TỨ
THẦN TÚC
(Catvāra-ṛddhipādāḥ)
Tứ
thần túc là hành pháp thứ ba sau Tứ niệm trụ và, Tứ chánh
cần thuộc bảy hành phẩm trong ba mươi bảy phẩm đạo. Hai
hành phẩm đầu nghiêng hẳn về phần phát triển trí tuệ
hơn là định, để cân bằng về hai mặt định tuệ nên cần
phải phát triển định trong chiều hướng quân bình này, hành
giả phải cần Tứ thần túc để nhiếp tâm. Thần ở đây
chỉ cho cái đức linh diệu, còn túc tức là chỉ cho định
là nền tảng chỉ nơi nương tựa để phát sinh quả đức
linh diệu. Đây là bốn pháp thiền định, là bốn thứ phương
tiện giúp hành giả thành tựu các tam-ma-địa (samadhi-chánh
định). Theo luận Câu xá 25: "Vì sao định gọi là thần túc?
Vì các công đức lỉnh diệu thù thắng đều nương nơi bốn
pháp này mà định được thành tựu".
Tứ
thần túc còn gọi là Tứ như ý túc, ở đây có nghĩa là
mọi thành tựu được theo như sở nguyện của hành giả khi
tu tập bốn pháp này. Tứ thần túc phạn ngữ gọi là catvāra-ṛddhipādāḥ,
pāli gọi là cattāro iddhi-pādā, là bốn pháp làm nền tảng,
nơi nương tựa phát sinh ra các thứ công đức thiền định
cho hành giả và, kết quả của chúng theo như ước muốn của
người tu tập. Theo luận Trí Độ 19: “Hỏi: Trong Tứ niệm
xứ, tứ chánh cần đã có định, tại sao không gọi là như
ý túc? Đáp: chúng tuy có định, nhưng định lực rất yếu,
còn trí tuệ tinh tấn lực thì nhiều, nên hành giả không
được như ý nguyện. Bốn loại định đó là Dục làm chủ
sẽ đắc định, Tinh tấn làm chủ sẽ đắc định, Tâm làm
chủ sẽ đắc định, tư duy làm chủ sẽ đắc định”. Nhờ
sức mạnh của bốn pháp này dẫn phát các loại thần dụng
mà sản sinh ra tam-ma-địa (chánh định).
Bốn
định ấy là:
Dục
thần túc
Tinh
tấn thần túc
Tâm
thần túc
Quán
thần túc.
1.
Dục thần túc, nói cho đầy đủ và chính xác hơn thì
gọi là Dục tam-ma-địa đọan hành thành tựu thần túc (Srt:
chanda-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda, Pāli:
chanda-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda) Thiền
định phát khởi là nhờ sức mạnh của ý muốn tư tưởng
mà đạt được thần thông. Dục ở đây chỉ cho ước muốn,
mong cầu một cách thiết tha, mong muốn đạt được những
gì đang ở ngòai tầm tay hành giả; hay mong cầu những ước
muốn của chúng ta cho đến khi đạt được những sở nguyện
đó mới thôi, theo nghĩa dục như ý túc. Ở đây chúng ta phải
phân biệt được những mong muốn này chúng theo chiều hướng
nào? Chúng câu hữu với giải thoát hay vô minh? Tại sao đức
Đạo sư lại dạy cho chúng ta thực hành "dục", theo phương
pháp này, trong khi ở nơi khác Ngài dạy dục là pháp đứng
vào hàng thứ nhất của căn bổn sinh tử hành giả phải tránh?
Rõ ràng ở đây, đức Đạo sư đã đứng trên chiều hướng
giải thóat để đưa hành giả đến Thánh đạo thì, đây
dục là con đường hướng thượng đưa chúng ta đi đến con
đường giải thoát của các bậc Thánh, chứ không phải con
đường đưa chúng ta đi vào sinh tử luân hồi. Vậy dục,
mong muốn ở đây chúng câu hữu với giải thóat chứ không
phải câu hữu với vô minh, hậu quả tất yếu của sinh tử
luân hồi.
Qua
những phân biệt trên, cho chúng ta nhận thức được một
cách rõ ràng rằng tánh chất của dục ở đây, chúng mang
mầm móng hướng thượng giải thoát; vì vậy cho nên chúng
đi ngược lai với những thứ mong muốn dục vọng thấp hèn
để thỏa mãn thú tánh, những tham vọng trói buộc thế gian,
đó là thứ dục của tội lỗi, chúng ta nên diệt trừ tận
gốc rễ. Vì vậy những mong muốn hướng thượng, giải thóat,
an vui, như mong muốn sống một cuộc sống tốt đẹp, thanh
cao, hay mong muốn đạt được giải thoát, ra ngoài biển khổ
sanh tử thì, đó là những thứ mong muốn hợp tình hợp lý,
đức Đạo sư luôn luôn khuyến khích chúng ta nên nổ lực
thực hành những pháp như vậy, như dục thần túc này chẳng
hạn. Hành giả mong muốn thành tựu pháp thiền định mà mình
đang tu, thì trước hết phải thiết lập dục nguyện và nổ
lực thực hành mong đạt đến cứu cánh mà mình đã chọn
như chứng đạt các Thánh quả. Thứ mong muốn này rất cần
thiết cho hành giả trong lúc thực hành; nếu không có chúng
một cách thiết tha, mãnh liệt thì, chúng ta khó mà đạt được
cứu cánh giải thoát. Thật ra, bản thân của dục tự nó
không tốt, không xấu, không thiện, không ác, không đúng không
sai, những chúng sẽ trở nên tốt xấu, thiện ác, đúng sai,
khi con người áp đặt lên nó những cái đó rồi hợp thức
hóa cho nó những cái mà chính nó không có, để rồi từ đó
dục trở nên hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc thiện, hoặc ác,
hoặc đúng hoặc sai … Ở đây, đức Đạo sư không bao giờ
chủ trương diệt dục, mà Ngài chủ trương hành giả muốn
giải thóat thì trừ bỏ dục vọng câu hữu với vô minh, vì
dục câu hữu với vô minh là dục xấu, dục, bất thiện,
dục sai, chúng sẽ đưa hành giả đến bến bờ sinh tử luân
hồi khổ đau, còn ngược lại nếu muốn giải thóat tất
cả những khổ đau của sinh tử luân hồi thì, hành giả phải
chuyển đổi trừ đi những thứ dục câu hữu với vô minh
thành dục câu hữu với giải thóat. Vậy diệt dục ở đây
tức là diệt dục vọng, diệt những mong muốn xấu xa thấp
hèn, làm cho hành giả phải đọa vào các hàng súc sanh, địa
ngục, ngạ quỷ, chứ đâu có diệt luôn cả những dục nguyện,
những mong ước hiền thiện tốt đẹp của hành giả. Như
vậy chí nguyện, dục nguyện của hành giả về ý muốn tư
tưởng để phát khởi thiền định đạt được thần thông
là mong muốn hướng thượng giải thóat hành giả cần phải
nuôi dưỡng và nổ lực thực hành cho đến khi nào đạt được
như những mong muốn của mình mới được. Đây là pháp tu
thứ nhất của tứ thần túc.
2.
Tinh tấn thần túc, nói cho đầy đủ và chính xác hơn
thì gọi là Tinh tấn tam-ma-địa đọan hành thành tựu thần
túc (Srt: virya-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda,
Pāli: virya-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda) Thiền
định phát khởi là nhờ vào sức tinh tấn nổ lực tu tập
của hành giả. Khi hành giả đã có mong cầu ước muốn rồi
mà không có sự tinh tấn nổi lực để thực hành tu
tập thì ước muốn đó cũng thành vô dụng, chỉ có trên
lý thuyết thôi, mà trong thực tế thì là con số không. Do
đó tinh tấn nổ lực là điều kiện tất yếu để hòan thành
bổn nguyện của hành giả. Siêng năng thực hành tu tập là
nhân tố thứ hai sau mong cầu ước muốn để cho hành giả
hòan thành kết quả tốt đẹp sau này. Sự mong muốn của
chúng ta dù tốt đẹp đến đâu đi nữa mà cá nhân mỗi người
không tự nổ lực siêng năng, bền lòng vững chí tin tưởng
vào pháp tu của mình để thực tập cho mình thì, cho dù chúng
ta có hàng trăm ước muốn mong cầu tốt đẹp đi nữa, mà
không tinh cần tinh tấn nổ lực thực hành tu tập thì, những
muốn đó muôn đời cũng chỉ là ước muốn suông, cũng chỉ
là những ước muốn trên lý thuyết mà thôi.
Ở
đây, tinh tấn siêng năng nổ lực không phải chỉ là sự
hắng hái, bồng bột trong nhất thời, như ngọn lửa rơm cháy
bùng lên rồi sau đó tắt liền, mà sự tinh tấn nổ lực
ở đây phải miên mật, lúc nào cũng thực tập không bao giờ
gián đoạn. Trong kinh Di Giáo đức Đạo sư có dạy: "...Như
người dùi cây lấy lửa, cây chưa nóng đã thôi, tuy muốn
được lửa, nhưng khó thể được".
Sự
siêng tinh tấn tu tập của hành giả ở đây cũng vậy, không
nên như người dùi cây tìm lửa kia. Muốn đạt được thiền
định thì, lúc nào cũng phải siêng năng tinh tấn nổ lực
liên tục và đầy đủ mới đạt được kết quả như chúng
ta mong muốn.
3.
Tâm thần túc, nói cho đầy đủ và chính xác hơn thì
gọi là tâm tam-ma-địa đọan hành thành tựu thần túc (Srt:
citta-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda, Pāli:
citta-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda) Thiền định
phát sinh nhờ sức mạnh của tâm niệm. Một lòng chuyên nhất
trụ nương vào sức mạnh của tâm, nên định dẫn phát mà
khởi lên. Như mặt trời tia sáng chiếu khắp mọi nơi, ánh
sáng của nó bị yếu dần đi và, trở nên hòa dịu không
thiêu đốt vạn vật được. Nhưng nếu tia sáng mặt trời
kia mà qua thấu kính hội tụ thì nó có thể thành lửa thiêu
đốt bất cứ thứ vật chất nào trên thế gian này. Hay như
giòng sông lớn, nếu bị chia làm nhiều giòng chảy nhỏ thì
sức chảy của nó bị yếu đi. Trái lại, chỉ một giòng
suối nhỏ, không chảy nhiều đường, cũng đủ sức xuyên
thủng đá tảng. Hành giả tu tập cũng lại như vậy, khi tâm
mình định nhất vào một đối tượng nào đó một cách chuyên
nhất thì, vọng tâm sẽ không khởi lên được và không bị
tán loạn, khi đó không việc gì không thành tựu. Phật có
dạy trong kinh Di giáo: "Chú tâm nhất xứ vô sự bất biện:
Chú tâm vào một chỗ, không việc gì không thành".
4.
Quán thần túc, nói cho đầy đủ và chính xác hơn thì
gọi là quán tam-ma-địa đọan hành thành tựu thần túc (Srt:
vīmāṃsā-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda,
Pāli: vīmaṃsā-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda),
Thiền định phát sinh nhờ sức mạnh tư duy quán sát Phật
lý. Hành giả nương vào sức mạnh tư duy quán sát nên định
dẫn phát mà sinh khởi.
Quán
là dùng trí tuệ quán sát tư duy lý pháp mình đang tu và, nhờ
đó mà định phát sinh và, khi định đã có thì định tuệ
quân bình. Khi quán trí này do định phát sanh thì, trí này
là tịnh trí, chính vì nhờ tịnh cho nên nó có thể thông
đạt thật nghĩa của các pháp trong vũ trụ một cách như
thật. Đó là bốn pháp thần túc thông dụng mà chúng ta thường
gặp.
Ngoài
ra theo Câu xá quang ký 25 thì: “Bốn pháp này theo vị gia hạnh
mà thành lập tên thì:
1/
Dục thần túc, ở đây dục đối với vị của gia hạnh mà
khởi lên định nầy, vì nương vào sức sức mạnh của dục,
nên định dẫn phát mà khởi lên.
2/
Cần thần túc, ở đây đối với vị của gia hạnh mà siêng
năng tu tập định này, nhờ nương vào sức mạnh của siêng
năng tinh tấn nên định dẫn phát mà khởi lên.
3/
Tâm thần túc, ở đây đối với vị của gia hạnh nhất tâm
chuyên trụ, nhờ nương vào sức mạnh của tâm, nên định
dẫn phát khởi lên.
4/
Quán thần túc, ở đây đối với vị của gia hạnh, quán
sát tư duy lý, nhờ nương vào sức mạnh của quán, nên định
dẫn phát mà khởi lên.
Trong
địa vị của gia hạnh tuy có nhiều pháp, nhưng bốn pháp
này là lợi ích tối thắng. Cho nên từ bốn pháp này mà gọi
tên”.
Theo
Pháp giới thứ đệ sơ môn, phần cuối quyển trung của ngài
Trí khải Đại sư thì, ở trong Tứ niệm xứ là thật tu trí
tuệ, trong Tứ chánh cần là chính tu tinh tấn, như vậy ở
đây tuệ nhiều, định ít, nên nay phải nhiếp tâm tu bốn
loại thiền định để quân bình định tuệ, mọi sở nguyện
đạt được, cho nên gọi là như ý túc. Qua những kinh luận
trên cho chúng ta nhận thức rằng đức Đạo sư đã sắp xếp
mọi pháp có trước có sau theo thứ tự những đối tượng
dục, tinh tấn, tâm và quán làm nền tảng cho hành giả tu
tập thiền định trong việc cân bằng định tuệ và thành
tựu theo như sở nguyện của chúng ta đều được gọi là
như ý túc, vì chúng là những đối tượng để cho tất cả
mọi thứ công đức tu hành, thần lực nương vào đó mà phát
sanh, và thành tựu theo như ý muốn của hành giả. Bốn phép
nầy tuy là bốn nấc thang thứ tự theo nhau, đưa hanh giả
từ cái nhân hữu lậu mê mờ, đến cái nhân vô lậu giải
thoát. Trước hết, do thường mong muốn (dục), cho nên siêng
năng nổ lực tu tập dũng mãnh (tinh tấn); nhờ sự tinh tấn
tu tập dũng mãnh, nên phiền não được tiêu trừ, nhờ vậy
mà tâm được chuyên nhất (tâm), nhờ tâm chuyên nhất nên
quán trí được thanh tịnh (quán), để trở thành năng lực
phá tan gốc rễ vô minh. Nhưng trong thực tế khi hành giả
tu tập, chúng phải đồng lúc hiện hữu theo luật tắc duyên
khởi.