.
PHẬT PHÁP
CHO SINH VIÊN
(BUDDHA DHAMMA
FOR STUDENTS)
Tỳ
kheo Phật Lệ - (Buddhadasa Bhikkhu) - Thiện Nhựt phỏng dịch
Nguyên
tác Thái ngữ: "Lak Dhamma Samrab Nak Seuksa",
Bản
dịch Anh ngữ: "Buddha Dhamma For Students", của Rod Bucknell
NHẬP
ÐỀ
Thưa
các Bạn Ðạo,
Buổi
nói chuyện hôm nay được mạng danh là "Phật Pháp Cho Sinh
viên."
Tôi
muốn nói rõ với các bạn rằng buổi nói chuyện nầy sẽ
bàn đến các điều chủ yếu và các nguyên lý căn bản, và
đặc biệt dành cho các sinh viên, tức là các người trí thức.
Tôi sẽ bàn luận đến các nguyên lý rộng rãi về Giáo pháp
(Chơn lý Thiên nhiên), dưới hình thức vấn đáp, trước đặt
câu hỏi với các bạn, rồi sau sẽ cung ứng câu trả lời.
Ðược nghe câu hỏi trước, các bạn sẽ thấy câu trả lời
dễ hiểu và dễ nhớ hơn. Tôi nghĩ rằng cách nầy phù hợp
nhứt để trình bày với các bạn sinh viên, tức là những
người thông minh. Người ta thường kể rằng, vào thời Ðức
Phật, các bực thông minh chẳng hỏi gì ngoài các điểm chủ
yếu và các nguyên lý căn bản. Họ chẳng bao giờ chờ đợi
những lời giải thích tẻ nhạt. Ðiều đó có nhiều lợi
điểm, nhứt là tiết kiệm được thời giờ.
Và
đây là việc tôi sẽ làm ngày hôm nay: đặt một câu hỏi
nêu ra một đề tài cho chúng ta, rồi trả lời câu hỏi đó
với các nguyên lý căn bản. Bằng cách ấy các bạn sẽ có
được các điều thiết yếu về một số lớn đề tài cùng
các sự kiện sẽ giúp các bạn dùng làm nền tảng tổng quátvà
vững chắc. Có được một nền tảng kiến thức sẽ đem
lại thành quả tốt đẹp trong tương lai; nó sẽ giúp các
bạn nghiên cứu và hiểu rõ các diễn giả khác.
Một
điểm nữa. Hình thức của buổi nói chuyện của tôi còn
chuẩn bị cho các bạn được sẵn sàng khi gặp người ngoại
quốc, hoặc người thuộc tôn giáo khác hỏi đến. Nó sẽ
giúp các bạn trả lời các câu họ hỏi, trả lời đúng đắn,
chẳng gây thêm sự hiểu lầm nào liên quan đến Giáo pháp.
Xin nhớ kỹ các điều vừa nói, chúng hợp thành cốt lõi
của vấn đề. Nếu các bạn khéo nhớ được chừng ấy,
thì đó sẽ là một việc rất tôt, và tôi tin rằng, sẽ có
lợi thật to lớn cho tất cả các bạn.
Giờ
đây, tôi xin lần lượt bàn luận về các đề tài.
Thí
dụ như chúng ta được hỏi:
01.-
Ðức Phật đã dạy về đề tài nào?
Cách
hay nhứt để trả lời điều ấy là viện dẫn lời nói của
chính Ðức Phật. " Nầy các tỳ kheo, Như Lai chỉ dạy về
ÐAU KHỔ (Dukkha, đau khổ, bất toại nguyện) và sự chấm
dứt Ðau khổ."
Cho
dầu các bạn có đồng ý với câu trả lời đó hay không,
tôi cũng xin bạn ghi nhớ lấy nó. Còn có nhiều cách khác
để trả lời, nhưng lời giải đáp nầy chính là lời của
Ðức Phật đã tóm tắt lại tất cả giáo pháp của Ngài
rất ngắn gọn.
Ðức
Phật chỉ chỉ dạy có Ðau khổ và sự dập tắt Ðau khổ.
Ðiều nầy đã khiến cho các câu hỏi chẳng liên quan trực
tiếp đến sự chấm dứt Ðau khổ trở thành chẳng thích
nghi với vấn đề. Các bạn khoan nghĩ đến các câu hỏi khác,
như: "Sau khi chết, còn có tái sanh không?" hoặc: "Tái sanh diễn
ra như thế nào?" Các câu hỏi đó sẽ được cứu xét đến
sau nầy.
Vậy
thì, nếu một người Tây phương hỏi chúng ta câu hỏi trên,
chúng ta sẽ trả lời rằng: "Ðức Phật chẳng dạy điều
gì khác hơn là Ðau khổ, cùng sự chấm dứt Ðau khổ."
* *
*
Tiếp
theo câu hỏi vừa qua, chúng ta có thể được hỏi thêm:
02.-
Ðức Phật đã dạy đặc biệt điều gì?
A.-
Như các bạn thấy, đây là một vấn đề lớn có thể trả
lời nhiều cách tuỳ theo qun điểm khác nhau. Nếu được hỏi
như trên, chúng ta có thể đáp, quan trọng hơn hết, Ngài dạy
chúng ta đi theo con đường Trung Ðạo, đừng quá khổ hạnh
mà cũng đừng quá dể duôi; đừng ngã theo cực đoan nầy
cũng chẳng theo cực đoan kia. Một mặt, chúng ta tránh sự
tự ép xác quá nhọc nhằn của các phái du già (yiga) chỉ
tạo thêm sự khó khăn và rối rắm. Mặt khác, chúng ta phải
tránh xa đường lối thực hành còn chấp thuận các thú vui
nhục dục, cũng như bảo: "Cứ ăn, cứ uống, cứ vui đùa,
vì ngày mai chúng ta sẽ chết mất!" Ðấy là lời nói rất
trơ trẽn, chỉ thích hợp với hạng người đắm đuối trong
thú vui vật chất.
Ngược
lại, con đường Trung Ðạo, một mặt chẳng tạo thêm các
cực nhọc cho ta, và mặt khác, chẳng chiều theo dục vọng
để hưởng thọ các thú vui nhục dục. Ði theo con đường
Trung Ðạo sẽ mang đến cơ duyên nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho sự học tập và thực hành, và thành công trong việc
chấm dứt đau khổ. Từ ngữ Con Ðường Trung Ðạo có thể
ứng dụng vào nhiều tình trạng khác nhau. Nó chẳng thể nào
đưa bạn đi lạc đường cả. Nó chủ trương sự tiét chế.
Biết các nguyên nhơn, biết các hậu quả, biết chính mình,
biết đến mức nào gọi là đủ, biết đúng thời, biết
người khác, biết các cộng đồng: đó là Bảy Ðiều Hiểu
Biết Cao thượng lập thành các bước đi theo Con Ðường Trung
Ðạo.
Ðó
là một cách để trả lời câu hỏi trên.
B.-
Chúng ta cũng có thể trả lời đúng đắn bằng cách nói rằng
Ðức Phật dạy Sự Tự Lực. Các bạn đều hiểu rõ cả
thế nào là tự lực, chắc chẳng cần phải giải thích thêm.
Nói cách vắn tắt, chúng ta chẳng nên tin cậy vào thời vận
và định mạng. Chúng ta chẳng nên tin cậy vào các bực Trời,
ngay cả bậc thường được gọi là "Thượng Ðế". Chúng
ta phải tự lực, trông cậy vào chính mình. Viện dẫn chính
lời Ðức Phật: "Ta là nơi nương tựa của Ta." Ngay cả trong
các tôn giáo hữu thần cũng nói rằng Thượng Ðế chỉ cứu
giúp những ai biết tự cứu lấy mình. Trong các đạo giáo
khác, vấn đề tự lực có thể được nói đến hoặc ít
hoặc nhiều, nhưng trong Phật giáo, vấn đề tự lực rất
là quan trọng. Khi một người bị phiền muộn và bị lừa
phỉnh, đau đớn và thống khổ, người ấy phải biết quay
về con đường tự cứu. Ðức Phật bảo: "Như Lai chỉ chỉ
con đường. Còn nỗ lực là điều mọi người phải tự mình
làm lấy." Nói cách khác, Ðức Phật dạy tự lực. Ta nên
ghi nhớ kỹ điều ấy.
C.-
Một cách khác để đáp câu hỏi trên là nhắc lại lời Ðức
Phật dạy rằng: "Mọi sự vật đều được gây nên và bị
điều kiện hoá. Mọi sự vật xuất hiện tùy thuộc vào nguyên
nhơn và điều kiện, đúng theo định luật." Lời phát biểu
đó cũng giống với câu giải đáp của một vị tỳ kheo -
Tôn giả Át bệ (*) - cho Tôn giả Xá lợi phất (*) trước
khi vị sau nầy gia nhập Tăng Ðoàn: "Ðức Phật có dạy rằng,
mọi sự vật khởi lên do nguyên nhơn. Ta phải biết nguyên
nhơn của sự vật đó cùng sự chấm dứt nguyên nhơn của
nó." Nguyên lý nầy của Giáo Pháp rất là khoa học, ngay tự
nơi bản chất, và chúng ta có thể khẳng định rằng các
nguyên lý của Phật giáo đều phù hợp với khoa học. Ðức
Phật chẳng hề dùng các dữ kiện cá nhơn hay chủ quan để
làm tiêu chuẩn; nói cách khác, Phật giáo là một tôn giáo
của Lý trí.
[*Át
bệ = Asjavit; Xá lợi phất = Sariputta.]
D.-
Lại còn một cách khác để giải đáp câu hỏi số 02, là
Ðức Phật đã dạy, như một qui tắc cho sự thực hành: "Hãy
tránh các điều ác, siêng làm các việc lành, thanh lọc tâm
ý." Ba điều ấy hợp lại thành Ovàda pàtimokkha (Khích lệ
Giới bổn), có nghĩa là "tóm tắt các lời khuyến khích":
tránh điều ác, siêng làm lành, thanh lọc tâm ý cho trong sạch.
Tránh
điều ác và siêng làm lành chẳng cần phải giải thích thêm;
nhưng cách làm cho tâm thức con người trở nên trong sạch
thì còn chưa nhận thấy được hiển nhiên. Nếu một người
cứ lo chụp nắm và bám níu, ngay cả vào điều lành đi nữa,
trong tâm thức người ấy sẽ khởi lên sự ô uế: lo sợ
chẳng nhận được điều lành, lo sợ bị từ khước các
điều tốt đang có, ưu sầu, phiền muộn, và quyến luyến
cái nầy, cái nọ coi như là "của tôi". Tất cả những thứ
đó tạo nên đau khổ. Dầu cho chúng ta có thành công trong
việc tránh ác và làm lành, chúng ta vẫn còn phải biết cách
làm sao cho tâm thức mình được thanh tịnh. Ðừng chụp nắm
và bám níu vào bất cứ sự vật gì coi như là ta, hoặc là
của ta. Bằng không, sẽ có khốn khó và đau khổ (dukkha) đè
nặng trĩu lên. Nói cách khác, chụp nắm và bám níu là gánh
nặng trên mình. Ðeo bên vai hay đội trên đầu một bịt ngọc
ngà châu báu cũng nặng y như đang vác một bịt sỏi đá vậy.
Vậy thì, đừng mang sỏi đá, ngọc ngà chi cả. Hãy đặt
chúng xuống. Bạn đừng để vật nặng nào trên đầu (đầu
, ở đây, có nghĩa là tâm thức). Thanh lọc tâm ý chính là
nghĩa đó.
Thứ
nhứt tránh việc ác, thứ hai siêng làm lành, còn thứ ba là
thanh lọc tâm thức, đó là lời dạy của chư Phật.
E.-
Và đây là một lời dạy quan trọng khác nữa đáng được
nhắc nhở luôn. Ðức Phật dạy rằng: "Tất cả những sự
vật hữu vi (những vật tổ hợp tức là tất cả mọi sự
vật, mọi chúng sanh trên thế giới) đều chuyển trôi mãi
mãi, luôn luôn tan vỡ (nghĩa là đều vô thường). Mọi người
phải nên luôn luôn tỉnh thức!" Xin các bạn hãy nghe cẩn
thận các chữ nầy: mọi vật trên cõi đời nầy luôn luôn
chuyển trôi, rồi tan vỡ; tất cả đều vô thường. Ðừng
chạy theo vui đùa với chúng! Chúng sẽ cấu xé bạn. Chúng
sẽ tát vào mặt bạn. Chúng sẽ trói buộc bạn thật chặt
chẽ. Rồi bạn sẽ ngồi bệt xuống đất mà khóc than, và
biết đâu lại muốn ... tự tử!
Giờ
đây, hãy đúc kết lại các cách khác nhau để trả lời câu
hỏi số 02. Nếu được hỏi, Ðức Phật đã dạy điều gì,
ta sẽ trả lời bằng một trong các câu sau đây:
- Ngài
dạy chúng ta nên đi theo con đường Trung Ðạo;
-
Ngài dạy chúng ta phải tự lực;
- Ngài
dạy chúng ta phải quen thuộc với Ðịnh luật Nhơn quả và
thích ứng với nguyên nhơn để hưởng như ý muốn cái hậu
quả sẽ theo sau;
- Ngài
dạy chúng ta một nguyên tắc thực hành: tránh điều ác, siêng
làm lành, thanh lọc tâm ý;
- và
Ngài nhắc nhở chúng ta phải biết các sự vật hữu vi đều
vô thường, luôn luôn chuyển biến và lúc nào chúng ta cũng
phải tỉnh thức.
* *
*
Giờ
đây nếu gặp một người ngoại quốc hỏi:
03.-
"Xin nói vắn tắt, thông điệp của Phật giáo là gì?"
Có
thể đáp ngay bằng lời nói vắn tắt của Ðức Phật: "Chẳng
có bất cứ điều gì có thể chụp nắm và bám níu vào cả."
Lời
Phật, "Chẳng có chi để chụp nắm và bám níu vào cả" là
là một câu cách ngôn, ngay trong tầm tay của ta, đâu cần
mất thêm thời giờ đi tra cứu trong Tam Tạng Kinh Ðiển (các
lời dạy về Giáo pháp được ghi chép lại), vì câu ngắn
gọn ấy nói lên đầy đủ và rõ ràng. Trong tất cả các
bản Kinh, trong toàn thể Giáo pháp, nhiều đến tám vạn bốn
ngàn đề tài, tất cả đều có thể tóm gọn trong một câu
duy nhứt: "Chẳng có chi để chụp nắm và bám níu vào cả."
Câu ấy dạy ta rằng hễ chụp nắm sự vật và bám níu vào
chúng là đau khổ (dukkha). Một khi đã hiểu rõ được lời
nói ấy, thì có thể bảo là đã biết tất cả các lời Phật
đã thốt ra, toàn bộ tám vạn bốn ngàn Pháp môn. Và hễ
đem câu ấy ra thực hành, đó là đang thi hành trọn vẹn Giáo
pháp, trong mọi giai đoạn và dưới mọi hình thức.
Lý
do vì sao một người thất bại trong việc giữ gìn giới cấm,
chính là vì y đã chụp nắm và bám níu vào sự vật. Nếu
y biết tự kềm chế chẳng chụp nắm và chẳng bám níu vào
bất cứ sự vật chi và dẹp đuợc sự thèm khát cùng sự
oán ghét, thì y chẳng thể nào phạm vào giới được. Lý
do vì sao tâm trí một người lại luôn xao lãng và chẳng định
tâm được, là vì y đang chụp nắm và bám níu vào một điều
gì. Lý do vì sao một người còn thiếu trí huệ cũng giống
như vậy. Một khi anh ta đã biết tập tánh buông bỏ chẳng
chụp nắm nữa, liền đó anh tiến theo Con Ðường Chánh Ðạo,
đạt được Quả vị và cuối cùng chứng đắc Niết bàn
(Pali = Nibbàna; Phạn = Nirvàna).
Ðức
Phật là người chẳng hề nắm bắt điều chi cả. Chánh Pháp
chỉ dạy sự thực hành việc buông bỏ chẳng bám níu và
quả vị của sự từ khước nắm bắt. Tăng già (Cộng đồng
các vị thánh đệ tử của Ðức Phật) gồm có các vị thực
hành sự chẳng chụp nắm, một số vị còn đang tập luyện,
một số đã hoàn tất.
Khi
được yêu cầu tóm tắt Giáo pháp của Ngài trong một câu
ngắn, Ðức Phật đã đáp: "Chẳng có bất cứ điều nào
mà ta nên chụp nắm và bám níu vào cả."
* *
*
04.-
"Làm thế nào để thực hành việc chẳng chụp nắm và chẳng
bám níu?"
Khi
bạn gặp một người ngoại quốc hỏi, bằng cách nào mà
thực hành được việc chẳng chụp nắm, thì bạn nên, một
lần nữa, đem câu nói của chính Ðức Phật ra mà trả lời.
Khỏi cần đưa ý kiên riêng của chúng ta ra. Ðức Phật dạy
thật đầy đủ như sau:
"Khi
mắt thấy một vật, chỉ thấy vật ấy. Khi tai nghe một tiếng,
chỉ nghe tiếng ấy. Khi nũi nguủi một mùi, chỉ ngửi mùi
ấy. Khi lưỡi nếm món gì, chỉ nếm món đó. Khi có cảm
xúc trên dahay trên thân, chỉ biết đến cảm xúc ấy. Và
khi một ý nghĩ, một đối tượng tâm linh, khởi lên trong
tâm, như một tư tưởng xấu chẳng hạn, chỉ biết tư tưởng
ấy."
Tôi
xin hãy đọc trở lại lời dạy trên, để giúp những bạn
chưa từng nghe đến câu ấy. Khi nhìn thấy, chỉ có sự thấy
mà thôi. Nếu có thể được, khi đang thấy, chỉ thấy thôi;
khi nghe, chỉ nghe; khi ngửi mùi, chỉ ngửi mùi; khi nếm vị,
chỉ nếm; khi nhận một cảm giác trên da hay trên thân, chỉ
thể nghiệm cảm giác ấy; và khi một đối tượng tâm linh
khởi lên trong tâm thức, chỉ biết đang có đối tượng đó.
Ðiều nầy có nghĩa là chẳng nên để cho tư tưởng về thân
kiến (ý nghĩ về ta) khởi lên. Ðức Phật dạy, nếu một
người năng thực tập như htế, cái ta (cái tự ngã) chẳng
thể nào khởi sanh được; rồi thì sự vắng mặt của cái
ta (tự ngã) tức là sự chấm dứt đau khổ (dukkha).
"Nhìn
thấy một vật qua con mắt, chỉ thấy mà thôi." Cần giải
thích thêm điều nầy. Khi có vật tiếp xúc với mắt, hãy
quan sát cùng nhận ra vật ấy và biết cần phải làm điều
gì khi thấy vật đó. Nhưng đừng để cho thương, thích hay
ghét, chê khởi lên. Nếu bạn nổi lên thương, bạn sẽ ham
muốn vật đó. Nếu bạn để cho ghét nổi lên, bạn sẽ muốn
phá hủy nó. Như thế là hiện đang có mặt ở đó cả người
thương lẫn kẻ ghét. Ðấy là điều được gọi là cái Ta,
cái Tự ngã. Theo con đường của cái Ta là đang đau khổ và
thất vọng. Khi một vật được nhìn thấy, cần phải có
trí thông minh cùng sự nhận biết. Ðừng để cho các ô nhiễm
trong tâm buộc bạn phải chụp nắm và bám níu. Ðào luyện
trí thông minh để biết điều gì cần làm cho đúng và thích
hợp. Nếu thấy chẳng cần làm gì, thì quên vật đó ngay
đi. Nếu đang chờ đợi một kết quả nào về vật ấy, thì
cứ tiến hành làm ngay, với sự nhận biết của trí thông
minh, mà chẳng để cho thân kiến (ý tưởng vể cái ta) có
dịp sanh khởi lên được. Bằng cách ấy, bạn có được
kết quả bạn mong muốn mà chẳng có sự đau khổ nào xảy
ra cả. Ðấy là một nguyên tắc thực hành Giáo pháp rất
gọn, đáng được xem là tuyệt hảo.
Ðức
Phật dạy: "Khi thấy, chỉ thấy. Khi nghe, chỉ nghe (...) Khi
nhận biết một đối tượng tâm linh, chỉ nhận biết nó."
Hãy ngưng lại ngay đó, và trí huệ tự nhiên sẽ chuyển động.
Hãy chọn lấy lối đi đúng đắn và thích hợp. Ðừng khai
sanh thêm "người thương" hay "kẻ ghét", và tùng theo đó là
cái ý muốn hành động theo sự thương hay sự ghét, vì đấy
chính là sự khởi sanh ra cái tự ngã trong tâm. Một tâm tư
như thế trở nên náo động, chẳng được tự do. Tâm tư
ấy hoạt động chẳng có chút trí huệ nào cả.
Tại
sao ta lại chẳng nêu lên giới, định, huệ, tạo phước đức
hay bố thí liên quan đến một công đức đầy thắng quả
như thế? Các điểm ấy (giới, định, v.v.) là những trợ
duyên giúp cho hành giả, chớ chúng chẳng phải là cốt tủy
của Giáo Pháp, còn chưa phải là phần thiết yếu. Chúng ta
tạo phước đức, bố thí, giữ giới, tập định, và phát
triển trí huệ, chính là để trở thành người an định.
Khi đang thấy, chỉ thấy; khi đang nghe, chỉ nghe. Thực hiện
điều nầy, chúng ta trở thành an định. Chúng ta có được
sự an định, sự chẳng lay chuyển và thế quân bình. Mặc
dầu cảnh vật bên ngoài đến tiếp xúc với chúng ta hằng
ngày, dưới nhiều hình thức qua các nẻo của giac quan, cái
tự ngã (Ta) cũng chẳng sanh khởi ra được. Tạo phước đức,
bố thí là những phương cách để loại trừ cái Ta ra. Giữ
giới là phương thức giúp chúng ta làm chủ mà trị được
cái Ta, sự luyện tập định lực cũng có hiệu lực như thế.
Phát triển trí huệ dùng để tiêu diệt cái Ta. Nơi đây,
chúng ta chẳng bàn đến nhiều vấn đề khác nhau, chúng ta
chỉ nói đến một vấn đề khẩn cấp hằng ngày. Hằng ngày,
đôi mắt chúng ta nhìn thấy vật nầy, món nọ, tai chúng ta
nghe tiếng nọ, tiếng kia; mũi chúng ta ngửi mùi nầy, hương
nọ, và rồi cho chí đến sáu cửa của các giác quan. Chỉ
riêng có công phu thực tập nầy cũng đủ bao trùm hết mọi
công phu. Nó chính là bản chất, là tinh túy, của sự thực
hành Giáo pháp.
Nếu
có người ngoại quốc nào hỏi bạn câu số 04 trên đây,
xin hãy trả lời như vừa nói.
* *
*
Thí
dụ như một người ngoại quốc hay một người khác tôn giáo
với bạn, đến hỏi bạn rằng:
05.-
"Nơi nào chúng ta có thể tu học được?"
Lại
một lần nữa, chúng ta đáp bằng cách trích dẫn lời nói
của Ðức Phật, "ngay trong tấm thân 'một thước tám' nầy,
với các tri giác và các hoạt động tâm linh." Tu học ngay
trong tấm thân của con người cùng với các tri giác và hoạt
động tinh thần. Tấm thân "thước tám" nầy, còn đang sống
động, cùng với các tri giác, các hành động tâm thức, tất
cả các phần đó lập thành con người. Sự hiện diện của
tâm thức bao hàm các tri giác, và sự hiện diện của các
hoạt động tâm linh bao hàm các kiến thức và tư tưởng.
Trong
tấm thân "thước tám" đó cùng với các tri giác và các hoạt
động tâm linh, đấng Như Lai (Ðức Phật) đã cho biết rõ
ràng thế giới, nguồn gốc của thế giới, sự tận diệt
của thế giới, cùng đường lối thực hành để hoàn tất
sự diệt tận đó. Khi Ngài nói đến nguồn gốc của thế
giới, sự hoại diệt của thế giới, cùng đường lối thực
hành đưa đến sự tiêu diệt hoàn toàn thế giới đó, Ngài
muốn nói rằng toàn thể Giáo Pháp đều phải tìm thấy ngay
trong thân tâm nầy. Tu học ngay nơi đó. Ðừng đi học ở
trường, ở nơi hang động, ở cảnh rừng hoang, trên ngọn
núi cao, hay ở trong tu viện. Các nơi đó đều nằm bên ngoài
chúng ta. Hãy xây dựng một ngôi trường bên trong, thiết lập
một đại học đường ngay trong thân thể. Rồi hãy nghiên
cứu, học tập, điều tra, sưu tầm, thám thính đó đây, tìm
cầu chơn lý về sự tạo khởi của thế giới, vì đâu thế
giới lại là suối nguồn của đau khổ, thế giới có thể
được huỷ diệt hoàn toàn chăng (tức là sự huỷ diệt của
đau khổ) và làm cách nào để tận diệt được nó. Nói cách
khác hơn để diễn đạt lại ý nầy, đó là hãy tự mình
khám phá trở lại Bốn Chơn Lý Nhiệm Mầu (Tứ Diệu Ðế).
Bực Ðại Giác (Ðức Phật) đôi khi dùng danh từ "thế giới",
đôi khi dùng danh từ "đau khổ" (Dukkha). Bản chất của thế
giới, của sự đau khổ, bản chất của sự sanh khởi và
nguồn gốc của thế giới, bản chất của sự diệt tận
hoàn toàn của thế giới, của đau khổ, cùng với bản chất
của công phu tu tập theo Giáo Pháp để đi đến sự chấm
dứt đau khổ: những vấn đề đó cần được tìm tòi và
nhân thấy ra ngay trong thân tâm nầy, chớ chẳng ở nơi nào
khác. Nếu ai đã tìm thấy các vần đề đó tại một nơi
nào khác, thì đó chỉ là bản tường trình ghi trong sách vở,
hoặc là lời đồn đãi, hay là danh từ rỗng suông mà thôi,
chớ chẳng phải là Chơn lý. Nếu đã được tìm thấy ngay
trong tấm thân "thước tám" nầy (fathom long body), cùng với
tâm thức, thì đó mới thật là Chơn lý.
Vậy
thì, nếu được hỏi, cần phải tu học ở nơi nào, bạn
sẽ đáp, chúng ta tu học ngay trong tấm thân "thước tám" nầy,
cùng với các tri giác và các hoạt động tâm linh.
* *
*
Giờ
đây, chúng ta có thể được hỏi tiếp, để được hiểu
thêm rõ ràng về Chánh Pháp:
06.-
"Chánh Pháp được so sánh với điều gì?"
Ðức
Phật nói: "Chánh Pháp có thể được so sánh với chiếc bè,"
Ngài đã dùng chữ chiếc bè, vì ngày xưa chiếc bè thường
được xử dụng để vượt sang sông và cách giải thích Chánh
Pháp như thế rất dễ hiểu. Nhưng lời ví dụ nầy mang một
ý nghĩa thật quan trọng. Ta chẳng nên quá quyến luyến vào
Chánh Pháp đến nổi quên cả chính mình, quá hảnh diện mình
là "ông thầy", một nhà học giả, hay một bực trí thức
học rộng. Nếu ta quên mất rằng Chánh Pháp chỉ như chiếc
bè, các nguy cơ ấy sẽ lại nổi lên. Chánh Pháp là một chiếc
bè, một phương tiện chuyên chở, để đưa ta sang đến bờ
bên kia. Ðã đến bờ bên kia và bước chơn lên đất liền,
ta chẳng điên khùng gì mà mang vác chiếc bè đi theo ta nữa.
Ví
dụ đó dạy ta phải biết nhận chân ra và xử dụng chánh
Pháp như một phương tiện để đạt đến mục đích, chớ
chẳng để chụp bắt và bám níu vào, cho đến mức quên cả
chính mình đi. Nếu ta chẳng nhận chân ra nhiệm vụ thật
sự của chiếc bè, chúng ta có thể giữ nó lại bên mình
để phô trương hoặc để tranh cãi với kẻ khác. Ðôi khi
nó lại còn được đem dùng để đua thuyền, thật là hao
phí và vô dụng. Nó phải được xử dụng đúng theo chủ
đích, để bơi sang sông, để vượt dòng nước. Kiến thức
về Chánh pháp cần phải được xử dụng để vượt qua biển
khổ. Nó chẳng nên được cầm giữ lại vì mục đích có
hại, như để chiến đấu nhau bằng miệng lưỡi sắc bén
như gươm, hoặc để tranh luận, hay được dùng như một tế
vật để tôn thờ, lễ bái. Sau cùng, xin đừng chụp nắm
và bám níu vào nó, để đến nổi khi đã sang bờ bên kia,
bước chơn lên đất liền rồi mà vẫn còn muốn mang kè kè
chiếc bè theo mình.
* *
*
Chánh
pháp kia, được xem giống như chiếc bè, áp dụng cả cho người
xuất gia cùng người vẫn còn sống trong gia đình. Giả dụ
như chúng ta được hỏi rằng:
07.-
"Người Phật tử tại gia cần tu học những gì?"
Chúng
ta đừng để mất thời giờ mà đi tìm cách trả lời theo
ý riêng của mình; nếu ai đã muốn như thế, thì cũng tốt,
chẳng điều chi ngăn trở anh ta làm như vậy. Nhưng nếu chúng
ta muốn giải đáp đúng theo những gì Ðức Phật đã dạy,
thì chúng ta phải nên nói rằng: "Người Phật tử tại gia
nên học tất cả Kinh kệ, nghĩa là, tất cả những bản Kinh
mà Ðức Như Lai đã dạy về Tánh Không." (Sunnatà, sự rỗng
vắng).
Các
bản Kinh Kệ hợp thành một bản trần thuyết khéo hệ thống
hoá các lời giảng trong Giáo Pháp, là phần cốt tủy tinh
tuý của các lời Phật dạy. (...) Một bản Kinh là một bài
giảng thật khéo sắp đặt, có thứ tự, và là tinh túy vủa
đề mục (...)
Xin
nhớ cho rằng Kinh kệ chính là lời nói của Ðức Như Lai
(Tathàgata). Tất cả Kinh kệ của Ðức Phật thuyết giảng
đều liên hệ đến Tánh Không (Sunnatà, sự rỗng vắng). Về
vấn đề nầy, khi có người còn tại gia thưa hỏi, họ cần
tu học và thực hành những gì để được lợi lạc to lớn
và được hạnh phước, Ðức Phật đáp: "Các Kinh kệ là
những lời nói của Như Lai, rất cao sâu, ý nghĩa thâm trầm,
là những phương cách để vượt thoát cõi thế gian , và đều
liên hệ đến Tánh Không."
Danh
từ Tánh Không, Sunnatà, xem như quá xa lạ đối với các bạn,
nhưng xin đừng vội chán nản, vì đây là một chữ quan trọng
vào bực nhứt trong Phật học. Chữ Sunnatà có thể được
dịch là sự rỗng vắng; nhưng rỗng, vắng thường có nhiều
nghĩa và cách dùng khác nhau. Chữ Tánh Không, Sunnatà, trong
Phật học chẳng phải là sự rỗng vắng về vật chất; nó
chẳng phải là một khoảng trống không chẳng chứa đựng
một chất vật liệu nào. Chẳng phải thế! Ðây là một trường
hợp rỗng vắng theo cái nghĩa chẳng có được chút bản thể
thiết yếu nào, bởi vì tất cả mọi sự vật khác vẫn còn
hiện diện đầy đủ ở đó. Vẫn còn có đủ muôn vàn hình
vật khác tràn đầy khắp thế giới, thế mà Ðức Phật dạy
rằng, muôn vật đều rỗng vắng, hay là muôn vật đều có
tánh cách rỗng vắng, chỉ vì chẳng có một chút gì nơi muôn
vật đó đáng được xem là tự ngã, là Ta (là chính mình)
và thuộc về của Ta, thuộc về tự ngã của Ta. Lời dạy
ấy nhằm mục tiêu là chỉ rõ, lại một lần nữa, là chẳng
có gì để chụp nắm và bám níu vào cả.
Người
còn tại gia cần tu học đặc biệt về các lời nói của
Ðức Phật liên quan đến Tánh Không. Thông thường, đề mục
nầy bị hiểu lẩm là quá cao xa đối với người đời. Lý
do giản dị là rất ít người vui lòng thực hành theo các
lời dạy đó của Ðức Phật. Vậy xin các bạn ghi nhớ cho
rằng, chẳng riêng gì cho các tỳ kheo, người tại gia cũng
phải học hỏi, thực hành và nhiên hậu mới khám phá ra ý
nghĩa của Sunnatà, của Tánh không.
Tôi
hi vọng rằng, các bạn còn tại gia sẽ chẳng còn quá lo sợ
về danh từ và đề mục Sunnatà, Tánh Không nữa. Hãy bước
từng bước để gia tăng sự hiểu biết và kiến thức về
Tánh Không. Ðề tài nầy cần có sự giải thích tế nhị
và phức tạp, nên đòi hỏi nhiều thời giờ. Vì lẽ đó,
chúng ta chỉ bàn ở đây các cốt lõi của vấn đề, bản
chất thật sự của nó mà thôi, và đấy cũng là đã khá
đầy đủ rồi, vì ý niệm về Tánh Không chỉ là sự rỗng
vắng chẳng có cái Ta, hay cái gì thuộc về Ta. Nếu tâm thức
ai nhận chân ra rằng chẳng có gì là tự ngã ( cái Ta) và
chẳng có gì thuộc về tự ngã, thì tâm thức ấy được
"rỗng vắng" và tự do. "Thế giới nầy rỗng vắng" chỉ có
nghĩa là như thế đấy.
* *
*
Giờ
đây, giả tỉ như có người hỏi, trong Phật học chữ nào
là chữ tối thượng, như hỏi rằng:
08.-
"Amatadhamma, Vô sanh pháp, là gì?"
"Amata"
có nghĩa là "chẳng hề chết", "bất tử", "vô sanh" Và "Amatadhamma"
là một dhamma, một pháp (sự vật hay tình trạng) chẳng hề
bị chết đi. Thế nghĩa là sao? Ðức Phật có nói: "Sự chấm
dứt tham, sân, si chính là amatadhamma, là vô sanh pháp." Vô sanh
pháp (vô sanh=bất tử, chẳng hề chết đi) là một cảnh giới
bất diệt, một tình trạng chẳng bao giờ bị tiêu diệt.
Bất cứ khi nào còn có tham, sân, si, thì gọi đó là tình
trạng khả vong (sẽ bị chết mất). Ta thể nghiệm sự đau
khổ. Ta có ngã kiến (ý kiến về cái Ta), khiến cho ta phải
chịu sự sanh ra, sự già lão, bịnh tật và sự chết. Khi
tham, sân và si chấm dứt (chấm dứt si mê là hết ngu muội
và hiểu biết sai lầm), thì ý niệm sai lầm về tự ngã (về
cái Ta) chẳng khởi lên , thì làm gì còn có cái Ta nữa để
chết đi. Do đó, nếu muốn đi tìm một cảnh giới bất tử
(chẳng chết), amatadhamma, thì phải tìm ngay nơi, hay tình trạng,
hoặc điều kiện, nào mà tham, sân, si hoàn toàn vắng mặt.
Ðấy là lời dạy của Ðức Phật. Vô sanh pháp, Amatadhamma,
mà ta thường nghe nói đến, là chữ tối hậu, là lời dạy
tối thượng của Phật học.
Các
tôn giáo khác cũng có nói về sự "chẳng hề chết đi" nhưng
lại mang ý nghĩa khác với Phật giáo. "Bất diệt", theo nghĩa
amata trong Phật học, chỉ là sự chấm dứt tham, sân, si.
* *
*
Dưới
nhiều tên khác nhau, người ta đã nói đến Pháp (Chơn Lý)
cao thượng nhứt, thâm sâu nhứt. Thí dụ như có người hỏi:
09.-
"Pháp nào là Pháp cao thượng và thâm sâu nhứt để vượt
khỏi thế gian và sự chết dưới mọi hình thức?"
Ðức
Phật gọi Pháp đó là Sunnàtappatisamyuttà, nghĩa là Pháp luận
về Tánh Không (Sunnatà), hay là chính cái Tánh Không ấy. Pháp
nào luận về Tánh Không , đó là Pháp cao thượng nhứt và
thâm sâu nhứt. Pháp ấy vượt cả thế gian, sự chết, và
chẳng là gì khác hơn Amatadhamma, tình trạng vô sanh, hay bất
diệt.
Giờ
đây, ta tự hỏi, Chánh Pháp, theo các thuyết mới nhứt, gần
đây nhứt, là những gì? Ðức Phật nói: "Một bản Kinh, bất
cứ thuộc loại nào, thuộc cấp bực nào, dầu đã do một
thi sĩ hay nhà hiền triết nào sáng tác, dầu dưới hình thức
văn vần, hoa lệ, âm vận du dương đi nữa, cũng chẳng theo
đúng Chánh Pháp nếu chẳng có liên hệ đến Tánh Không."
Xin các bạn hãy nhớ kỹ cho các chữ quan trọng nầy: "chẳng
liên hệ đến Tánh Không". Vì thế, nếu một bài Kinh nào
chẳng liên hệ đến Tánh Không, thì đó là lời nói của
một người đệ tử về sau, một sự canh cải, một giáo
lý mới, chớ chẳng phải là lời nói của Ðức Như Lai, và
do đó, phải được xem là thấp kém hơn. Nếu đó là lời
nói của một vị đệ tử và chẳng bàn đến Tánh Không,
thì phải xem như ở ngoài Giáo pháp.
Nếu
chúng ta muốn tìm thấy Chánh pháp trung thực với lời dạy
nguyên thuỷ của Ðức Phật, chẳng có cách nào khác hơn là
tìm xuyên qua các bài giảng về Tánh Không (Sunnatà, sự rỗng
vắng).
* *
*
Nếu
bạn được một người ngoại quốc hỏi:
10.-
"Trong Kinh điển, như đã ghi ở Tạng Pali, điểm giáo lý nào
được Ðức Phật nhấn mạnh nhiều nhứt?"
Lại
một lần nữa, ta hãy dùng lời của Ðức Phật để đáp
câu hỏi trên: "Năm thủ uẩn là vô thường và vô ngã". Năm
thủ uẩn là năm nhóm tập hợp mà một "cá nhơn" được phân
tách ra làm năm phần. Phần thân thể vật chất được gọi
là sắc uẩn (rùpa); nhóm cảm giác, cả vui thích lẫn đau
đớn, gọi là thọ uẩn (vedanà); ký ức và các tri giác gọi
chung là tưởng uẩn (sanna); các tư tưởng hoạt động gọi
là hành uẩn (sankhàra); và tâm thức với khả năng biết được
mọi đối tượng qua ngã các giác quan là thức uẩn (vinnàna).
Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, và thức uẩn
được gọi là ngũ uẩn (khandas). Năm nhóm tập họp đó đều
vô thường (anicca) và vô ngã (anatta). Ðấy chính là điểm
giáo lý đã được Ðức Phật nhấn mạnh đến nhiều nhứtr,
hơn tất cả mọi phương diện khác của Giáo pháp. Năm uẩn
đó vô thường, luôn luôn trôi chảy và liên tục biến đổi.
Chúng chẳng có tự ngã, bởi vì chúng hằng lưu chuyển; chẳng
có ai có thể xem chúng như là Ta, hoặc là của Ta được.
Tôi
xin tóm lược lại lần nữa. Hãy ghi nhớ kỹ: trong tất cả
giáo lý, Ðức Phật chỉ nhấn mạnh đến điều nầy: muôn
vật đều vô thường, chẳng có vật chi được xem là Ta,
hay của Ta.
* *
*
Vấn
đề kế tiếp mà chúng ta sẽ cứu xét là:
11.-
"Ðức Phật dạy ta phải tin điều gì và tin ai?"
Nếu
bạn được hỏi như trên, trhì hãy trả lời với lời dạy
của Ðức Phật trong bản Kinh Kalama: chúng ta chỉ phải tin
vào những gì chính chúng ta thấy rõ ràng. Vấn đề ngay đây
là rất cần thiết phải hiểu rành từ ngữ "thấy rõ ràng"
là như thế nào. Nó có nghĩa là thấy rõ mà chẳng cần đến
lý luận, dự ước hay phỏng đoán. Phải thấy rõ ràng như
mắt đang nhìn tay cầm lấy một vật, rồi làm như vầy thì
thấy kết quả ra như thế ấy. Thấy rõ là như thế, chẳng
cần chi đến lý luận hay giả thiết mới hiểu. Trong Phật
học, chúng ta được dạy, chẳng nên tin ai, chẳng nên tin
điều gì, mà còn chưa chính ta thấy rõ rằng sự thật là
như thế.
Các
vấn đề sau đây giúp ta hiểu rõ thêm về ý nghĩa nêu trên.
Tại sao chúng ta lại bị cảnh cáo là chẳng được nên tin
vào
Tam
Tạng Kinh Ðiển (Tipitaka, ba tạng Kinh, Luật, Luận của Phật
giáo), chẳng được tin vào vị sư phụ nào, chẳng được
tin vào lời đồn đãi hay báo cáo, chẳng được tin vào những
gì đã do lý luận, hay biện luận mà ra? Các nguyên tắc đó
giúp vào chánh kiến (sự hiểu biết đứng đắn), bởi vì
mọi sự nhẹ dạ tin một cách mù quáng đều là ngu dại.
Giả dụ như chúng ta mở Tam Tạng Kinh Ðiển ra và đọc một
đoạn nào, rồi thì liền tin theo mà chẳng suy nghĩ, chẳng
trắc nghiệm lại, chẳng chút phê phán xét đoán. Ðó là một
sự tin tưởng khờ dại vào Tam Tạng Kinh Ðiển, điều mà
Ðức Phật khiển trách.Tin lời thầy nói mà còn chưa chính
mắt mình thấy, chính tai mình nghe điều thầy nói có đúng
như sự thật không, đó là ý nghĩa của lời cảnh cáo "khi
tin vào vị sư phụ nào". Ðối với các lời đồn đãi, các
báo cáo, lại cũng như vậy. "Tin vào những gì đã do đường
lối biện luận mà suy ra" có nghĩa là, vì đã học qua và
có kinh nghiệm về cách lập luận, ta thường đi đến kết
luận là một mệnh đề nào đó , đúng theo luận lý học,
thì phải xảy ra như thế; nhưng điều biện luận nầy xét
ra vẫn còn chưa đủ đúng đắn, ta chẳng nên đặt tin tưởng
vào lối biện luận như vậy.
Tuy
nhiên ta nên cẩn thận để ý kỹ lưỡng rằng lời dạy trong
Kinh Kalama chẳng hề cấm đoán ta đọc Tam Tạng Kinh Ðiển.
Cũng như điều ấy chẳng cấm việc thưa hỏi các vị thầy,
hoặc đọc các báo cáo, nghe lời đồn, hay là dùng phương
pháp luận lý học. Trái lại, chúng ta có thể đọc, nghe,
thưa hỏi, nhưng chẳng nên ngây thơ chấp nhận ngay, trừ phi
chúng ta đã suy nghĩ kỹ trước, kế dến cứu xét cẩn thận,
đào sâu tận rễ, quán sát mọi khía cạnh, và sau hết, chính
chúng ta đang thấy rõ ràng sự thật là như thế.
Hãy
lấy một thí dụ, Ðức Phật dạy rằng, tham, sân, si, là
nguyên nhơn gây ra đau khổ. Nếu chúng ta còn chưa bết rõ
thế nào là tham, sân, si, thì chúng ta chẳng cách nào tin vào
lời dạy đó, và cũng chẳng cần tin làm chi vì nếu cứ tin
như thế, đó chỉ là nhẹ dạ mà tin. Nhưng nếu chính chúng
ta đã có kinh nghiệm và biết tham là như thế nào, sân, si
ra làm sao, và khi ba điều nầy khởi lên trong tâm chúng ta,
chúng gây ra đau khổ tựa hồ như có ngọn lửa đang nung nấu
chúng ta; bấy giờ chúng ta mới tin lời dạy trên, căn cứ
trên kinh nghiệm bản thân của chúng ta.
Thế
nên, lời Ðức Phật dạy về lòng tin ghi trong Tam Tạng Kinh
Ðiển là như sau đây. Ðọc hay nghe được một điều gì
xong, ta nên dò xét cho đến khi chúng ta thấy rõ ràng điều
ấy. Bằng còn chưa thấy được rõ ràng, thì ta nên dùng lý
luận rồi hãy để đó một thời gian xem sao. Và để bắt
đầu, chúng ta sẽ tin tưởng và khởi công chỉ thực tập
những gì chúng ta đã thấy rõ ràng sự thật là như thế
ấy. Rồi lần lần, chúng ta sẽ tin tưởng thêm và lại càng
thấy rõ ràng hơn lên. Ðấy là lời khuyên rất bình dân của
Ðức Phật. Nếu có người ngoại quốc hỏi bạn về lòng
tin, bạn hãy nên giải thích cho đúng đắn bằng không, bạn
sẽ trình bày sai lời Phật dạy, vô tình phản lại Ðức
Phật. Chẳng tin ở Kinh Ðiển, chẳng tin vào sư phụ, chẳng
tin lời báo cáo hay tin đồn, chẳng tin theo lập luận của
luận lý học, các điều nầy cón có ý nghĩa ẩn kín mà ta
phải cố tìm cho ra. Nhẹ dạ mà tin ngay là điên cuồng. Ðức
Phật kết án việc ấy rất nặng nề; Ngài dạy, trước khi
đặt niềm tin vào đâu, hãy trắc nghiệm nó cho đến khi nào
thấy nó thật rõ ràng rồi mới tin, (...)
Chánh
sách của Phật giáo về lòng tin là: chẳng tin tưởng một
cách ngây thơ, chẳng tin cậy vào kẻ khác, vào sách giáo khoa,
giả thuyết, lập luận hay bất cứ điều gì mà đa số người
đang tin, và chỉ tín nhiệm vào những gì chính mình đã thấy
rõ ràng sự thật là như thế. Người Phật tử chúng ta phải
theo chánh sách đó.
* *
*
Câu
hỏi kế tiếp là:
12.-
"Tâm thức của người thường và người Phật tử khác nhau
như thế nào?"
Giờ
đây chúng ta sẽ cứu xét vấn đề khác biệt hơn kém giữa
hai tâm trạng: Tâm trí của người thường và tâm trí của
một người Phật tử "đúng danh hiệu". "Người thường" ở
đây có nghĩa là người chưa thông hiểu và chưa hề tu tập
theo đường lối của Phật giáo chánh hiệu. Một người thường,
quá lắm cũng chỉ đáng được "gọi là Phật tử", vì có
cha mẹ theo đạo Phật, vì theo trong bộ sổ khai sanh hay lý
lịch. Nói cách khác, y chưa hề tu theo đạo Phật, chỉ là
người trong thế tục. Còn muốn trở thành một người Phật
tử "chánh hiệu", muốn làm một bực Thánh (Ariya, bực tu hành
cao, đã đi rất xa trên đường tu học), ta phải thoả mãn
các đòi hỏi về sự hiểu biết đúng đắn (chánh kiến)
về các điều chung quanh ta, vào một trình độ cao hơn "người
thường".
Ðức
Phật có nói, giữa cái nhìn của bực Thánh và cái nhìn của
người thường, có một hố cách vĩ đại. Như thế, dưới
mắt của bực Thánh, và trong giới luật của bực nầy, ca
hát cũng là một việc như than khóc; khiêu vũ là múa may điên
rồ của người khùng; còn cười hô hố là thái độ ấu
trĩ của trẻ con. Người thường cũng ca hát, cũng cười hô
hố, để hưởng vui mà chẳng để ý đến khi họ thấm mệt.
Trong giới luật của bực Thánh, ca hát bị xem như đang khóc
lóc. Ta thử nhìn vào một người đang ca hát, y cố gân cổ
lên để hét to, đó chẳng giống như đang khóc sao; hơn thế,
nó trào ngược ra từ xúc động tình cảm, nào có khác gì
khóc. Khiêu vũ giống như kẻ điên quay cuồng; hãy cứ tự
quan sát thì thấy, khi chúng ta đứng lên sàn nhảy, nếu chẳng
điên đến mười phần trăm thì làm sao lại nhún nhảy lên
như thế? Nhưng mà đa số đều nghĩ đấy là cuộc vui giải
trí, cho nên chúng ta chẳng nhận thấy bộ dạng của người
mất trí. Vài người thích cười to, vì phát lên tiếng cười
là có điều thích ý. Nhưng bực thánh giả lại xem đó là
thái độ ấu trĩ của trẻ con,(...) tốt hơn là nên ít cười
ha hả. (...)
Ðức
Phật cũng chẳng cấm đoán chúng ta làm những việc trên,
khi chúng ta thích muốn làm; nhưng Ngài muốn ta hiểu rằng,
còn có thái độ cao, có cử chỉ thấp, và chẳng nên có những
hành động chẳng cần thiết. Khi chúng ta còn chưa là bực
Thánh, có thể chúng ta muốn thử làm chơi vài cử chỉ thấp
kém đó. Nếu làm thử một đôi lần, chúng ta thấy chúng
lúc đầu có chút thích thú, nhưng về sau, ta sẽ chán ngấy
chúng đi. Và như thế, chúng ta có thể vươn lên đến gần
hàng thánh thiện.
Vài
người chẳng ưa nghe nói đến kỷ luật, bàn đến giới luật.
Họ ngại rằng sự kềm chế sẽ đưa đến đau khổ (dukkha).
Tuy nhiên, tập tự kiềm thúc để chẳng buông trôi theo tính
khí (thay đổi thất thường) là một nguyên tắc quan trọng
trong Phật học. Thúc liễm thân tâm để khỏi chiều theo sự
thay đổi tính khí như thế, đâu phải là đau khổ. Trái lại,
đó chính là phương cách để chiến thắng được đau khổ.
Ta phải nên tránh khỏi sự đè nén của các ý tưởng vị
kỷ hay ô nhiễm. Ta phải nên quyết tâm chẳng để cho các
điều ô nhiễm cám dỗ, thúc dục và ngự trị chúng ta. Hãy
nhìn vào các cặp khiêu vũ, và xem các ô nhiễm đang kích thích
ra sao, áp đảo, chế phục như thế nào; gọi đó là tự do
sao?
Hoá
cho nên, chúng ta phải tìm cách cải thiện qui chế của chúng
ta phần nào. Ðừng mãi mãi là "người thường"! Hãy ghi tên
xin gia nhập vào "làng" của Phật, tức là có kiến thức,
trí huệ, tỉnh thức và chánh kiến, để khiến cho sự đau
khổ phải giảm dần đi. Tránh làm các điều chẳng cần thiết,
chỉ khiến thêm bất lợi và khó nhọc cho chúng ta. Ðấy chính
là phần thưởng mà bạn sẽ gặt hái được; bạn sẽ bước
từ cấp thường nhơn lên hàng Phật tử chơn chánh, rồi đến
bực Thánh, an trú trong giới luật của hạng nầy.Ðức Phật
thường hy vọng rằng sẽ có thật nhiều bực thánh giả trong
hàng các người chẳng muốn mãi mãi làm người phàm tục.
* *
*
Ngay
đây, tôi xin bàn đến Con đường Ðạo. Nếu có ai hỏi bạn:
13.-
"Tu tập thế nào là theo con đường thông thường và tu cách
nào là theo con đường ngắn và nhanh nhứt?"
Bạn
có thể trả lời, con đường thông thường là Bát Chánh Ðạo
-- có lẽ bạn đã được nghe nhiều lần rồi -- gồm có:
Chánh kiến, Chánh tư duy. Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh nghiệp,
Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Tám ngành của
con đường đó được khéo sắp xếp, có thể qui về ba nhóm:
giới, định, và huệ. Chúng hợp thành một đại hệ thống
về tu tập, được chúng tôi xem như là con đường tu tập
theo lối thông thường. Nó dành cho những ai còn chưa theo được
con đường ngắn và nhanh. Con đường thường nầy chẳng phải
là con đường sai lầm, nó thật là đúng đắn; tuy nhiên,
đi theo nó, phải mất nhiều thời gian.
Ðức
Phật cũng có chỉ dạy một con đường tắt. Ngài bảo, khi
chúng ta chẳng chụp nắm và bám níu vào sáu căn (àyatanas,
các giác quan) cùng vào các đối tượng liên hệ với chúng,
để xem như là tự ngã, thì con đường Bát Chánh Ðạo sẽ
tự nó mà tự động khởi lên, dưới đầy đủ tám phương
diện. Ðây là một nguyên tắc Giáo Pháp quan trọng và căn
bản nhứt.
Trước
nhứt, ta nên nhớ lại: sáu căn (àyatanas) là mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và tâm thức. Mỗi căn có năm phương diện. Như
về mắt, phương diện thứ nhứt là chính con mắt; thứ hai
là hình sắc của vật đang có sự tiếp cận với mắt; thứ
ba là thức (vinnana) có khả năng làm cho ta nhận thấy được
vật đối tượng; thứ tư là tác động của sự xúc chạm
(phassa) xảy ra giữa nhãn thức, con mắt và vật đối tượng;
và thứ năm là cảm giác (vedanà), vui thích hoặc đau đớn
có thể khởi sanh lên như kết quả của sự tiếp cận. Ðó
là năm phương diện của nhãn căn. Còn tai, mũi, v.v... mỗi
căn cũng có năm phương diện như vậy.
Mỗi
phương diện có tác dụng làm ta trở nên thiếu tỉnh giác
và khiến ta có chụp bắt nó (một phương diện) rồi xem đó
như là "Ta". Như thế, chúng ta đã chụp bắt nhãn thức (phương
diện thứ ba) làm "Ta", vì nó đã khiến "Ta", qua đôi mắt,
đã thấy và biết về vật đôi tượng. Bởi vì chúng ta đã
hay biết đến vật đối tượng ấy, nên chúng ta liền vội
kết luận ngay là phải có cái "Ta" để làm cái công việc
thấy biết đó. Cũng theo lối giống như vậy, chúng ta chụp
bắt và bám níu vào mắt và sự tiếp cận (phương diện thứ
tư) làm cái "Ta" để thấy được, hoặc bám níu vào tương
quan giữa ba yếu tố: mắt - tiếp cận - cảm giác (phương
diện thứ năm) làm cái "Ta" để biết có được cảm giác
vui thích hay đau đớn.
Ðôi
khi một âm thanh du dương đến bên tai, chúng ta liền nắm
bắt cái nghe biết có âm điệu ấy làm cái "Ta" đang nghe.
Ðôi khi một vị khoái khẩu đến với lưỡi, chúng ta liền
bám níu vào sự nếm biết khẩu vị đó làm cái "Ta" đang
thưởng thức món ăn.
Mỗi
căn có năm phương diện, tính tổng cộng lại là ba mươi
tất cả. Mỗi phương diện đó đều có thể bị chụp nắm
lấy làm cái Ta và bám níu mãi vào một cách hết sức dễ
dàng, biết bao nhiêu lần trong một ngày. Vừa chụp bắt và
bám níu đó, tức thì đau khổ liền nổi lên ngay. Chúng ta
đã lầm lỡ và tự đảy mình sa vào cái khối đau khổ chằng
chịt. Ðấy chẳng phải là đang đi theo con đường đạo.
Tuy nhiên, Ðức Phật chỉ dạy chúng ta chớ có chụp bắt
và bám níu vào sáu căn cùng các đối tượng liên hệ với
chúng. Nhờ luôn luôn canh phòng, chúng ta sẽ chẳng xem bất
cứ căn nào, đối tượng nào, làm cái Ta cả, và tức thì
con đường Bát Chánh Ðạo liền hiện lên rõ với chúng ta,
chính ngay vào cùng lúc ấy. Ngay trong lúc (chẳng bám níu) đó,
liền hiển hiện lên chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ,
chánh mạng, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh
định. Thực tập được sự chẳng bám níu vào sáu căn khiến
cho con đường Bát Chánh Ðạo đồng thời hiện khởi lên
ngay tức khắc. Ðức Phật xem đó là con đường tắt.
Trong
một bản Kinh, Ðức Phật có dạy con đường tắt: sự rỗng
vắng. Chẳng bám níu vào mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm
thức làm cái Ta, sẽ khiến cho con đường Bát Chánh Ðạo
khởi lên ngay lúc đó , một cách trọn vẹn. Nếu chúng ta
chẳng quyết định chọn con đường tắt, thì chúng ta nên
học tập kỹ lưỡng Con đường Bát Chánh Ðạo về giới,
định, và huệ vậy.Từ từ tu tập từng bước một, khởi
đầu, rồi lần lần tiến xa qua các giai đoạn, như thế ắt
phải tốn nhiều thời gian hơn.
Trong
Phật học, chúng ta tìm thấy được một con đường thông
thường (là Bát Chánh Ðạo) và một con đường thẳng tắt
(là nhiếp phục các căn, chẳng chụp nắm và bám níu.)
* *
*
Giờ
đây, tôi sẽ bàn về Nghiệp lực trong đạo Phật, bằng cách
đặt ra câu hỏi nầy:
14.-
"Nghiệp lực có vai trò nào trong Phật học?"
Nhiều
người Tây phương viết sách về Phật giáo, có vẻ rất hãnh
diện về các Chương bàn về Nghiệp lực (Pali: kamma; Sanskrit:
Karma), và Tái sanh. Nhưng những lời giải thích của họ đều
sai lầm, hoàn toàn sai lầm! Các người Tây phương đó tuyên
bố đã giải nghĩa chữ Kamma, Nghiệp lực, nhưng tất cả
những gì họ viết cũng chỉ là, "thiện nghiệp là tốt lành,
ác nghiệp thì dữ ác"; "Làm điều lành, được việc tốt;
làm việc ác, chịu điều xấu", cũng chẳng có gì thêm hơn,
giống y như giáo lý của các tôn giáo khác. Ðấy chẳng phải
là Nghiệp lực, Kamma, được giảng dạy trong Phật học.
Ðối
với Tái sanh, cũng vậy. Họ tuyên bố rất mạnh mẽ, làm
như chính mắt họ trông thấy rõ ràng chính các cá nhơn nầy
đang tái sanh lại. Họ trình bày rất sai lầm bức thông điệp
chánh yếu của Ðức Phật đã dạy rằng chẳng có sự hiện
hữu của "cá nhơn", hoặc của "Tự ngã" (cái Ta). Mặc dầu
"Tôi" đang ngồi đây, nhưng chẳng có cá nhơn nào ở đây
cả. Khi đã chẳng có cá nhơn nào, thì lấy ai để mà chết?
Rồi có ai đâu để tái sanh? Ðức Phật giảng dạy sự bất
hiện hữu của "cá nhơn", của "con người". Như thế, sanh
và chết là những chơn lý tương đối. Tác giả các quyển
sách nhan đề là "Phật giáo" đó thường giải thích Nghiệp
lực, và Tái sanh hoàn toàn sai lầm.
Xin
các bạn hãy lưu tâm cẩn thận về vấn đề Nghiệp lực.
Một bản trần thuật của Phật học cần phải trình bày
đầy đủ về sự chấm dứr của Nghiệp lực, chớ chẳng
phải chỉ có Nghiệp lực và các hậu quả của nó -- như
đã tìm thấy trong mọi tôn giáo. Chỉ đáng đượcv gọi là
giáo lý nhà Phật, khi có sự trình bày về việc chấm dứt
Nghiệp lực.
Kẻ
đã đạt dến sự chấm dứt hoàn toàn Nghiệp lực, tiếng
Pali gọi là sabbakammakkhayam patto (sabba = hoàn toàn; kamma = nghiệp;
khaya = chấm dứt, tận diệt; patti = chứng đắc, đạt đến).
Ðức Phật đã dạy rằng, nghiệp lực chấm dứt với sự
tận diệt của tham (ràga), sân (dosa) và si (moha). Ðiều nầy
thật dễ nhớ. Nghiệp lực chấm dứt khi tham, sân, si chấm
dứt hoàn tioàn, nghĩa là, khi các lậu hoặc (cấu nhiễm về
tinh thần, hay các lỗi lầm ô uế bên trong tâm) đã dẹp dứt
xong hết. Nếu tham, sân, si còn chưa chấm dứt, thì nghiệp
lực vẫn chưa chấm dứt. Khi tham, sân, si đã chấm dứt, thì
nghiệp cũ cũng chấm dứt, nghiệp hiện nay chẳng được tạo
thành, và chẳng có nghiệp tương lai mới nào được tạo
nữa -- như thế, nghiệp quá khứ, hiện tại và tương lai
phải chấm dứt. Khi một ngưòi đã chấm dứt được tham,
sân, và si, thì nghiệp lực chẳng còn nữa. Ðấy là lối
giải thích cần phải được giảng dạy.
Chỉ
một bản tường trình về nghiệp lực như thế mới đáng
được gọi là của Phật học.
Như
thế, chúng ta thấy còn có một loại nghiệp lực thứ ba.
Phần đông người ta chỉ biết có hai loại nghiệp lực, loại
thứ nhứt là thiện nghiệp hay nghiệp lành, loại thứ hai
là ác nghiệp hay nghiệp dữ. Họ còn chưa biết đến loại
nghiệp lực thứ ba. Ðức Phật gọi loại thứ nhứt là bạch
nghiệp hay thiện nghiệp, tức là nghiệp trắng, tốt lành;
loại thứ hai là hắc nghiệp hay ác nghiệp, tức là nghiệp
đen, dữ ác. Loại thứ ba có thể gọi là chẳng trắng chẳng
đen nhằm chấm dứt cả hai loại nghiệp trắng và nghiệp
đen. Chính Ðức Phật đã dùng các tiếng bạch nghiệp, hắc
nghiệp và bất hắc bất bạch nghiệp. Loại thứ ba nầy mới
thật là nghiệp lực đúng theo nghĩa của Phật học. Như đã
nói qua, hễ chấm dứt tham, sân, si là chấm dứt ngay được
nghiệp lực. Nói cách khác, loại nghiệp lực thứ ba nầy,
chính là con đường Bát Chánh Ðạo; nó chẳng trắng, chẳng
đen, nó chỉ riêng mang lại sự chấm dứt vừa bạch nghiệp,vừa
hắc nghiệp. Con đường đó là con đường vượt cõi thế
gian (tokuttara, siêu thế), vượt lên cả điều thiện lẫn
điều ác.
Loại
nghiệp lực thứ ba nầy chẳng hề được các người Tây
phương bàn đến trong các Chương sách của họ về "Nghiệp
lực và Tái sanh". Lời dẫn giải của họ đều sai lầm cả,
nên chẳng phải là Phật học. (...)
Giờ
đây,xin nói thêm vài điều về loại thứ ba của Nghiệp lực.
Về điểm nầy, Ðức Phật có nói: "Như Lai đã đạt đến
sự hiểu biết rõ ràng về điều nầy, nghiệp lực, xuyên
qua trí huệ cao cả của chính Như Lai." Bậc Ðại Giác (Ðức
Phật) đã chẳng hề vay mượn của ai, hay của tín ngưỡng
hoặc của tôn giáo nào, Ngài đã biết được với trí huệ
của chính Ngài và chỉ dạy lại cho mọi người. (...) Các
bạn nên chú trọng đến vấn đề và nghiên cứu nó cho cẩn
thận, Nghiệp lành, nghiệp ác đều được nói đến ở mọi
tôn giáo, (...) làm lành là điều tốt, làm ác là việc dữ,
họ đều dạy giống nhau như thế. Nhưng Ðức Phật bảo rằng,
chỉ riêng tạo nghiệp lành thì cũng chẳng dập tắt được
hẳn các đau khổ về tinh thần, một cáh hoàn toàn và tuyệt
đối, bởi vì ta có thể say đắm rồi bám chặt vào thiện
nghiệp. Nói cách khác, thiện nghiệp vẫn còn đưa đẩy con
người vào trong vòng sanh và chết của Luân hồi, dầu là
sẽ được sanh vào các cảnh gới an lành. Nó chưa phải hẳn
là sự tận diệt, sự thanh lương của Niết bàn (Nibbàna).
Vậy
thì, về Nghiệp lực, chỉ riêng có Ðức Phật mới thuyết
giảng đầy đủ về vai trò của loại thứ ba là chấm dứt
các lậu hoặc tham, sân, si. Chính xuyên qua loại Nghiệp lực
nầy mà bực tu hành mới chứng đắc quả vị Niết bàn (Nibbàna).
