THẤT
GIÁC CHI
(Saptabodhyaṅgāni)
Thất
giác chi là hành pháp thứ sáu thuộc bảy hành pháp trong ba
mươi bảy phẩm trợ đạo. Thất giác chi còn gọi là Thất
Bồ-đề phần, Thất đẳng giác chi, Thất biến giác chi, Thất
giác phần, Thất giác ý, Thất giác chí, Thất giác chi pháp
... Thất giác chi (Saptabodhyaṅgāni): Sapta ở đây là chỉ cho
số bảy thuộc về số điếm; Bodhy có nghĩa là giác ngộ,
tỏ rõ, hiều rõ; aṅgāni là chỉ cho chi phần. Vậy theo nguyên
ngữ của Saptabodhyaṅgāni thì được định nghĩa như là bảy
pháp có khả năng làm trợ duyên trong việc triển khai trí
tuệ giác ngộ cho hành giả để đạt đến Niết-bàn an vui
giải thóat.
Thất
Giác chi cũng là một hành pháp rất quan trọng đối với việc
trợ duyên cho việc đưa hành giả từ chỗ khổ đau đến
chổ an vui giải thóat, sự quan trọng của nó không kém gì
các hành pháp trên. Ở đây qua bảy pháp giác chi này chúng
ta thấy có những pháp trùng hợp với những chi tiết của
các hành pháp trên như: Niệm, tinh tấn, định giác chi chúng
đã từng hiện diện trong những hành pháp trên .... Nhưng vì
chúng mang tính phổ quát, nên sự cần thiết của chúng trong
mỗi hành pháp không thể không có được, nên sự hiện diện
của chúng trở thành cần thiết cho mỗi hành pháp nói riêng
và cho tính phổ quát của chúng nói riêng. Vì vậy, nên để
tùy theo từng loại căn cơ của các hữu tình chúng sanh mà,
đức Đạo sư chế ra nhiều hành pháp để làm trợ pháp trong
phương pháp tu tập cho hành giả; vì nếu trong mỗi hành pháp
mà thiếu chúng thì sẽ không hiện khởi để đưa đến việc
thành tựu trong tu tập của hành giả và, sẽ không đưa đến
kết quả như chúng ta mong đợi được; nên để tùy căn cơ
từng người, hành giả hợp với pháp môn nào theo tên gọi
của các hành pháp thì, có thể theo đó mà tu tập; tuy đứng
về chi tiết có khác nhau, nhưng trên đại thể, về nội dung
thì có nhiều chỗ giống nhau. Vì vậy, nên chúng ta sẽ thấy
trong pháp môn “Thất giác chi" có nhiều chi tiết giống như
các chi tiết trong các hành pháp khác; không những các chi tiết
riêng trong hành pháp Thất giác chi tự chúng đã có sự sắp
xếp vị trí khác nhau như trong Kinh-luận Đại tạng. Theo Kinh
Tạp A-hàm 26, Kinh Phật thuyết Đại thừa tuỳ chuyển tuyên
thuyết chư pháp quyền 2 (T. 15, p. 0777b) và Luận A-tỳ-đạt-ma
Uẩn Túc quyển 9 (T.26, p. 494c) thì sự sắp xếp các chi trong
hành pháp giống nhau, nhưng trong một số kinh-luận khác lại
có sự sắp xếp khác nhau về vị trí. Có lẽ đây cũng là
do sự sắp xếp tuỳ theo căn cơ đối tượng người nghe hay,
đó là sự sắp xếp theo các quan điểm phát triển sau này
của Phật giáo qua các bộ phái. Ở đây người viết theo
sự sắp xếp của một số đông Kinh-Luận và, theo tiến trình
hợp logic của tư tưởng mà giải thích chúng. Theo kinh Tạp
A-hàm 26 kinh 707 trang, 189c đức Đạo sư đã tóm tắc chức
năng công hiệu của hành pháp Thất giác chi trong việc đối
trị những thối thất, chướng ngại che phủ tâm hành giả
trong lúc thực hành tu tập, đức Phật dạy:
“Có
năm chướng, năm cái, phiền não nơi tâm, có thể làm sút
giảm trí tuệ và làm phần chướng ngại, chẳng phải minh,
chẳng phải chánh giác, chẳng chuyển hướng Niết-bàn. Những
gì là năm? Đó là tham dục cái, sân cái, thùy miên cái, trạo
hối cái, nghi cái. Năm cái này là che kín, là bao phủ, phiền
não ở tâm, khiến cho trí tuệ bị suy giảm, là phần chướng
ngại, chẳng phải minh, chẳng phải đẳng giác, chẳng chuyển
hướng Niết-bàn.
“Nếu
là bảy Giác chi, thì chẳng che kín, chẳng bao phủ, chẳng
phiền não nơi tâm, tăng trưởng trí tuệ, là minh, là chánh
giác, chuyển hướng Niết-bàn.
Những
gì là bảy? Đó là Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi, tinh
tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi,
Xả giác chi. Như bảy Giác chi này chẳng che kín, chẳng bao
phủ, chẳng phiền não nơi tâm, tăng trưởng trí tuệ, là
minh, là chánh giác, chuyển hướng Niết-bàn.”
Qua
những lời dạy trên thì hành pháp Thất giác chi trên tính
phổ quát của giá trị có những khả năng không những chỉ
đối trị các bệnh như che kín, bao phủ, tạo phiền não nơi
tâm mà, còn làm tăng trưởng trí tuệ, chuyển hướng hành
giả đến Niết-bàn nữa. Và tiếp theo đức Đạo sư đưa
ra những kết quả của giá trị thực tiễn khi hành giả thực
hành Thất giác chi này, theo thứ tự trước sau để loại
bỏ từ từ tất cả những pháp vô minh cấu uế làm mê mờ
chướng ngại hành giả trong bước đường tiến đến thanh
tịnh giải thóat như Kinh 711 trong Tạp A-hàm 26 đức Đạo
sư đã dạy Vương tử Vô Úy:
“Nếu
Bà-la-môn nào có một niệm thù thắng, quyết định thành
tựu; những việc đã làm từ lâu, những lời nói từ lâu,
có thể tùy theo nhớ nghĩ, ngay lúc ấy tu tập Niệm giác chi.
Khi Niệm giác chi đã tu tập rồi, thì niệm giác đầy đủ.
Khi niệm giác đã đầy đủ rồi, thì có sự lựa chọn, phân
biệt, tư duy, lúc bấy giờ tu tập Trạch pháp giác chi. Khi
đã tu tập Trạch pháp giác chi rồi, thì trạch pháp giác đầy
đủ. Khi đã lựa chọn, phân biệt, suy lường pháp rồi, thì
sẽ nỗ lực tinh tấn; ở đây, tu tập Tinh tấn giác chi. Khi
đã tu tập Tinh tấn giác chi rồi, thì tinh tấn giác đầy
đủ. Khi đã nỗ lực tinh tấn rồi, thì hoan hỷ sẽ sanh,
xa lìa các tưởng về thức ăn, tu hỷ giác chi. Khi đã tu Hỷ
giác chi rồi, thì hỷ giác đầy đủ. Khi Hỷ giác chi đã
đầy đủ rồi, thì thân và tâm khinh an; lúc ấy tu Khinh an
giác chi. Khi đã tu Khinh an giác chi rồi, thì khinh an giác sẽ
đầy đủ. Khi thân đã khinh an rồi, thì sẽ được an lạc
và khi đã an lạc rồi thì tâm sẽ định; khi ấy tu Định
giác chi. Khi đã tu Định giác chi rồi, thì định giác sẽ
đầy đủ, Khi định giác chi đã đầy đủ rồi, thì tham
ái sẽ bị diệt và tâm xả sanh ra; khi ấy tu Xả giác chi.
Khi đã tu Xả giác chi rồi, thì xả giác sẽ đầy đủ. Như
vậy, này Vô Úy, vì nhân này, duyên này mà chúng sanh thanh
tịnh.”
Ở
trên theo đức Đạo sư thì, khi hành giả tu tập Thất
giác chi theo thứ tự thì những kết quả chúng sẽ theo sau
những thực hành đó. Nếu hành giả tu tập thực hành một
cách liên tục miên mật không gián đọan đầy đủ rồi thì
theo đó chúng ta sẽ đạt được những kết quả như mong
muốn ngay trong hiện tại. Nhưng cũng có một số kinh-luận
mỗi giác chi trong Thất giác chi có giá trị của riêng chính
nó trong việc thực hành chứ không cần phải thực hành hết
bảy giác chi theo thứ tự mới đưa đến kết quả như trong
kinh Tạp A-hàm ở trên. Theo kinh Phật thuyết pháp thừa nghĩa
quyết định 2, T. 17, p. 0657b đức Đạo sư dạy:
Thế
nào là Thất giác chi? Phật dạy: Đó là Trạch pháp giác chi,
niệm giác chi, tinh tấn giác chi, khinh an giác chi, định giác
chi, xả giác chi, hỷ giác chi.
Thế
nào là trạch giác chi? Là đối với các pháp, mà có
thể lựa chọn, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt,
nhiếp phục tranh cãi.
Thế
nào là niệm giác chi? Đối các pháp, chánh niệm tu tập,
y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phục
tranh cãi.
Thề
nào là định giác chi? Là thường phát khởi diệu huệ thanh
tịnh, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp
phục tranh cãi.
Sao
gọi là tinh tấn giác chi? Đối với việc hành thiện, siêng
năng không giải đãi, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch
diệt, nhiếp phục tranh cãi.
Thế
nào là khinh an giác chi? Đối với các pháp xa lìa thô trọng,
điều phục thân tâm, y chỉ ly dục, y chỉ tư duy, y chỉ tịch
diệt, nhiếp phục tranh cãi.
Thế
nào là xả giác chi? Đối với các pháp xa lìa phóng dật,
khiến tâm tịch tịnh; y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ
tịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.
Thế
nào là hỷ giác chi? Đối với các pháp mà sinh hỷ thọ, y
chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch tịnh, nhiếp phục
tranh cãi.
Qua
Kinh này cho chúng ta thấy sự sắp xếp các chi của chúng không
giống như thứ tự của một số kinh luận khác. Mặc khác
chúng cũng tự hòan thành kết quả cho chính cách tu tập của
tự chúng. Còn theo A-tỳ-đạt-ma Uẩn túc luận 9, thì sự
liên hệ chi tiết giữa các hành pháp trong Ba mươi bảy phẩm
trợ đạo là cần thiết vì tính phổ quát của chúng nên
ở đây, trong hành pháp Thất giác chi vẫn sử dụng các pháp
niệm, tinh tấn, định như những pháp đã được trình bày
trong các hành pháp trước, để nhờ đó làm pháp đối trị
tùy theo những chi tiết cần thiết của chúng mà ứng dụng.
Theo những lời dạy của đức Đạo sư.
1/
Niệm giác chi (: Theo A-tỳ-đạt-ma Uẩn túc luận 9 thì
Niệm giác chi trong Thất giác chi, khi hành giả muốn tu tập
thì phải dùng đến pháp quán Tứ niệm trụ (Tứ niệm xứ),
Theo đức Đạo sư thì đệ tử của bậc Thánh đối trong
thân, ngoài thân, trong ngoài thân phải trụ vào thân mà quán.
Nếu ở đây chánh cần, chánh tri, chánh niệm đầy đủ thì,
sẽ trừ được tham ưu thế gian, cùng nội ngoại của Thọ,
tâm, pháp cũng đầy đủ như thân thì, sẽ có được sự
tương ưng giữa vô lậu và tác ý. Các niệm theo niệm, chuyên
niệm, ức niệm, không quên không mất, không trái, không lọt,
không mất pháp tánh, tâm sáng tánh ghi nhớ, tất cả nói chung
đều là niệm, cũng gọi là niệm căn, cũng gọi là niệm
lực, cũng gọi là giác chi, cũng gọi là chánh niệm, chúng
có khả năng chấm dứt khổ. Các bậc hữu học đối với
các hành như sở kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt
cứu cánh, đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối niết-bàn
vĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán cùng tâm giải
thóat, tư duy qúan sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được
sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, các niệm tùy niệm,
cho đến tâm minh, tánh nhớ đó gọi là Niệm giác chi. Khi
hành giả đã nhờ Tứ niệm trụ quán sát thân, thọ, tâm
và pháp trong ngoài bằng vào chánh cần chánh tri, chánh niệm
biết rõ được bộ mặt thật của các pháp, nên vấn đề
tu tập phải có sự lựa chọn tiếp theo đó trong pháp tu của
hành giả.
2/
Trạch pháp giác chi: Tiếp theo là đệ tử của bậc
Thánh, phải thường biết như thật pháp nào thiện, pháp nào
bất thiện; pháp nào có tội, pháp nào không tội; pháp nào
đáng tu, pháp nào không đáng tu; pháp nào hạ liệt, pháp nào
thắng diệu; pháp nào đen, pháp nào trắng; pháp đối địch,
pháp duyên sinh. Nếu ở đây hành giả biết tất cả pháp
là như thật, pháp nào thiện, pháp nào bất thiện cho đến
pháp duyên sinh thì sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu
và tác ý; đối với sự lựa chọn đến chỗ kỳ cùng, không
còn lựa chọn được nữa; hiểu rõ, tỏ gần tỏ xa, thông
đạt tất cả, quán sát thông tuệ, tuệ hạnh sáng tỏ, gọi
chung là tuệ, cũng gọi là tuệ căn, cũng gọi là tuệ lực,
cũng gọi là trạch pháp giác chi, cũng gọi là chánh kiến.
Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng diệt hết khổ;
đối với các hàng hữu học các hành như sở kiến của mình
mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành
thấy rõ lỗi lầm, đối niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công
đức. Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thóat, tư duy quán sát,
khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa
vô lậu và tác ý, đối các pháp lựa chọn, cho đến Tỳ-bát-xa-na
(vipaśyanā: quán pháp) là dùng trí tuệ nhất tâm quán pháp,
đó gọi là Trạch pháp giác chi. Sau khi hành giả đã lựa
chọn pháp tu cho mỗi người rồi thì, cần phải có sự siêng
năng nổ lực trong pháp tu của mình.
3/:
Tinh tấn giác chi: Tiếp đến đệ tử bậc Thánh, sau
khi đã biết lựa chọn, biết pháp nào thiện pháp nào ác
rồi trong thực hành chỉ ác hành thiện thì phải tinh tấn
dùng phương pháp Tứ chánh cần để tu tập. Vì muốn đọan
trừ các pháp ác, bất thiện đã sinh ra, nên siêng năng tinh
tấn kiểm sóat tâm, giữ gìn tâm. Vì muốn cho các
pháp ác bất thiện chưa sinh sẽ không sinh, nên phải khởi
lòng siêng năng tinh tấn kiểm sóat tâm, giữ gìn tâm. Vì muốn
pháp lành chưa sinh khiến sinh, nên phải khởi lòng siêng năng
tinh tấn trong việc khởi lên ý nghĩ nên hay không nên và,
đem áp dụng vào trong việc làm nên hay không nên trong việc
kiểm sóat tâm và giữ gìn tâm. Vì muốn những việc thiện
đã phát sinh trong việc nuôi lớn vững bền thêm không khiến
tâm quên, và muốn làm tăng trưởng rộng lớn trí tuệ tác
chứng nên hành giả phát khởi lòng mong muốn siêng năng nổ
lực tinh tấn kiểm sóat tâm mình, giữ gìn tâm mình lúc nào
cũng thanh tịnh. Khi hành giả theo pháp tu Tứ chánh cần thì
sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý; những
nổ lực tinh tấn, mạnh mẽ, kiên cường, hừng hực khó kiềm,
gắng ý không dừng, tất cả đều gọi là tinh tất cả, cũng
gọi là tinh tấn căn, cũng gọi là tinh tấn lực, cũng gọi
là tinh tấn giác chi, cũng gọi là chánh cần. Đối với Thánh
đệ tử chúng có khả năng diệt hết khổ; đối với các
hàng hữu học, các hành như sở kiến của mình mà tư duy
quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành thấy rõ
lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếu
là A-la-hán cùng tâm giải thóat, tư duy qúan sát, khiến đạt
cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và
tác ý, mọi nổ lực tinh tấn, cho đến gắng ý không dừng
nghỉ, đó gọi là Tinh tấn giác chi.
4/
Hỷ giác chi: Khi Thánh đệ tử đã nổ lực tinh tấn
thực hành những pháp mà mình đã chọn rồi qua chỉ ác hành
thiện rồi nhờ lúc cùng nhau niệm Phật như vậy thì tham
không trói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói
buộc tâm. Đối với Như lai, tâm hành giả ngay thẳng thì
sẽ đạt được nghĩa và pháp oai thế; đối với Như lai
có khả năng dẫn khởi hân hoan, nhờ hân hoan nên sinh tâm
hoan hỉ; khi được hoan hỉ thì thân an; thân an thì sẽ hưởng
lạc; được an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả định
rồi thì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ
trụ vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não
hại sẽ trụ vào không não hại và, sẽ được dự vào dòng
pháp mà tu tập tùy theo niệm đối với chư Phật, cho đến
tác chứng cứu cánh Niết-bàn.
Lại
nữa hành giả khi cùng nhau niệm chánh pháp, tức là chỉ cho
chánh pháp của Phật khéo nói hiện tại, mát mẻ đúng thời,
hướng dẫn trực quán khiến bậc trí giả nội chứng; hành
giả nhờ đó lúc cùng nhau niệm pháp như vậy thì tham không
trói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói buộc
tâm. Đối với chánh pháp tâm hành giả ngay thẳng, nhờ tâm
ngay thẳng nên được nghĩa và pháp oai lực; đối với chánh
pháp có khả năng dẫn khởi hớn hở, nhờ hớn hở nên sinh
tâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉ nên thân an; nhờ thân an nên hưởng
lạc; nhờ an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả định rồi
thì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ
vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não hại
sẽ trụ vào không não hại và, sẽ được dự vào dòng pháp.
Đối với chánh pháp, nhờ tu tập tùy niệm nên cho đến có
thể tác chứng cứu cánh Niết-bàn.
Lại
nữa, hành giả khi cùng nhau niệm Tăng già, tức là chỉ cho
đệ tử của đức Phật đã thọ cụ túc giới, đầy đủ
diệu hạnh, hành động chất trực, thực hành như lý, thực
hành pháp theo pháp Phật dạy, thực hành hòa kính. Hơn nữa
đệ tử của Phật có hướng đến dự lưu, có quả dự lưu,
có quả nhất lưu, có hướng đến không trở lại (bất hòan),
có quả bất hòan, có hướng đến A-la-hán, có quả a-la-hán.
Như vậy gồm có Tứ song, Bát chích, Bổ-đặc-già-la. Cũng
vậy Tăng già, đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy
đủ tuệ, đầy đủ giải thóat, đầy đủ giải thóat tri
kiến, đáng thỉnh đáng đê đầu, đáng cung kính ruộng phước
vô thượng, nơi đởi nên cúng dường. Đệ tử của bậc
Thánh nhờ lúc cùng nhau niệm Tăng như vậy thì tham không trói
buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói buộc tâm.
Đối với Tăng già tâm hành giả ngay thẳng, nhờ tâm ngay
thẳng nên được nghĩa và pháp oai lực; đối với chánh pháp
có khả năng dẫn khởi hớn hở, nhờ hớn hở nên sinh tâm
hoan hỉ; nhờ hoan hỉ nên thân an; nhờ thân an nên hưởng
lạc; nhờ an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả định rồi
thì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ
vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não hại
sẽ trụ vào không não hại và, sẽ được dự vào dòng pháp.
Đối với Tăng già nhờ tu tập tùy niệm, nên cho đến có
thể tác chứng cứu cánh Niết-bàn.
Lại
nữa, hành giả khi cùng nhau niệm giới, tức là chỉ cho hành
giả giữ giới thanh tịnh, không khuyết không thủng, không
tạp không nhơ, có thể nhận sự cúng dường không rõ ràng,
khéo cứu cánh, khéo thọ trì, được người trí khen ngợi,
thường không hủy báng. Đệ tử bậc Thánh nhờ lúc cùng
nhau niệm giới như vậy thì tham không trói buộc tâm, sân
không trói buộc tâm, si không trói buộc tâm. Đối với giới
tâm hành giả ngay thẳng; nhờ tâm ngay thẳng nên được nghĩa
và pháp oai lực; đối với chánh pháp có khả năng dẫn khởi
hớn hở, nhờ hớn hở nên sinh tâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉ
nên thân an; nhờ thân an nên hưởng lạc; nhờ an lạc nên
tâm định. Khi tâm hành giả định rồi thì đối với các
loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ vào bình đẳng, đối
với các loài hữu tình có não hại sẽ trụ vào không não
hại và, sẽ được dự vào dòng pháp. Đối với giới nhờ
tu tập tùy niệm, nên cho đến có thể tác chứng cứu cánh
Niết-bàn.
Lại
nữa, hành giả khi cùng nhau niệm Bố thí, tức là hiện tại
hành giả khéo được thắng lợi, tuy sống vô lượng nơi
cáu bẩn triền phược trong chúng sanh, nhưng tâm xa lìa tất
cả cáu bẩn, có thể thực hành bố thí. Tuy ở tại gia, nhưng
có thể không đắm nhiễm vào của cải châu báu; ra tay bố
thí, làm tế tự lớn, cúng dường ruộng phước, ban ân đầy
đủ, ban vui khắp cả. Đệ tử bậc Thánh nhờ lúc cùng nhau
niệm bố thí như vậy thì tham không trói buộc tâm, sân không
trói buộc tâm, si không trói buộc tâm. Đối với giới tâm
hành giả ngay thẳng; nhờ tâm ngay thẳng nên được nghĩa
và pháp oai lực; đối với bố thí có khả năng dẫn khởi
hớn hở, nhờ hớn hở nên sinh tâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉ
nên thân an; nhờ thân an nên hưởng lạc; nhờ an lạc nên
tâm định. Khi tâm hành giả định rồi thì đối với các
loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ vào bình đẳng, đối
với các loài hữu tình có não hại sẽ trụ vào không não
hại và, sẽ được dự vào dòng pháp. Đối với bố thí
nhờ tu tập tùy niệm, nên cho đến có thể tác chứng cứu
cánh Niết-bàn.
Lại
nữa, hành giả khi cùng nhau niệm chư Thiên, tức là chỉ cho
Tứ đại vương chúng thiên, trời Ba mươi ba, Dạ-ma-thiên,
Đổ-sử-đa thiên, Lạc biến hóa thiên, Tha hóa tự tại thiên.
Chư thiên như vậy, thành tựu tín, giới, văn, xả, tuệ nên
mất từ chỗ này được sinh về những cõi trời kia hưởng
mọi sự khoái lạc. Hành giả chúng ta cũng có tín, giới,
văn, xả, tuệ, cũng sẽ được sinh về những chỗ kia, cùng
các thiên chúng đồng hưởng khoái lạc. Các hành giả đệ
tử của bậc Thánh nhờ cùng nhau niệm Thiên như vậy thì
tham không trói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không
trói buộc tâm. Đối với giới tâm hành giả ngay thẳng; nhờ
tâm ngay thẳng nên được nghĩa và pháp oai lực; đối với
chư thiên có khả năng dẫn khởi hớn hở, nhờ hớn hở nên
sinh tâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉ nên thân an; nhờ thân an nên
hưởng lạc; nhờ an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả
định rồi thì đối với các loài hữu tình không bình đẳng
sẽ trụ vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có
não hại sẽ trụ vào không não hại và, sẽ được dự vào
dòng pháp. Đối với chư thiên nhờ tu tập tùy niệm, nên
cho đến có thể tác chứng cứu cánh Niết-bàn. Hành giả
lúc tu tập lục tùy niệm như vậy rồi thì sẽ được sở
hữu tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm hân hoan tột cùng,
hân hoan hiện hữu, tính loại hân hoan, thích ý vui ý; tính
loại hoan hỷ vui hòa hợp không còn phân biệt ... tất cả
gọi chung đều là hỉ, cũng gọi là hỉ giác chi. Đối với
Thánh đệ tử chúng có khả năng diệt hết khổ; đối với
các hàng hữu học, các hành như sở kiến của mình mà tư
duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành thấy
rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức.
Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thóat, tư duy qúan sát, khiến
đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu
và tác ý, tâm hoan hỉ tột cùng, cho đến tánh hoan hỉ thì
đó gọi là Hỉ giác chi.
5/
Khinh an giác chi: Tiếp tục hành giả nhờ tâm tánh hoan
hỉ đang hiện có, hành giả nhập vào sơ thiền, ngôn ngữ
lúc bấy giờ dừng nghỉ. Nhờ duyên này mà các pháp khác
cũng yên nghỉ, đó gọi là trạng thái thuận khinh an thứ
nhất; khi nhập vào đệ nhị thiền, tầm và từ (giác, quán)
yên nghỉ, nhờ duyên này mà các pháp khác cũng yên nghỉ,
đó dọi là trạng thái thuận khinh an thứ hai; khi hành giả
nhập vào đệ tam thiền; các hỉ ở đây bấy giờ cũng yên
nghỉ, nhờ duyên này các pháp khác cũng lặng yên, đó là
trạng thái thuận khinh an thứ ba; khi nhập vào đệ tứ thiền,
hơi thở ra vào lặng yên, nhờ duyên này các pháp khác cũng
an nghỉ, đó là trạng thái thuận khinh an thứ tư; tiếp tục
lúc nhập vào diệt thọ tưởng định, ở đây tưởng thọ
vắng bặt nhờ duyên này mà các pháp khác cũng không hiện
hữu, đó gọi là trạng thái thuận khinh an thứ năm và, cũng
có khinh an thượng diệu thứ sáu là tối thắng tối thượng.
Khinh an này là tối thượng tói diệu không có khinh an nào
khác vượt qua nó. Vì sao vậy? Vì tâm từ tham lìa nhiễm mà
giải thóat và, từ sân, si lìa khỏi nhiễm mà giải thóat,
nên gọi đây là trạng thái thuận khinh an thứ sáu. Hành giả
tư duy về trạng thái này thì sẽ sở hữu được mọi sự
tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm nhẹ nhàng, tánh nhẹ
nhàng loại nhẹ nhàng, gọi chung là khinh an, cũng gọi là khinh
an giác chi. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng diệt
hết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sở
kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối
trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn
thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thóat,
tư duy qúan sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự
tương ưng giữa vô lậu và tác ý; thân, tâm, tính, loại
khinh an, đó gọi là khinh an giác chi.
6/
Định giác chi: Khi hành giả nhờ vào sơ thiền, nhị
thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên
xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ và Diệt
tận định thì sẽ diệt trừ tận gốc rễ của các lậu.
Vì khi hành giả an trú vào sơ thiền thì trước hết nhờ
vào tướng trạng các hành mà xa lìa pháp dục ác bất thiện,
có tầm có từ và, nhờ xa lìa này mà hỉ lạc sinh ra. Nếu
ở sơ thiền mà hành giả an trụ đầy đủ thì hành giả
sẽ không còn tư duy về tướng trạng các hành nữa mà chỉ
tư duy về chỗ đạt được, chỗ hướng về sắc, thọ, tưởng,
hành và, thức mà thôi. Ở đây các pháp này não hại chúng
sanh
như là bệnh họan, như ung nhọt, như tên độc, chúng
là vô thường, khổ, không, phi ngã. Hành giả đối với pháp
này tâm vừa ghét vừa lo sâu xa, sợ hãi đình chỉ, sau đó
nhiếp tâm đưa về giới vức cam lồ, tư duy cõi này là tịch
tĩnh vi diệu, xả bỏ tất cả trên nền tảng ái hết lìa
nhiễm, vĩnh viễn tịch diệt Niết-bàn. Giống như xạ sư
giỏi, hay học trò của ông, trước hết học bắn người
bằng cỏ, đất bùn ở gần; sau đó mới có thể bắn vật
kiên cố lớn ở xa được. Hành giả cũng vậy, trước phải
nhờ tướng trạng các hành như vậy mà xa lìa pháp dục ác
bất thiện, có tầm có từ; nhờ xa lia nên hỉ lạc sinh. Nếu
hành giả an trụ vào sơ thiền đầy đủ thì sẽ không tư
duy về các tướng trạng các hành như vậy mà chỉ tư duy
về chỗ đạt được, chỗ hướng về sắc, thọ, tưởng,
hành và, thức mà thôi. Ở đây các pháp này não hại chúng
sanh như là bệnh họan, như ung nhọt, như tên độc, chúng
là vô thường, khổ, không, phi ngã. Hành giả đối với pháp
này tâm vừa ghét vừa lo sâu xa, sợ hãi không tạo tác nhân,
sau đó nhiếp tâm đưa về giới vức cam lồ, tư duy cõi này
là tịch tĩnh vi diệu, xả bỏ tất cả trên nền tảng ái
hết lìa nhiễm, vĩnh viễn tịch diệt Niết-bàn. Khi hành giả
biết như vậy, thấy như vậy liền từ tâm dục lậu được
giải thóat, cũng từ hữu lậu và vô minh lậu tâm được
giải thóat; đã giải thóat rồi thì có thể tự nhận thức
rằng: Ta được giải thóat, sự sanh của ta đã dứt, phạm
hạnh đã lập, việc cần đã làm xong, không còn tái sinh đời
sau nữa. Ở đây đề cập về an trụ nhị thiền thì, trước
hết cũng nhờ vào tướng trạng các hành, nhưng tầm từ trở
nên tịch tĩnh, bên trong tâm tịnh một mực hướng về tự
tánh, lúc này không còn tầm từ nữa, nhờ định là hỉ lạc
sinh ra. Nếu an trụ đầy đủ vào nhị thiền thì bấy giờ
hành giả không còn tư duy về tướng trạng các hành nói cũng
giống như trên cho đến vô sở hữu xứ. Khi hành giả nhập
vào vô sở hữu và an trụ đầy đủ vào vô sở hữu xứ
thì lúc này không còn tư duy về tướng trạng các hành, mà
chỉ tư duy về chỗ đạt được, chỗ hướng về thọ, tưởng,
hành và, thức mà thôi, cho đến nói đầy đủ như trên và,
đến tưởng định có thể hòan thành xong những việc đáng
nên làm như vậy. Tiếp đến là Phi tưởng phi phi tưởng xứ
cùng Diệt tận định, việc xuất nhập định trong tu tập
của hành giả cũng như bảy định trên, lúc này cũng sẽ
có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, an trụ tâm,
an trụ bình đẳng cho đến tâm chỉ còn duy nhất một tánh
cảnh, gọi chung là định, cũng gọi là định căn, cũng gọi
là định lực, cũng gọi là định giác chi, cũng gọi là chánh
định. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng diệt hết
khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sở kiến
của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong
các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy
rõ công đức. Nếu là A-la-hán như tâm giải thóat, tư duy
qúan sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương
ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm an trụ bình đẳng, cho đến
tâm chỉ còn tánh cảnh duy nhất, thì đó gọi là định giác
chi.
7/
Xả giác chi: Đến đây, hành giả nhờ tư duy về đọan
giới, ly giới, diệt giới trong những định trên và, cũng
nhờ tâm phát khởi tính bình đẳng, tâm trở nên tánh chính
trực, tâm không còn kỉnh giác mà an trụ vào tính tịch tĩnh.
Lúc bấy giờ hành giả tự nghĩ: “nay ta nên đối với các
pháp thuận tham, thuân sân, thuận si mà xa lìa tham, sân, si,
nhờ tâm phát khởi tính bình đẳng, tâm trở nên tính chánh
trực, tâm không còn kỉnh giác nữa, mà an trụ vào tính tịch
tĩnh.“ Lại tự nghĩ: “Nay ta nên đối với các pháp
tham, sân, si, tâm không còn nhiếp thọ; do tâm phát khởi tính
bình đẳng, tâm trở nên tính chánh trực, tâm không cảnh
giác mà an trụ vào tính tịch tĩnh.“ Ở đây hành giả nhờ
xem xét tư duy sáu pháp thuận xả mà có được sự tương
ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm trụ vào tính bình đẳng,
tâm trụ vào tính chánh trực, tâm không còn cảnh giác mà
trụ vào tính tịch tĩnh, ở đây gọi chung là xả, cũng gọi
là xả giác chi. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng
diệt hết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như
sở kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh;
đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh
viễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán như tâm giải thóat,
tư duy qúan sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự
tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm trụ vào tính bình
đẳng, tâm trụ vào tính chánh trực, tâm không còn kỉnh giác
mà trụ vào tính tịch tĩnh thì, đó gọi là xả giác chi.
Qua
những kinh-luận mà chúng tôi đã trích dẫn trên, chúng cho
hành giả chúng ta một cái nhìn duyên khởi hơn trong vấn đề
tu tập để đối trị với ba độc tham, sân, si trên cơ bản
bằng cách ly tham, sân, si để đưa đến giác nộ giải thóat
bằng vào sự tu tập theo thứ tự từ giác chi thứ nhất cho
đến giác chi thứ bảy trong liên đới hỗ tương cần thiết
cho nhau; nhưng mặc khác mỗi giác chi tự chúng tự hòan thành
riêng cho mỗi thứ trong tu tập chính chúng như chính đức
Đạo sư đã dạy trong Tương Ưng V theo Tạng hệ Pàli: "Tu
tập một giác chi đã có thể thành tựu mục đích của đời
sống phạm hạnh, huống nữa là tu tập cả Thất giác chi".
Vì chính ngay trong mỗi một giác chi chúng đã hiện diện nhân
và duyên một cách đầy đủ qua sự cần thiết đủ để
pháp đó hiện hữu một cách trọn vẹn bảy chi trong một
chi; và ngược lại một chi trong bảy chi, nếu thiếu một
trong bảy chi đó thì tự chúng không hiện hữu để hòan thành
kết quả. Ngay trong chánh niệm của niệm giác chi đã có trạch
pháp giác chi đã có tinh tấn giác chi, đã có hỷ giác chi,
đã có khinh an giác chi, đã có định giác chi và, đã có xà
giác chi rồi; vì nếu thiếu xả thì không thể có được
chánh niệm, thiếu trạch pháp giác chi thì sẽ không có chánh
niệm, thiếu tinh tấn giác chi thì sẽ không có chánh niệm
giác chi, thiếu hỷ giác chi thì sẽ không có chánh niệm giác
chi, thiếu khinh an giác chi thì sẽ không có chánh niệm giác
chi rồi, và cứ như thế nếu thiếu đi một trong bảy nhân
và duyên của bày giác chi này thì chánh niệm giác chi không
hiện hữu để đưa đến kết quả thành công. Do đó Sự
thành tựu trong tu tập của hành giả qua một giác chi nào
đó cũng chính là sự thành tựu của chính bảy giác chi đồng
lúc. Đó chính là mặc sâu xa vi tế của bộ mặt duyên khởi
hiện quán theo quan điểm đặc thù của Phật giáo theo bản
thể luận còn theo mặt hiện tượng luận sai biệt của các
pháp thì có bảy chi pháp, để từ đó hành giả cứ theo thứ
tự thời gian mà hòan thành theo thứ lớp tuần tự của chúng.
Đây chính là đặc điểm khế cơ khế lý trong phương pháp
giáo dục và tu tập của đạo Phật.