Đêm
Hy Mã Lạp Sơn vang lên tiếng chó sủa. Ánh sáng lập lòe bên
kia sườn đồi. Dưới vòm trời sao, trên lối mòn tăm tối
giữa những hàng thông, một nhóm người hành hương trong y
phục tả tơi đang bước đi, miệng lẩm bẩm cầu kinh. Ngay
trước lúc rạng đông, khi những đỉnh núi tuyết ở phía
sau nhuộm màu hồng đậm, đám đông ở bên ngoài ngôi chùa
Namgyal ba tầng ở Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, trở nên yên
lặng. Một người có tướng mạo mạnh mẽ, lưng hơi khòm
bước vào đưa đôi mắt sáng nhìn khắp mọi người, khuôn
mặt hoan hỷ với nụ cười rộng không tắt trên môi. Tháp
tùng theo sau ngài là các tăng sĩ mặc áo đỏ thẫm và đầu
đội mão có mào vàng. Vị mới đến đi thẳng lên điện
Phật. Nơi đó, các vị phụ tá ngồi nghiêm trang phía trước
ngài. Khi mặt trời ló dạng, tiếng tù và vang vọng cả một
vùng thung lũng ở bên dưới, Đức Đạt Lai Lạt Ma chủ trì
một nghi lễ đón mừng năm mới, năm con Rồng Đất.
Vào
ngày mùng hai Tết Losar, hội mừng xuân mới của Tây Tạng,
vị Phật sống của khoảng mười bốn triệu người về tiếp
kiến công chúng. Đến tám giờ sáng, đoàn người đến viếng
thăm ngài đứng thành một hàng dài nửa dặm dọc theo con
đường núi quanh co ở bên ngoài ngôi nhà gỗ thoáng khí của
ngài ở vùng núi. Họ là những người sơn cước phong trần
trong những chiếc mũ rộng vành, những người Tây Phương
để tóc dài, những bé gái mặc những bộ áo lụa đẹp nhất,
tất cả sáu ngàn dân làng, và hàng ngàn người khác nữa.
Tiếp đó là ba mươi người khách với y phục bám bụi đường
vừa rời khỏi Tây Tạng đứng chen chúc ở bên trong ngôi
nhà. Khi trông thấy vị lãnh tụ lưu vong của mình lần đầu
tiên sau gần ba mươi năm, họ liền oà lên khóc nức nở,
rồi những tiếng sụt sịt sau đó. Trong suốt những khoảnh
khắc đó, Tenzin Gyatso, nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền
của Tây Tạng, hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm qua danh
hiệu Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, một dòng truyền thừa không
gián đoạn kể từ 597 năm qua, vẫn trầm tĩnh an nhiên.
Sau
đó ngài giải thích rằng, ở Tây Tạng lễ Losar thường được
cử hành trên sân thượng của cung điện Potala cao mười ba
tầng, với những cái bánh nướng được bày ra cho mọi người.
“Mỗi năm tôi lại thực sự lo ngại khi nhìn người
ta cứ nhào tới lấy bánh. Thứ nhất là toà nhà lâu đời
có thể sụp đổ bất cứ lúc nào và thứ hai, có thể có
một người nào đó rơi từ trên nóc nhà xuống dưới đất.
Bây giờ việc đó diễn ra ở đây lặng lẽ hơn nhiều”.
Giọng nói của ngài trở nên trầm ấm thân tình.
Từ
năm 1959, cuộc nổi dậy của người Tây Tạng chống lại
những lực lượng chiếm đóng của Trung Quốc đã đưa đến
việc Đức Đạt Lai Lạt Ma phải sống lưu vong ở Ấn Độ,
nhưng tinh thần của nền tín ngưỡng cổ truyền, có tính
chất như truyện cổ tích, vẫn còn sống mạnh mẽ ở Dharamsala
này -- nơi trước kia vốn là đồn lính của chính quyền thuộc
địa Anh Quốc, cách thủ đô New Delhi 250 cây số về hướng
Bắc. Ở đây, với một nhà tiên tri quốc gia, một lạt ma
có quyền năng làm mưa, một số y sĩ, mấy nhà chiêm tinh và
một nội các gồm bốn người, Đức Đạt Lai Lạt Ma, là
hóa thân của tất cả những gì mà ngài đã làm kể từ khi
bước lên ngai sư tử ở Lhasa vào năm lên bốn tuổi.
Nhưng
dù “Người bảo hộ xứ tuyết” (Protector of the Land
of Snows) có tất cả những nét huyền bí của vương quốc
huyền diệu mà người Tây Phương tưởng tượng lại và đặt
tên là Shangri-la, ngài vẫn là một nhà lãnh đạo trong cõi
giới trần tục này. Từ năm mười lăm tuổi ngài buộc phải
lo toan với những nhu cầu của nhân dân ngài trước những
mưu đồ đối nghịch của Bắc Kinh, Washington và New Delhi.
Tình trạng luôn luôn nóng bỏng đó đã đi tới cực điểm
trong mùa thu vừa qua khi người Tây Tạng nổi dậy ở Lhasa,
chính quyền Trung Quốc đã giết chết ba mươi hai người,
Đức Đạt Lai Lạt Ma mở cuộc họp báo lớn đầu tiên của
ngài ở Dharamsala, và Quốc Hội Hoa Kỳ nhất trí lên án hành
động của Trung Quốc. Những cuộc nổi dậy đã bộc phát
trong mấy tuần vừa qua, nhưng ngay cả trước đó, vị tu sĩ
Phật Giáo khiêm tốn này đã thấy mình không chỉ là biểu
tượng tinh thần nối kết một trăm ngàn người Tây Tạng
lưu vong với sáu triệu người vẫn sống dưới ách thống
trị của Trung Quốc mà còn là một nhân vật lãnh đạo về
chính trị cho xứ sở nữa. Ngài cười vui vẻ và nói “Đạt
Lai Lạt Ma thứ 14 có lẽ là người nổi tiếng nhất trong
tất cả các vị Đạt Lai lạt Ma. Nếu người Trung Hoa đã
đối xử với ngưòi Tây Tạng giống như người anh em thực
sự thì có lẽ vị Đạt lai Lạt Ma này không nổi tiếng như
vậy. Vì thế, tất cả là nhờ có người Trung Hoa”.
Mắt ngài sáng lên một cách châm biếm.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma được xem là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế
Âm, điều hành một chính phủ lưu vong, là một tiến sĩ siêu
hình học. Nhưng có lẽ điều kỳ diệu duy nhất về ngài
chính là tính nhân bản thành thực và mạnh mẽ nơi ngài.
Với phong thái riêng, vị Phật sống qua hình ảnh quen thuộc
với đôi giầy màu nâu cùng bộ y mầu đỏ thẫm của mình,
và cặp mắt vẫn có nét tinh nghịch mà thuở ấu thời từng
làm cho các lạt ma của mình phải hốt hoảng vì tài chơi
trò trốn tìm nghịch ngợm. Ngài thích chăm sóc vườn hoa,
ngắm bầy chim rừng, sửa chữa những chiếc đồng hồ, máy
thu thanh và nhất là hành thiền tĩnh tọa. Và ngay cả đối
với những kẻ đã giết tới một triệu hai trăm ngàn người
dân của ngài và phá hủy sáu ngàn hai trăm năm mươi bốn
ngôi tự viện của Tây Tạng, ngài vẫn tha thứ cho họ. Ngài
nói: “là những hành giả tu theo giáo lý Đại Thừa, chúng
ta cầu nguyện mỗi ngày để phát triển một loại tâm từ
bi vô giới hạn. Vì vậy không có lý do gì để nuôi dưỡng
lòng thù hận người Trung Quốc. Chúng ta hãy phát khởi đại
bi tâm đối với họ”.
Vị
Phật vương thứ mười bốn của Tây Tạng ra đời trong một
gia đình nông dân ở ngôi làng nhỏ Takster vào năm 1935. Khi
ngài được hai tuổi, một phái đoàn tăng sĩ tìm đến ngôi
nhà nhỏ của ngài do có sự xuất hiện của những dấu hiệu
như một xác chết có vẻ như cử động, linh cảm từ hồ
thiêng và những đám mây lành, cho thấy ngài là hóa thân mới
của vị thần chủ của Tây Tạng. Hai năm sau đó, sau khi trải
qua những cuộc trắc nghiệm phức tạp, chú bé đã được
một phái đoàn gồm mấy trăm người cung thỉnh về thủ đô
Lhasa. Ở đó ngài sống xa gia đình cùng với người anh trai
trong cung điện Potala rộng lớn với một ngàn căn phòng và
học một khóa giáo lý kéo dài mười tám năm. Lên bảy tuổi,
ngài tiếp phái đoàn của Tổng Thống Mỹ Franklin Roosevelt
và cầu nguyện trước hai mươi ngàn tăng sĩ. Nhưng lúc đó
ngài vẫn là một lạt ma tí hon bình thường, thích chạy quanh
cung điện trên chiếc xe hơi đạp và đùa nghịch với các
anh em ruột của mình, Tenin Choegyal, em trai của Đức Đạt
Lai Lạt Ma nhớ lại “ Một ngày mùa hè, vào năm tôi được
bảy tuổi, mẹ tôi đưa tôi đến cung điện mùa hè Norbulingka
để thăm Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi chúng tôi tới nơi, ngài
đang tưới nước những cây kiếng của mình, và ngài đã
chỉa ngay vòi nước vào tôi”.
Cung
điện Potala ở thủ đô Lhasa
Cũng
trong khoảng thời gian đó, lạt ma tí hon tinh nghịch lần đầu
tiên biểu lộ những năng khiếu về khoa học của mình. Ngài
tự học những nguyên tắc của động cơ nổ và tự sửa
chữa cái máy phát điện của Cung Điện Potala khi nào nó trục
trặc. Ngài chỉ được phép nhìn ra thế giới bên ngoài qua
tấm màn lụa của chiếc kiệu bằng vàng của mình, vì vậy
ngài dùng máy chiếu để xem những cuốn phim mà ngài thích
như loạt phim “Tarzan”, phim “Henry V, vua Anh Quốc”, và
nhất là những cuốn phim thu hình chính thủ đô Lhasa. Ngài
nhớ lại là mình thường trèo lên nóc điện Potala lấy ống
viễn vọng kính và thích thú quan sát những cư dân của thủ
đô Lhasa đang sinh hoạt trong đời sống hằng ngày của họ.
Năm
1950, sự cô lập của “ viên ngọc như ý” (“Wish-Fulfilling
Gem”) và vương quốc miền núi của ngài bị phá hủy khi
quân Trung Quốc tấn công từ tám hướng khác nhau. Bất ngờ
nhà lãnh đạo nhỏ tuổi này phải học một khóa cấp tốc
về chính trị, để rồi đến Bắc Kinh thương thuyết với
Chu Ân Lai (Zhou Enlai) và Mao Trạch Đông (Mao Zedong). Cuối cùng,
vào tháng ba năm 1959, khi một cuộc đụng độ đẫm máu diễn
ra với ba mươi ngàn người Tây Tạng dũng mãnh vùng lên chống
lại sự cai trị hung bạo của Trung Quốc, Đức Đạt Lai Lạt
Ma đã quyết định trốn khỏi cung điện mùa hè, hóa trang
thành một người lính thường và leo qua những rặng núi cao
nhất thế giới. Hai tuần sau, bị bệnh tiêu chảy và ngồi
trên lưng một con trâu yak, “Vị thủ lĩnh hoa sen trắng”
(“Holder of the White Lotus) đã đi vào đất Ấn Độ như một
người lưu vong cùng với tám chục ngàn người dân Tây Tạng
khác.
Kể
từ đó ngài đã phải sống với sự cố gắng giữ thăng
bằng trên sợi dây chính trị thế giới. Ngài là một vị
khách của một quốc gia muốn ngài giữ im lặng và là một
kẻ địch của quốc gia mà nhiều nước trên thế giới đang
ve vãn. Không nản chí, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tổ chức
năm mươi hai khu định cư của người Tây Tạng ở Ấn Độ
và Nepal cũng như thiết lập những viện bảo tồn nghệ thuật,
kinh sách và y học truyền thống của Tây Tạng. Trong mấy
năm sau đó, ngài bắt đầu đi vòng quanh thế giới giống
như một vị Giáo hoàng của Phật Giáo để diễn thuyết ở
Đại học Harvard, Hoa Kỳ, tiếp kiến Đức Giáo Hoàng John
Paul đệ nhị và gặp các tín đồ PG trên khắp thế giới,
dù họ là nông dân thất học hay là diễn viên (diễn viên
điện ảnh người Mỹ Richard Gere -- người bắt đầu nghiên
cứu PG từ năm 1982). Ngài muốn luôn luôn nhìn thấy những
phương diện tích cực của đời sống, ngài cảm thấy rằng
sự lưu vong cũng có những mặt tốt của nó. “Khi chúng
tôi ở Tây Tạng, có những hoạt động nghi lễ chiếm nhiều
thời giờ mà thực chất không có ý nghĩa gì nhiều. Tất
cả những chuyện đó bây giờ không còn nữa. Tôi nghĩ như
vậy là tốt. Bây giờ thì không cần đến những hình thức
bên ngoài nữa”.
Nhiều
người Tây Tạng thuộc thế hệ trẻ muốn vị lãnh đạo
của họ có nhiều tính chiến đấu hơn. Họ ủng hộ đường
lối bạo động, vì họ nhận xét rằng có hơn ba ngàn tù
nhân chính trị chỉ ở riêng miền trung Tây Tạng và chính
quyền Trung Quốc đã đưa ít nhất là ba trăm ngàn binh sĩ
đến để chiếm đóng “nóc nhà của thế giới”.
Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn chủ trương đường lối
ôn hòa. Ngài trình bày: “khi tâm trí bị sự sân hận
ngự trị thì nó có thể trở nên điên loạn. Người ta sẽ
không thể quyết định đúng và không thể trông thấy sự
thật. Nhưng nếu bình tĩnh và an định người ta sẽ trông
thấy sự vật đúng như thật. Tôi nghĩ rằng các nhà chính
trị cần phải có loại kiên nhẫn này. Chẳng hạn, so với
các nhà lãnh đạo trước đây của Liên Xô thì ông Gorbachev
là người bình tĩnh hơn nhiều và do đó hoạt động của
ông hữu hiệu hơn”.
Tuy
nhiên, hiếu hòa không có nghĩa là thụ động, ngài nói tiếp
“rốt cuộc người Trung Quốc sẽ phải nhận thức rằng
Tây Tạng là một quốc gia riêng biệt. Nếu Tây Tạng đã
luôn luôn thật sự là một phần của Trung Quốc thì dù muốn
hay không muốn, người Tây Tạng cũng phải sống với sự
kiện này. Nhưng sự thật không phải như vậy, do đó chúng
ta có tất cả những lý do để đòi hỏi quyền lợi của
mình”.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma dành nhiều thời giờ để suy nghĩ về việc
Phật Giáo Tây Tạng có thể dạy như thế nào và có thể
học như thế nào từ những nền giáo thuyết khác. Chẳng
hạn ngài tin rằng Phật Giáo có thể hướng dẫn cho chủ
nghĩa Marx biết cách thiết lập một chủ nghĩa xã hội đích
thực “không bằng võ lực mà bằng lý luận, bằng một
sự luyện tập tâm trí rất nhẹ nhàng, bằng sự phát triển
tâm từ bi”. Ngài nhìn thấy nhiều điểm tương đồng
giữa niềm tin của ngài và tâm lý học, vũ trụ học, thần
kinh học, khoa học, xã hội học và vật lý học. Ngài nói
“có nhiều điều mà người đệ tử Phật chúng ta nên
học từ những phát hiện mới nhất của khoa học. Và các
nhà khoa học có thể học từ những giáo lý của Phật Giáo.
Chúng ta phải làm công việc nghiên cứu và rồi tiếp nhận
những kết quả. Nếu không phù hợp với những kết quả
trắc nghiệm thì chính những lời giảng của Phật cũng phải
bị loại bỏ”.
Sự
cấp tiến của ngài có khi làm cho người Tây Tạng hoang mang,
dù họ là những người sẵn sàng từ bỏ mạng sống vì vị
lãnh đạo của mình. Trong bản hiến pháp sơ thảo mà ngài
đã soạn vào 1963, vị Phật vương đã cho vào đó một điều
trái ngược với ước muốn của người dân Tây Tạng, có
thể làm cho ngài bị lên án. Đó là việc ngài đang xét lại
cách thức mới để chọn vị Dalai Lama kế tục, có lẽ bằng
một cuộc bầu cử giống như của Tòa Thánh Vatican của Ky
Tô Giáo vậy, hoặc chọn theo tuổi tác, bãi bỏ tất cả những
tập quán tìm kiếm vị hóa thân tái sanh. “Tôi nghĩ
rằng đã đến lúc, dù không nhất thiết phải có quyết định
thật sớm, nhưng cũng phải có sự bắt đầu một cuộc thảo
luận có tính cách chính thức hơn, để người dân có thể
chuẩn bị tư tưởng cho việc này”.
Trong
lúc đó, nhà lãnh đạo lưu vong tiếp tục sống một đời
sống đơn giản, vô vị kỷ, giống như giáo lý Trung Đạo
của Phật Giáo, không tranh chấp với thế gian và cũng không
bị thế gian ảnh hưởng. Ngài vẫn không chịu ngồi hàng
ghế hạng nhất trên các chuyến bay và vẫn tự xem mình luôn
là một “tăng sĩ đơn sơ” (simple Buddhist monk).
Dù là một trong những học giả uyên bác nhất và là một
trong những người trí tuệ nhất của tất cả các nền triết
học trên thế giới, ngài có tài thu tóm giáo thuyết của
mình thành một điều thực dụng trong sáng, như đã kết tinh
trong tựa đề cuốn sách xuất bản năm 1984 của ngài “ Từ
Bi, Quang Minh và Trí Tuệ” (Kindness, Clarity and Insigh)
do nhà xuất bản Snow Lion ấn hành. Ngài nói “Tôn giáo
thực sự của tôi là lòng từ bi” (My true religion is
kindness). Đây là một điều không may mắn cho chính phủ Trung
Quốc khi họ đụng phải một người như Đức Đạt Lai Lạt
Ma. Bắc Kinh đã phỉ báng ngài khi gọi ngài là “thây ma
chính trị, thổ phỉ và phản bội” (political corpse, bandit
and traitor), “tên đồ tể tay dính máu, sống bằng thịt người
(red-handed butcher who subsisted on people’s flesh). Nhưng bất
cứ ai gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng cảm thấy sự nồng
ấm, nhân ái và từ bi của ngài.
Đối
với một người ngoài, đời sống của một vị Phật sống
có vẻ rất cô đơn. Thêm nữa, trong mấy năm qua gần như
tất cả những người thân cận của ngài, nhất là vị giáo
sư của chính ngài, vị giáo sư phụ tá, mẹ và anh của ngài,
là người xưa kia đã chơi đùa với ngài, đều đã lần lượt
qua đời. Nhưng cũng như mọi điều khác, Đức Đạt Lai Lạt
Ma chấp nhận thực tại một cách sâu sắc nhất. Ngài nói
“Bạn cũ qua đời, bạn mới xuất hiện. Điều này
cũng giống như ngày tháng vậy. Ngày tháng cũ trôi qua, ngày
mới xuất hiện. Điều quan trọng là làm cho nó có ý nghĩa:
một người bạn đầy ý nghĩa hay một ngày đầy ý nghĩa”.
Source:
Sidney Piburn (1993), The Dalai Lama, A Policy of Kindness, Snow Lion Publications,
Ithaca, New York, USA