.
PHẬT PHÁP
CHO SINH VIÊN
(BUDDHA DHAMMA
FOR STUDENTS)
Tỳ
kheo Phật Lệ - (Buddhadasa Bhikkhu) - Thiện Nhựt phỏng dịch
Nguyên
tác Thái ngữ: "Lak Dhamma Samrab Nak Seuksa",
Bản
dịch Anh ngữ: "Buddha Dhamma For Students", của Rod Bucknell
TỰA
"Phật
Pháp Cho Sinh viên" là kết quả của hai buổi nói chuyện đạo
của Ajahn Buddhadàsa vào tháng Giêng năm 1966 với các sinh viên
viện Ðại học Thammasat ở Bangkok. Kể từ dạo ấy và các
năm về sau, nhiều thanh niên Thái đã quay về với Phật giáo
để tìm cầu các giải đáp và triển vọng mà nền học vấn
hiện đại của họ theo kiễu Tây phương còn chưa cung ứng
thoả đáng. Trước các sự thay đổi nhanh chóng của xã hội,
nhiều lúc gần đưa đến sự xáo trộn, họ mong tìm ra một
giải pháp bất bạo động cho các vấn đề và các bất công
đương thời. Sự quan tâm của họ rất đáng khen ngợi nhưng
còn cần được dìu dắt. Ứng dụng một cách mù mờ và sai
lầm các lý thuyết Phật giáo vào tình trạng rối loạn và
tranh chấp ở xã hội, cũng chẳng đem lại lợi điểm nào.
Do đó, Ajahn Buddhadàsa mới nỗ lực đưa, cả già lẫn trẻ,
theo đúng con đường mà Phật giáo đã chỉ dạy. Người thực
hiện công tác ấy bằng cách quay về với các nguyên lý nguyên
thủy đã được Ðức Phật nêu lên, rồi Người giải thích
các nguyên lý ấy một cách giản dị và trực tiếp, cùng
nêu rõ tánh cách thích đáng của các nguyên lý nầy vượt
cả thời gian. Chơn lý lúc nào cũng thích đáng và có thể
đem ứng dụng cho nước Ấn độ thời xưa cũng như ở Thái
lan ngày nay, và ngay cả tại các nước phát triển vượt bực
ở Tây phương nữa.
Các
buổi nói chuyện đạo nầy được đặt tên là "Lak Dhamma
Samrab Nak Seuksa" ("Các nguyên lý Phật pháp dành cho Sinh viên").
Hãy nhìn vào nghĩa của các chữ trong tiêu đề trên, và ta
sẽ thấy rõ ràng mục đích của quyển sách nầy.
Trước
tiên, chúng ta phải hiểu nghĩa chữ "seuksa" (seuksa - đọc là
xực-xả - vốn được vay mượn từ tiếng Phạn và chữ sikkhà
với nghĩa tương đương trong tiếng Pali). Người Thái thường
dùng chữ seuksa để phiên dịch danh từ Anh ngữ "study" và
"education", nhưng sự thông dụng ngày nay đã làm giảm bớt
ý nghĩa của chữ ấy so với nghĩa nguyên thủy. Nghĩa của
Seuksa còn đi xa hơn là sự thu thập các kiến thức và kỹ
thuật chuyên nghiệp của chúng ta ngày nay. Nó có nghĩa là
học tập về các sự vật thật sự thích đáng cho đời sống
và ứng dụng vào sự tự huấn luyện chính mình đúng theo
các kiến thức đó. Nó là "sự học tập" đi sâu vào tâm
khảm, đúng như chữ sikkhà được phân tách ra thành "sa" (bởi,
dành cho và nơi chính mình) và "ikkhà" (nhìn) -- "mình nhìn vào
chính mình".
Nak
(đọc là nắc) nghĩa là "kẻ đang làm công tác, người khéo
léo hay một bực chuyên viên" khi nói về một hoạt động
đặc biệt nào. Một nak seuksa là một sinh viên, nhưng chẳng
phải chỉ vì đã ghi tên học tại một trường, mang đồng
phục, hay ôm nhiều sách vở. Một người sinh viên thật sự
phải seuksa đúng với mọi ý nghĩa, mọi phương diện và mọi
cấp bực của chữ seuksa nầy, cho đến khi trở thành một
chuyên viên giỏi dắn về seuksa. Chẳng có học viện nào,
thời khoá nào, học trình nào có thể dung chứa được một
người sinh viên chính hiệu. Là sinh viên, đó chính là một
phận sự căn bản của mọi người, mọi chúng sanh, suốt
trong thời gian mà họ còn đang thở.
Lak
(đọc là lặc) nghĩa là "nguyên lý, tiêu chuẩn, cột trụ,
thành lũy, móc cắm". Một lak là một vật chi mà ta có thể
bám dựa vào -- một cách khôn ngoan -- để giữ cho được
ổn định vá an toàn. Người sinh viên khôn ngoan biết bắt
đầu sự khảo sát của mình về các điều căn bản cho đến
khi nào thấy mình đã hoàn toàn thấm nhuần vào các nguyên
lý, rồi bấy giờ mới tiến lên đi xa hơn nữa. Thật vậy,
các điều thật sự căn bản thường cũng là đủ rồi. Bước
đầu tiên là phát hiện và nhận chân các nguyên lý nhờ đó
mà ta đi sâu vào cốt tủy của đề tài đang nghiên cứu.
Cẩn thận suy tư về các nguyên lý đó dẫn đến sự thông
suốt. Nhưng chỉ riêng khi nào biết hội nhập chúng vào đời
sống của chúng ta qua sự thực hành, bấy giờ các nguyên
lý ấy mới thật sự trở thành các thành lũy vững chắc
đáng được tin cậy.
Chữ
Dhamma (đọc là thăm-má) thật khó cho ta phiên dịch [Buddha
Dhamma có nghĩa là Giáo pháp của Ðức Phật, được chính
Bực Ðại Giác giảng dạy]. Dhamma là cốt lõi của mọi cố
gắng về tâm linh và của mọi đời sống, kể cả các lối
sông cìn trong vòng thế tục nhứt. Chữ Dhamma vừa có nghĩa
là "sự vật". "Giáo lý", vừa là "Chơn lý tối thượng. Ở
đây, để khởi đầu một cách thực tiễn, chúng ta có thể
nhấn mạnh đến bốn nghĩa thiết yếu của chữ Dhamma:
1.-
"Thiên nhiên" (pháp giới) -- tất cả mọi sự vật, kể cả
nhơn loại, và tất cả những gì chúng ta làm, cùng bản chất
của các sự vật đó;
2.-
"Ðịnh luật" -- định luật thiên nhiên hàm tàng và đang chi
phối tất cả mọi sự vật đó;
3.-
"Bổn phận" -- lối sống mà mọi người, mọi chúng sanh phải
noi theo, ngay cả trong khi thở và vào mọi cơ duyên, chiếu
đúng theo định luật thiên nhiên đó;
4.-
"Quả" -- kết quả của bổn phận đã thi hành đứng đắn
tuân theo định luật thiên nhiên.
Bốn
nghĩa đó chính là căn bản mà người sinh viên học hỏi về
chơn lý của đời sống cần phải ghi nhận thật thâm sâu
vào các nguyên lý của mình. Và đấy là chính cái thực tại
mà mọi sự nghiên cứu cần phải hướng đến.
Samrab
có nghĩa là "dành cho". Các nguyên lý giáo pháp chẳng phải
đang trôi lơ lửng trong bóng mờ của siêu hình học hay triết
học. Chúng có một mục đích rõ ràng và một giá trị thực
tiễn. Chúng là nguồn cảm hứng phong phú cho các sinh viên.
Chúng dành cho những người thắc mắc tìm hiểu về cuộc
đời, muốn thấu rõ những gì chúng ta hiện đang theo đuổi
ở đây và chúng ta sẽ phải đi về đâu, và họ đang chán
ngấy trước sự vị kỷ và khổ não. Tuy nhiên, các nguyên
lý ấy chẳng phải để dùng làm những giáo điều cần được
sùng tín, ghi nhớ trong ký ức và đọc tụng lên cốt để
làm thoả mãn tình cảm trong một ảo tưởng được an ninh.
Các nguyên lý ấy phải được dành cho chúng ta học hỏi,
nghiên cứu, thực nghiệm như là một phương tiện cho đời
sống nhơn loại.
Quyển
sách nầy bàn về một số lớn các vấn đề thường bị
lãng quên hoặc bị làm cho rối mờ, mặc dầu các vấn đề
ấy thật ra là cốt tủy tinh túy mà Phật giáo đang cống
hiến. Khi mà những vấn đề như đau khổ, tánh không, bị
đẩy lui vào bóng mờ khó nhận rõ của sự hàm hồ do các
cuộc đàm luận đầy tính chất kinh viện rất thường thấy
nơi các môn phái Phật giáo hiện đại, thì Ajahn Buddhadàsa
đang cố gắng giúp chúng ta nhận chân được chúng ngay trong
hơi thở của chúng ta, ngay trong đời sống hiện tại của
chúng ta. Nơi mà các ông "hàn lâm kiểu cách", cả ở Ðông
phương và Tây phương, chỉ nhìn thấy lý thuyết và triết
học, chính nơi đó Ajahn Buddhadàsa đã nhận ra được những
khí cụ cho đời sống trong hoà bình và chơn lý. Lối nhìn
và lời chỉ dạy của Người thật rõ ràng và ngắn gọn:
chúng tôi hi vọng rằng khi cố pghiên dịch ra Anh ngữ, chúng
tôi đang đền đáp được phần nhỏ nào ân nghĩa đối với
Người và với các Sư phụ của Người -- Ðức Phật, Chánh
Pháp, Ðời sống và Ðau khổ.
Nơi
đây ta tìm thấy các câu hỏi mà mọi người biết vun bồi
Chánh pháp thường tự hỏi lấy mình, vào một lúc nào đó
trong cuộc đời. Những kẻ khác chắc cũng hỏi chúng ta về
các vấn đề đó. Do đó, kể cũng tiện lợi, lúc cần đến,
ta đã có sẵn những câu trả lời trong suốt và gọn ghẽ.
Hơn thế nữa, các câu trả lời ấy lại được trích dẫn
từ các lời nói của chính Ðức Phật. Và tốt đẹp nhứt
là lối Người đề cập đến các vấn đề một cách thực
tiễn, dễ hiểu, dẹp qua một bên các điều thần bí, các
chuyện thần thoại, mà chúng ta thường đễ duôi mê thích
trong sự xao lãng. Theo đuổi sự khảo sát -- trong quyển sách
nầy và ngay cả trong đời sống của chúng ta -- một cách
thực tiễn, xác thật và ngay thẳng chẳng dấu diếm hay lẫn
tránh, đó là cách loại trừ các sự hiểu lầm, giải thích
sai và nhẹ dạ tin lầm, thường thấy nhan nhản trong các tôn
giáo. Ðối chiếu các chơn lý đó với đời sống hằng ngày
sẽ phát hiện được sự cao thâm của các chơn lý đó và
đồng thời giải thoát chúng ta ra khỏi nỗi khổ đau và nguyên
nhơn của nó là vô minh.
Quyển
sách nhỏ nầy được in lại vài lần kể từ khi Tỳ kheo
Ariyananda (Rod Bucknell) phiên dịch lần đầu tiên. Kỳ xuất
bản nầy, tuy nhiên, đã được tôi sửa chữa và sau đó có
sự giúp đỡ của Rod. Chúng tôi có sửa lại vài chỗ sai
lầm nho nhỏ và các lỗi về ấn loát, nhằm giúp cho quyển
sách dễ đọc hơn, nhưng chẳng có sự thay đổi nào quan trọng.
Nhiều quí khách của chúng tôi đến thăm tu viện Suan Mokkh
có đưa thêm nhiều đề nghị và tiếp tay đọc giúp bản
in trong khi chuẩn bị việc ấn loát. Rất tiếc là danh tánh
qúi vị nầy rất đông, nên chẳng thể nêu lên hết được.
Sau cùng, Tỳ kheo Dusadee Metamkura, Chao Assava và các thân hữu
trong Nhóm Nghiên cứu và Thực hành Giáo pháp (The Dhamma Study
& Practice Group) đã trông nom việc xuất bản. Sự nhiệt
tâm và hảo ý của qúi vị để phổ biến rất nhiều quyển
sách có giá trị về Chánh pháp rất đáng được tri ân, tán
thán và hỗ trợ.
Nguyện
cầu nỗ lực của các Ðạo hữu nghiền ngẫm quyển sách
nầy được tăng phần thanh lương và trí huệ, cùng với tất
cả các bạn khác trên khắp thế giới. Nguyện cầu quyển
sách nhỏ nầy được đọc đi đọc lại cẩn thận để cho
các chơn lý chứa đựng trong đây có dịp bắt rễ sâu vào
tâm thức của chúng ta. Nguyện cầu tất cả chúng ta đều
học tập và sống hoà điệu với các chơn lý đó, để dập
tắt hết mọi tàn tích của sự hiểu lầm, ích kỷ và đau
khổ.
Tỳ
kheo Santikaro
Suan
Mokkhabalàràma
Muà
An cư kết hạ, 1988.
