
Những
thiền định của tantra và của Đại Toàn Thiện do Guru Padmasambhava
dạy và trao truyền là một tu hành trên con đường cân bằng
giữa cái thấy (tri kiến) về trí huệ bổn nguyên và những
hoạt động công đức. Chúng không phải là một tham thiền
chỉ về cái thấy, dù có một số người giải thích chúng
như vậy, cũng không phải là sự tu hành chỉ những hoạt
động công đức. Guru Padmasambhava nói với Vua Thrisong Deutsen
(790-858) :
Xin
chớ để mất cái thấy mà thiên về những hoạt động. Nếu
ngài làm thế, bị ràng buộc vào những tính cách của hiện
hữu, ngài sẽ không đạt giải thoát. Xin chớ để mất những
hoạt động mà thiên về cái thấy. Nếu ngài làm thế, sẽ
có tình trạng là vắng mặt cả đức hạnh lẫn thói xấu,
(và người ta rơi vào cực biên của) hư vô, và (đời sống
tâm linh của người ta) thành ra không thể sửa chữa. Thưa
đại vương, vì những tantra của tôi có những giáo lý giảng
rộng về cái thấy, trong tương lai nhiều người chỉ biết
những ngôn từ về cái thấy mà không có sự xác tín của
cái thấy trong dòng tâm thức thì họ có thể lạc vào những
cõi thấp.
Trong
bản thân thiền định Đại Toàn Thiện có nhiều giai đoạn
tu hành phải được dạy và thực hành từng bước. Mỗi bước
chỉ được làm khi hành giả đã sẵn sàng cho bước đó.
Trong Đại Toàn Thiện một thiền định tinh vi và bí truyền
siêu vượt khỏi những tạo tác trí thức và tâm trí – người
ta không nghiên cứu hay đọc những giáo lý về một phương
diện đặc biệt nào cho đến khi người ta đã sẵn sàng cho
bước đặc biệt đó và cho sự tu hành về nó. Và người
ta dứt khoát bị gạt ra khỏi “những giáo huấn về thiền
định thực nghiệm”. Nếu không sẵn sàng cho những kinh nghiệm
thiền định đặc biệt, người ta đọc hay nghiên cứu chúng,
người ta có thể chỉ xây lên những hình ảnh được chế
tạo của cái hiểu trí thức về một kinh nghiệm thiền định
đặc biệt. Bởi thế, trước khi có bất kỳ kinh nghiệm thực
sự hay chứng ngộ thanh tịnh nào, người ta sa vào hầm hố
của sự tưởng tượng trí óc. Bấy giờ hành giả sẽ thấy
khó phân biệt đâu là kinh nghiệm thật của sự chứng ngộ
hay là một hình ảnh do tâm trí sáng tạo. Cách nhập môn này
áp dụng không chỉ cho Đại Toàn Thiện, mà cũng cho sự tu
hành tantra tổng quát. Trong thực hành theo kinh thừa, trước
tiên bạn nghiên cứu rồi đi vào tu hành. Nhưng trong những
tantra, khi bạn đã trưởng thành qua những đức hạnh chuẩn
bị chung và đã sẵn sàng cho sự tu hành bí truyền, bạn sẽ
nhận sự trao truyền của sự chứng nghiệm qua một lễ quán
đảnh (dBang, S. abhisekha). Chỉ bấy giờ bạn sẽ được đưa
vào tiến trình nghiên cứu và tu hành tantra bằng cách sử
dụng Trí Huệ Bổn Nguyên, ý nghĩa của quán đảnh, nó được
chứng nghiệm trong thời gian trao truyền quán đảnh, như là
phương tiện và nền tảng của thiền định.
Một
số người không cần trải qua sự tu hành chung nào mà sẵn
sàng cho sự tu hành cao hơn như Đại Toàn Thiện. Nhưng những
người như thế hầu như không có trong thế giới này của
chúng ta.
Bởi
thế, trong cuốn sách này tôi cố gắng không đem vào “những
giáo huấn về những giai đoạn của thiền định thực nghiệm”,
bởi vì người ta nên có chúng một cách cá nhân từ một
đạo sư đích thực, qua từng giai đoạn theo khả năng thực
nghiệm của riêng mình. Tôi đã cố gắng chỉ trình bày ở
đây, hay ít nhất chủ yếu là những giáo lý về cái thấy,
đại cương về thiền định và quả của Đại Toàn Thiện.
Ngày
nay, khi bối cảnh văn hóa của những giáo lý truyền thống
đang đổi thay, những giáo lý tantra và ngay cả những giáo
lý Đại Toàn Thiện được công khai đưa cho nhiều người
có ít đức tin, họ chưa làm sự tu hành sơ bộ chuẩn bị
hay chưa nhận những quán đảnh nhập môn. Tiêu điểm chính
của sự hấp dẫn và mục tiêu của nhiều người gọi là
thầy và những đệ tử đã trở thành thế tục hay tham dục
một cách không may. Ngược lại, có nhiều người cầu pháp
nghiêm túc muốn nghiên cứu những giáo lý Đại Toàn Thiện
từ mối quan tâm trong sạch về Pháp và họ đã được sửa
soạn cho những giáo lý như vậy qua nghiên cứu và tu hành
sơ bộ. Nhưng sự thấu hiểu giáo huấn và tài liệu đọc
trong ngôn ngữ Tây phương đã ngăn cản họ không tiến bộ
nhiều trên con đường này. Trong tình hình ấy, một quyết
định viết và dịch những giáo lý như vậy hay không và phổ
biến chúng là một công việc nghiêm túc. Một cách thực tiễn,
trong thời hiện đại này, không có cách gì mà những giáo
lý này có thể được giữ gìn và thực hành một cách truyền
thống chỉ bởi những người đã sẵn sàng cho chúng. Thế
nên giải pháp là xem xét cái gì sẽ là cách tốt nhất có
thể để trình bày những giáo lý cho quần chúng hầu những
giáo lý ấy sẽ lợi lạc nhất khi đến với họ.
Sau
mọi nhận định này, tôi đi đến kết luận rằng tôi cố
thử dịch và trình bày những kinh văn nguyên bản này, những
lời thâm sâu đến từ tâm trí huệ của các bậc Giác Ngộ,
không nhiễm ô bởi tư tưởng trí thức đương đại của
thế giới vật chất hiện đại của chúng ta.
Tôi
đã dịch và viết cuốn sách này không phải bởi vì tôi có
một thẩm quyền với một giáo lý mật truyền như Đại Toàn
Thiện. Tôi cảm thấy tự hào đã có can đảm chấp nhận
việc đó mà không cố gắng tạo ra những câu chuyện như
tôi đã sanh ra với trí huệ hay tôi đã chìm ngập rất nhanh
chóng trong một đại dương kinh điển. Nhưng như một tục
ngữ Tây Tạng nói : “Thái độ ứng xử của một một người
đầy tớ của một gia đình có giáo dục còn tốt hơn thái
độ của một ông chủ của một gia đình không có giáo dục.”
Tôi đã may mắn lớn lên ở tu viện Dodrup Chen, một cơ sở
nổi tiếng của học và giác ngộ khơi nguồn và trải dài
qua hàng trăm năm truyền thống. Ở đó, dù tôi không trở
thành một học giả hay một hiền giả, tôi đã sống với
những đạo sư thông tuệ nhất và an lạc nhất, như ngài
Kyala Khenpo Chochog (1893-1957), và tôi đã nghe những lời Pháp
chân thực từ chiều sâu của tâm thanh tịnh và giác ngộ
nhất của các ngài. Như là sự ban phước của việc được
ở nơi một cơ sở vĩ đại như thế, tôi luôn luôn cảm thấy
chút sức mạnh của can đảm và ánh sáng của trí huệ làm
cho tôi thấy được và tôn kính những giáo lý thanh tịnh
và những truyền thống chân thật của chúng, mà không cần
điều chỉnh, thích nghi chúng với những chiều kích của phán
đoán trí thức của riêng tôi hay dùng chúng như những công
cụ để tuyên dương bản ngã tôi. Điều đó bất kể tôi
đi đâu hay sống ở đâu, trong những thế giới học giả,
vật chất hay tâm linh.
Đối
với những giáo lý Đại Toàn Thiện, trước hết có nhiều
kinh điển gốc, gọi là những tantra của Đại Toàn Thiện.
Không may, chúng rất khó hiểu, và hầu hết đều không có
bình giảng nào và cần phải giải thích. Thế nên, nếu tôi
phải dịch những bản văn đó, tôi không thể tránh được
phải chiều theo những giải thích riêng của tôi, và những
giải thích đó có thể rất sai.
Sau
những tantra, có những bản văn và những bình giảng về Đại
Toàn Thiện được viết hay khám phá bởi những bậc lỗi
lạc vĩ đại của dòng Đại Toàn Thiện. Trong những cái ấy
thì những tác phẩm và bản văn được khám phá và những
bình giảng của Longchen Rabjam được tôn trọng như chi tiết
hơn nhiều, rõ ràng hơn nhiều những tantra và cũng chính thống
như những tantra mà không có bất kỳ sự tranh cãi nào khắp
thế giới Nyingma từ thế kỷ mười bốn. Vì tất cả những
lý do này, tôi đã làm ra cuốn sách này, một hợp tuyển những
tác phẩm của Longchen Rabjam về Đại Toàn Thiện.
Cuốn
sách này gồm hai phần. Phần một là sự giới thiệu, trong
đó tôi cố gắng trình bày toàn thể quang cảnh Phật giáo
trong một cách nào để hiển bày rằng những giáo lý Phật
giáo chung là nền tảng của Đại Toàn Thiện và Đại Toàn
Thiện là tinh túy của chúng. Tôi cũng cố gắng giải thích
những sự tương tự của Đại Toàn Thiện với những học
phái tư tưởng Phật giáo khác cũng như đặc thù độc nhất
của Đại Toàn Thiện đối với chúng. Cho mỗi chủ đề tôi
đã trích dẫn rộng rãi những tantra, bản văn và bình giảng
của những tác giả vĩ đại nhất của Đại Toàn Thiện để
trình bày những quan điểm và giá trị chân thật truyền thống.
(Trong bản dịch tiếng Việt, chúng tôi chỉ dịch trọn vẹn
phần hai để xuất bản, phần một chúng tôi chỉ lấy hai
chương, Những Đoạn Trích Từ Cuộc Đời Của Các Đạo Sư
Đại Toàn Thiện và Cuộc Đời của Longchen Rabjam, hy vọng
trong những bản in lần sau chủ đề so sánh Đại Toàn Thiện
và các học phái Phật giáo khác sẽ được in đầy đủ khi
điều kiện cho phép – NXB. Thiện Tri Thức).
Phần
hai cung cấp một kết cấu trọn vẹn của những giáo lý Đại
Toàn Thiện trong lời nói của Đạo Sư Toàn Giác Longchen Rabjam,
từ những mê lầm dẫn đến sanh tử cho tới sự đạt được
giải thoát. Nó được tổ chức trong ba phần : cái thấy,
thiền định và quả. Có mười ba chương là những trích đoạn
từ Shingta Chenpo, Pema Karpo, Tshigdon Rinpoche’i Dzod, Gewa Sumgyi
Donthrid, Ch’oying Dzod, Namkha Longch’en, Namkha Longsal, và những
bản văn trọn vẹn của Sem-nyid Rangtrol và bình giảng của
nó bởi Longchen Rabjam.
Để
khai triển sự tin cậy và cảm hứng vào những giáo lý này,
quan trọng cần biết về tác giả, học vấn uyên bác của
ngài và sự chứng ngộ của ngài về những giáo lý ngài viết.
Thế nên tôi đã viết một tiểu sử chi tiết của Longchen
Rabjam góp từ những tiểu sử khác nhau của ngài. Tôi cũng
trích dẫn rộng rãi những tác phẩm của ngài để làm rõ
cái nhìn của ngài về thiên nhiên. Như là một thi sĩ, ngài
diễn tả thiên nhiên trong trong những hình ảnh của cái đẹp,
niềm vui và an bình, như là một hành giả thông thường của
Phật giáo, ngài thấy chúng như sự biểu lộ của vô thường
và những phản chiếu hư vọng ; và như một triết gia Đại
Toàn Thiện, ngài thấy tất cả trong cái như thị của an bình
rốt ráo, Tánh Giác Bổn Nguyên.
Mục
tiêu chính của tôi trong việc soạn sách này là cung cấp những
sự minh giải sau đây : (a) Những tri kiến Đại thừa chung
của Phật giáo là nền tảng của những giáo lý Đại Toàn
Thiện. (b) Tất cả những mặt thiết yếu của tu hành Phật
giáo được cô đọng trong Đại Toàn Thiện, và Đại Toàn
Thiện là tinh túy của những giáo lý Phật giáo. (c) Để trở
thành một hành giả Đại Toàn Thiện người ta cần tu hành
qua những nghiên cứu và thiền định sơ bộ chung. Vì Đại
Toàn Thiện là sự tu hành cao nhất và đơn giản nhất, nó
đòi hỏi sự chuẩn bị và thiền định nhiệt thành nhất.
Cho
đến vài năm trước đây, tôi vẫn chống lại việc tham gia
vào xuất bản hay trình bày bản văn tantra nào cho quần chúng
chưa được nhập môn. Rồi một hôm tôi thấy một bản thảo
về bản văn nghi thức tantra do một học giả dịch ra và định
xuất bản. Với sự ngạc nhiên, tôi thấy rằng bản dịch
cùng bản văn đó của riêng tôi thì chính xác hơn chút ít.
Điều đó khuyến khích tôi gởi bản dịch của tôi cho xuất
bản để giữ gìn bản văn thiêng liêng trong một hình thức
tốt hơn. Từ đó, quan điểm của tôi về việc dịch và xuất
bản những kinh điển đã thay đổi.
Để
dịch và xuất bản cuốn sách này, tôi đã nhận được những
ban phước của hai vị thẩm quyền cao nhất còn sống về
Đại Toàn Thiện trong thế giới ngày nay. Kyabje Dodrup Chen Rinpoche
nói : “Theo quan điểm của tôi, có vẻ rằng thế hệ của
chúng ta hầu như chắc chắn là thế hệ cuối cùng trong đó
có những người thực sự có cơ hội được chứng ngộ trực
tiếp hay thấu hiểu Đại Toàn Thiện đích thực và nhận
sự tu hành và những trao truyền từ một đạo sư Đại Toàn
Thiện chân chính trong ánh sáng của trí huệ truyền thống.
Bởi thế, như tôi vẫn nói, công việc quan trọng nhất đối
với những người như anh là phổ biến truyền thống này
qua chỉ dạy hay viết, theo cách nào anh có thể, bất cứ nơi
đâu có những hoàn cảnh thích hợp để giữ gìn truyền thống
này một cách trong sạch và làm cho nó có mặt nơi những thế
hệ tương lai.” Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche nói : “Tôi nghĩ
rằng không chỉ cho phép mà còn rất quan trọng cần xuất
bản công trình của anh về những tác phẩm về Đại Toàn
Thiện của Longchen Rabjam khi anh chắc chắn trình bày chúng
đúng như chúng là. Tôi thực sự nghĩ như vậy.” Và thế
nên tôi đã làm việc nhiều cho cuốn sách này để cung cấp
một hiểu biết tổng quan giáo lý Đại Toàn Thiện trong lãnh
vực Phật giáo cho những người bạn chân thành với Pháp
ở Tây phương.
Tôi
cầu nguyện chư Phật, những vị Tổ truyền dòng và những
hộ pháp nam nữ tha thứ cho những lỗi bỏ sót và sai phạm
và những tiết lộ không thích hợp về tinh túy bí mật của
những giáo lý đã mắc phải khi soạn sách này. Nguyện tất
cả công đức tích tập được từ công việc này tạo ra
hạnh phúc và giác ngộ cho tất cả chúng sanh là mẹ, và nguyện
nó phổ rộng Pháp thanh tịnh trong thế giới.
Tôi
muốn bày tỏ lời cám ơn đến Harold Talbott vì trí huệ và
kiên nhẫn của ông trong việc biên tập từng dòng của công
trình này, đến Michael Baldwin vì sự chăm lo mọi nhu cầu đời
sống, cung cấp cơ hội bằng vàng cho tôi để làm công việc
hiển bày trí huệ Đại Toàn Thiện này, đến những thành
viên và những nhà bảo trợ của Buddhayana, U.S.A., mà dưới
sự đỡ đần của họ tôi đã có thể làm việc này trong
nhiều năm qua, và đến Trung Tâm Nghiên Cứu Tôn Giáo Thế
Giới của Đại học Harvard, nơi tôi bắt đầu làm cuốn sách
này khi tôi là một học giả thỉnh giảng. Tôi biết ơn cao
độ Kyabje Khyentse Rinpoche đã cung cấp nhiều minh giải quan
trọng và Kyabje Dodrup Chen Rinpoche đã ban sự trao truyền những
giáo lý của Longchen Rabjam. Tôi cũng cám ơn Khenpo Palden Sherab
và Lama Golok Jigtshe (mất năm 1987) vì những giải thích uyên
bác về nhiều điểm. Cũng cám ơn đến Helena Hughes và Linas
Vytuvis đã sửa soạn bản chú dẫn, và đến John Cochran đã
chụp ảnh bìa. Tôi cũng muốn cám ơn Jeanne Astor của Nhà xuất
bản Snow Lion vì công việc biên tập. Tôi mắc nợ sâu xa Victor
và Ruby Lam đã cung cấp cho tôi một căn nhà để sống và
làm xong cuốn sách này.
Tulku
Thondup
Cambridge
Tháng
Chạp, 1987