20.
Thế nào là chơn hạnh phúc
Một
thời Đức Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ). Trong rừng Kỳ-đà
(Jetavana), vườn của ông Cấp-cô-độc (Anathapindika). Có một
thiên nhân, khi đêm gần tàn, với dung sắc thù thắng chiếu
khắp rừng Kỳ-đà, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, kính lễ
Thế Tôn, rồi đứng một bên, thiên nhân ấy nói lên bài
kệ trước Thế Tôn:
Chư
Thiên và loài người
Suy
nghĩ về hạnh phúc
Ước
mong được hạnh phúc
Chân
hạnh phúc là gì?
Thế
Tôn đáp kệ rằng:
Không
thân cận kẻ ác
Bậc
hiền trí phải gần
Cung
kính người đáng kính
Ấy
là chơn hạnh phúc
*
Chọn
nơi lành mà ở
Đời
trước đã tạo phước
Nay
giữ lòng thẳng ngay
Ấy
là chơn hạnh phúc
*
Hiểu
rộng và khéo tay
Giữ
tròn các giới luật
Nói
những lời hòa ái
Ấy
là chơn hạnh phúc
*
Hiếu
dưỡng mẹ và cha
Săn
sóc vợ và con
Không
vương vấn phiền hà
Ấy
là chơn hạnh phúc
*
Biết
cho và sống đúng
Giúp
đỡ người và con
Hành
động không chê trách
Ấy
là chơn hạnh phúc
*
Ngăn
trừ điều xấu ác
Dứt
bỏ thói rượu chè
Chuyên
cần trong Chánh đạo
Ấy
là chơn hạnh phúc.
*
Kính
nhường và khiêm tốn
Biết
đủ và nhớ ơn
Tuỳ
thời học đạo lý
Ấy
là chơn hạnh phúc.
*
Nhẫn
nhục dâng ý lành
Viếng
thăm bậc tu hành
Tùy
thời bàn luận đạo
Ấy
là chơn hạnh phúc.
*
Trong
sạch và siêng năng
Suốt
thông các đạo lý
Thật
hiện vui Niết-bàn
Ấy
là chơn hạnh phúc.
*
Như
thế là tu hành
Việc
gì cũng thành tựu
Ở
đâu cũng an lành
Thảy
là chơn hạnh phúc.
*
Đây
là một bài kinh mà Đức Phật dạy cho một vị Thiên nhân,
nữa đêm với hào quang chiếu sáng của thân thể, toả sáng
vườn Kỳ-Viên là nơi có tịnh xá cho đứ xá cho Đức Phật
trú, đảnh lễ Phật, rồi xin ngài dạy cho sống như thế
nào để được chân hạnh phúc mà chư Thiên cũng như loài
người đều mong mỏi.
Tựa
đề bài kinh là Maha Mangala Sutta, dịch là kinh Chân Hạnh Phúc,
là điềm lành hay phúc lợi cao cả nhất. Vì động từ căn
bản nó là Man, có nghĩa là hạnh phúc và cũng có thể gọi
là điều lành cao tột. Đặc biệt ở bài kinh này không cho
các thầy Tỳ-kheo làm hội chúng mà chỉ có một mình Đức
Phật và một thiên nhân, người đến hỏi về hạnh phúc
chân thật. Người đời thường nghe nói đến hạnh phúc,
đến an lạc hay an lành thì họ nghĩ đến là vấn đề không
bao giờ sờ mó tới, đạt tới vì nó cao siêu xa vời quá.
Nhưng trong bài kinh này Phật dạy cho chúng ta biết những cái
an lành, hạnh phúc chúng ta có thể đạt được bằng cách
thực hiện ngay trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Vì
thế, quan niệm hạnh phúc của đạo Phật rất giản dị tìm
thấy ngay trong hiện tại như trong bài kinh "Nhất dạ hiền
giả" nói:
Quá
khứ không truy tìm
Tương
lai không ước vọng
Quá
khứ đã đoạn tận
Tương
lai lại chưa đến
*
Chỉ
có pháp hiện tại
Tuệ
quán chính ở đây
Không
động không rung chuyển
Biết
vậy nên tu tập
*
Hôm
nay nhiệt tâm làm
Ai
biết chết ngày mai
Không
ai điều đình được
Với
đại quân thần chết
*
Trú
như vậy nhiệt tâm
Đêm
ngày không mệt mỏi
Xứng
gọi Nhất dạ hiền
Bậc
an tịnh trầm lặng.
Đây
là sự khắc khoải, ưu tư của những người thường nghĩ
đến vấn đề gọi là hạnh phúc của loài người do một
vị trời hỏi. Trời theo chúng ta nghĩ cũng chỉ là một loại
chúng sanh thông minh hơn chúng ta, sống lâu hơn, hạnh phúc
hơn chúng ta nhưng cũng nằm trong vòng sống chết, vì thế
chúng ta có một quan niệm về trời khác với các đạo khác
là vậy. Trong kinh điển dịch chữ chư Thiên từ nơi tiếng
Phạn là Deva, Tây phương dịch là Dieu. Do vậy, quan niệm của
chúng ta về chư Thiên khác với Tây phương về Dieu. Vị trời
đó hỏi: chúng con là chư Thiên và tất cả loài người suy
nghĩ về hạnh phúc và luôn luôn ước mong được hạnh phúc,
nhưng chúng con không biết hạnh phúc là gì, mong Thế tôn dạy
cho chúng con biết, quan niệm của đức Thế Tôn về hạnh
phúc như thế nào? Thay vì đáp hạnh phúc như thế này, thế
kia, thì Đức Phật chỉ ngay vào cái hành động cụ thể đưa
lại đưa lại hạnh phúc ngay trong khi ta hành động
I.
Trước
khi vào nội dung của Kinh, tôi tóm tắt sơ lược nhân danh,
địa danh nơi Đức Phật ở và nói kinh này, đó là Xá-vệ
(Savatthi), rừng Kỳ-đà (Jeta), vườn Cấp- cô-độc (Anathapindika)
và bà Visakha cùng một vài vấn đề khác liên quan đến bài
kinh này.
Trước
hết tôi nói về thành Xá-vệ.
- Thành
Xá-vệ: Trong Di-đà sớ sao có cắt nghĩa:
Xá-vệ
tiếng Phạn gọi là Thất-la-phiệt-tất-để, Trung Hoa dịch
là Văn vật, tức là lấy đức đặt tên, cũng gọi là Văn
già, tức là lấy người đặt tên. Sở dỉ gọi là đức
vì nước này giàu có, gồm 4 đức. Một, Trần đức, tức
là trong cảnh 5 trần có nhiều thứ mỹ lệ. Hai, Tài đức,
tức nước này không thiếu các thứ báu kiếm lạ. Ba, Thánh
đức, tức ở đây đầy đủ 3 tạng Thánh pháp, Bốn, Giải
thoát đức vì ở đây có nhiều người giải thoát không bị
dục nhiễm. Do tiếng khen vang động khắp 5 xứ Thiên trúc
mọi người đều nghe, nên gọi là Văn vật. Còn nói lấy
người đặt tên là nước này có nhiều người có đức,
được quí trọng.
- Cây
của Thái tử Kỳ-đà, vườn của ông Cấp-cô- độc:
* Kỳ-đà
tiếng Phạn gọi là Thệ-đa. Nói Kỳ là nói vắn tắt. Kỳ
là dịch là Thiên Thắng. Chữ Cấp-cô biểu thị đạo đức.
Cấp-cô là tên ông Tu-đạt-đa . Chữ vườn ở đây theo tiếng
Phạn Tăng-già-lam-ma, dịch là chúng viên, là vườn nơi chúng
Tăng ở. Sở dỉ có tên như thế này là vì do Kỳ-đà (Jeta)
cúng thí cây và Cấp-cô (Anathapindika) mua đất làm vườn,
gộp cả hai thí chủ nên gọi là vườn Kỳ-đà thọ Cấp-cô-độc.
* Kỳ-đà
còn gọi là chiến thắng là vì khi vua Ba-Tư-nặc sinh thái
tử, nhà vua đang giao chiến với nước ngoài được thắng
trận, do đó vui mừng đặt tên cho Thái tử.
* Cấp-
Cô-độc tiếng Phạn gọi là Tu-đạt-đa, dịch là Nhạo thí.
Ông là đại thần của vị vua thắng trận là người ưa làm
việc bố thí nên được tên tốt như vậy. Chữ Cấp-cô-độc
có nghĩa từ nhỏ đã mất cha, già không con là độc. Ở đây
gọi Cô độc là chỉ vào những người không ai nuôi dưỡng,
không nơi nương tựa.
Riêng
hai chữ cô độc, như Khổng Tử nói: Quân tử ra ơn khắp
giúp kẻ ngặt. Mạnh tử nói: Văn vương làm chánh trị ở
ấp Kỳ trước lo giúp đở kẻ mồ côi . Hai người đều
đem lòng từ thiện phổ cập ra dân chúng, nhưng việc hoãn
làm sau, việc gấp làm trước.
* Nơi
chúng Tăng ở gọi là vườn, ví người học đạo cần phải
ở nơi rừng cây bóng mát thanh tịnh vắng vẻ.
Người
thí cây, kẻ cúng vườn, tức như kinh Niết-bàn nói: Trưởng
giả Tu Đạt, người nước Xá-vệ, trước đó chưa biết
Phật, nhân dịp cưới vợ vào thành Vương Xá đến nhà San-đà-na
thấy Phật liền sanh lòng tin bèn thỉnh Phật về Xá-vệ.
Phật sai ngài Thân tử đến nơi chọn chỗ cho chúng tăng ở,
tìm được khu vườn của Thái tử Kỳ-đà. Trưởng giả hỏi
giá mua. Thái tử trả lời đùa rằng: Trải vàng khắp mặt
đất là giá bán. Trưởng giả đem vàng trải. Thái tử cảm
kích liền bán chỗ đất ấy đông thời cúng luôn số cây
trong vườn. Nhân đó lập tịnh xá. Vì Trưởng giả và Thái
tử, cả hai đều làm chuyện tốt này, nên vườn tịnh xá
được nêu tên cả hai người.
Trong
cuốn "Đường về xứ Phật" của Hòa thượng Minh-Châu, Thiện-Châu,
Huyền-Vi và Passadika du học ở Ấn-Độ có viết:
Kỳ-Viên
nay là một khu vườn rộng độ 50 mẩu tây, nổi lên giữa
cánh đồng lúa vàng bát ngát, cách kinh thành Xá-vệ cũ hai
cây số.
Lúc
bấy giờ Thế Tôn ở tại Vương-xá, ông Cấp-cô-độc (Anathapindika),
người hay giúp đở cho kẻ nghèo khó, một triệu phú và đã
có Tôn giáo, nghe danh Ngài, từ Xá-vệ lặn lội đến xin yết
kiến đức Thế Tôn. Ông vào Trúc Lâm đảnh lễ Phật và
cúng dường Chư Tăng. Đức Phật húa sẽ đến thăm ông tại
Xá-vệ.
Về
đến nhà,ông Cấp-cô-độc liền tìm một nơi xứng đáng
để đón rước Đức Phật. Vườn ông rộng nhưng không đẹp.
Trong thành chỉ có một hoa viên rộng và đẹp nhất nhưng
lại là sở hữu của Thái tử Kỳ-đà (Jeta). Ông đánh liều
đến hỏi mua. Thái tử không bán. Ông nài nỉ mãi, Thái tử
cười và trả lời:
- Tôi
sẽ bán nếu ông lát vàng khắp khu vườn.
Ông
Cấp-cô-độc bằng lòng mua một cách sung sướng và trở về
cho người nhà mang vàng đến lát. Còn một khoảng đất chưa
được lát xong, nhưng vì cảm mến đạo tâm quý báu của
ông Cấp-cô-độc nên Thái tử bảo: Thôi đừng lát nữa,
tôi chỉ lấy một nửa số vàng và xin cúng tất cả cây cối
trong vườn cho Đức Phật.
Tìm
được nơi rồi, ông Cấp-cô-độc cho người thân tín sang
thành Vương Xá thỉnh Phật. Vài ngày sau, ông cùng gia đình
và rất nhiều người tai mắt trong thành ra đón rước và
thỉnh Phật về Kỳ-Viên. Ông dâng cúng khu vườn cho Phật
và Chư Tăng làm nơi thường trú. Để kỷ-niệm đạo tâm
của hai thí chủ, Đức Phật đặt tên hoa viên này là Kỳ-thọ
Cấp-cô-độc viên (Jetavana Anathapindikarama)
Trên
vườn Kỳ-đà này có một hồ nước mà ngày xưa Đức Phật
và Chư Tăng thường hay đến tắm. Giếng nước đó khi chúng
tôi đến thăm nước vẫn còn trong mát. Tại nơi đây một
hôm, các thầy Tỳ- kheo được mời đi thọ trai nơi khác,
chỉ còn lại một mình Đức Phật ở lại tinh xá. Lúc bấy
giờ Phật đang ngồi trong Thiền thất, nghe có tiếng kêu la
ở dưới. Phật liền đi xuống và thấy một vị Tỳ-kheo
đang nằm rên la lẫn lộn trong đồ dơ của đại tiểu tiện.
Hỏi ra thì vị này đang bị bệnh thổ tả. Đức Phật mới
ra cái giếng nước đó múc nước vào và tắm rửa cho vị
Tỳ-kheo. Sáng hôm sau, Đức Phật cho gọi các vị Tỳ-kheo
lại và dạy: Nếu ai muốn hầu hạ Như Lai thì hãy chăm sóc
những người bệnh. Câu nói đó có liên quan đến giếng nước
và cũng thắm đượm tình nghĩa thầy trò. Nơi đây còn có
một cái bệ, chính chỗ này Đức Phật thường hay ngồi để
thuyết pháp. Và bên cạnh còn có một cái tháp, chính chỗ
này là hương phòng của Đức Phật ở. Phòng này hướng mặt
về giếng nước và khi mặt trời mọc thì ánh sáng lan tỏa
khắp vùng, trong đó có hương phòng của Ngài. Cái tháp này
là để kỷ niệm nơi Đức Phật thuyết bài kinh Chơn hạnh
phúc.
Sự
tích này được khắc vào Bharhut trong thế kỷ thứ hai Tây
lịch và Đức Phật đã nói cảm tưởng của Ngài đối với
tòng lâm này như sau:
"Huê
viên này là nơi thường trú tốt nhất của Như lai và Chư
Tăng. Chư Tăng được sống yên ổn nơi đây vì khí hậu không
nóng quá và lạnh quá. Thú dữ không vào đây dược. Muỗi
mòng không có nên sự tỉnh lặng được hoàn toàn Huê viên
này chế ngự được mưa to gió lạnh và nắng khô. Nó gây
hứng cho niềm đạo niệm và Chúng Tăng có thể thiền định
từ giờ này qua giờ khác một cách dễ dàng, nó thật xứng
đáng làm lễ vật cúng dường cho Tăng già. Người cư sĩ
bận tâm cúng dường Chư Tăng phòng xá, y thực. Bổn phận
Chư Tăng là phải dạy bảo cư sĩ Chánh pháp và người nào
thông ngộ Chánh pháp sẽ được giải thoát ác đạo và chứng
đại Niết-bàn."
Từ
đó Đức Phật và Chư Tăng thường trú tại Hoa viên này.
Gia đình ông Cấp-cô-độc hằng ngày hoan hỉ cúng dường
tứ sự cho Chư Tăng. Nhưng một hôm ý nghĩa tốt đẹp và
rộng rải sau đây đã đến với ông: "Ta sung sướng vì ta
có thiện duyên được cúng dường Phật và Chư Tăng. Ta sẽ
được gặt hái phước quả trong đời này và đời sau. Nhưng
tại sau chỉ có mình ta và gia đình ta được hưởng công
đức ấy? Không được! Ta phải chia xẻ công đức cho kẻ
khác. Ta sẽ kêu gọi đạo tâm của nhiều người, để họ
cùng hưởng được công đức như ta."
Ông
liền vào yết kiến vua Ba-tư-nặc (Parsenajit) và trình bày
những điều ông nghĩ. Vốn là vị vua minh quân, hơn nữa vì
kiêng nể ông Cấp-cô-độc, một ân nhân đã ủng hộ nhiều
ngân quỹ quốc gia, vua liền chấp thuận. Trong 7 ngày liên
tiếp, ông đi khắp các nẻo đường bắn tin cho dân chúng
biết hiện có Đức Phật và Chư Tăng đang ở Kỳ-Viên và
kêu gọi họ đến nghe Pháp và cúng dường để góp phần
công đức. Trong số người hưởng ứng có hai tín nữ đáng
ghi nhớ hơn hết là một cô gái nghèo nhất Xá vệ và bà
Visakha (Tỳ-xá-khư) giàu không kém gì ông Cấp-cô-độc.
- Cô
gái nghèo: Cô này vì kính mộ Đức Phật va mến trọng cử
chỉ khiêm nhường chân thành của ông Cấp-cô-độc, đã dâng
cúng chiếc áo duy nhất của mình. Sau khi biết được đạo
tâm của cô này, ông Cấp-cô-độc cho người đem đến biếu
cô rất nhiều chiếc áo đẹp khác. Nhưng qua hôm sau cô đã
từ trần và được sanh lên cõi trời Đế Thích. Nhớ lại
tiền kiếp, cô đã xuống nghe Đức Phật thuyết pháp tại
Kỳ-Viên.
- Bà
Visakha: Bà là người giàu có rất đông con cháu, cũng đã
trở thành Phật tử hộ trì Chánh pháp một cách đắc lực.
Một hôm, sau khi Đức Phật và Chư Tăng thọ trai tại nhà
bà, bà xin Đức Phật cho phép bà đượ toại nguyện trong
8 điều:
Cúng
dường y trong mùa mưa (ngoài ba y) cho các thầy Tỳ-kheo.
Cúng
dường thực phẩm cho các vị Tỳ-kheo mới đến.
Cúng
dường thực phẩm cho các vị Tỳ-kheo đi xa.
Cúng
dường thực phẩm cho các vị Tỳ-kheo bị bệnh.
Cúng
dường thực phẩm cho những người nuôi các vị Tỳ-kheo bị
bệnh.
Cúng
dường thuốc men cho các thầy Tỳ-kheo bệnh.
Cúng
dường cháu sửa buổi mai cho Chư Tăng.
Cúng
dường y tắm cho các Tỳ- kheo- ni.
Đức
Phật hứa khả sau khi nghe bà giải thích đầy đủ lý do về
sự cúng dường ấy. Ngày dạy: "lành thay, lành thay, Visakha.
Người đã khéo xin Như Lai 8 điều trên với những lý do rất
xác đáng và lợi ích. Cúng dường cho những người đáng
cúng dường, chẳng khác nào gieo giống trên đát tốt và như
vậy sẽ gặt hái được nhiều kết quả. Trái lại cúng dường
những kẽ thiếu đạo đức, còn mang nặng dục vọng chẳng
khác gì gieo giống trên đất xấu. Nắng dục vọng của người
thọ lãnh làm khô chết giống công đức của người cúng
dường..."
Chính
Đức Phật đã tán thán bà như sau: "Người đệ tử chân
thành của Như Lai luôn luôn hoan hỷ và không chút hối tiếc
trong lúc cúng dường bất cứ một vật phẩm nào. Do đó u
sầu tiêu sạch, công đức phát sinh. Đời sống phước lạc
này giúp ngươi bước lên con đường giải thoát, vượt trên
những sự triền phược và bất tịnh của con người. Sự
hướng thiện ấy sẽ làm cho ngươi có hạnh phúc và an lạc
trong công việc từ thiện."
Ngôi
tịnh xá Purarama ở về phía đông Kỳ-Viên là của bà Visakha
dâng cúng cho Phật gọi là Lộc mẫu giảng đường. Bà là
tín đồ thuần thành, có uy tín nhất trong vùng. Tín nữ ở
Xá vệ ai ai cũng ủng hộ và chịu sự lảnh đạo của bà.
Bà hết lòng ủng hộ cho Chư Tăng Ni và làm từ thiện cho
người nghèo khó.
II.
Bây
giờ chúng ta tìm hiểu và học hỏi nội dung bài kinh vi diệu
này của đức Thế Tôn:
Trước
hết, chúng ta thấy tất cả chư Thiên, mặc dù có thân thể
sáng chói, có đời sống tốt đẹp, an lạc hơn nhiều, thọ
mạng lâu dài cả hàng ngàn năm so với loài người. Thế nhưng,
chư Thiên cũng đang ở trong vòng sanh tử luân hồi, cũng còn
phiền não nghiệp chướng cho nên chư Thiên cũng chưa được
chơn hạnh phúc. Vì vậy mà vị chư Thiên này xin Phật giảng
dạy cho chơn hạnh phúc, là cái hạnh phúc thật sự là như
thế nào?
Thường
thường chúng ta ai cũng mong có hạnh phúc. Vậy hạnh phúc
là gì? Hạnh phúc là những điều vui thích, những điều an
lạc gọi là hạnh phúc. Nếu không có an lạc vui thích thì
dù ở đâu cũng cãm thấy thiếu hạnh phúc. Thế gian người
ta thường nghĩ rằng: Có tiền thì mới có hạnh phúc. Có
chức vị quyền cao nói đau người ta nghe nấy,phục tùng theo
nấy mới là hạnh phúc. Thiếu những tính đó coi như không
có hạnh phúc. Hạnh phúc đó của thế gian cũng chỉ là hạnh
phúc tạm bợ, tương đối nhỏ nhoi nhất thời mà thôi. Bởi
cho có vàng là hạnh phúc, thì chưa chắc vàng đó đã tạo
ra hạnh phúc. Chưa có vàng thì mong cho có, có vàng rồi thì
đâm ra lo, vì tiếp đó là bao nhiêu sự lo âu khổ sở, dính
theo với cái vàng đó. Có người vì vàng mà bị trấn lột,
bị cướp giật, giết hại. Như vậy vàng chưa chắc đã đem
lại hạnh phúc thật sự cho con người. Nói vàng như vậy
là để suy ra: Nhà cửa, ruộng vườn, tất cả những thứ
gì từ bên ngoài đưa vào, nó chỉ đem lại cái hạnh phúc
an vui nhất thời chứ không phải là thứ hạnh phúc chơn thật.
Trái lại, cái hạnh phúc nào chính từ trong bản thân của
mình tạo ra, tự bên trong đưa ra thì hạnh phúc đó mới là
chân thật. Vui nào chính tự trong mình gây dựng nên cái vui
đó mới là cái vui chân thật. Bởi cái vui đó nó không tùy
thuộc bên ngoài, nó không tùy thuộc chức tước, địa vị
vật chất bên ngoài, cái vui đó mới là cái vui chân thật,
vĩnh cửu vì tự tâm mình tạo lấy.
Tất
cả mọi sự đều vô thường và dù sự vật gì có bền chắc
đi nữa cũng đều vô thường, cho đến nhà cửa, chức tước
cũng vô thường, Những thứ vô thường thì không thể đem
lại cái hạnh phúc chơn thường được. Nên muốn tìm hạnh
phúc chơn thường thì phải tìm tự chính nơi bản thân mình,
tìm tự nơi cái tâm mình. Vì vậy Đức Phật đã dạy cho
vị chư Thiên đó bài kinh Chơn hạnh phúc. Ngẫm nghĩ về bài
kinh này, chúng ta thấy có một điều rất thiết thực. Nếu
học tập và thực hành theo đó, chúng ta sẽ có hạnh phúc:
Hạnh phúc trong từng ngày, từng giờ, từng tháng, từng năm.
Khi nào chúng ta thực hành được lời Đức Phật dạy thì
chính giờ phút đó chúng ta sống trong hạnh phúc.
Năm
1960 có ông Hội trưởng Hội Thông Thiên học, người Anh.
Đạo Thông Thiên học này lấy một phần giáo lý của Phật
giáo và một phần của Ấn giáo hòa trộn lại, tạo ra Thông
Thiên học, một tổ chức có tính cách quốc tế, ông này
đến Việt Nam và đến thăm tôi, nói rằng thầy cho tôi hỏi
một câu. Tôi nói ông cứ hỏi. Ông nói: Đạo Phật nói về
vô ngã rồi đạo Phật cũng nói nhập Niết-bàn, như vậy
thì vô ngã là không ta, không ta thì ai vào Niết-bàn? Tôi nói
rằng: Hỏi như vậy tức là ông chưa hiểu chi lý vô ngã và
cũng chưa hiểu gì lý Niết-bàn. Vô ngã giờ phút nào là Niết-bàn
giờ phút đó, chứ không nhập không xuất gì hết. Hữu ngã
giờ phút nào là sanh tử luân hồi giờ phút đó. Nếu tâm
ta vọng tưởng, tâm ta chấp ngã, chấp nhơn thì chính trong
giờ phút đó, ngay trong tâm niệm đó đã có luân hồi, và
luân hồi ngay trong vọng tưởng chấp ngã chứ không phải
đợi chết rồi mới luân hồi. Nếu mai kia ta không có tâm
chấp ngã, thì cũng không có luân hồi. Vậy thì Niết-bàn
không phải đâu xa lạ, không phải một cái nào đó từ ngoài
đưa tới mà Phật chỉ cái Niết-bàn đó ngay tự trong tâm
ta, tự trong cái tâm vô ngã của chúng ta. Giờ phút nào tâm
chúng ta vô ngã tức là tâm chúng ta không còn dính dáng gì
cái chấp ngã, chấp nhơn, chấp chúng sanh, thọ giả, không
còn dinh dáng gì đến tham, sân, si, phiền não, tật đố. Chính
giờ phút đó là giờ phút an lạc nhất. Giờ phút an lạc
nhất tức là giờ phút Niết-bàn. Như vậy Niết-bàn là cái
trạng thái an lạc của tâm hồn. Khi tâm hồn ta không vướng
bận phiền não, lo âu, không vướng bận bất cứ mộit cái
gì về ngã nhơn tức giờ phút đó tạm ta an lạc mãi. An lạc
đó chính là Niết-bàn. Niết-bàn tức là chơn hạnh phúc,
chứ không gì khác hơn.
Bài
kinh Chơn hạnh phúc này Phật dạy cũng như vậy. Ngài không
nói rằng hãy làm cho có nhiều vàng mới là chơn hạnh phúc,
làm cho có nhiều nhà cửa mới là chơn hạnh phúc, làm quan
to chức lớn mới có chơn hạnh phúc... Ngài chỉ dạy ta muốn
có dược chơn hạnh phúc thì:
Không
thân cận kẽ ác
Bậc
hiền trí phải gần
Cung
kính người đáng kính
Ấy
là chơn hạnh phúc.
Ở
đoạn kệ này chúng ta chú ý ba cụm từ: không thân kẽ ác,
gần kẻ hiền trí, kính người đáng kính. Vậy thế nào là:
Không
thân cận kẻ ác
Bậc
hiền trí phải gần?
Gần
kẻ ác thì mình sẽ bị quả ác theo, gần bậc hiền trí thì
mình được hiền trí theo. Đó là điều Đức Phật đã dạy
rõ-ràng trong kinh Pháp Cú: "Nếu không gặp được người hơn
mình để kết bạn thì thà sống một mình còn hơn là kết
bạn với người ngu."
Được
người hơn mình kết bạn thì mình sẽ được thăng hoa, được
ngang mình kết bạn thì mình được sách tấn, nếu kết bạn
vối người thua mình thì mình chỉ thua theo với họ mà thôi.
Thà rằng sống một mình còn hơn kết bạn với người ngu.
Người
ngu đây không có nghĩa là người u mê dốt nát, mà là người
sống trong tham vọng, sống trong điên đảo, mê lầm, tật
đố. Chính những điểm đó làm cho con người trở thành phàm
phu. Mà gần với phàm phu thì mình cũng trở thành phàm phu,
gần với bạn xấu sẽ trở thành xấu. Tục ngữ có câu:
"Gần mực thì đen gần đèn thì sáng", cho nên chọn bạn mà
thân cận là một điều hết sức quan trọng.
Ngày
xưa, có một ông vua nọ mua về một con ngựa rất tốt, ông
ra lệnh thuê một người giữ ngựa thật giỏi. Con ngựa ông
mua về đang khoẻ đang tốt như vậy, nhưng không biết vì
lý do gì vài hôm sau con ngựa đi cà nhắc. Có người báo lên
vua biết và nói: Con ngựa của ngài khoẻ mạnh, đẹp đẽ
như vậy nhưng không biết sau bữa nay nó lại đi cà nhắc?
Vua biểu người nài dắt ngựa tới coi thì thấy nó đi cà
nhắc thật. Vua cho người đi mời thầy thuốc về chữa. Thầy
thuốc nào đến chữa cũng không biết nó mắc bệnh gì, khi
hỏi thì họ nói nó ăn cũng được, ngủ cũng được, không
thấy có biểu hiện gì đáng nghi, sai chi làm nấy, bảo chi
nghe nấy, nhưng không biết con ngựa tại sao lại đi cà nhắc?
Không có thấy thuốc nào chữa được bệnh của con ngựa
này cả vì tìm không ra bệnh để kê toa.
Tiền
thân Đức Phật là một vị Bồ tát trí tuệ hơn người.
Người ta nghe đồn ngài ở trên núi đó nhưng cái gì ngài
cũng biết hết, chắc chắn mời được ngài về thì ngài
sẽ chẫn đoán được bệnh của con ngựa này. Có người
tâu vua, vua cho mời ngài về để trị bệnh cho con ngựa. Khi
mời ngài về thì việc đầu tiên là ngài đến quan sát hỏi
thăm những người chăm sóc ngựa. Mới đầu ngài cũng chưa
tìm ra bệnh, nên chưa có cách chữa. Ngài nghĩ chắc gặp anh
nài thì sẽ rõ hơn và thế là ngài cho đòi anh nài lên gặp
ngài. Đến khi anh giữ ngựa lên thì ngài thấy anh đi chân
cà nhắc. Thấy vậy ngài đoán: À, té ra con ngựa này đi cà
nhắc vì bắt chước chủ của nó đi cà nhắc. Anh này đi
cà nhắc là vì anh thường kêu ngựa làm chuyện này chuyện
kia, anh đi cà nhắc, con ngựa cứ ngỡ anh nài biểu nó đi
cà nhắc nên nó cũng đi cà nhắc. Vì anh nài đi cà nhắc nên
ngựa cũng đi cà nhắc.
Nếu
chúng ta sống gần người đi cà nhắc, e một ngày nào đó
chúng ta cũng sẽ đi cà nhắc. Cà nhắc ở đây là u mê, điên
đảo, xấu xa, bần tiện v .v... tức là những cái không ngay
thẳng, không chính đáng nên gọi là cà nhắc. Con ngựa ở
gần một anh đi cà nhắc nên nó cũng bắt chứơc đi cà nhắc.
Vậy cho biết thân cận với bạn là quan trọng vô cùng.
Vì
thế Đức Phật dạy: Muốn được hạnh phúc thì phai xa bạn
ác, gần bạn lành thì chân mới khỏi đi cà nhắc được.
"Cung
kính người đáng kính". Điều này rất quan trọng. Người
nào là người đáng kính? Người đáng kính là người có
đức, người có trí tuệ, người có hành động chân chính,
người biết ăn nói lời của hiền triết, người có tagm
rộng rãi, có tâm từ bi hỷ xả. Chúng ta phải phân biệt
ai là người có đức độ, và tập tính của họ như thế
nào đó để chúng ta biết người đó đã chứng, chứ khônh
phải người ăn mặc đẹp, tốt con, cao ráo, sạch sẽ mà
kêu là người đáng kính. Ở đời ai ta cũng đáng kính hết,
nhưng kính đó là cách xã giao thông thường, không oán khinh
ai, ai cũng kính hết, nhưng kính đó là kính bình thường.
Và đây là kính để làm thầy, để học hỏi, kính noi theo,
tất nhiên ta phải kính người nào mà có tâm từ bi, có trí
tuệ, rộng rãi, ăn nói chân chính, có hành động ngay thẳng,
không tham. Những người như vậy là người đáng kính, kính
như vậy sẽ đem lại chơn hạnh phúc cho mình và cho người.
Chọn
nơi lành mà ở
Đời
trước đã tạo phước
Nay
giữ lòng thẳng ngay
Ấy
là chơn hạnh phúc.
Chọn
nơi lành để ở cũng là một cách gần gũi chỗ ở. Ở đoạn
trên trên nói gần gủi bạn lành thì ở đay nói gần gũi
chỗ ở. Nếu nhà bạn ở gần lò sát sanh thì lâu ngày cũng
nhiễm theo tính hiếu sát. Ở gần xóm đánh bạc lâu ngày
cũng sẽ nhiễm tánh cờ gian bạc lận. Ở gần xóm hay gây
lộn, chửi lộn thì cũng sẽ nhiễm tánh nóng nảy hay gây
sự chửi bới tục tằng.
Ngày
xưa bà mẹ của ông Mạnh Tử bên Trung Hoa là một vị Á thánh.
Bà ta đã dời chỗ ở của con hai ba lần. Lần thứ nhất
bà ta ở bên lò mổ heo nên cả ngày đêm cứ nghe heo kêu en
éc trước khi chết. Nghe heo kêu, Mạnh Tử còn bé hỏi: Con
chi kêu rứa mẹ? Bà nói con heo, họ đang mổ heo con ạ. Họ
mổ heo để làm gì hả mẹ? Bà trả lời: Họ làm heo để
cho con ăn. Bà nói lở lời như vậy, nhưng sau bà nghĩ: Mình
nói láo với con thì sợ sau này con mình cũng sẽ nhiễm thói
nói láo chăng? Cho nên bà ra chợ mua thịt heo về nấu cho con
ăn. Từ đó bà biết rằng mình ở bên lò sát sanh thì khi
con nó nghe tiếng heo kêu ét ét như vậy, sợ khi lớn lên nó
cũng kêu et et thì nguy hiễm quá, nên bà ta phải dời nhà đi
ở chỗ khác để con mình không nhiễm tính sát.
Bà
dời đến một xóm mới nhưng xóm đó có nhiều người hay
gây gổ đánh lộn, sợ con mình bắt chước theo nên bà lại
dời đi một chỗ khác. May thay, nơi này lại gần một trường
học. Nhờ ở gần trường nên con bà được huân tập sự
học hành của nhà trường, thầy trò vô lớp và ra đường
toàn nói chữ nghĩa thánh hiền, con bà bắt chước học theo
nên sau này đã trở thành một vị Á thánh mà Trung Hoa gọi
là đạo lý Khổng Mạnh tức Khổng Tử và Mạnh Tử, đó
là hai bậc Thánh (một bậc thánh và một bậc á thánh) của
đạo Nho. Công lao nuôi dạy con thành người chính là mẹ ngày
khéo dạy cho người bằng cách chọn chỗ ở mà sau này ngài
là Thánh. Cho nên chọn chỗ để ở quan trọng lắm.
Đời
trước đã tạo phước
Nay
giữ lòng ngay thẳng.
Đời
trước đã tạo phước cho nên ngày hôm nay mình được an
lành hạnh phúc chính là nhờ siêng giữ lòng ngay thẳng. Vậy
chúng ta cố giữ phước đừng để nó mất đi. Mỗi ngày
phải làm sao bồi bổ thêm phước, chứ đừng để mất phước,
tiêu hao mà không chịu bồi dưỡng thêm thì chắc chắn ngày
sau không còn mà hưởng.
Hiểu
rộng và khéo tay
Giữ
tròn các giới luật
Nói
những lời hòa ái
Ấy
là chơn hạnh phúc.
Hiểu
rộng và khéo tay. Hiểu rộng là hiểu lẽ phải trái trên
đời. Nếu người ta có trí tuệ, có sự hiểu biết đó là
hạnh phúc. Một người mà không có hiểu biết chi cả đó
là người thiếu hạnh phúc. Cho nên người có trí tuệ cũng
là người hạnh phúc, vì có trí tuệ mới hiểu rộng được.
Nếu đem nó ứng dụng vào cuộc sống thì tùy trường hợp
mà ứng dụng, chứ không phải sự hiểu biết nào cũng đem
ứng dụng được hết. Những người có hiểu biết đa số
là những người có hạnh phúc và khéo tay. Khéo tay để giúp
đở cho sự sống. Vụng về thì không thể nuôi được mạng
sống và không thể làm ra của cải để nuôi sống gia đình.
Có khéo tay thì mới làm ra của cải để nuôi sống mình,
nuôi sống gia đình, giúp cho quốc gia xã hội mau giàu có.
Nên
Đức Phật dạy những ai khéo tay biết tạo ra của cải để
nuôi sống mình và gia đình đó cũng là chơn hạnh phúc. Vì
khi khéo tay có thể tạo ra của cải thì không lo âu sợ hãi,
không làm điều sai trái, đó là chơn hạnh phúc.
Giữ
tròn các giới luật. Ở trong giới nào, thọ giới nào thì
cố gắng giữ theo giới đó cho trọn vẹn. Giữ giới đó
trọn vẹn là một công đức, là một phúc đức, đó cũng
là chơn hạnh phúc.
Nói
những lời hòa ái. Thật ra nói năng là một việc hết sức
dễ. Mở miệng là nói, không ai cấm hết, không ai bịt miệng
hết, nhưng nếu không có chánh tâm thành ý, không tập luyện
lời nói hòa ái thì chắc chắn khó nói được lời hòa ái.
Khi đã nói lời hòa ái thì gây ra được niềm vui cho mình,
cho người, gây được sự thân thiện giữa mình giữa người.
Đó là chơn hạnh phúc.
Hiếu
dưỡng mẹ và cha
Săn
sóc vợ và con
Không
vương vấn phiền hà
Ấy
là chơn hạnh phúc.
Hiếu
dưỡng mẹ và cha, đó là một đức tính quý báu. Chúng ta
biết Đức Phật cũng chú trọng về sự hiếu dưỡng cha mẹ
lắm, chư không phải nói đạo Phật nói giải thoát là bỏ
hết cha mẹ. Một trong những cái công đức để thành Phật,
có công đức hiếu dưỡng cha mẹ. Thiếu sự hiếu dưỡng
cha mẹ là mất một phần công đức rất lớn. Lắm người
cũng vì ích kỷ, vì khóai lạc cá nhân mà quên công ơn sanh
thành của cha mẹ, đó là một tội lỗi rất lớn.
Săn
sóc vợ con. Vợ và con ở đời là cái duyên cái nợ. Dầu
duyên dầu nợ đi nữa thì cũng có cơ hội gặp gỡ nhau. Nếu
biết dung hòa săn sóc thương yêu để tạo lập cuộc sống
êm đẹp cho nhau thì đó là chơn hạnh phúc. Nếu không thì
vợ con sẽ trở thành mối oan gia đối đầu với mình, tạo
thành một cảnh địa ngục thường xuyên trong mỗi gia đình
và như vậy thì không phải là chơn hạnh phúc. Điều này
nói ra thì có vẻ tầm thường, nhưng thật sự ở đời cũng
có những gia đính, vì người đàn ông chỉ biết lo cho cá
nhân mình, rượu chè bê bết, vợ con bỏ lăn lóc, không hay
biết gì tới họ cho nên trong kinh Đức Phật nhắc nhở câu
này. Nếu một người mà biết chăm sóc vợ con, hiếu dưỡng
cha mẹ, không phiền hà người khác, không vương vấn bất
chính với người khác, không phiền hà cha mẹ, bà con, vợ
chồng thì đó là chơn hạnh phúc.
Biết
cho và sống đúng
Giúp
đở người bà con
Hành
động không chê trách
Ấy
là chơn hạnh phúc.
Biết
và cho là cố ý. Ta sống ở đây không phải ta không nhớ
cái mà người khác cho ta. Có người làm áo ta mới có áo
mặc, có người làm ra gạo ta mới có cơm ăn, không khí cho
ta hơi thở, ánh sáng mặt trời cho ta sức nóng. Nhờ tiếp
thu cái của bên ngoài đưa vào, cho vào, ta mới tồn tại.
Ta cũng phải biết cho lại như vậy. Có biết cho thì mới
làm điều hòa sự sống của ta, sự sống của vũ trụ. Nếu
không biết cho mà chỉ thu vào thì chắc chắn sẽ không làm
sao an lạc cho mình cho người được.
Tôi
nói một chuyện hết sức bình thường nhưng cực kỳ quan
trọng. Ví như hơi thở của chúng ta, không khí mà chúng ta
thở nó quý vô cùng. Thiếu cơm ăn một tháng cũng chưa chết,
thiếu nước uống một ngày cũng chưa chết, thiếu áo mặc
một năm cũng chưa chết, thiếu nhà ở một vài năm cũng chưa
chết, nhưng thiếu không khí thở trong vài phút là chết ngay.
Nhưng nếu chúng ta thấy quí mà cứ hít mãi, không thở ra
thì chắc chắn cũng chết. Cho nên nếu không biết cho là nhất
định chết. Ta cứ tiếp thu vào mà không cho (thải ra) thì
cũng chết. Nếu cứ thu vật chất đầy kho thì nó sẽ chôn
vùi chúng ta, chúng ta cũng sẽ chết, vàng bạc, châu báu, của
cải nhiều cũng sẽ chôn mình, làm cho mình không bước đi
được thì cũng chết ngay. Vì vậy biết cho là biết tạo
hạnh phúc, không biết cho là không có hạnh phúc.
Các
Phật tử nên cố gắng tìm hiểu thêm lời dạy trên. Có nhiều
trường hợp có những người ở quanh mình họ đói năm ba
ngày chưa có ăn trong khi mình dư dã, ăn sáng, ăn trưa, ăn
chiều, ăn tối, mà không nghĩ đến người đang đói là thiếu
đức tính của người Phật tử, thấy sự khổ của người
khác mà không cứu. Nếu ngài không có tâm từ bi khi nhìn thấy
sự khổ của chúng sanh. Ngái chỉ thấy ngài là một ông vua
sung sướng không thiếu thứ gì, thì chắc Ngày đã không đi
tu rồi. Đằng này Ngài đi tu là một cách cho và chúng sanh
là người nhận.
Kính
nhường và khiêm tốn
Biết
đủ và nhớ ơn
Tuỳ
thời học đạo lý
Ấy
là chơn hạnh phúc.
Ở
đời, có người sống cao ngạo, kêu căng, xấc láo là người
thiếu đức, người như vậy không thể có hạnh phúc. Nên
biết khiêm tốn, khiêm nhường, biết đủ và nhớ ơn là người
hạnh phúc. Biết đủ là biết vừa phải, hai chữ này trong
nhà Phật dạy kỹ lắm. Biết đủ và thiểu dục, ít muốn
và biết đủ nó gắn liền với nhau. Biết đủ là như thế
nào? Biết đủ là cái mình đang hiện có đây và chúng ta
bằng lòng với cái hiện có đó, nó vừa phải đối với
chúng ta. Cái mình có được là vừa đủ, ví như ta có một
cái áo là vừa đủ, nhưng vì tham ta cứ mong có được 10
cái áo, để một ngày thay đổ một cái thì chắc chắn là
khổ chứ không làm sao mà vui được. Biết đủ là biết những
cái hiện có, mình có rồi, biết chừng đó là đủ, mình
không muốn thêm nữa quá tầm tay và sức của mình. Giữ được
tính cách ít muốn đó là chơn hạnh phúc.
Tùy
thời học đạo lý. Các Phật tử cũng tìm học như đọc
kinh, đọc sách, tìm thầy tìm bạn để học hỏi thêm những
điều mình chưa biết. Tôi cũng mong các Phật tử nên học.
Ví dụ ta nghe câu" Nam mô A Di Đà Phật" hay là "Nam mô Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật". Các Phật tử đọc luôn cả hàng
chục năm như vậy, nhưng bây giờ đột ngột có người ngọai
đạo nào đó hỏi: tôi nghe chị đọc "Nam mô A Di Đà Phật",
nghĩa là sao chị? Chắc có nhiều đạo hữu hiểu và cũng
có nhiều đạo hữu không hiểu. Vì sao không hiểu? Là bởi
vì mình không tìm hiểu. Không học hỏi. Nếu có tâm học
hỏi thì khi đến chùa gặp các thầy hay các đạo hữu nào
thân mình hỏi: Nam mô A Di Đà Phật nghĩa là sao đạo hữu?
Đạo hữu cắt nghĩa cho tôi nghe với? Tôi chắc các vị ấy
cũng cắt nghĩa cho mình nghe dù sâu dù cạn, tùy theo sự hiểu
biết của các vị ấy. Do vậy, tôi mong các Phật tử đi đến
chùa, cái gì không biết thì đem ra hỏi, hỏi các đạo hữu
quanh mình hay các thầy trong chùa. Khi này hỏi một câu, khi
khác hỏi một câu, tôi chắc lâu ngày các Phật tử sẽ lần
lần thắm đạo, hiểu đạo một cách sâu sắc hơn. Có học
hỏi và thấm nhuần đạo như vậy mới là chơn Phật tử.
Một
bữa nọ có người kể lại cho tôi nghe: Ngoại đạo họ chê
Phật tử mình rằng: Hôm đó họ đi vô sửa xe nơi nhà của
một Phật tử, họ hỏi: Hôm nay sao anh không đi làm lễ ở
chùa vì ngày rằm mà? Còn bên tôi trước khi vô đạo như
vậy tín đồ bắt phải đọc kinh 3 tháng. Nghi lễ đến nhà
thờ như thế nào? Đọc kinh sáng ra sao, kinh trưa ra sao, kinh
chiều thế nào? Nếu hỏi chuyện cao siêu họ không biết,
chứ hỏi chuyện thông thường người nào cũng biết hết.
Đó là chuyện ngoài đạo, còn Phật giáo mình thì sao? Còn
bên Phật giáo tôi thấy Phật tử rất đông mà khi hỏi đi
chùa để làm gì thì đa số cũng chưa hiểu hết ý nghĩa.
Niệm Phật A Di Đà là sao họ cũng chưa hiểu tường tận.
Như vậy vô tình, mình bị ngoại đao chê là phải rời vì
mình thiếu cái thành tâm để hiểu đạo của mình. Cho nên
từ nay mong rằng các đạo hữu khi nào đén chùa, mình gác
chuyện bên ngoài lại, nhớ cái gì chưa biết thì cứ hỏi
cho biết. Tôi lấy ví dụ: Đạo hữu thấy trên chùa Từ Đàm
có thờ tượng gì mà một tay chỉ lên một tay chỉ xuống
là ý nghĩa ra sao đạo hữu hề, nghĩa là sao thầy hề? Các
đạo hữu đến chùa cứ hỏi như vậy thay vì nói chuyện
khác. Các Phật tử cứ đem chuyện thắc mắc về đạo ra
mà hỏi, chắc chắn cũng có nguời trả lời không rõ, chưa
đúng, nhưng cũng có nhiều người trả lời đúng.
Thế
là các đạo hữu dần dần sẽ hiểu đạo hơn, hiểu kinh
điển một cách thâm thuý hơn. Một tay chỉ lên trời một
tay chỉ xuống đất là Ngài muốn nói: Thiên thượng thiên
hạ duy ngã độc tôn là thâm thúy lắm (tức là trên trời
dưới trời duy Ta là độc tôn).
Nhẫn
nhục vâng ý lành
Viếng
thăm bậc tu hành
Tuỳ
thời bàn luận đạo
Ấy
là chơn hạnh phúc.
Nhẫn
nhục: Đức Phật dạy điều này cũng nhiều lắm. Trong Lục
độ mà Đức Phật dạy là Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn
nhục, thiền định, trí tuệ thì nhẫn nhục là một trong
sáu độ. Vâng theo ý lành mà tu tập, viếng thăm bậc tu hành
để học hỏi mà tu, biết cách tu để giải thoát
Tùy
thời bàn luận đạo. Tránh bớt chuyện đi đến chùa mà nói
tạp thoại, tập trung bàn luận đạo, nghe giảng pháp, tụng
kinh, hành thiền. Chỗ nào chưa thông thì hỏi thầy, hỏi bạn
để hiểu thêm.
Trong
sạch và siêng năng
Suốt
thông các đạo lý
Thật
hiện vui Niết-bàn
Ấy
là chơn hạnh phúc.
Bên
Gia đình Phật tử có câu phát nguyện: "Phật tử trong sạch
từ lời nói đến việc làm". Trong sạch trong tinh thần, trong
lời nói, trong việc làm. Các Phật tử nên hiểu chữ trong
sạch này là thanh tịnh. Giữ giới thanh tịnh là trong sạch;
hành động ngay thẳng là hành động trong sạch; nói năng chơn
thật là nói năng trong sạch. Chữ trong sạch ở trong đạo
khác với chữ trong sạch ngoài đời. Ở ngoài đời nặng
về vật chất, còn ở trong đạo nặng về tinh thần.
Suốt
thông các đạo lý
Thật
hiện vui Niết-bàn
Các
Phật tử cố gắng trong một ngày mình cũng thực hiện cái
vui Niết-bàn trong một phút, nghĩa là các Phật tử để trong
một phút không suy nghĩ cái gì hết, không tư lự một cái
gì hết, gác bỏ tất cả, ngồi một phút thư giãn, thả tâm
của mình hòa nhập pháp giới vũ trụ bao la, không có ngã,
không có nhơn, không có thời gian không gian gì cả. Ngồi được
một phút như vậy là đã vui Niết-bàn rồi đó. Có thể một
ngày nên hành trì cho đều đặn như: trước khi đi ngủ, các
Phật tử ngồi thẳng mình thở vô, thở ra cho được 100 cái
rồi nằm xuống, nằm xuống niệm 3 biến Bát nhã, niệm thầm
trong miệng rồi đi ngủ, làm được như vậy giờ nào là
an lạc giờ phút đó. Làm được như vậy là tránh khỏi mọi
ưu tư, gạt bỏ tất cả phiền muộn thì sẽ có được một
giấc ngủ trong lành. Các Phật tử cố gắng làm đều đặn
như vậy là thể hiện cái vui Niết-bàn
Tiếp
xúc với thế gian
Giữ
lòng không sa ngã
Không
sầu nhiễm bình an
Ấy
là chơn hạnh phúc.
Tiếp
xúc với thế gian, giữ lòng không sa ngã là ví dụ như đi
buôn, bình thường bán một mét là 15 ngàn, trong đó cũng có
lời vài ngàn rồi. Hôm nay có bà ở quê lên, nghe bên kia nói
thách 50 ngàn, bà chạy qua bên này hỏi và nghe nói bán 40 ngàn.
Bà lầm tưởng rẽ mua liền. Chị bán hàng cũng đon đã nài,
tôi bán như rứa là rẽ lắm rồi vì thương bà đường xá
xa xôi nên bán rẽ cho bà đó. Thế là bà kia mua liền. Vô
tình đã đẩy họ vào chỗ mua nhầm mà mình cũng vô lương
tâm. Như vậy là đã để lòng bi sa ngã. Trước một mối
lớn nhu vậy tự nhiên quên cái chánh tâm của mình, mất chánh
đạo của mình, quên cái từ tâm của mình trước một người
từ quê ra phố không hiểu biết giá cả thị trường ra sao
cả, cái tâm xiêu vẹo của mình nhu vậy là không tốt. Với
việc chị thôn quê kia không biết giá cả lầm 40 ngàn mà
mình đang tâm ăn lời như vậy là không nên, tâm ham lợi quá
đáng... Lẽ ra mình bán cho người ta 15 ngàn thì với chị
ta cũng bán 15 ngàn thôi, sao lại bán 40 ngàn! Bán ăn lời kiểu
đó là thất đức. Chính tâm bị sa ngã là do hám lợi.
Tiếp
xúc với thế gian
Giữ
lòng không sa ngã.
Chị
bán hàng quá giá cũng là cách sa ngã, lại còn cách sa ngã
thứ hai là rượu chè. Tới một đám tiệc nào đó họ đem
rưượu ra mời. Họ nói đó là rượu thuốc, uống một ly
sống thọ 10 năm. Nghe uống 1 ly mà sống thọ 10 năm, ai mà
không ham, nên uống liền. Đó là lòng sa ngã. Chứ rượu thuốc
gì mà uống 1 ly, sống thọ 10 năm? Cho nên khi tiếp xúc với
thế gian cố gắng giữ lòng không sa ngã, phải giữ tâm chánh
đạo, giữ tâm ngay thẳng trước sau như một, là sẽ có hạnh
phúc và an lạc, chứ không thì nay sa bên này, mai sa bên kia
thì làm sao mà bình an được. Được như vậy không sầu chính
là chơn hạnh phúc.
Như
thế mà tu hành
Việc
gì cũng thành tựu
Ở
đâu cũng an lành
Thảy
là chơn hạnh phúc.
Thành
tựu được như vậy thì bất cứ ở đâu cũng an lành hết
vì tâm ta được bình tĩnh, sáng suốt là được an lành. Bởi
an lành tự tâm ta mà ra. Hạnh phúc chơn chánh cũng ở trong
tâm mà có, chứ không phải từ bên ngoài đưa vào. Khi ta thấy
tâm hồn an ổn thì ở đâu cũng có hạnh phúc cả.
Hôm
kia tôi có tiếp một vị Sư người ở trong Nam, bây giờ tu
ở núi Hy Mã Lạp. Vị này trước kia là tại gia cư sĩ hết
sức giàu. Có lần ông đi buôn ở đất nước Liên Xô cũ,
đô la đổi ra tiền rúp không xuể, vì ông có cả mấy triệu
đô. Đến khi thời cuộc thay đổi, tiền bạc bay hết, ông
trở nên trắng tay. Ông hoảng hồn tối mũi, tối mặt không
biếi đường nào mà đi cả như người từ trên trời rơi
xuống đất, không biết ngã nào mà chọn lựa. Khi đó ông
thuê xe đi khắp nơi mà không biết đi đâu.
May
ra bữa đó ông nằm thiêm thiếp ngủ, thì bên tai có người
nhắc, giở kinh ra đọc đi, nhắc đi nhắc lại hai ba lần
như vậy thì ông chợt tỉnh dậy. Trước đó ông cũng có
đọc kinh như Pháp Hoa, Kim Cang, Bát Nhã, nhưng đọc thì đọc
qua vậy thôi, chứ khi đó tâm niệm làm giàu làm sao mà đọc
cho vô, làm sao mà nhớ nổi. Khi nghe nhắc như vậy, ông mới
nhớ từ từ kinh Pháp Hoa nói gì, kinh Bát Nhã nói gì, kinh
Kim Cương nói gì và chợt nhớ ra lời Phật dạy: Tam giới
bất an do như hỏa trạch (ba cỏi này không an như một nhà
lửa), thôi tu đi. Ông chợt nhận ra nơi ông ở là nhà lửa
thật, nhưng trước đó ông không thấy gì cả, mà toàn thấy
là nhà vàng, nhà bạc, không có gì là lửa hết. Tự nhiên
ông thấy Đức Phật dạy quá đúng, ông đang ở trong nhà
lửa của địa ngục trần gian. Khi đó ông mới hồi tâm và
dõng mãnh đi tu, ông tìm qua Nepal, đến núi Hy Mã Lạp để
tu.
Khi
tu được rồi bấy giờ ông thấy sướng quá. Khi thăm tôi,
ông khóc và nói: Ngày xưa con đắm say vàng bạc của cải,
nên đi đâu cũng khổ, đến đâu cũng sợ. Bây giờ thì con
tự tại lắm. Cho nên tôi cũng mong quý Phật tử niệm Phật
tụng kinh làm sao cho có ích, cho thêm phước đức, có đủ
thiện căn để có một dịp nào đó - cuộc đời chúng ta
làm sao mà suông sẽ hết - chính trong giờ phút đó chúng ta
gặp được thiện trí đức, gặp được điềm mộng lành,
gặp được lời Đức Phật dạy, may ra mới được hồi tỉnh
cứu thoát, chứ khi đó không có ông trời nào cứu thoát được.
Tóm
lại, hạnh phúc là cái gì có thể thực hiện ngay trong đời
sống của chúng ta, chứ không phải là cái gì viễn vông,
xa vời không thể đạt đến được. Bài kinh mới nghe qua
thì rất giản dị, nhưng đọc kỹ nó rất sâu sắc và thực
tiển, nó có thể áp dụng vào trong cuộc sống hằng ngày
của chúng ta. Đây là bài kinh dạy cho tất cả những ai muốn
có hạnh phúc, nhất là các Phật tử muốn có cuộc sống
an lành hạnh phúc thì phải đọc tụng, chiêm nghiệm hằng
ngày chắc chắn sẽ có lợi ích lớn.
Đầu
năm tôi chúc tất cả các Phật tử tụng kinh niệm Phật cốt
là để khai mở cái tâm, tâm trí khai mở rồi thì mới được
hạnh phúc an lạc.
Chúc
tất cả luôn luôn tinh tấn và tâm trí ngày càng khai mở.
-ooOoo-
21.
Ý nghĩa Pháp khí trong đạo Phật pháp
Đạo
Phật có rất nhiều pháp khí như: Chuông, trống, bảng, khánh,
tràng hạt, bình bát, cà sa, tích trượng v.v...mỗi thứ đều
có một công dụng và ý nghĩa khác nhau. Có thứ dùng để
làm hiệu lệnh quy củ trong chùa, hoặc để dùng vào việc
nghi lễ bái sám như chuông, trống, bảng, khánh..., có thứ
để dùng làm phương tiện tu niệm hoặc để tiêu biểu ý
nghĩa giáo pháp như tràng hạt, bình bát, cà sa, tích trượng
v.v...
Tóm
lại tất cả các pháp khí trong đạo Phật đều là những
bài kinh vắn tắt, là những phương tiện cần thiết, biểu
dương ý nghĩa cao thâm của chánh pháp, và giúp cho người
tu hành thêm phần dễ dàng tiến tu trên đường giải thoát,
Sau
đây là các pháp khí trong đạo Phật.
1.
Chuông:
a.
Xuất xứ: Chuông không biết bắt đầu có từ bao giờ, nhưng
việc dùng chuông thì trong các kinh truyện thường có nhắc
đến. Kinh Tăng Nhất A Hàm có chép: "Mỗi khi tiếng chuông
chùa ngân vang thì những hình phạt trong ác đạo được tạm
thời dừng nghỉ, chúng sanh chịu hình phạt được tạm thời
an vui"
Truyện
Cảm Thông chép: "Ngày xưa Đức Phật Câu-lưu-tôn ở tại
viện Tu-đa-la xứ Càn Trúc, đã tạo một quả chuông bằng
đá xanh đánh vào những lúc mặt trời mọc. Khi chuông ngân
thì trong ánh sáng mặt trời có các vị hóa Phật hiện ra,
diển thuyết 12 bộ kinh, làm cho người nghe chứng được chánh
quả không thể kể xiết". Bộ Kim Lăng Chí chép: "Vua Hiếu
Cao Hoàng đế đời Đường, nhân vì nghe lời sàm tấu của
Tống Tề Khưu giết lầm kẻ tôi trung là Hòa Châu, nên khi
chết bị đọa vào địa ngục. Một hôm có người bị bạo
tử (chết thình lình), hồn thần đi lạc vào địa ngục,
thấy một tội nhân bị gông cùm đánh đập rất khổ sở,
hỏi ra mới biết vua Hiếu Cao nhà Đường. Vua gọi người
bạo tử bảo rằng: "Nhờ ngươi trở lại dương thế nói
với Hậu chúa ta rằng: Hãy vì ta mà đúc chuông cúng dường
và làm các việc phước thiện." Khi tỉnh lại, người bạo
tử trên liền đến bái yết Hậu chúa và chuyển lời nhắn
gửi của vua Hiếu Cao. Nghe vậy, Hậu Chúa liền thân đến
chùa Thanh Lương, phát nguyện đúc một quả chuông để cúng
dường và cầu siêu cho Hiếu Cao Hoàng đế". (Bách trượng
Thanh Qui, quyển 87, trang 68).
Và
trong kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật cũng đã bảo ngài La Hầu
La đánh chuông để giảng lý viên thường cho ngài A-nan nghe.
b.
Ý nghĩa và cách sử dụng: Có 3 loại chuông thường dùng trong
các tự viện là Đại hồng chung, báo chúng chung và gia trì
chung.
- Đại
hồng chung là loại chuông lớn. Chuông này gọi là chuông u
minh, thường đánh vào lúc đầu đêm và cuối đêm. Đánh
vào lúc đầu đêm có ý là nhắc nhở cơn vô thường nhanh
chóng cho mọi người và đánh vào lúc cuối đêm là có ý
thức tỉnh mọi người tinh tấn tu hành để chóng vượt ra
ngoài vòng tối tăm đau khỏ.
Đánh
chuông này thường đánh 108 tiếng, tiêu biểu ý nghĩa đoạn
trừ 108 phiền não căn bản (88 kiến hoặc, 10 tư hoặc, 10
triền: Vô tàm, vô quý, hôn trầm, ác tác, não, tật, trạo
cử, thùy miên, phận, phú = 108 phiền não) của chúng sanh.
Vì vậy, trong bài kệ chuông có câu: "Văn chung thanh phiền
não khinh - dịch: nghe tiếng chuông phiền não nhẹ..." là ý
nói nghe tiếng chuông thì 108 phiền não được tiêu trừ, tâm
trí được nhẹ nhàng thanh thoát vậy. Bài kệ đọc trong khi
nghe chuông đánh: "Văn chung thanh phiền não khinh, trí huệ trưởng
bồ đề sanh, ly địa ngục xuất hỏa khanh, nguyện thành Phật
độ chúng sanh, án già ra đế gia toá ha". Còn khi đánh chuông
thì đọc bài kệ: "Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới,
thiết vi u ám tất giai văn, văn trần thanh tịnh chứng viên
thông, nhất thế chúng sanh thành chánh giác", tiếp đến niệm
danh hiệu Quán-thế-âm và thong thả đánh cho đủ 108 tiếng.
- Báo
chúng chung, cũng gọi là Tăng đường chung, tức là thứ chuông
dùng để báo tin trong khi nhóm họp, thọ trai và khóa tụng
v.v... trong các tự viện.
- Gia
trì chung, là thứ chuông dùng điều hòa và ra hiệu trong khi
tụng kinh, lễ Phật cho được nhịp nhàng đều đặn.
2.
Mõ:
a.
Xuất xứ: Sách Sắc tứ thanh qui pháp khí về chương Mộc
ngư có chép: "Tương truyền rằng: Loài cá luôn luôn thức
không bao giờ ngủ. Vì vậy chạm nó theo hình cá là có ý:
tiếng mõ có thể đánh thức được hôn tình, làm cho mọi
người
tỉnh cơn mê muội... " Sách Chích ngôn đời Đường có chép:
"Có một người bạch y hỏi một vị trưởng lão người Thiên
Trúc rằng: Vì sao ở các Tăng xá đều có treo mõ? Vị trưởng
lão trả lời: Vì để kỉnh tỉnh chúnh Tăng ở tạ Tăng xá.
Người bạch y hỏi tiếp: Nhưng tại sao lại tạc hình cá?
Vị trưởng lão không trả lời được. Người bạch y liền
đến hỏi ngài Ngộ Biện, ngài giải thích: cá là một loài
không bao giờ nhắm mắt, cũng vì muốn người tu hành ngày
đêm quên ngủ, gắng công tu tập, mau chứng quả nên treo và
đánh mõ hình cá là có ý như vậy".
b.
Ý nghĩa và cách sử dụng: Có hai loại mõ: Mõ hình bầu dục
có chạm đầu cá và mõ hình điếu chạm nguyên hình con cá
nằm dài. Loại mõ hình bầu dục dùng để đánh trong khi tụng
niệm, còn loại hình điếu thì thường treo ở nhà trù để
đánh báo tin giờ trai phạn.
Đánh
mõ có hai ý: Một là để cho khi tụng niệm được nhịp nhàng,
không lộn xộn và như thế vừa giữ được vẽ trang nghiêm
và nhất là làm cho người tung niệm khỏi bị rối trí loạn
tâm. Hai là để kỉnh thỉnh tâm trí người tụng niệm khỏi
bị hôn trầm, và cũng chính vì ý này mà ở quai mõ, thân
mõ thường chạm trố hình loài cá là một loài không bao giờ
ngủ, luôn luôn tỉnh táo vậy.
Đồng
thời, đánh mõ cũng còn có ý nghĩa là để báo tin thì giờ
ăn uống, tu tập v.v.... trong các tòng lâm, tự viện như cách
dùng bảng, khánh v.v...
3 .Trống:
a.
Xuất xứ: Kinh Kim Quang Minh chép: "Một hôm ngài Tín Tướng
Bồ tát nằm mộng thấy một cái trống lớn bằng vàng. Trống
có hào quang sáng như mặt trời. Trong hào quang có rất nhiều
các Đức Phật ngồi trên tòa sen lưu ly đặt dưới các gốc
cây báu . Chung quanh các Đức Phật đều có trăm ngàn các
vị đệ tử ngồi nghe pháp. Bấy giờ có một người giống
như giáo sĩ Bà la môn, cầm dùi trống đánh mạnh vào chiếc
trống vàng nói trên, tiếng trống vang rền nghe như lời kinh
sám hối. Khi đã tỉnh mộng, ngài Tín-Tướng Bồ tát liền
đem những điều mình được thấy đượcnghe trong giấc mộng
trình lên đức Thế Tôn... "Kinh Lăng nghiêm chép: "A-nan (lời
Đức Phật)! Ngươi hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm
xong, và tiếng chuông mỗi khi nhóm chúng trong tinh xá Kỳ-Đà
này. Tiếng chuông hoặc tiếng trống trước sau nối tiếp
nhau. Vậy theo ý ngươi nghe được các thứ tiếng ấy là vì
nó tự bay đến bên tai ngươi, hay tai của ngươi đến nơi
những chỗ phát tiếng?"
b.
Ý nghĩa và cách sử dụng: Trống có hai loại trống Đại
và trống Tiểu, tức trống kinh. Trống đại là thứ trống
lớn, đánh trong những lúc như trước khi đánh chuông u mình
vào đầu đêm và cuối đêm. Đánh theo thể thức bài Tam luân
cửu chuyển. Khi đánh trống đầu đêm đọc bài kệ: "Cổ
thanh hướng hướng, xứ biến hà sa, thiên long bát bộ tiến
kha kha, tam-luân cửu chuyển sanh tử đoạn, độ tận chúng
sanh xuất ái hà", và tiếp đọc 5 danh hiệu: Nam mô Cổ-lôi-âm
Bồ-tát ma-ha-tát. Còn đánh trống vào cuối đêm thì thường
đọc bài kệ: "Lôi cổ đằng xao nghiệp chướng tiêu, tam
luân cửu chuyển hướng tiêu tiêu, thượng thăng thiên giới
quần thiên lạc, hạ thấu u quan chúng qủy siêu", và tiếp
đọc 3 lần danh hiệu: Nam mô Siêu lạc Độ Bồ-Tát ma-ha-tát.
Hai
bài kệ trên đây ngụ ý nói: Tiếng trống là tượng trưng
cho chánh pháp, chúng sanh nghe trống chánh pháp thì nghiệp chướng
tất tiêu trừ và sẽ được thoát ly luân hồi sanh tử.
Ngoài
ra, trong những khi thuyết pháp, khi làm lễ lớn ở điện Phật,
cũng đều có dùng đến thứ trống lớn này. Khi thuyết pháp
thì đánh 3 hồi để triệu tập thính chúng, còn khi làm các
lễ lớn như thỉnh Tam-bảo, khai kinh v.v... thì đánh theo thể
thức bài Bát-nhã-hội mà thường gọi là "chuông trống bát
nhã".
Cách
đánh chuông trống Bát-nhã: đánh theo từng chữ một trong
bài kệ Bát-nhã-hội. Đoạn đầu của bài kệ thì nên đánh
lớn tiếng và đánh chầm chậm, từ nửa bài kệ về sau thì
đánh nhỏ tiếng dần, đánh thúc cho đến khi chấm dứt và
đánh đủ 3 lần.
Bài
kệ đánh trống Bát-nhã: Bát-nhã-hội (đánh 3 lần), thỉnh
Phật thượng đường (1 lần), Đại chúng đồng văn (1 lần),
Bát-nhã-âm (1 lần), Phổ nguyện Pháp giới (1 lần), Đẳng
hữu tình (1 lần), nhập Bát-nhã (1 lần), ba-la-mật môn (đánh
nhiều lần và đánh nhỏ tiếng cho đến khi chấm dứt).
Đại
ý bài kệ này là cũng thỉnh Phật nói lý Bát-nhã và nguyện
cho Đại chúng hiện tiền cùng tất cả chúng sanh đều được
thâm nhập giáo lý cứu cánh ấy.
Còn
trống tiểu là thứ trống nhỏ dùng đánh trong những khi tung
kinh bái sám v.v... nên cũng gọi là "trống kinh".
Cách
đánh trống này rất phức tạp, không có một qui luật nhất
định, đại khái là chỉ đánh theo nhịp và âm vận trầm
bổng của các bài kinh tán mà thôi. Đánh trống này với mục
đích là đở hơi cho người tán tụng, thứ nửa là giúp cho
cho buổi lễ được tăng phần trang nghiêm long trọng và cũng
là một món nhạc khí trong các món nhạc khí cúng dường Tam-bảo.
4.
Bảng khánh:
a.
Xuất-xứ: Sách tương khí tiêu quyển thứ 18 có chép: "Ngài
Vân Chương nói: hình của bảng giống như đám mây, nên người
ta cũng thường gọi tên của bảng là Vân bảng." Ngài Tục
sự lão cũng có thuật: "Vua Tống thái Tổ cho rằng, tiếng
trống hay giật mình người ngủ, nên thay vì dùng trống vua
Tống Thái Tổ chế dùng thiết khánh (khánh bảng thiết)."
Loại khánh này cũng gọi là chinh, tức là Vân bảng vậy.
b.
Cách chế tác và sử dụng: Theo ngày Vân Chương trong sách
Tượng Khí Tiên nói trên, thì hình của bảng giống như đám
mây, và theo ngài Tục Sự lão thuật lại thì Tống Thái Tổ
chế Vân bảng bằng thiết. Nhưng nay ở các tòng lâm thì đều
dùng bảng bằng gỗ và trổ theo bán hình bát giác. Bề dày
của bảng khoảng chừng 4 tấc tây và bề cao khoảng hơn 2
tấc tây. Bảng cũng được thay thế cho trống và dùng trong
những trường hợp như báo tin giờ thọ trai, giờ học tập,
và cả những lúc nhóm họp Tăng để nghị bàn Phật sự,
phân phát cúng vật, hoạc xử đoán các lỗi lầm v.v... của
chúng Tăng trong Già lam. Bảng và Khánh ấy trong luật thường
gọi là "Kiền chùy thành".
Còn
khánh cũng là một pháp khí như bảng. Cách dùnhg cũng không
khác gì nhau, chỉ có hình thức và nguyên liệu chế tác là
khác nhau mà thôi. Hình của bảng là hình bát giác và làm
bằng gỗ, còn hình của khánh thì làm theo hình bán nguyệt,
và đúc bằng đồng, hoạc có khi làm bằng đá cẩm hạch.
Ngày nay ở các tòng lâm tuy cũng có sắm khánh nhưng ít khi
dùng đến, chỉ chuyên dùng bảng mà thôi.
5.
Bát:
a.
Xuất-xứ: Kinh Phật bổn hạnh chép: "Ngày xưa,khi Đức Phật
còn tại thế, có hai thương gia một người tên là Đế-ly
Phú-bà và một người tên là Bạt-ly-ca đều ở tại Bắc
Ấn-Độ. Một hôm, hai thương gia này phát tâm đem sửa cúng
dường Phật, nhưng Đức Phật không có gì để đựng sữa.
Bấy giờ có 4 vị Thiên vương đem 4 cái bát bằng vàng cúng
Phật để đựng sữa, Đức Phật không nhận, bốn vị Thiên
vương lại đem 4 cái bát khác đủ các loại quí giá như ngọc,
ngà v.v... Đức Phật cũng không nhận, sau cùng có 4 vị Thiên
vương đem cúng dường Phật 4 cái bát bằng đá, Đức Phật
hoan hỷ nhận, không từ chối.
b.
Ý nghĩa, cách chế tạo và sử dụng: Chữ Bát nguyên tiếng
Phạn là Bát-da-la, dịch là Ứng lượng khí, nghĩa là một
vật dùng đựng các thực phẩm vừa với sức săn của một
người .
Bát
chỉ được trổ bằng đá, nắn bằng đất sét rồi hầm
chín hoặc phết bằng sành mà thôi, chứ không được làm
bằng vàng, bạc, ngọc ngà, vì những thứ này là bảo vật,
người xuất gia không nên dùng, nhất là không được làm
bằng gỗ, vì bát gỗ là thứ bát của Bà-la-môn (một giáo
phái ngoại đạo thờ Phạm thiên ở An Độ) dùng.
Ngày
nay ở các nước Tiểu thừa Phật giáo như Ấn-Độ, Tích
Lan, Miến Điện, Xiêm La v.v... chư Tăng thường đi khất thực,
nên thường dùng Bát. Riêng ở Việt-Nam thuộc về Đại thừa
Phật giáo, Chư Tăng không đi khất thực nên ít khi dùng tới,
chỉ có 3 tháng an cư kiết hạ hàng năm là đặc biệt dùng
nhiều nhất mà thôi. Dưới đây là bài kệ đọc trong khi
dùng bát: "Chấp trì ứng khí, đương nguyện chúng sanh, thành
tựu pháp khí, thọ thiên nhơn cúng" và tiếp đọc câu chú
"Án chỉ rị chỉ, rị phạ nhật ra hồng, phấn tra".
6.
Trích trượng:
a.
Xuất-xứ: Kinh trích trượng chép: "Phật dạy: Này các Tỳ-kheo,
các người nên thọ trì Tích trượng, vì Tích trượng là
một pháp khí mà 3 đời Đức Phật đều có thọ trì".
b.
Ý nghĩa và cách sử dụng: Tiếng Phạn gọi là Khích-khí-la,
Trung Hoa dịch là Tích trượng, tức là cái gậy của các vị
Tỳ-kheo dùng trong khi đi đường, đi khất thực... Tích trượng
cũng có tên là Khí trượng hay Đức trượng, nghĩa là nhờ
chiếc gậy trí tuệ và phước đức này mà người xuất gia
được mạnh tiến trên đường tu tập, hướng đến quả
vị giải thoát giác ngộ. Trong kinh Tích trượng có chép: "ngài
Ca-Diếp bạch Phật, bạch đức Thế-Tôn, thế nào gọi là
Tích trượng? Phật dạy: Tích có nghĩa là khinh, nghĩa là nhờ
ở chiếc gậy Đức hạnh và trí tuệ này mà phiền não đươc
khinh bạt và ra khỏi ba cõi sanh tử. Tích cũng có nghĩa là
minh, nghĩa là được trí sáng suốt vậy. Tích lại còn có
nghĩa là tỉnh, nghĩa là tỉnh ngộ được rằng, ba cõi là
khổ và không, và tích cũng có nghĩa là sơ, nghĩa là người
cầm chiếc gậy này thì không còn say đắm ngũ dục nữa".
Bề
kính của Tích trượng chỉ vừa tay cầm,bề cao không quá
đầu người. Trên đầu của Tích trượng có 4 cái vòng và
12 cái khâu nhỏ bằng đồng, tượng trưng cho 4 đế và 12
nhân duyên. Kiểu tích trượng này do Đức Phật Thích Ca chế.
Cũng có một thứ Tích trượng khác, trên đàu chỉ có 2 cái
vòng và 6 cái khâu mà thôi. Hai cái vòng tượng trưng cho chơn,
tục nhị đế và 6 cái khâu là tượng trưng cho lục độ
vậy. Kiểu Tích trượng này do Đức Phật Ca Diếp chế (Bách
trượng thanh quy).
Sau
đây là bài kệ đọc trong khi cầm Tích trượng: "Chấp trì
tích trượng, đương nguyện chúng sanh, thiết đại thí hội,
thị như thật đạo". (dịch: khi cầm tích trượng, nên nguyện
chúng sanh, tu tập hạnh bố thí, chừng đạo quả như thật),
và tiếp đọc bài mật chú: "Án na lật thê, na lật thê, na
lật tra, bát nể na lật đế, na dạ bát nảnh hồng phấn
tra".
7.
Lự Thủy Nan:
a.
Xuất xứ: Theo bộ Hội Chánh Ký có chép: "Nếu làm túi lọc
nước thì nên may một lớp vải dày lên trên, nếu không có
lụa thì dùng vải dày cũng được". Tri môn kỉnh huấn chép:
"Túi lọc nước là một dụng cụ hành từ, là một trợ duyên
tế vật. Đại đạo do đó mà sanh ra, chí đạo cũng do đó
mà khắc phục được".
b.
Ý nghĩa và cách chế tác, sử dụng: Lự thủy nan là cái túi
lọc nước. Lọc nước để uống hoặc để dùng vào việc
tắm rửa v.v... Ý nghĩa việc lọc nước này có hai đặc điểm:
Một là phòng ngừa bệnh tật, giữ gìn vệ sinh. Hai là vì
lòng từ bi muốn bảo vệ các sinh mạng ở trong nước như
các loài thủy trùng vi tế v.v... cho nên trước khi dùng nước
cần phải được lọc kỹ. Trong kinh Chánh pháp niệm cũng
có chép: "Nước để cách đêm vi trùng có thể sanh ra, nếu
không được lọc kỹ thì tuyệt đối không nên dùng. Giữ
được điều đó tức là một phần trì giới bất sát".
Vậy
cách chế tác và sử dụng Lự Thủy Nan như thế nào? Theo
bộ Bách nhất Kiết-na thì Lự Thủy nan được chế tác theo
5 cách sau đây:
1.
Phương la: Phương la tức là một khổ vải rộng chừng 2,3
tấc vuông dùng để lọc nước trước khi uống hoặc rửa
ráy.
2.
Pháp bình: Hay cũng gọi là âm dương bình, tức là một thứ
bình lọc nước có hai ngăn. Một ngăn chứa nước chứa lọc
và một ngăn để chứa nước đã được lọc do ngăn bên
kia chuyền sang.
3.
Quân trì bình: Tức là lấy một tấm vải bít đầu miệng
một cái bình rồi thả chìm vào trong nước, khi nào nước
vào đầy bình thì đem ra mà dùng.
4 &
5. Chước thủy la và Y-giác-la: Hai thứ kiểu lọc nước này
kiểu gần giống nhau. Chước thủy la thì chỉ cần một khổ
vải khoảng 1 tấc đem căng trên một cái khung hình tròn bằng
tre hoặc thép. Còn Y-giác-la thì cũng dùng một khổ vải nói
trên, nhưng không căng trên khung mà chỉ may quanh khổ vải
một đường nẹp và lồng vào trong đường nẹp ấy một
sợi dây, đến khi lọc nước vào trong một cái bình hay bát,
rồi thắt sợi dây lại, bây giờ hãy đổ nước vào lọc
kỹ mà dùng.
Tóm
lại, 5 thứ lọc nước trên đây tuy hình thức có phần sai
khác nhau, nhưng công dụng vẫn một, ấy là dùng để lọc
nước mà thôi. Có điều cần lưu ý là ngoài việc lọc nước
để giữ gìn vệ sinh, đặc biệt hơn hết là để bảo vệ
sanh mạng, tránh sự giết hại các loài vi trùng trong nước.
Cho nên sau khi lọc nước xong, túi lọc phải được đem nhúng
vào chỗ lấy nước, để cho các loài vi trùng bị lọc được
trở lại chỗ cũ được sống yên ổn như trước.
Khi
dùng đến lọc nước, nên đọc lên bài kệ sau đây; "Thiện
lai lự thủy nan, hộ sanh hành từ cụ, xuất nhập thường
đới tụng, phương hiệp Bồ-Tát-đạo", và tiếp đọc câu
chú "Án phạ tất ha ra ma ny tóa bà ha ".
8.
Y:
a.
Xuất xứ: Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế một hôm Ngài
bảo ngài An- nan rằng: "Này A-nan, các hàng đệ tử của các
Đức Phật ở quá khứ đã từng mặc áo Ca-sa, các hàng đệ
tử của chư Phật ở vị lai cũng sẽ mặc áo Ca-sa, Ta nay
dùng dao kéo cắt thành áo Ca-sa cho các hàng đệ tử Sa-môn
(chúng xuất gia) mang đắp. Áo Ca-sa sẽ không bị giặc giả
cướp mất. Áo Ca-sa được gọi là giải thoát phục, cũng
gọi là phước điền y. Nếu có chúng sanh nào khởi ác tâm
hướng đến tam thế chư Phật, Bích Chi La hán và những người
mặc áo Ca-sa, chúng sanh ấy phải chịu quả báo đau khổ nhiều
không kể xiết. Vì sao thế, vì áo Ca-sa hoại sắc là Tiêu
thức của Thánh hiền. Trái lại, nếu có chúng sanh nào hay
phát tâm kỉnh trọng thì sẽ được phước báo vô lượng.
Chính ta cũng nhờ co tín tâm kỉnh tín và mang đắp ca-sa mà
ngày nay được thành chánh quả" (kinh Hoa-Nghiêm).
Với
tài liệu trên cho ta thấy rằng Pháp y không phải mới được
sáng chế trong thế hệ hiện tại của Đức Phật Thích Ca,
mà ở đời quá khứ các Đức Phật cũng đã từng mang đắp
và đã dạy các hàng đệ tử mang đắp rồi.
b.
Ý nghĩa và các loại y: Y là một thứ pháp phục của những
người xuất gia. Ý nghĩa của thứ Pháp phục này thì nhiều
nhưng có thể tóm tắt trong hai điểm. Một là muốn cho lối
ăn mặc của người xuất gia khác với lối ăn mặc thông
thường của thế gian, cốt để giảng trạch giữa người
Tăng, kẻ tục. Hai là để tiêu biểu cho giới đức phẩm
hạnh cùng tôn chỉ ý chí siêu trần của người xuất gia
theo đạo Phật. Cũng vì hai ý nghĩa trên nên về phương diện
chế tác hình thức vả màu sắc, pháp-phục đã được khác
hẳn với thường phục, còn về ý nghĩa thì pháp phục lại
được mang những danh từ khác nhau để tiêu biểu như: Nhẫn
nhục khải, phước điền y hay giả thoát phục v.v...
Ngoài
ra cũng muốn được dễ dàng phân biệt các Phật sự của
chúng Tăng, nên pháp phục được chia làm 3 loại sau đây:
1.
An đà hội: Dịch là Tác-vụ-y. Nghĩa là thứ y mặc trong khi
làm việc khi ra đường. Y này có 5 điều, mỗi điều chia
làm 3 khoản, 2 khoản dài một khoản ngắn.
2.
Uất-đa-la Tăng: Dịch là Nhập chúng Y. Nghĩa là thứ y dùng
trong những khi nhập chúng, thọ trai, nghe giảng, tụng kinh,
tọa thiền, lễ Phật, Tháp và các vị cao Tăng. Y này có 7
điều, mỗi điều chia làm 3 khoản, hai khoản dài và một
khoản ngắn như kiểu y trên.
3.
Tăng-già-lê: Dịch là Tạp toái Y hay Đại Y. Nghĩa là thứ
Y lớn nhất trong các loại Y. Thứ Y này chia làm 3 phẩm là
Hạ, Trung và Thượng, Hạ phẩm cũng chia làm 3 là Hạ hạ,
Hạ trung và Hạ thượng.Y Hạ hạ có 9 điều Y Hạ trung có
11 điều và Y Hạ thượng có 13 điều. Trung phẩm cũng chia
làm 3 là Trung hạ, Trung trung và Trung thượng. Y Trung hạ có
15 điều, Y Trung trung có 17 điều và Y Trung thượng có 19 diều.
Thượng phẩm cũng chia làm 3 là Thượng hạ, Trượng trung
và thượng thượng. Y Thượng hạ có 21 điều, Y Thượng trung
có 23 điều và Y Thượng thượng có 25 điều.
Y hạ
phẩm có từ 9 điều đến 13 điều, mỗi điều cũng chia làm
3 khoản: Hai khoản dài và một khoản ngắn như hai kiểu Y
trên. Y trung phẩm từ 12 đến 19 điều, mội điều chia làm
4 khoản, 3 khoản dài một khoản ngắn. Y thượng phẩm từ
21 điều đến 25 điều, mỗi điều cũng chia làm 4 khoản,
3 khoản dài một khoản ngắn như Y trung phẩm.
9.
Tràng hạt:
a.
Xuất xứ: Kinh Mộc quán tử chép: "Ngày xưa có một vị Quốc
Vương tên là Ba-lưu lê đến bạch Phật rằng: Bạch đức
Thế Tôn, nước của tôi tuy nhỏ hẹp nhưng thường không
được yên ổn. Tôi phiền não lắm, tôi muốn theo lời Phật
dạy để tự sửa mình và để trị an xứ sở, nhưng nghiệt
vì giáo pháp của Phật rộng rãi vô biên, tôi không biết
làm sao tu tập cho hết được, vậy nên tôi đến đây, cúi
mong Đức Phật đem lòng từ bi chỉ giáo cho tôi một pháp
yếu để tu hành. Phật dạy: Nếu nhà vua muốn diệt trừ
phiền não, không gì hơn nhà vua hãy trở về lấy gỗ tiện
thành 108 hạt, xâu lại thành chuổi, dùng làm vật tùy thân.
Thế rồi nhà vua nên thường trí tâm niệm "Nam mô Phật, nam
mô Pháp, nam mô Tăng", niệm mỗi câu lần một hột, niệm
108 câu nhà vua lần qua 108 hột chuỗi. Nhà vua hảy gắng niệm
cho thường trong một thời gian, phiền não của nhà vua sẽ
tự khắc được tiêu trừ, tai biến trong quốc độ của nhà
vua cũng sẽ nhờ công tu niệm đó mà được tỉnh giảm. Vua
Ba-Lưu-lê theo lời Phật dạy, trở về lấy gỗ tiện thành
tràng hạt, không những tự mình tinh tấn tu niệm nhà vua còn
khuyến khích dân chúng cũng gắng công tu niệm, nên chẳng
bao lâu tai biến trong nước giảm bớt lần, dân chúng cũng
trở nên hiền lành. Sống một đời sống thái bình an lạc.
Bắt
đầu từ đó phương pháp tu niệm lần tràng hạt mà nay thường
gọi là "phương pháp sổ châu" được truyền rộng khắp nơi
và được lưu truyền mãi cho đến ngày nay, trong khắp các
giới Phật tử không mấy ai là không dùng đến tràng hạt
trong khi tu niệm.
b.
Ý nghĩa các loại tràng hạt: Tràng hạt là một pháp cụ để
dùng trong việc tu tập trì niệm. Tràng hạt gồm có 3 loại:
Loại thứ nhất có 108 hột, loại thứ nhì có 54 hột, và
loại thứ ba có 18 hột. Loại 108 hột là tượng trưng cho
108 phiền não. Phiền não của chúng sanh thì nhiều có thể
tóm tắt trong 108 phiền não căn bản này. Nếu chúng ta gắng
công tu niệm đoạn trừ được - 108 phiền não căn bản ấy
thì bao nhiêu phiền não chi-mạt thảy đều tiêu trừ hết
.
108
phiền não được lược kể sau: 88 món kiến hoặc của tam
giới (lục sắc và vô sắc giới), cộng với 10 tư hoặc ở
dục giới và 10 món triền phược phiền não như: vô tàm,
vô quí, tật, xan, hối, thùy miên, trạo cử, hôn trâm, sân
hận, phú thành 108 phiền não (theo Luận câu xá quyển 21).
Loại
chuổi 54 hay 27 hột không tượng trưng ý nghĩa gì, chẳng qua
muốn tiện việc mang dùng nên chia hai hay là chia bốn của
loại chuổi 108 hột mà thôi.
Loại
chuỗi 18 hột cũng gọi là chuỗi tay, tức là loại chuỗi
mang ở tay vậy. Số lượng của loại chuổi này là 1/6 của
loại chuổi 108. Người ta cũng thường bảo rằng chuỗi 18
hột là tượng trưng cho 18 vị La-hán (Thập bát la hán) hay
18 vị Vương tử trong kinh Pháp Hoa, hay tượng trưng cho Thập
bát giới mà cần phải tiêu trừ. Nhưng đó chỉ là truyền
thuyết thuyết thôi chứ không thấy kinh sách nào ghi chép cả.
10.
Tháp:
a.
Xuất xứ: Theo Thập tụng luật quyển thứ 56 có chép: "Ngày
xưa khi Đức Phật còn tại thế Ngài rất được mọi người
kính mến. Ông Cấp-Cô-Độc (người sáng lập tinh xá Kỳ-Hoàn)
là một trong số người ấy. Một hôm ông đến thỉnh an và
xin Phật cho ông vật gì của chính ngài để ông chiêm ngưỡng
trong những khi Ngài đi vắng. Đức Phật liền cắt một ít
tóc và móng tay của Ngài trao tặng cho ông Cấp-Cô-Độc. Nhận
được tặng vật ấy ông Cấp-Cô-Độc rất đổi vui mừng,
ông liền xin phép Đức Phật được dựng hai ngôi bảo Tháp
để tôn trí cúng dường hai bảo vật trên".
Ngày
nay ở Ấn Độ có hai ngôi chùa Răng và chùa Tóc, tức là
hai ngôi chùa thờ răng và tóc của Đức Phật, không biết
có phải người đời sau đã gì một duyên cớ gì đó, thỉnh
hai bảo vật ở hai ngôi Tháp do ông Cấp-Cô-Độc tạo lập
nói trên, đưa đến thờ ở hai ngôi chùa này chăng?
Nhân
việc dựng Tháp trên đây là để cúng dường bảo vật của
Phật khi Ngài còn tại thế. Theo kinh Bát-Niết-bàn quyển hạ
thì: Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, các hàng đệ tử Phật
liền đem kim thân của Ngài làm lễ trà tỳ (lễ hoả táng).
Bấy giờ có 8 vị Quốc vương ở 8 nước: Ba-ha, Giá-la, La-ma-già,
Tỳ-lưu-đề, Tỳ-xá-ly, Ma-già-đà, Ca-duy-la, Câu thi đến
dự lễ trà tỳ xong thì trong 8 vị Quốc vương này, vị nào
cũng muốn nước mình được vinh dự thỉnh Xá-lợi về cúng
dường, nhưng không ai chịu nhường cho ai. Tình trạng tranh
giành Xá-lợi giữa các vị Quốc vương mỗi lúc mỗi trở
nên quyết liệt. Cuối cùng một giải pháp ổn thỏa được
đề ra, ấy là Xá-lợi của Đức Phật được chia làm 8 phần
chia cho 8 vị Quốc vương. Khi mang Xá-lợi về nước các vị
Quốc vương đều dựng Tháp cúng dường. Do đó lần đầu
tiên có 8 ngôi Tháp thờ Xá-lợi sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn.
Về
sau khi vua A-Dục ra đời, cách Phật nhập Niết-bàn 900 năm,
vị vua này liền thỉnh Xá-lợi trong 8 ngôi tháp ở 8 nước
nói trên, phân loại thành 84.000 phần rồi dựng thành 84.000
ngôi tháp khắp lảnh thổ An-Độ để tôn thờ.
Đến
nay, vì trải qua thời gian lâu xa, lại thêm hoàn cảnh tôn
giáo An-Độ cũng đã lắm phen biến đổi... nên số tháp do
vua A-Dục xây cất không còn nguyên vẹn nữa, chỉ còn lại
một số ít thôi.
b.
Ý nghĩa và các loại Tháp: Tháp là một phần mộ cao hiển
để tôn trí Xá-lợi, tiếng Phạn gọi là Túy-đổ-ba (Stupa).
Theo kinh trường A hàm thì ngoài Đức Phật còn có 3 hạng
người sau được dùng Tháp, ấy là các vị Duyên Giác, thanh
Văn và chuyển Luân vương. Nhưng theo king Nhân Duyên thì có
8 hạng người được dùng Tháp, tuy nhiên, phải tùy theo quả
vị tu chứng mà số tầng Tháp có khác nhau.
- Tháp
Phật từ 8 tầng trở lên.
-
Tháp Bồ-tát 7 tầng.
-
Tháp Duyên-Giác 6 tầng.
-
Tháp Thanh Văn 5 tầng.
-
Tháp A-na-hàm 4 tầng.
-
Tháp Tu-đà-hàm 3 tầng.
-
Tháp Tư-đà-hàm 2 tầng.
-
Tháp Chuyển Luân vương 1 tầng.
(Chép
từ sổ tay của Hòa Thượng, 1959).
-ooOoo-
22.
Phật pháp đại ý
Trước
khi muốn hiểu toàn bộ Phật pháp, chúng ta nên hiểu rõ Phật
pháp đại ý. Phật pháp có thể thuyết minh đại khái bằng
các cú nghĩa sau:
- Nghĩa
nhân duyên sanh.
-
Nghĩa Bát-nhã.
-
Nghĩa Đại-bi tâm.
I.
Nghĩa nhân duyên sanh:
Cũng
gọi là các pháp nhân duyên sanh, trong Phật pháp, nghĩa này
được chú trọng một cách rất phổ biến, vì toàn bộ Phật
pháp đều thuyết minh ý nghĩa này, chẳng qua khi Đức Phật
khi thuyết pháp, hoặc nói rộng, nói tóm, nói cạn, nói sâu
mà hình như bất đồng thôi.
Các
pháp là gì? Là chỉ tất cả vạn sự, vạn vật trong vũ trụ.
Vạn sự vạn vật ấy làm sao sanh khởi? Do nguyên nhân chính
của mỗi pháp và trợ duyên hỗ tương; hể nhân duyên ấy
đầy đủ thì vạn pháp sanh ra do đó gọi là" các pháp nhân
duyên sanh".
Hiểu
được rõ ràng ý nghĩa ấy, người ta có thể tiêu diệt được
bao vọng chấp; hoặc như một hạng người thường hay so sánh
phân biệt, chấp lầm vũ trụ này phát sanh từ nơi vị Thiên
thần tạo vật chủ, hoặc đột nhiên xuất hiện giữa hư
không, không nguyên nhân gì cả (vô nhân sanh), hoặc do vật
chất kết hợp, hoặc do "Thần ngã" với " Lý tánh hòa hợp
phát sanh... " Tất cả vọng chấp ấy, sở dĩ được phát
sanh và tồn tại, là lỗi ở chỗ không hiểu rõ nghĩa nhân
duyên sanh vậy.
II.
Nghĩa Bát-nhã:
Cũng
gọi là "các pháp không tướng". Bát-nhã là trí tuệ chứng
minh tánh không: ngã không và pháp không, hoặc nói cách khác,
cái trí tuệ chứng minh "tướng chơn không các pháp" tức gọi
là Bát-nhã, chỗ chứng minh của Bát-nhã là "tướng chơn không
các pháp". Tướng chơn không các pháp ấy có thể phân làm
hai:
1.
Các pháp là để chỉ cho tất cả pháp đã bị lầm chấp
hư vọng thành thật có. Tất cả pháp đó vốn không, nhưng
vì vọng chấp mà thành có, nghĩa là nó có thật thể, thật
ngã, và thật pháp. Nếu có trí tuệ Bát-nhã ắt biết rõ
tất cả pháp ấy, bản lai là không chứ không phải là tiêu
diệt, các pháp sẳn có hiện tại luôn luôn biến chuyển không
ngừng nghỉ, chúng là dòng lưu chuyển nhân quả, sanh diệt
không gián đoạn, không có tự thể chính nó nên nói là không
như giữa hư không vốn không hoa đốm, chỉ vì mắt bị lòa
thấy giữa hư không có hoa, bảo giữa hư không có hoa, chứ
kỳ thật giữa hư không chưa bao giờ có hoa. Ví như lông rùa
sừng thỏ, bên phía người mệnh danh cho nó, (người nói nó)
chưa bao giờ kẻ chấp nói lông rùa dài bao nhiêu, sừng thỏ
lớn bao nhiêu, như phía người nghe không hiểu, vin vào giả
danh kia, phân biệt ra thế này thế khác. Sở dĩ vậy, chứ
pháp bản lai không, do vọng chấp mà hóa thành có.
Tướng
chơn không các pháp là tướng chơn thật, bởi thông đạt
các pháp đều không mà hiển lộ ra. Vì chúng sanh vọng chấp
ngã, và các pháp thực có, nên không thực hiện tướng chơn
không các pháp, trái lại, nếu không đạt ngã và pháp là
như thật, không tự tánh, thì tướng chơn không chơn thật
tự nhiên hiển hiện.
III.
Đại-bi tâm:
Cũng
gọi tâm đại bi Bồ-đề. Tâm đại bi, nói đơn giản là
tâm cứu đời, cứu người, cứu khổ, cứu nạn. Tại sao
lại gọi tâm đại bi Bồ-đề. Vì tâm đại bi, muốn đạt
mục đích cứu đời, cứu người không thể không chứng ngộ
quả vị vô thượng Bồ-đề của Đại thừa mà được tâm
đại bi, mỗi khi nóng lòng dụng sự đều vì mục đích cứu
độ chúng sanh thoát khổ được vui, vì chúng sanh mưu toan
hạnh phúc, vì độ chúng sanh được an lạc cứu kính, bởi
tâm đại bi ấy mới có nhu cầu vô thượng Bồ-đề, có chứng
được vô thượng Bồ-đề mới có thể thực hiện được
tâm đại bi cứu nhân độ thế. Tóm lại, vì đại bi không
thể ly Bồ-đề, Bồ-đề không thể ly đại bi, nên gọi tâm
đại bi Bồ-đề.
Ba
cú nghĩa trên đây có thể thâu nhiếp hết thảy pháp lành
thế gian, xuất thế gian mà Phật đã dạy. Những pháp lành
ấy xuất làm 5 thừa: Nhân thừa, thiên thừa (pháp lành thế
gian), Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát thừa (pháp
lành xuất thế gian).
Câu
chư pháp nhân duyên sanh, nghĩa thống nhiếp cả 5 thừa: dù
nơi mỗi thừa thuyết minh một cách, thô tế khác nhau, song
đều lấy câu ấy làm cương lãnh. Làm sao biết thế? Như
pháp lành của Nhân thiên thừa là ngũ giới, Thạp thiện,
Tứ thiền, tứ định, tu theo các pháp đó để tạo nhân lành,
tương lai mới cảm hiện kết quả xuất thế gian. Vì lẽ
có nhân duyên có quả báo ấy nên cả 5 thừa đều kiến lập
trên nghĩa chư pháp nhân duyên sanh.
Câu
Bát-nhã nghĩa, thống nhiếp Ba thừa về xuất thế. Tuỳ theo
sự chứng minh sâu cạn nghĩa chư pháp không tướng mà phân
định 3 thừa. Nếu chỉ thuyết minh nhân ngã tức là pháp
Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác), nếu thuyết minh nhân ngã
không và pháp ngã không cùng thuyết minh nghĩa chơn thật tướng
do hai món không ấy hiển lộ là pháp Đại-thừa. Câu đại
bi tâm, nghĩa là đúng theo ý nhgĩa trong Phật pháp thì nghĩa
này chỉ ở Đại thừa Bồ-tát mà thôi. Tâm đại bi cầu
vô thựơng Bồ-đề, chính là để cứu độ tất cả chúng
sanh thế giới, giải thoát khổ thống, thành đại oai đức,
có đại nghiệp dụng. Hễ phát đại tâm như thế, thực hành
sự nghiệp vĩ đại như thế ấy, là phát tâm Đại thừa
tu hạnh Bồ-tát và kết quả sẽ thành vô thượng Bồ-đề.
Hàng
Nhị thừa lanh lợi tuy cũng có trí Bát-nhã, nên dù không nghe
Phật pháp mà tự minh quan sát các nhân duyên sanh cũng có thể
liễu ngộ các pháp không tướng, chứng giải thoát Niết-bàn
chỉ vì họ không phát tâm Đại bi, không cầu vô thượng
Bồ-đề, nên chỉ cho qua Nhị thừa là mãn túc. Theo tông Chân
Ngôn ở Nhật Bản thì phán đoán hạng này thuộc về Độc
giác thừa thiếu tâm đại bi. Vì lý do ấy, tâm đại bi là
điều kiện để phân biệt giữa Đại-thừa và Tiểu-thừa.
Thí như viên mãn Đại-thừa Phật pháp, tất phải đầy đủ
3 cú nghĩa trên không thể thiếu một hoặc thiếu một cú
nghĩa nào được. Nếu thiên tức có nhiều sai lầm rành rẽ
vậy.
Giả
như thiên về Đại-bi tâm thì có thể độ nhân độ thế,
cứu khổ cứ nạn, thấy người khổ như minh khổ; tận tuỵ
với việc mưu cầu hạnh phúc cho mọi người cũng như tâm
bác ái của nhà tôn giáo. Nhưng tâm ấy dù cao thượng nếu
không hòa hiệp với nghĩa nhân duyên sanh và nghĩa Bát-nhã,
không nhận rõ pháp không, ngã không thì dễ sanh ra các vọng
chấp sai lầm, hoặc chấp vạn vật do Thượng đế sáng tạo,
vì người ta đã thắc mắc tới cùng Thượng đế nên phải
thác sanh vào Thiên quốc. Hoặc chấp rằng: Thế gian này đều
từ nguyên chất vật chất phát sanh bằng theo Duy vật luận
để cải thế vật chất, mới là cứu nhân độ thế. Vì
lẽ đó chỉ có đại bi tâm chẳng những không cứu nhân được
còn trở thành hại thế. Đại-bi tâm còn sa vào các lối vọng
chấp ấy hóa thành một lối thiện tâm hữu lậu, thiện tâm
tà chấp, như trong một bát cơm có tẫm thuốc độc, ăn vào
có thể bụng no, nhưng ăn vào mỗi miếng cơm là ăn vào mỗi
miếng thuốc độc, cơm ấy trở thành hại thân. Đại-bi tâm
theo Phật pháp không rời hai nghĩa nhân duyên sanh và ngã không,
pháp không; vì thiếu hai nghĩa ấy tức trở thành ái kiến
bi vậy. Nên trong kinh Kim-Cang nói: "Nếu Bồ-tát có ngã tướng,
nhân tướng, chúng sanh tướng tức không phải Bồ-tát."
Nói
về chư pháp không tướng mà bỏ nghĩa các pháp nhân duyên
sanh, thì ác thủ không (lối chấp không rất tà vậy) không
đúng sự thật hoặc hóat đại kh