MỤC
LỤC
Lời
mở đầu
01
Mười hai nhân duyên (dvādaśāṅgapratītya-samutpāda)
Nội
dung và ý nghĩa mười nhân duyên
Sự
liên hệ duyên khởi của mười nhân duyên
02
Bốn sự thật (catur-vidhaṃ satyam)
Sự
thật về Khổ (duḥkha-satya)
Sự
thật về Tập (samudaya-satya)
Sự
thật về Dứt khổ (Nirodha-satya)
Sự
thật về Con đường (Marga-satya)
03
Tứ niệm trụ (catvāri smṛty-upasthānāni)
04
Tứ chánh cần (Catvāri prahāṇāni)
05
Tứ thần túc (Catvāra-ṛddhipādāḥ)
06
Ngũ căn - Ngũ lực (Pañcānām indriyāṇām - Pañcānāṃ balānām
)
07
Thất giác chi (Saptabodhyaṅgāni)
08
Bát chánh đạo (āryāṣṭāṅgika-mārga)
Lời
Mở Đầu
Trong
suốt bốn mươi lăm năm thuyết giáo của đức Đạo sư, sau
khi Ngài diệt độ còn để lại cho chúng ta một gia tài pháp
ngữ đồ sộ, được các đệ tử của Ngài tuyên thuyết
độc tụng và ghi chép lại thành văn bản mãi cho đến ngày
hôm nay, chúng ta biết được qua ba tạng giáo điển của Nam
truyền và Bắc truyền thuộc hai hệ ngôn ngữ sanskrite (Hán
tạng) và Pāli (Pàli tạng). Hai tạng này hiện đang đại diện
cho Phật giáo phát triển sau này là Đại thừa và Tiểu thừa.
Những giáo pháp được đức Đạo sư nói ra không ngòai mục
đích ban vui cứu khổ đưa đến an vui Niết-bàn giải thóat,
cho dù là thiên kinh vạn quyển được triển khai từ những
lời dạy cơ bản của Ngài, nhưng ý nghĩa của chúng vẫn
không ngoài ý nghĩa của những lời dạy cơ bản từ đức
Đạo sư qua Mười hai nhân duyên, Bốn sự thật cùng Ba mươi
bảy phẩm trợ đạo. Ở đây chúng tôi cố gắng trình bày
một cách tổng hợp qua hai quan điểm Đại và Tiểu thừa
theo sự chứng đắc và ngộ giải của họ theo những chỗ
đồng dị tùy thuộc vào căn cơ nhận thức của họ mà lý
giải những giáo lý cơ bản này.
Với
thập nhị nhân duyên Ngài đã khám phá ra nguyên nhân chính
yếu của vòng tròn sinh khởi và huỷ diệt khổ đau của sinh
tử luân hồi. Theo phương pháp quán thuận nghịch, tức là
cách quán lưu chuyển và hoàn diệt của thập nhị nhân duyên.
Trong 49 ngày đêm Ngài ngồi tư duy dưới bóng cây Bồ-đề
không ngoài vấn đề này. Vấn đề sinh, lão, bệnh, tử được
Ngài đặt ra như là một tiên quyết là làm sao biết được
vấn đề con người từ đâu sinh ra? Và khi chết sẽ đi về
đâu? Đây là giáo nghĩa cơ bản của những lời dạy cơ bản
của đức Phật đối với ngoại hàm trong cách giải thích
mọi hiện tượng nhân duyên sinh khởi và biến dịch của
nhân sinh cùng vũ trụ được Ngài triển khai rộng theo thời
gian và không gian của ba đời theo luật tắc nhân quả, qua
nhận thức quán chiếu lưu chuyển và hòan diệt theo định
thức duyên khởi quán hay còn gọi là duyên sinh quán. Mười
hai chi này làm nhân và duyên vào nhau mà hiện khởi theo chiều
lưu chuyển sinh khởi hay ngược lại, làm nhân duyên cho nhau
mà biến diệt theo chiều hòan diệt trong nhận thức quán lưu
chuyển và hòan diệt.
Với
Tứ đế là giáo nghĩa cơ bản nội hàm dùng để giải thích
mọi hiện tượng nhân sinh vũ trụ được quy nạp từ thập
nhị nhân duyên, là con đường trung đạo duy nhất giải thoát
sinh tử luân hồi, là những lời dạy đại cương trên đại
thể của giáo nghĩa nguyên thỉ của đức Phật cho cả Tiều
thừa lẫn Đại thừa sau này.
Với
bốn phạm trù thân, thọ, tâm và pháp là nơi để hành giả
tập trung tâm niệm vào một trong bốn điểm này khi tu tập,
mục đích là đề phòng và, đình chỉ những tạp niệm vọng
tưởng khởi lên. Đây là bốn loại phương pháp dùng để
đạt chân lý trong pháp môn tu hành theo kinh điển Phật giáo
Nguyên thỉ mà đức Đạo sư đã chỉ dạy.
Với
bốn Chánh cần này giúp hành giả siêng năng tinh tấn (cần)
để có thể đoạn trừ (đọan) ác cùng mọi sự giải đãi
biếng nhác của chúng ta trong việc hành thiện.
Với
bốn pháp thiền định này, là bốn thứ phương tiện giúp
hành giả thành tựu các tam-ma-địa (samadhi-chánh định)
Với
năm căn là nền tảng có khả năng sản sinh và tăng thượng
các thiện nghiệp, thì năm lực chính là sức mạnh để chận
đứng, triệt tiêu các thế lực vô minh phiền não bất thiện
và, tác dụng các khả năng tăng thượng các pháp lành.
Với
bảy pháp như ý túc có khả năng làm trợ duyên trong việc
triển khai trí tuệ giác ngộ cho hành giả để đạt đến
Niết-bàn an vui giải thóat.
Và
cuối cùng là tám con đường chân chánh này là một phương
pháp chính xác để hành giả hướng đến Niết-bàn giải
thoát, là một con đường ngắn nhất đưa hành giả đến
chỗ an vui tịch tĩnh, là con đường được Đạo sư nói ra
lần đầu tiên sau khi Ngài thành Đạo tại vườn Nai cho năm
anh em Kiều Trần Như bạn tu của Ngài trước đó để tránh
xa hai thái độ sống cực đoan giữa đau khổ (khổ hạnh)
và, khoái lạc (hạnh phúc) đưa hành giả đến con đường
Trung đạo không vướng mắc hai bên.
Tóm
lại từ những pháp cơ bản này được đức Đạo sư triển
khai ra thành vô lượng pháp môn để đối trị với vô lượng
phiền não có được từ chúng sanh qua sự tạo tác của thân-khẩu-ý
để tạo thành nghiệp nhân khổ cho kết quả trong ba cõi sáu
đường. Đó chính là cách quán của lưu chuyển sinh khởi
trong luân hồi và, ngược lại là quán hòan diệt để chấm
dứt khổ sinh tử luân hồi qua những phương pháp tu tập như
những pháp mà đức Đạo sư đã dạy như trên, đó gọi là
tu hòan diệt quán; chúng cũng chính là con đường Trung đạo
ngắn nhất để đưa hành giả đạt đến giải thóat mọi
trói buộc khổ đau được mọi sự an vui trong cuộc sống
qua trạng thái Niết-bàn vắng lặng.
Trọng
Thu 2006
Thích
Đức Thắng