TỨ
NIỆM TRỤ
(catvāri
smṛty-upasthānāni)
Tứ
niệm trụ là hành phẩm thứ nhất trong bảy hành phẩm của
Ba mươi bảy phẩm đạo: Một là Tứ niệm trụ, hai Tứ chánh
cần, ba Tứ như ý túc, bốn Ngũ căn, năm Ngũ lực, sáu Thất
giác phần, bảy Bát chánh đạo. Ở đây, Tứ Niệm trụ Phạn
ngữ gọi là catvāri smṛty-upasthānāni, Pāli gọi là cattāro
sati-paṭṭhānāni còn gọi là tứ niệm xứ, tứ ý chỉ, tứ
chỉ niệm, tứ niệm, thân thọ tâm pháp, nghĩa là Bốn phạm
trù thân, thọ, tâm và pháp là nơi để hành giả tập trung
tâm niệm vào một trong bốn điểm này khi tu tập, với mục
đích là đề phòng và, đình chỉ những tạp niệm vọng tưởng
khởi lên. Đây là bốn loại phương pháp dùng để đạt chân
lý trong pháp môn tu hành theo kinh điển Phật giáo Nguyên thỉ
mà đức Đạo sư đã chỉ dạy.
Hành
giả lúc tu tập chỉ cần dùng tự tướng thân mình cùng những
cọng tướng khác mà quán sát thân này là bất tịnh, những
nhận lãnh (thọ) là khổ, tâm mình luôn luôn không thường
hay thay đổi, và các pháp thì luôn không có ngã nó chỉ là
một giả hợp. Vì sao hành giả phải quán sát như vậy? Vì
chúng ta luôn bị bốn pháp này chi phối làm lệch lạc tư
duy của chúng ta, nên lúc nào chúng ta cũng cho rằng thân này
là trong sạch, mọi thứ thủ đắc có được của chúng ta
đối với cuộc sống mang lại vui sướng khóai lạc hạnh
phúc, tâm của chúng ta thì lúc nào cũng vĩnh viễn thường
hằng bất biến và, các pháp giữa cuộc đời này là thật
có, là ta là của ta. Từ những tư duy cố chấp lệch lạc
như vậy đưa chúng ta đi đến những hành động tạo nhân
nghiệp sai trái đưa đến quả khổ trong sinh tử luân hồi,
nên để đối trị lại bốn thứ tà chấp điên đảo cho
rằng thân là trong sạch, thọ nhận là khoái lạc, tâm là
thường hằng, các pháp (tâm và vật) là hữu ngã, nên
đức Đạo sư đã dùng bốn pháp quán thân là bất tịnh,
thọ nhận là khổ, tâm là vô thường, pháp là vô ngã để
phá trừ bốn thứ tà chấp điên đảo trên. Ở đây, niệm
có nghĩa là chúng ta quán sát có trí tuệ (tuệ quán); trụ
chỉ bốn nơi thân, thọ, tâm và, pháp phát sinh ra bất tịnh,
khổ, vô thường, vô ngã. Khi hành giả dùng trí tuệ để
quán sát, tức là tâm niệm chúng ta có thể đình chỉ trụ
vào những chỗ này để tu tập.
Tứ
niệm trụ tức chỉ cho:
1.
Thân niệm trụ (Skrt: kāya smṛty-upasthānāni; Pāli: kaye kāyanuppassi
viharati ātāpi sampajāno satimā.) còn gọi là thân niệm xứ,
tức là quán sát tự tướng của thân là bất tịnh, nhơ nhớp,
và cùng lúc quán sát cộng tướng thân của chúng ta là vô
thường là khổ đau, là không thật, là vô ngã để đối
trị lại các bệnh chấp điên đảo cho là thanh tịnh.
2.
Thọ niệm trụ (Skrt: vedanā-smṛty-upasthāna; Pāli: vedanāsu
vedanānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā.) còn gọi là thọ
niệm xứ, tức quán sát nguyên do đối trong việc hân hoan
mong cầu hưởng lạc sẽ sinh ra ra khổ đau ngược lại, và
cũng đồng thời quán sát cộng tướng của nó là khổ đau,
không thật hữu, để đối trị bệnh chấp điên đảo cho
là lạc thú.
3.
Tâm niệm trụ (Skrt: citta-smṛty-upasthāna; Pāli: citte cittānupassi
viharati ātāpi sampajāno satimā.) còn gọi là tâm niệm xứ,
tức quán sát tâm thường mong cầu của chúng ta luôn sinh diệt
vô thường biến đổi, và quán sát mọi cộng tướng của
chúng cũng như vậy, để đối trị bệnh chấp điên đảo
cho là thường hằng vĩnh viễn.
4.
Pháp niệm trụ (Skrt: dharma-smṛty-upasthāna; Pāli: dhammesu dhammānupassi
viharati ātāpi sampajāno satima.) còn gọi là pháp niệm xứ,
tức là quán tất cả các pháp đều nương vào nhân duyên
mà sinh khởi, nên sự hiện hữu của chúng là không có tự
tánh, và tất cả những cộng tướng khác cũng được quán
sát như vậy, để đối trị bệnh chấp ngã điên đảo.
Theo
Trung A-hàm 24, (Đ. 1, tr. 582) thuộc Hán tạng thì, gọi là
kinh Niệm xứ chứ không gọi là Niệm trụ. Bốn niệm xứ
là tên gọi khác của niệm trụ. Bốn niệm xứ là quán thân
như thân, quán thọ như thọ, quán tâm như tâm và quán pháp
như pháp.
Theo
đức Đạo sư dạy thì:
Quán
thân như thân là Tỳ-kheo khi nào đi thì biết mình đang đi,
khi nào đứng thì biết mình đang đứng, khi nào ngồi thì
biết mình đang ngồi, khi nào nằm thì biết mình đang nằm,
khi nào ngủ thì biết mình đang ngủ, khi nào thức thì biết
mình đang thức, khi nào ngủ say thì biết mình đang ngủ say.
Biết
rõ chính xác khi vào khi ra, khi co khi duỗi, khi cúi khi ngẩng,
oai nghi chững chạc, khéo khoác tăng-già-lê và cầm bát; đi,
đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói năng, im lặng đều biết
rõ chính xác.
Khi
sanh niệm ác bất thiện, liền niệm điều thiện để đối
trị, đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Răng ngậm khít lại,
lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạn
trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ.
Niệm
hơi thở vào thì biết niệm hơi thở vào, niệm hơi thở ra
thì biết niệm hơi thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào
dài, thở ra dài thì biết thở ra dài. Thở vào ngắn thì biết
thở vào ngắn, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn. Học toàn
thân thở vào, học toàn thân thở ra. Học thân hành tĩnh chỉ
thở vào, học khẩu hành tĩnh chỉ thở ra.
Hỷ
lạc sinh do ly dục, thấm nhuần thân thể, phổ biến đầy
khắp; biến trong thân thể không đâu không có. Như người
hầu tắm, bỏ bột tắm đầy chậu, nước hòa thành bọt,
nước thấm vào thân, phổ biến sung mãn, không đâu không
có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc do ly dục nhuần thấm thân
thể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể, hỷ lạc
sanh nhờ ly dục không đâu không có. Tỳ-kheo có hỷ lạc
nhờ định sanh, nhuần thấm thân thể, phổ biến dầy khắp;
biến trong thân thể, hỷ lạc nhờ định sanh không đâu không
có. Cũng như suối trên núi, trong sạch không nhơ, nước từ
bốn phương chảy đến đổ vào tự nhiên, từ đáy suối,
nước tự vọt lên, chảy tràn ra ngoài, thấm ướt cả núi,
phổ biến đầy khắp, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo
có hỷ lạc nhờ định sanh thấm nhuần thân thể, phổ biến
đầy khắp; biến trong thân thể, hỷ lạc do định không đâu
không có.
Tỳ-kheo
có lạc do ly hỷ nhuần thấm thân thể, phổ biến đầy khắp;
biến trong thân thể, lạc sanh do ly hỷ không đâu không có.
Như các thứ sen xanh, hồng, đỏ, trắng sanh ra từ nước,
lớn lên trong nước, ở dưới đáy nước, rễ, hoa, lá, cọng
thảy đều thấm nhuần, phổ biến đầy khắp, không đâu
không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có lạc do ly hỷ nhuần thấm
thân thể, phổ biến đầy khắp, biến trong thân thể, lạc
do ly hỷ không đâu không có.
Tỳ-kheo
ở trong thân này được biến mãn với tâm thanh tịnh, ý giải,
thành tựu an trụ; ở trong thân này tâm thanh tịnh không đâu
không biến khắp. Như có một người trùm một cái áo rộng
bảy hoặc tám khuỷu tay, từ đầu đến chân, thì khắp cả
thân đều được phủ kín. Cũng vậy, Tỳ-kheo ở trong thân
này với tâm thanh tịnh, không đâu không có.
Tỳ-kheo
niệm quang minh tưởng, khéo thọ trì, nhớ rõ điều niệm;
như phía trước, phía sau cũng vậy; ngày cũng như đêm, đêm
cũng như ngày; dưới cũng như trên, trên cũng như dưới. Như
vậy tâm không điên đảo, tâm không bị ràng buộc, tâm tự
sáng tỏ, không khi nào còn bị bóng đen che lấp.
Tỳ-kheo
khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, như
người ngồi quán sát kẻ nằm, rồi nằm quán sát kẻ ngồi.
Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,
cũng giống như vậy.
Tỳ-kheo
tùy theo những chỗ trong thân, tùy theo tính chất tốt xấu
từ đầu đến chân quán thấy thảy đều đầy dẫy bất
tịnh: ‘Trong thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da
dày, da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già,
ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt,
mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm
dãi, nước tiểu’. Như một cái bồn chứa đủ hạt giống,
ai có mắt sáng thì thấy rõ ràng: ‘Đây là hạt lúa, hạt
gạo, kia là hạt cải, cỏ, rau’. Cũng vậy, Tỳ-kheo tùy theo
những chỗ trong thân, tùy theo tính chất tốt xấu, từ đầu
đến chân, quán thấy thảy đều đầy dẫy bất tịnh: ‘Trong
thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt,
gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già ruột non, lá lách,
dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt, mồ hôi, nước
mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm dãi, nước tiểu’.
Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,
cũng giống như vậy.
Tỳ-kheo
quán sát giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của ta có
địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới,
thức giới’. Như gã đồ tể mổ bò, lột hết bộ da, trải
lên mặt đất, phân thành sáu đoạn. Cũng vậy, Tỳ-kheo quán
các giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của ta có địa
giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức
giới’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ
điều niệm, cũng giống như vậy.
Tỳ-kheo
quán xác chết, mới chết từ một hai ngày đến sáu bảy
ngày, đang bị quạ diều bươi mổ, sài lang cấu xé, hoặc
đã hỏa thiêu, hay đã được chôn lấp, đang bị rửa nát
hư hoại. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều
có những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo
khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng
giống như vậy.
Tỳ-kheo
như từng thấy trong nghĩa địa, hài cốt xám xanh, rữa nát
gần hết, xương vải khắp đất. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân
ta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao tránh
khỏi,’ Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ
điều niệm, cũng giống như vậy.
Tỳ-kheo
như từng thấy trong nghĩa địa, da, thịt, máu, huyết tiêu
cả, chỉ còn xương dính gân. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân
ta cũng thế, đều có trường hợp này, không sao tránh khỏi’.
Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,
cũng giống như vậy.
Tỳ-kheo
như từng trong nghĩa địa thấy xương rời từng đốt, rải
rác khắp nơi, xương chân, xương đùi, xương đầu gối, xương
bắp vế, xương sống, xương vai, xương cổ, xương sọ, mỗi
thứ một nơi. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều
có những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo
khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng
giống như vậy.
Tỳ-kheo
như từng thấy trong nghĩa địa, xương trắng như vỏ ốc,
xanh như lông chim bồ câu, đỏ như màu máu, mục nát bể vụn.
Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta rồi cũng thế, đều có những
trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữ
tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như
vậy. Tỳ-kheo như vậy, những phương pháp quán trên là quán
nội thân như thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại
thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là
Tỳ-kheo quán thân như thân.
Quán
thọ như thọ là Tỳ-kheo khi thọ nhận cảm giác lạc liền
biết đang thọ nhận cảm giác lạc, khi thọ nhận cảm giác
khổ liền biết đang thọ nhận cảm giác khổ, khi thọ nhận
cảm giác không lạc không khổ liền biết đang thọ nhận
cảm giác không lạc không khổ. Khi thân thọ nhận cảm giác
lạc, thân thọ nhận cảm giác khổ, thân thọ nhận cảm giác
không lạc không khổ; khi tâm thọ nhận cảm giác lạc, tâm
thọ nhận cảm giác khổ, tâm thọ nhận cảm giác không lạc
không khổ; cảm giác lạc khi ăn, cảm giác khổ khi ăn, cảm
giác không lạc không khổ khi ăn; cảm giác lạc khi không ăn,
cảm giác khổ khi không ăn, cảm giác không lạc không khổ
khi không ăn; cảm giác lạc khi có dục, cảm giác khổ khi
có dục, cảm giác không khổ không lạc khi có dục; cảm giác
lạc khi không có dục, cảm giác khổ khi không có dục, cảm
giác không lạc không khổ khi không có dục. Tỳ-kheo như vậy,
quán nội thọ như thọ, quán ngoại thọ như thọ, lập niệm
tại thọ, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi
là Tỳ-kheo quán thọ như thọ.
Quán
tâm như tâm là Tỳ-kheo có tâm tham dục thì biết đúng như
thật có tâm tham dục, có tâm không dục thì biết đúng như
thật là có tâm không dục. Khi có sân hay không sân, có si
hay không si, có ô uế hay không ô uế, có hợp hay có tan, có
thấp hay có cao, có nhỏ hay có lớn; tụ hay không tụ, định
hay không định, giải thoát hay không giải thoát. Cũng như
vậy, có tâm giải thoát thì biết đúng như thật có tâm giải
thoát; có tâm không giải thoát thì biết đúng như thật là
có tâm không giải thoát. Tỳ-kheo như vậy, quán nội tâm như
tâm, lập niệm tại tâm, có tri, có kiến, có minh, có đạt.
Như vậy là Tỳ-kheo quán tâm như tâm.
Quán
pháp như pháp là Khi con mắt duyên sắc, sinh nội kết, nếu
Tỳ-kheo bên trong thật có kết thì biết đúng như thật là
bên trong có kết; bên trong thật không có kết thì biết đúng
như thật là bên trong không có kết. Nội kết chưa sinh, bây
giờ sinh, biết đúng như thật. Nội kết đã sinh và được
đoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúng như thật. Với
tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng giống như vậy. Khi ý duyên
pháp, sinh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có kết thì
biết đúng như thật là bên trong có kết, bên trong không có
kết thì biết đúng như thật là bên trong không có kết, nội
kết chưa sinh bây giờ sinh; biết đúng như thật nội kết
đã sinh và đã được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biết
đúng như thật.
Bên
trong thật có ái dục thì biết đúng như thật là đang có
ái dục, bên trong thật không có ái dục thì biết đúng như
thật là không có ái dục. Ái dục chưa sinh nay sinh, biết
đúng như thật. Ái dục đã sinh và đã được đoạn trừ,
không sinh lại nữa, biết đúng như thật. Với sân nhuế,
thùy miên, điệu hối và nghi cũng giống như vậy. Bên trong
thật có nghi, biết đúng như thật là đang có nghi; bên trong
thật không có nghi, biết đúng như thật là không có nghi.
Nghi chưa sinh, nay đã sinh, biết đúng như thật. Nghi đã sinh
và đã được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúng
như thật.
Bên
trong thật có niệm giác chi thì biết đúng như thật là có
niệm giác chi; bên trong thật không có niệm giác chi thì biết
đúng như thật là không có niệm giác chi. Niệm giác chi chưa
sinh nay sinh, biết đúng như thật. Niệm giác chi đã sinh thì
ghi nhớ không quên, không suy thoái, tu tập càng lúc càng tăng
trưởng, biết đúng như thật. Với trạch pháp, tinh tấn,
hỷ, khinh an, định và xả cũng giống như vậy. Bên trong thật
có xả giác chi thì biết đúng như thật là đang có xả giác
chi, bên trong thật không có xả giác chi thì biết đúng như
thật là không có xả giác chi. Xả giác chi chưa sinh nay sinh,
biết đúng như thật, xả giác chi đã sinh thì ghi nhớ không
quên, không suy thoái, tu tập càng lúc càng tăng trưởng, biết
đúng như thật. Tỳ-kheo như vậy quán nội pháp đúng như
pháp, quán ngoại pháp đúng như pháp, lập niệm tại pháp,
có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo
quán pháp như pháp, nghĩa là quán Bảy giác chi.
Nếu
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào trụ Bốn niệm xứ thì lâu nhất trong
vòng bảy năm, nhất định sẽ chứng được một trong hai
quả: hoặc chứng Cứu cánh trí ngay trong hiện tại, hoặc
chứng A-na-hàm nếu còn hữu dư. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào
luôn luôn trong từng khoảnh khắc lập tâm chánh trú nơi Bốn
niệm xứ thì nếu buổi sáng thực hành như vậy, nhất định
buổi tối liền được thăng tiến. Nếu buổi tối thực hành
như vậy, nhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tiến.
Trên
là phương pháp tu tập Bốn niệm trụ (xứ) quán được chúng
tôi tóm lược đầy đủ từ trong kinh Niệm xứ văn hệ Hán
tạng thuộc Thinh văn thừa trong Trung A-hàm mà đức Đạo sư
đã dạy cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni khi Ngài còn tại thế.
Ở đây tuy đức Đạo sư chỉ dạy cho hàng xuất gia, nhưng
hàng tại gia chúng ta cũng có thể tu tập phương pháp này,
nếu mọi người nổ lực thực hành trong miên mật thì, sự
thành công đối với chúng ta cũng không phải là chuyện khó.
Vì đây, cũng chỉ là một phương pháp thiền định của hiện
quán tự thân mỗi chúng ta đối với cuộc sống mà thôi.
Ngoài
ra, nếu chúng ta muốn tìm hiểu rộng sâu hơn nữa thì chúng
ta cũng có thể tìm hiểu và y cứ vào Câu-xá luận quyển
23 thì, pháp tu tập tứ niệm trụ lệ thuộc vào tự tướng
(tướng riêng) và cọng tướng (tướng chung) y vào thứ tự
bốn nơi thân, thọ, tâm và pháp mà quán chiếu; nhưng trong
lãnh vực này mỗi phạm trù có tự tánh riêng của chúng.
Như tự tánh của thân là bốn đại chủng sắc đã tạo ra
nó, còn cọng tướng là chỉ cho tánh cộng thông của các
pháp, tức là tánh của tất cả các pháp đều vô thường,
khổ, không, vô ngã.
Về
thể của tứ niệm trụ thì mỗi phạm trù nó có ba loại,
gọi là ba niệm trụ:
a/
Tự tánh niệm trụ, còn gọi là tự tánh niệm xứ: Là dùng
ba tuệ văn, tư, tu làm thể thường quán sát thân, thọ, tâm
và pháp.
b/
Tương tạp niệm trụ, còn gọi là cộng niệm xứ: Dùng tâm,
tâm sở cùng với tuệ đồng lúc tồn tại làm thể, ở đây
chỉ cho mọi tác dụng của tinh thần.
c/
Sở duyên niệm trụ, còn gọi là duyên niệm xứ: Lấy tuệ
làm đối tượng của sở duyên, tức chúng ta lấy bốn phạm
trù thân, thọ, tâm và pháp làm thể.
Quán
pháp của tứ niệm trụ, chúng ta có thể phân ra làm hai loại
biệt tướng và tổng tướng:
1/
Biệt tướng niệm trụ: là chỉ cho mỗi quán pháp riêng của
tứ niệm trụ.
2/
Tổng tướng niệm trụ: là chỉ cho quán pháp chung cho tứ
niệm trụ.
Hơn
nữa trong tứ niệm trụ thì, ba phạm trù trước thuộc về
tạp duyên, còn pháp niệm trụ thứ tư thì, chung cho tạp duyên
cùng không tạp duyên. Nên chỉ có quán pháp niệm trụ mới
gọi là bất tạp duyên; đối với thân, thọ, tâm và pháp
thì, hoặc là hợp duyên quán hai phạm trù, hay ba phạm trù,
hoặc hợp duyên quán chung cả bốn phạm trù thì, gọi là
tạp duyên. Ở đây hành giả nếu tu tập tạp duyên pháp niệm
trụ thì, có thể vào được vị của tứ thiện căn, tức
là hành giả đã hòan thành phàm vị của mình để bắt đầu
chuẩn bị đi vào Thánh vị của kiến đạo.
Và
cũng theo đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận quyển 10
thì, Tứ niệm trụ này chúng ta có thể theo thứ tự phối
hợp với Tứ thánh đế: Tức là thân niệm trụ kết hợp
với khổ thánh đế, thọ niệm trụ có thể kết hợp với
tập thánh đế, tâm niệm trụ có thể kết hợp với diệt
thánh đế và, pháp niệm trụ có thể kết hợp với đạo
thánh đế để quán sát trong việc thanh tu ba nghiệp thân khẩu
ý trừ khổ đạt vui trong hiện quán.
Tóm
lại, pháp quán Tứ niệm trụ, dù là Tiều thừa hay Đại
thừa trên phương pháp, tức chỉ cho sự tướng tuy có cạn
sâu, có nhanh có chậm, nhưng trên bình diện thể cứu cánh
thì cũng như nhau. Hành giả sẽ đạt được cứu cánh nếu
những những nổ lực thực hành tu tập của chúng ta luôn
đặt trên chiều miên mật trong hiện quán thì chính như đức
Đạo sư đã dạy: “Luôn luôn trong từng khoảnh khắc lập
tâm chánh trú nơi Bốn niệm xứ thì nếu buổi sáng thực
hành như vậy, nhất định buổi tối liền được thăng tiến.
Nếu buổi tối thực hành như vậy, nhất định sáng hôm sau
sẽ được thăng tiến.” Ở đây đức Đạo sư muốn nói
đến sự thăng tiến đạt đến kết quả của cứu cánh Niết-bàn
an vui giải thoát trong hiện quán.