16.
Tụng kinh là đem lại an lạc và hạnh phúc lâu dài
Lâu
nay trong mỗi buổi sáng chủ nhật hàng tuần các Phật tử
đều đến chùa để tụng Kinh Pháp Hoa rất đông và rất
đều. Ngay tại chùa Từ Đàm chúng ta tụng Kinh như thế mà
các Tỉnh khác có nhiều chùa cũng tụng Kinh Pháp Hoa đông
đảo và đều đặn không kém.
Nói
thế để các Phật tử biết, bộ Kinh Pháp Hoa rất có duyên
với hàng Phật tử chúng ta và cũng có duyên rất lớn với
hàng Phật tử thế giới. Chính tại Trung Hoa Ngài Trí Khải
Đại sư đã lấy Kinh Pháp Hoa làm căn bản để lập tông
Thiên Thai. Ở Nhật Bản Ngài Nhật Liên hòa thượng cũng lấy
Kinh Pháp Hoa làm căn bản lập nên tông Nhật Liên. Tông Nhật
Liên ở Nhật Bản hiện nay rất thịnh hành. Các vị tu theo
tông Nhật Liên trên cơ sở lấy Kinh Pháp Hoa này làm tông
chỉ. Thường thường ngoài thì giờ tụng Kinh Pháp Hoa ra,
các vị ấy thường niệm câu "Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh"
mà thỉnh thoảng chúng ta thường thấy những phái đoàn có
các vị sư Nhật Bản đến tại Việt Nam, nhất là mấy năm
nay tại Thành Phố Hồ Chí Minh và Huế, khi từ trên tàu, trên
xe hay trên máy bay xuống, mỗi người cằm một cái trống
dẹp bằng da, tròn tròn như cái quạt có cán, rồi đánh thùng
thùng phát ra thành tiếng. Họ vừa đi vừa đánh trống và
niệm câu "Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh" để cầu nguyện
cho thế giới hòa bình. Ở Huế có lẽ Phật tử chúng ta ít
gặp cảnh này, nhưng ở Thành Phố Hồ Chí Minh thì Phật tử
trong đó thường hay gặp. Thành thử bộ Kinh Pháp Hoa có một
nhân duyên rất lớn đối với hàng Phật tử chúng ta, mà
bằng chứng cụ thể là bây giờ ở Việt Nam Phật tử tụng
Kinh Pháp Hoa rất đông. Vì tính cách quan trọng như vậy, nên
hôm nay tôi sẽ cắt nghĩa chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là thế
nào để Phật tử lĩnh hội thêm.
Diệu
Pháp tức là pháp nhiệm mầu. Chữ Pháp này trong nhà Phật
thường hay dùng. Còn ở đời thường diễn đạt một cách
khác như gọi mọi sự, mọi vật chứ không gọi là pháp.
Trái lại, để diễn đạt ý niệm về cụm từ mọi sự,
mọi vật, đạo Phật gọi là các pháp hay tất cả các pháp.
Nói
một cách khác, những gì mà chúng ta thấy được gọi là
pháp. Chẳng hạn như cái hoa, hòn núi, dòng nước, cành cây
v.v... Mỗi cái mỗi cái như vậy gọi là pháp. Thậm chí khi
ta nói con chim, con người, con trâu hay con vật gì đi nữa,
mỗi cái ta thấy được, ta suy tưởng, ta nghĩ tới, ta tưởng
tượng ra, những cái đó cũng đều gọi là một Pháp. Tôi
thí dụ để quý vị rõ hơn rằng, trong đêm ta nằm chiêm
bao thấy cảnh cọp leo lên đọt cau, cọp mà leo lên đọt
cau trên thực tế ít xảy ra, hay không có, nhưng trong chiêm
bao cảnh cọp leo lên đọt cau cũng gọi là một pháp. Nói
tóm lại, cái gì mình nghe được, thấy được, suy tư được,
tưởng tượng ra... đều gọi là pháp. Trong thực tế cái
mình suy tư đúng cũng gọi là pháp, cái mình tưởng tượng,
mình chiêm bao không thực nhưng với mình là có thì cũng gọi
là pháp. Cho nên chữ pháp trong nhà Phật có một ý nghĩa rất
rộng, rất thâm thúy. Tóm lại, pháp là cái chân lý, cái đạo
lý, cái bổn phận luân lý đạo đức, như bổn phận cha mẹ
đối với con cái, con cái đối với cha mẹ; thầy đối với
trò, trò đối với thầy; vợ chồng đối đãi với nhau...cũng
gọi là pháp. Luân thường đạo lý trong xã hội, cách giao
tiếp đối đãi với nhau như thế nào...cũng gọi là pháp.
Nhà Phật dùng từ Nhất thiết pháp (tất cả pháp) là hay
vô cùng. Khi nói tất cả pháp (nhất thiết pháp) như thế
là bao trùm tất cả không chừa một thứ gì dù là hữu tình
hay vô tình, dù là to như hòn núi hay nhỏ như hạt bụi cũng
đều gọi nó là mỗi một pháp. Chữ pháp có tính cách bao
quát như vậy nhưng ai ngộ được nó, hiểu nó, làm chủ được
nó, người đó được gọi là bậc Giác ngộ, là Đại giác,
là Đại ngộ. Đức Phật đã ngộ được pháp đó nên gọi
Ngài là Đấng Vô thượng Pháp vương. Gọi Ngài là Đấng
Vô thượng Pháp vương vì Ngài đã ngộ được tất cả các
pháp và sự thật hay chân lý của tất cả các pháp đó. Mặt
khác, Ngài đã tự tại đối với tất cả các pháp đó cho
nên gọi Ngài là đấng Vô thượng Pháp vương (Ngài là vua
của tất cả các pháp). Vì sao biết Ngài tự tại đối với
các pháp? Tôi lấy ví dụ, như chúng ta đối với sắc. Sắc
là đối tượng của chúng ta. Hễ thấy sắc gì đẹp, thích
thú một chút là chúng ta say đắm, ham mê theo. Khi đã đam
mê thì đi không dứt, bước không rời, bị dính chặt vào
đó, nên chúng ta bị triền phược vào sắc và không được
tự tại đối với sắc đó. Tôi xin dẫn chứng cụ thể hơn,
như khi chúng ta đang nghe một bản nhạc hay, đang say đắm
như thế từ một cái máy cassette phát ra, đang thả hồn theo
âm thanh trầm bổng thì bỗng nhiên ai đó đến tắt cái máy
đi thì chuyện gì sẽ xảy ra? Chắc chắn là sân tâm sẽ nổi
lên. Như vậy là chúng ta bị dính vào cái âm thanh du dương
đó cho nên chúng ta không tự tại được. Vì không được
tự tại với các pháp như vậy, nên chúng ta làm nô lệ cho
pháp đó. Sắc nó làm cho chúng ta bị nô lệ, âm thanh, tiền
tài, danh vọng...nó là chủ nhân ông chúng ta, chúng ta bị
làm nô lệ cho nó chứ không làm vua được nó, không làm chủ
được nó, như vậy là không được tự tại đối với các
pháp. Vì thế chỉ có Phật mới là pháp vương, chứ chúng
ta không thể gọi là Pháp vương được. Nếu chúng ta có được
tên gọi thì gọi là pháp nô (đầy tớ của pháp, đầy tớ
của sắc, của thanh, của hương, vị, xúc). Một người nghiện
rượu rồi thì mỗi ngày ít ra cũng có vài xị cho họ, nếu
không có rượu là họ quậy phá, vì không làm chủ được
tự thân. Không làm chủ được tự thân thì làm nô lệ cho
pháp, nên không thể gọi mình là pháp vương được mà chỉ
có Phật mới được gọi là Vua pháp.
Khi
nói đến pháp thì pháp trong nhà Phật rất rộng nghĩa. Trong
Kinh Pháp Hoa Đức Phật dùng chữ Diệu Pháp. Vậy Diệu Pháp
là gì? Tức là các pháp nhiệm mầu, các pháp đó có công
năng cảnh tỉnh lòng người, thức tỉnh cái trí tuệ con người,
mở mắt cho ta thấy sự thật một cách sáng suốt để sống
đúng với sự thật, đúng với đạo đức, đúng với lễ
nghĩa, đừng sống theo sự mù quáng của lòng tham, lòng sân,
lòng si mà đau khổ, cho nên gọi là Diệu Pháp.
Thứ
đến Diệu Pháp ở đây gọi là Pháp vi diệu mà Đức Phật
muốn chỉ cho ta biết tất cả mọi người, tất cả chúng
sinh đều có tính giác ngộ, đều có Phật tính ở trong lòng.
Ai cũng có Phật tính, mỗi người đều có một ông Phật
ở trong lòng, mà ông Phật đó dù ở hạng người nào đi
nữa, phàm phu hay thánh giả, lớn hay nhỏ đều không thay đổi,
ví như Liên Hoa (Hoa sen). Hoa sen dầu ở dưới bùn nhơ nhớp,
tanh hôi, nhưng Hoa sen không bao giờ bị vướng mùi tanh của
bùn, Hoa vẫn thơm ngát khi vượt lên khỏi nước, gặp ánh
sáng thì Hoa nở ra đẹp đẽ và tỏa hương thơm dâng tặng
cho đời. Cũng vậy, cái ông Phật ở trong lòng mỗi chúng
sinh, nếu được phát huy cao độ, tu hành tinh tấn, nó cũng
sẽ được tỏa ngát như sen trong bùn, mọc lên từ bùn mà
không dính mùi ô trược, vươn cao và tỏa ngát hương cho đời.
Nếu ai tu theo Phật thì chắc chắn sẽ thành Chánh quả, nên
gọi là Diệu Pháp Liên Hoa.
Trong
Kinh Pháp Hoa, ngài Bồ tát Thường Bất Khinh vì hiểu được
cái lý đó, cho nên mỗi khi gặp ai, ngài cũng chắp tay cung
kính niệm: "Nam Mô A Di Đà Phật, tôi không dám khinh ngươi,
ngươi tu hành Bồ tát đạo, tương lai sẽ thành Phật". Các
Phật tử ở đây chắc ai cũng nhớ chuyện của ngài, đó
là Thường Bất Khinh Bồ tát. Chữ Bất Khinh là thế nào?
Là không khinh người cũng không khinh mình, không chê bai người
cũng không chê bai mình, không hạ giá mình cũng không hạ giá
trị của người, nên gọi là Thường Bất Khinh Bồ tát. Gặp
ai ngài cũng chắp tay cung kính niệm: "Tôi không dám khinh ngài,
vì ngài tu hành Bồ tát đạo, tương lai sẽ thành Phật". Ngài
làm việc này y như bỡn cợt, có những người không hiểu,
họ mắng Ngài: Cái anh này bá láp, biết chi mô mà nói tương
lai ngài sẽ thành Phật, thôi đi chỗ khác. Chỉ vì hành Bồ
tát đạo mà có người mắng, có người vác đá ném ngài,
nhưng tâm của ngài vẫn không thay đổi. Họ đuổi thì ngài
chạy, họ đánh, họ vác đá ném ngài thì ngài tránh, không
tránh được thì nhẫn nhịn, nhưng hoan hỷ với câu: "Nam Mô
A Di Đà Phật, tôi không dám khinh quý ngài, vì ngài tu hành
Bồ tát đạo, tương lai ngài sẽ thành Phật". Vì sao ngài
làm vậy? Vì ngài tin tưởng ở trong con người ai cũng có
một ông Phật, nếu như người đó biết phát huy, tu hành
theo lời Phật dạy, người đó sẽ làm Phật cho nên ngài
có lời nguyện như vậy. Trong thời đại ngày nay, ta không
làm như ngài mà có cách làm khác, đó là khi gặp nhau thay
vì nói như ngài chúng ta nói: "Nam Mô A Di Đà Phật" hay nói
"Mô Phật" thì cũng gần nói như câu nói của ngài vậy. Câu
nói ấy là để nhắc nhở nhau nhớ tới ông Phật trong lòng
mình. Khi đã nhớ tới Phật thì tất nhiên mình quên tính
chúng sinh. Vì tính chúng sinh là tính tham, sân, si. Đó cũng
là một cách thực hiện ý nghĩa trong Kinh Pháp Hoa, hay nói
một cách khác đó cũng là một cách tụng Kinh Pháp Hoa.
Có
một lần, Đức Phật đi khất thực với Tôn-giả Ananda. Khi
ngài đi ngang qua một cánh rừng, Ngài nhìn thấy ở trong bụi
cây một hủ vàng lấp lánh, Ngài liền chỉ vào và nói: "Rắn
độc đó, Anan!" Tôn-giả Ananda nhìn vào cũng thấy hủ vàng
đó liền thưa: "Dạ, bạch Thế Tôn rắn độc lớn quá!" Khi
đó, tình cờ có một anh chàng nông phu đi theo sau, nghe thầy
trò Đức Phật đi trước, nhìn vào trong bụi nói rắn độc
lớn quá thì anh ta đâm ra thắc mắc. Chờ cho Đức Phật và
Tôn-giả Ananda đi qua rồi, anh ta liền tới xem rắn độc to
cỡ nào? Nhìn kỹ vào trong bụi, ngó quanh ngó quất cũng không
thấy rắn độc đâu cả, nhưng vẫn rình coi cho chắc. Anh
rình một hồi lâu cũng không thấy động tĩnh gì, anh bèn
lấy cây que khều khều cái hủ cũng không thấy rắn bò ra.
Anh ta chui vào nhìn kỹ trong hủ thì thấy toàn là vàng ròng.
Tuy nhiên anh ta cũng nghi, vì không biết chừng con rắn núp
dưới hủ vàng cũng nên, nên không dám mò tay vào hủ, nhưng
sau một thời gian rình mò, lật qua lật lại, quay tròn cái
hủ vàng cũng không thấy động tĩnh gì, khi ấy anh mới yên
tâm là không có rắn. Được hủ vàng to quá, anh ta lắc đầu
có ý chê Đức Phật và đệ tử của Ngài, và nghĩ: Rứa
mà lâu nay thiên hạ cứ nói ông Phật là bậc Nhất Thiết
Trí, cái gì ông cũng hiểu hết, cái gì cũng biết hết, bấy
giờ hủ vàng sờ sờ trước mặt mà Thầy thì nói là rắn
độc, trò thì nói là rắn độc to quá. Chao ôi! Cả hai thầy
trò sao mà u tối thế, sao mà dại thế, vô minh quá!
Bây
giờ anh ta yên chí mình được hủ vàng, nhưng cũng chưa dám
đem về ngay mà đợi đêm tối mới đem về, vì sợ ban ngày
người khác phát hiện thì tính sao. Khi đem được hủ vàng
về nhà, hai vợ chồng đem đèn soi lại thì thấy toàn là
vàng ròng, mừng quá nên quên ăn và cũng không ngủ được.
Hai vợ chồng bàn qua tính lại suốt cả đêm, họ nói: Chà,
bây giờ được hủ vàng rồi, cuộc sống sẽ lên ngôi, chứ
lâu nay cực khổ, làm bữa hôm ăn bữa mai, có buổi sáng mất
buổi tối, trăm điều cơ cực. Bây giờ có vàng rồi thì
lại thao thức, hậm hực, bồn chồn mất ăn mất ngủ, vì
những toan tính chuyện nọ chuyện kia. Hai vợ chồng liền
bàn tính với nhau rằng, trước mắt là nên hỏi xem ngoài
phố, có ai bán ngôi nhà lầu nào không để mua một cái. Lại
phải hỏi có ai bán xe hơi đời mới mua thêm một chiếc.
Bây giờ có vàng rồi thì tha hồ mà tiêu xài. Tính toan như
vậy nên những ngày sau đó, cả hai vợ chồng chẳng làm lụng
gì cả mà cứ đi ngó ngó dòm dòm xem có ai bán nhà, bán xe
hơi không để mà mua. Hàng xóm thấy vậy sanh nghi, liền báo
lên quan về hành động khả nghi của hai vợ chồng anh nông
dân kia. Quan cho đòi lên hỏi: Anh được vàng sao không khai
báo với Quan? Anh ta liền chối bai bải, nhất định không
có, họ nói xấu và nghi oan cho vợ chồng tôi, chứ thật không
có chuyện được vàng. Quan liền cho lính về khám xét nhà
anh ta và phát hiện ra một hủ vàng to lắm.
Vì
gian dối về tội được vàng không khai báo, nên anh bị tống
giam vào ngục, khi ở trong ngục tối, vừa đói vừa lạnh,
vừa bị muỗi đốt, rệp cắn, anh ta liền la lên: Rắn độc
Thế Tôn, rắn độc Ananda, rắn độc Thế Tôn...miệng anh
ta la oai oải như vậy làm anh cai ngục ngủ không được, liền
chạy vào hỏi anh ta: "Này anh kia, rứa Thế Tôn và Anan có
thù oán gì với anh mà anh lại mạt sát Ngài và đệ tử Ngài
là rắn độc nhỏ và rắn độc lớn như vậy? Bấy giờ anh
mới khai thật. Thưa Quan, tôi không phải có thù oán gì với
Thế Tôn và Anan hết. Chính khi nằm trong tù tôi mới nhận
ra được, hiểu được cái lời kêu rắn độc của Thế Tôn
và Anan. Lời đó đã thức tỉnh lương tâm tôi, làm tôi ăn
năn không kịp nữa rồi. Khi nghe Thế Tôn nói rắn độc Anan
và Anan thưa lại, đại rắn độc Thế Tôn, khi nghe như vậy
tôi chui vào bụi cây và thấy một hủ vàng ròng, tôi cho rằng
Thế Tôn và Anan là dại. Họ tu hành quá nên không biết gì
cả. Tôi có ngờ đâu Thế Tôn ví vàng là rắn độc. Chính
giờ phút này nằm trong tù tôi mới thấm thía câu nói của
Thế Tôn là chí lí vô cùng. Và đó mới là rắn độc, khi
ấy tôi ngu quá mà tự cho mình khôn, trở lại chê bai Thế
Tôn là dại. Giờ đây tôi mới tin, sực tỉnh ra mới biết
mình ngu, mình dại. Thức tỉnh được lời nói đó của Ngài
tôi mới nhắc lại lời Ngài nói để cám ơn Ngài. Chính Ngài
đã khai tâm mở lòng cho tôi mà tôi không chịu tiếp thu, cho
nên tôi mới chịu khổ như thế này.
Khi
nghe như vậy Quan nói: Rứa bữa ni mi đã hiểu ra điều đó
rồi phải không? Ngươi đã hiểu lời nói rắn độc của
Thế Tôn và Anan chưa? Nếu đã ngộ ra rắn độc thì nay ta
cho ngươi về, lần sau đừng tái phạm.
Trước
một hủ vàng như vậy mà Đức Phật đi qua không dính mắc
chi hết, Ngài tự tại vô cùng. Ngài hằng ngày đi khất thực
rồi về tịnh xá thuyết pháp, Thiền định không dính gì
về hủ vàng hết, rất an lạc trước các pháp nên gọi là
Pháp vương. Còn anh nông dân sau khi thấy hủ vàng thì tham
đắm và chết theo hủ vàng. Phật và chúng sinh chỉ khác nhau
một chút đó mà thôi. Như vậy, khoảng cách giữa Phật và
chúng sinh chỉ bằng một sợi tóc, nhích bên kia là ngộ, ngã
bên này là mê. Ngộ là Phật và mê là chúng sinh. Ngộ thì
được tự tại giải thoát, còn mê thì bị triền phược
đau khổ lâu dài. Đó là chuyện ngày xưa. Còn ngày nay chúng
ta ra đường gặp vàng thì sao? Nếu một mai kia vào một buổi
sáng tốt trời, chúng ta đi ra ngõ gặp một thỏi vàng thì
tính làm sao? Bỏ đi hay là lượm cất?
Chuyện
hơi khó nghĩ phải không? Đây là một bài học để thử lòng
mình, coi sự tỉnh ngộ, sự triền phược, sự giải thoát
của mình đến ngang đâu đối với sự việc xảy ra trước
mắt. Theo ý tôi nếu sự việc xảy ra như vậy, chắc chắn
chúng ta cũng lượm nó lên thôi. Tôi đoán rằng các bạn cũng
đồng ý với tôi 200 phần trăm chứ không ít hơn. Chỉ có
điều lượm về sử dụng như thế nào đừng để bị nó
cắn. Đó là một vấn đề. Bất cứ cái gì, vật gì, dù
thuộc vật chất hay tinh thần mà ta ích kỷ, chỉ thủ riêng
một mình, cho riêng mình thì đó là điều không tốt, có hại,
nhất định sẽ bị nó cắn, bị nó đày đọa làm cho ta đau
khổ dài dài. Trái lại, bất cứ cái lợi gì, danh gì mà ta
có được, ta đem trang trải cho mọi người cùng hưởng, mọi
người cùng vui, cái đó sẽ đem lại niềm vui và an lạc lâu
dài, chắc chắn cái đó không bị nó cắn đâu.
Chúng
sinh có cái bệnh tham danh mà hại đến thân. Tham nhiều thì
chết sớm, không tham thì sống lâu. Chỉ vì tham danh huyễn
mà có một số người khi nào cũng ưa ngồi trên thiên hạ,
khi nào cũng tự cho mình là hơn thiên hạ hết, coi thiên hạ
không ai ra gì, có nghĩa là họ cho cái TA của họ là độc
tôn, cho nên dễ bị nó cắn, như hủ vàng kia vậy. Cái lợi
cũng như thế, nếu như có lợi mà chỉ biết riêng cho mình,
không trang trải cho mọi người cùng hưởng thì cũng bị nó
cắn. Trái lại, khi có lợi thì mình phải trang trải cho người
này một ít, người kia một ít, thì mình luôn luôn có tình
yêu thương đùm bọc của những người chung quanh, chắc chắn
mình sẽ được an lạc. Như vậy là mình luôn luôn được
tự tại, không bị ai gây đau khổ và như vậy là không bị
ai cắn. Cho nên chúng ta cũng dễ phân biệt người có tu và
người không tu là ở chỗ đó. Không phải người tu gặp
vàng họ không lấy, nhưng người tu biết cách sử dụng như
thế nào cho có lợi mình và lợi người. Người tu biết cách
sử dụng vàng như thế nào để đừng có hại người, đừng
bóc lột, đừng có chà đạp lên sự an lạc, hạnh phúc của
người khác, nhất là lấy sự khổ đau của người khác làm
hạnh phúc cho chính mình. Như vậy người tu cũng có thể lượm
vàng, nhưng sử dụng như thế nào cho hợp đạo lý, cho đúng
tinh thần tự lợi, lợi tha, từ bi, hỷ xả của Đức Phật,
thì đó mới là xảo diệu, hành sự như pháp của người
tu. Cho nên cũng đối với một pháp đó, Đức Phật thì gọi
là Vua Pháp, còn mình thì không thể gọi là Pháp Vương, Pháp
Vương là Vua Pháp, tự tại đối với các pháp, rõ biết tất
cả các pháp, không bị một pháp nào làm triền phược hết.
Chúng
ta thường đọc kinh, nghe giảng về những lời dạy của Đức
Phật như: Thế giới như mộng huyễn, nhơn sanh như không hoa
(Thế giới như mộng huyễn, đời người như hoa đốm giữa
hư không). Chúng ta biết như thế, nhưng chúng ta chưa sống
được như thế. Chúng ta biết thế giới vô thường, nhưng
ngộ được cái lẽ vô thường đó rất khó. Nếu không ngộ
được thì nó làm cho mình đau khổ lâu dài, còn ngộ được
thì hết đau khổ. Nói nghe thì dễ nhưng thực hành thì vô
cùng khó. Có một số người không ngộ được lẽ vô thường
đó nên luôn bám chặt vào đó cho là thường, vật của mình
nắm trong tay rồi thì vật đó phải là thường, còn vật
trong tay thiên hạ thì cầu cho nó vô thường, kể cũng lạ
đời. Mình có cái áo đẹp ước mong cho nó đừng bao giờ
cũ, đừng bao giờ rách, đừng cháy, đừng mất, đừng phai.
Nhìn lên bề mặt thấy láng cầu cho nó đừng bao giờ nhăn.
Tóm lại cái gì đã vào tay mình rồi thì nó là thường, như
cái nhà đang ở cầu cho nó thường đừng bao giờ hư, đừng
cháy để còn truyền tử lưu tôn với đời, đời này sang
đời khác, kiếp nọ sang kiếp kia, trường tồn mãi mãi. Phật
dạy thế gian vô thường, nhưng cái gì vào trong tay mình rồi
thì cầu cho nó thường. Cái thường mà mình chấp chặt, mình
ưa thích ấy chính là cái vô thường. Vì vô thường cho nên
bị đau khổ triền miên không bao giờ dứt.
Sau
năm 1975, tôi đang ở Nha Trang, có một Phật tử từ Đà Lạt
về, cũng đi chùa, nhưng tôi chắc Phật tử này đi chùa để
cầu phước, chứ tâm chưa thấm đạo được bao nhiêu, đến
thăm tôi và nói: "Ôi chao Thầy ơi! Thầy có cách chi chỉ vẽ
cho tôi sống với, bây giờ tôi hoảng quá Thầy ơi". Tôi hỏi:
"Sao Bác hoảng hung vậy?" - Dạ, nhà họ lấy hết. Tôi hỏi:
Họ lấy mấy cái? - Dạ, 9, 10 cái lận. Tôi hỏi tiếp: Rứa
Bác còn cái nào không? Ông ta trả lời: Dạ, còn một cái.
Tôi lại hỏi: Nhà chi? Ông nói: Dạ, nhà lầu ba tầng. Tôi
hỏi: Bây giờ Bác ở với ai? - Dạ, ở với hai ông mụ tra.
Tôi nói: Ôi chao, bác còn một cái nhà lầu ở với hai ông
mụ tra mà hoảng thức nớ, rứa sao bác không ngó mấy người
đang ở ngoài bụi kia tề! Họ ở ngoài bụi, ngoài góc đình
mà không thấy họ hoảng, trái lại bác còn cái nhà lầu ba
tầng sao bác hoảng quá vậy? Ông ta nói: Ả, à, té rứa. Té
ra khi ấy ông ta mới biết mình còn một căn nhà lầu nữa.
Lôi trâu mà đi tìm trâu. Ở trên hạnh phúc mà không biết
hạnh phúc. Ông ta còn một cái nhà để chui vô chui ra, đó
là một hạnh phúc chứ đòi hỏi gì hơn nữa. Mấy người
ở ngoài xó bụi kia làm sao hơn ông được. Thế là ông có
hạnh phúc mà không biết là vì sao? Là vì ông quá tham lam
chứ còn sao nữa. Vì tham lam tiếc của nên cứ tin rằng, chấp
rằng: Mười cái nhà của mình đã có giấy tờ trước bạ
hẳn hoi, không ai đụng chạm gì được hết, thế mà bây
giờ họ lấy ngang xương, đi kiện đâu bây giờ. Ông ta tức
vì ông ta không rõ vô thường nên đau khổ.
Nhân
đây tôi cũng xin kể thêm một câu chuyện nữa để chứng
minh cho lòng tham lam, nhưng khi kể chuyện này mong các bà các
cô đừng có buồn. Có hai vợ chồng nọ ăn ở với nhau hòa
thuận, tử tế lắm, không có xích mích to tiếng gì với nhau
cả. Một hôm,ông chồng đi làm xa, ba bốn tuần mới về nhà
một lần. bữa nọ trên đường đi làm về nhà, trời oi bức
nóng nực lại phải đi đường xa, nên anh ta khát nước vô
cùng. Mấy lần trước trên đường về anh ta có thấy quán
xá bán nước, còn lần này thì không có quán nào bán hết,
vì vậy nên cơn khát càng thiêu đốt anh ta dữ dội. Đang
lúc đó thì may sao trong lùm cây có tiếng róc rách, anh ta tìm
đến có một khe suối nhỏ có nước từ trong đó chảy ra.
Nước trong mát đọng thành một vũng, anh ta dùng tay vốc lên
để uống. Vừa hết cơn khát thì anh quay về. Bất ngờ, sau
khi uống nước xong trên đương về thì thình lình cơ thể
anh thấy có sự hưng phấn và sảng khoái đến tột đỉnh,
chính khi đó cơ thể anh thay đổi hết.
Khi
ra đi là một ông nông dân trung niên, còn bây giờ trở về,
ông trở thành một anh chàng thanh niên khôi ngô tuấn tú đẹp
trai vô cùng. Anh nhớ trước khi ra đi tóc anh đã hoa râm mà
bây giờ thì xanh mướt, trước da nhăn bây giờ trơn láng,
trước kia răng rụng hai má đã hõm sâu, nay thì răng mọc
nguyên vẹn và hai má căng phồng, trước lưng đi lom khom bây
giờ lưng thẳng đứng. Khi về nhà bà vợ không nhận ra anh
nữa nhưng anh vẫn nói với vợ: Bà nó ơi, dọn cơm cho tôi
ăn kẻo đói bụng lắm rồi. Bà vợ cứ lơ lơ coi như không
nghe thấy. Một lát, mụ liền quay ra hỏi lại: Rứa anh ở
đâu lại mà bảo tôi dọn cơm cho anh ăn? Ông ta quay mặt lại
nói nói vợ: Bà này lạ chưa, tôi là chồng của bà sao bà
nói lạ rứa. Bà nói: Ông có nhận lầm không, chứ chồng
tôi đâu phải như thế này. Chồng tôi tóc đã hoa râm, răng
đã sún, da lại nhăn, lưng hơi khòm khòm, đâu có trẻ đẹp
như sức ni, chắc ông nhìn lầm người rồi. Chị ta không
nhận, cuối cùng anh ta phải nói thật với vợ mình. Anh kể,
trong lúc đi đường về khát nước quá, anh cố tìm nước
để uống nhưng không có, lúc đó anh nhận thấy có một suối
nước nhỏ chảy róc rách trong lùm cây, anh vội tới lấy
tay vốc vài ngụm uống thì thấy trong người khỏe khoắn
vô cùng, và trên đường về đây thì con người anh nó trẻ
trung ra vậy đó
Bà
vợ nghe kể và thấy chồng trẻ ra như vậy, nóng lòng nói
với chồng: Này anh rứa chỗ đó là chỗ nào, anh chỉ cho
tôi tới đó uống vài hớp để tôi ở với anh, chứ vô lẽ
bây giờ anh trẻ mà tôi già, vợ chồng ở với nhau ngó sao
được, anh chỉ cho tôi tới đó uống vài hớp đi. Bà vợ
năn nỉ có vẻ cầu khẩn. Người chồng liền chỉ đường
cho bà vợ đi đến chỗ có suối nước mà anh đã uống. Chị
ta đến chỗ có khe nước, thay vì uống vài hớp, thì bà uống
cho đến khi không còn uống được nữa. Do uống nhiều và
nhanh quá nên cơ thể thay đổi một cách đột ngột. Từ một
bà trung niên bây giờ nó trẻ hẳn ra và dần biến thành một
đứa trẻ nằm ngọ ngọe không đi về nhà được nữa. Ở
nhà anh chồng không thấy vợ về sinh nghi và đi tìm. Ai dè
khi đến thì thấy vợ mình đã biến thành trẻ nít nằm bên
bụi cây. Vì thương vợ nên anh đành ẵm vợ về và nuôi
nấng như trẻ con. Thế là đêm nào anh cũng dỗ vợ như dỗ
con nít, có khi còn phải mem cơm cho vợ bé ăn, săn sóc cho
bé ngủ, hát dỗ cho bé khỏi khóc.
Qua
câu chuyện đó, chúng ta thấy vì quá tham nên không lường
trước được hậu quả. Nếu bà ta uống vừa vừa đủ khát
như anh chồng thì đâu đến nỗi hóa ra trẻ nít vậy. Chúng
ta không thấy luật nào cấm uống nước cho hết cơn khát,
Phật cũng không cấm chuyện đó, nhưng nếu quá tham, vượt
ra khỏi khuôn khổ của đạo lý xã hội thì tất nhiên sẽ
bị phản ngược trở lại, thay vì được lợi thì lại bị
hại mang họa vào thân. Chuyện tuy bình dị nhưng nó là bài
học dạy cho tất cả chúng ta ứng dụng qua nhiều chuyện
khác. Tôi ví dụ hiện nay chắc cũng có nhiều người chơi
hụi, chơi số đề, lâu lâu nó cũng trúng một vài lần, thấy
có lợi nên sinh tham. Chỉ đánh một ngàn mà trúng ba chục
ngàn ai mà không ham, đánh 30 ngàn lợi 300 ngàn ai mà không
muốn. Cứ nằm mà tưởng tượng đánh 300 ngàn mà lợi 300
triệu chắc là thành tỷ phú. Tuy nhiên có mấy người đạt
như ý tưởng tượng đó? Học Phật nghe giảng về lý nhân
quả, áp dụng vào các trường hợp này các Phật tử thấy
sao? Nhìn cho kỹ, suy cho tới, cái nhân của họ bỏ ra ít quá
mà muốn hưởng cái quả quá to, đó là điều nghịch lý.
Chính vì vậy mà đa số những người đánh đề, đánh bạc,
ít người giàu có mà phần nhiều phải bán nhà, bán xe, gia
đình tan nát. Chuyện này cũng như chị ta uống quá nhiều,
từ già hóa ra đứa con nít có khác gì hơn.
Biết
bao nhiêu người cứ hay tưởng tượng, tưởng tượng theo
cái tham của mình, khi lòng tham chất chứa nhiều thì tưởng
tượng càng mãnh liệt, càng bộc phát mạnh hơn và con người
cứ theo đà tưởng tượng đó mà sinh đau khổ. Trái lại,
khi họ thức tỉnh sống một cách tỉnh giác, sống một cách
bình thường thì tất nhiên sẽ không bị khổ đau. Chúng ta
bị đau khổ vì chúng ta chất chứa lòng tham một cách không
chính đáng.
Lại
một bữa nọ, có một Phật tử đi chùa tụng Kinh Pháp Hoa,
thấy mình tụng ba, bốn năm liền nhưng không thấy Thầy phong
cho một chức gì hết, tụng ngày này qua tháng nọ, mà thấy
Phật cũng không cho mình thêm một chức nào, Ngài chỉ im re.
Một hôm, có một chị bạn tớ nói rằng: Tôi đi tu bên chỗ
đó, ông Thầy phong cho tôi chức nọ chức kia. Chị ta nghe
vậy ham quá và năn nỉ xin đi. Để phụ họa thêm lời của
mình là nói có sách mách có chứng, thêm trọng lượng, chị
bạn bèn tô thêm: Này mi, ông Thầy ấy ông tu cái đạo gì
lạ lắm, tao mới vào tu vài ba hôm mà thấy con người phơi
phới, nào là thấy được tiên, thấy được thánh, thấy
được Phật, thấy đủ mọi thứ. Thế là chị ta bỏ tụng
Kinh bên này chạy sang tu bên đó, chứ còn tu bên này không
linh. Thầy bên này giảng Kinh Pháp Hoa coi cũng không linh, chắc
Thầy bên này nói không thiệt, chắc Thầy bên kia chắc thiệt,
tu với ông mau thành lắm, tu hai ba hôm là thấy được Phật,
được ma ngay. Với lại, tu với ông vài ba hôm được phong
làm Bồ tát, làm Như Lai, làm Di Lặc nữa, thật là sung sướng,
chứ còn tối ngày tụng Kinh Pháp Hoa với mấy Thầy bên này
đâu có phong cho cái chức đó! Chị ta dẫn chứng thêm: Mi
lên chùa Từ Đàm tụng Kinh Pháp Hoa lâu năm mà có thấy Ôn
Từ Đàm phong cho chức Bồ Tát, chức Phật, chức Như Lai như
bên này không? Chứ mi qua tu với ông Thầy bên này chắc năm
ba hôm là ông phong cho mi nhiều chức như vậy, mi có đã không?
Rứa là mê mệt chạy theo, vô tình đi theo bùa ngãi mà không
biết.
Bùa
ngãi trong Kinh nói có nhiều loại, áp dụng không đúng cách
dễ gây nguy hiểm cho mình và cho người lắm. Ở trong Nam có
bùa Miên, ở Huế bây giờ mê tín cũng nhiều lắm. Các Phật
tử nên thận trọng cảnh giới về sự nguy hiểm của các
loại bùa đó. Thậm chí tôi còn nghe kể, một số người
đi đường, bị một số kẻ dùng bùa mê làm cho mê hoặc,
rồi họ biểu cởi vòng vàng nhẫn bạc, trong người có gì
nó biểu đưa là đưa hết, mà không hề biết mình đưa. Về
nhà mới phát giác mình bị bùa mê, bị nó dụ dỗ mà không
hay không biết. Thật là hung hiểm!
Thành
thử nếu gặp một người lạ khả nghi tới gạ gẫm mình,
bắt chuyện với mình, hỏi tên họ mình, hay ngồi la cà bên
mình vỗ vai, hoặc đòi xem tay xem chân thì nên tránh xa. Nếu
mình để cho họ vỗ vai, hỏi tên mà mình nói ra là trúng
bùa mê của họ không chừng. Khi đã vào cơn mê thì thầy
bùa bảo gì làm nấy, biểu gì nghe nấy. Bùa ngãi nguy hiểm
ghê gớm, các Phật tử nên thận trọng.
Do
đó, các Phật tử phải tự vấn lương tâm mình trước cảnh
danh lợi, coi cái tham của mình đến mức nào để tự điều
chỉnh. Tôi xin đơn cử một vài ví dụ: Ngày hôm trước nếu
chúng ta gặp một món lợi bất chánh giá trị đến cả trăm
triệu đồng. Do lòng tham nên chúng ta cố tìm mọi cách sở
hữu cho được số tiền bất chánh trên. Ngày hôm nay đi chùa
tụng Kinh Pháp Hoa, tâm mình có tham muốn như thế nữa không?
Đối với đồng tiền phi nghĩa, người ta đánh rơi, mình
có tham như thế nữa không? Đó là cách thử lòng mình, mình
đã sửa tới mức độ nào? Và tụng Kinh Pháp Hoa đã thấm
tới ngang đâu? Chứ không phải đợi đến lúc phong cho một
cái chức hảo, nào là Phật, nào là Như Lai, nào là Bồ tát
và gì gì đi nữa thì sướng vô cùng. Còn Ôn Từ Đàm không
phong thì mặt ỉu xìu như đám ma! Nếu có ai đó phong cho mình
chức Như Lai, mà mình không có dính một chút gì về Như Lai,
thì nhận chức mà làm gì? Phong chức Bồ tát mà chính mình
làm toàn những chuyện phàm phu, thì ai phục không, có ai quí
không? Chắc không ai quí gì chức đó. Thế nhưng chúng sanh
cũng hay ham thích cái danh huyễn như phong cho chức Bồ tát
thì ham lắm, mặc dầu việc làm của mình không dính gì đến
Bồ tát hết, nhưng khi nghe phong thì sướng lắm.
Lại
cũng có một số người ở đời không có một chút gì đạo
đức hết, nhưng khi nghe người khác nói anh là người có
đạo đức, ăn ở có lương tâm thì anh thích lắm, nhưng chính
họ là người bỏn xẻn, cho vay nặng lãi, ức hiếp kẻ thế
cô... nhưng khi được nghe lời nịnh hót anh là người ăn
ở có đức, rộng rãi hay giúp người thì hả hê lắm. Các
Phật tử phải thấy rằng, chúng ta thường ham cái danh cái
lợi, mà cái danh cái lợi đó không đúng sự tnhật cho nên
phải sống trong sự giả dối. Mà đã sống trong sự giả
dối, thì luân hồi đau khổ dài dài.
Cho
nên tụng Kinh Pháp Hoa là để phát huy cái Phật tính trong
mình và đồng thời cũng để phát huy cái Phật tính của
mọi người nữa. Đó là mục đích của việc trì tụng Kinh
Pháp Hoa. Thay vì làm như ngài Thường Bất Khinh Bồ tát đã
làm là tán thán mọi người, ngài nói: "Tôi không dám khinh
ngươi vì tương lai ngươi sẽ thành Phật, vì ngươi tu hành
Bồ tát đạo."Qua ngài chúng ta học cái tinh thần của ngài
bằng cách tự mình phải giáo dục con cháu mình, thân nhân
của mình không làm những điều sai, điều quấy, khuyên họ
không nói những lời hại người, những câu bất kính, trái
lại phải khuyên răn họ nói những lời lành, làm những việc
tốt, thì đó cũng là cách áp dụng Kinh Pháp Hoa vào trong đời
sống và chắc chắn tương lai sẽ làm Phật. Nếu mình tụng
Kinh Pháp Hoa mà để con cái ở nhà hút xì ke ma túy, hay ném
đá và chửi lộn với hàng xóm, người ta có nói thì liền
chửi lại, con mình hư hỏng mà không biết dạy dỗ thì tất
nhiên không đi đúng tinh thần Kinh Pháp Hoa mà mình đã tụng.
Bởi vì Kinh Pháp Hoa dạy cho mình: Khai thị ngộ nhập Phật
tri kiến. Ngài khai thị để cho mình ngộ nhập Phật tri kiến,
tức là biết được ông Phật (Phật tính) ở trong lòng mình
mà phát huy cái Phật tính đó, chứ đừng để cái tham, sân,
si, ngã mạn, cống cao, tật đố nó khuất lấp cái Phật tính
của mình. Đồng thời chúng ta cũng nên nhớ rằng, trong lòng
mỗi người ai cũng có Đức Phật hết, chứ không phải ai
sanh ra cũng là bậy hết, là không tốt. Tỷ như ta sinh ra một
đứa con, đứa con đó bẩm sinh đã đi phá làng phá xóm ngay
đâu, nhưng vì thiếu dạy dỗ, vì mình không để tâm uốn
nắn những điều sai quấy của nó cho nên nó mới đâm ra
hư hỏng. Mình để cho nó hư hỏng tức là Phật tính trong
lòng nó không có ai khai mở, Phật tính bị vùi lấp, che kín
thì mình cũng có lỗi với con cái một phần, vì mình chưa
học được cái hạnh của ngài Bồ-tát Thường Bất Khinh.
Nếu
ngài Thường Bất Khinh đi đâu cũng niệm: "Tôi không dám khinh
các ngươi, vì các ngươi tu hành Bồ tát đạo, tương lai sẽ
thành Phật", thì giờ đây mình phải dạy con cái của mình
đừng đi phá phách, đừng đua xe, đừng theo bạn bè hút xì
ke, nghiền ma túy. Tóm lại là đừng làm những điều tai hại
cho xã hội, đó cũng là dạy cho con cái mình bỏ điều xấu
xa mà làm việc lành, đó là học tập hạnh của ngài Thường
Bất Khinh Bồ tát. Làm được như vậy mình mới tạo được
cảnh giới an lạc cho bản thân, cho gia đình mình và cho xã
hội nhân quần nữa.
Trong
thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, có một số bậc
cha mẹ chạy theo công việc kinh doanh không còn thì giờ săn
sóc con cái, và con cái bị buông lỏng thì bóng ma tử thần
như ma túy, nghiện ngập, bủa vây, đi vào con đường sao đọa
và
cái giá phải trả là, không biết bao nhiêu gia đình than vắn
thở dài, khóc lóc buồn khổ vì con cái hư hỏng, là vì sự
buông lỏng của các bậc có trách nhiệm vậy.
Sự
đau khổ của cha mẹ vì con cái hư hỏng là nỗi khổ tâm
ám ảnh hằng ngày trong xã hội hiện nay, nó gây nên một
sự nhức nhối kinh niên. Cũng như khi chúng ta ghét ai, thù
ai, tức giận ai cũng khổ, nhưng khổ một thời gian ngắn
thôi. Nhưng con cái và người thân trong nhà mà hư hỏng, hàng
ngày gặp mặt nó mãi, có ghét đuổi nó đi cũng không được,
mắng chửi nó cũng không xong, đánh hoài cũng không phải là
cách dạy tốt, rứa mà phải gặp mặt nó mãi thì khổ biết
bao nhiêu mà kể. Cái khổ đó truy nguyên từ đâu mà ra? Có
người nói: Sanh con ai dễ sanh lòng, tính của nó như vậy
tôi chịu thôi. Nhưng vì sao mình sinh nó ra được mà tính
của nó thì chịu thôi là vì sao? Hãy tự hỏi mình đã tận
lực giáo dục con cái đến nơi đến chốn chưa? Đó là một
vấn đề lớn mà các Phật tử nên lưu ý và tìm cách giải
quyết.
Tóm
lại, là người Phật tử phải biết mình tụng Kinh Pháp Hoa
để làm gì? Tụng Kinh Pháp Hoa là để khai hóa, chỉ cho mọi
người thấy rõ, mỗi người là một hoa sen, mặc dù bản
chất của nó là thơm nhưng vẫn ở trong mùi bùn. Hoa sen tuy
ở trong bùn mà không dính mùi bùn, trái lại còn mang hương
thơm dâng hiến cho đời. Biết vậy thì tự mình phải trân
quý hoa sen trong bản thân mình, làm cho Phật tánh trong mình
tỏa rạng hơn lên và phải kềm chế lòng tham, sân, si trong
tâm mình. Nếu không kềm chế, không sửa chữa thói hư tật
xấu thì làm sao mà thành Phật được, làm sao mà giáo dục
con cái, cải hóa xã hội cho tốt hơn được.
Muốn
làm Phật thì phải học Kinh Pháp Hoa, bằng cách miệng không
tạo nghiệp dữ mà nói điều lành, thân không làm điều ác
mà phải làm điều thiện, ý không nghĩ điều ác mà luôn
luôn hướng thiện. Nhưng tiếc rằng, chúng ta chỉ tạo nghiệp
lành trong khi tụng kinh, còn khi không tụng kinh thì nghiệp
cũ đâu vẫn hoàn đó.
Nói
như thế để biết rằng, trong khi mình đi tụng kinh là đang
làm điều lành, đem lại an vui cho mọi người và cho xã hội
được an lành hạnh phúc.
Do
vậy, chúng ta phải áp dụng lời Kinh đã tụng trong đời
sống hằng ngày bằng cách nào cho có lợi nhất? Theo tôi,
khi các Phật tử ngồi bán ngoài chợ cũng tưởng tượng như
mình đang ngồi trong chùa mà tụng Kinh Pháp Hoa, nghĩa là không
tạo thân ác, khẩu ác, ý ác mà phải tạo nghiệp thiện cả
về thân, khẩu, ý. Đó là cách tụng Kinh Pháp Hoa đem lại
lợi cho mình, lợi người một cách hữu ích nhất.
Tụng
Kinh Pháp Hoa có hai cái lợi là lợi về tinh thần và lợi
về vật chất. Thường thường người ta hay nhìn vào cái
lợi vật chất là chủ yếu, nghĩa là làm sao kiếm cho ra nhiều
tiền nhiều của, nhiều danh lợi. Còn về tinh thần thì cái
gì không thấy, không bắt, không nắm được thì không cho
là có lợi. Tuy nhiên cái lợi vật chất cũng quí, nhưng cái
lợi tinh thần mới là cao quí hơn hết. Thử hỏi nếu như
con người không có đạo đức thì dù con người đó có ở
trên vàng bạc, danh lợi, trên mâm cao cỗ đầy, có còn xứng
đáng là con người hay không? Người mà không có đạo đức
thì dầu người đó có quyền thế, của cải giàu có bao nhiêu,
thử hỏi họ mang lại lợi ích và an lạc gì cho ai không?
Như thế tức nhiên ta sẽ có câu trả lời. Đó là có vật
chất thì phải có tinh thần, tinh thần ở đây là đạo đức
trong sáng và hướng thượng, đó là sự Giác ngộ. Có Giác
ngộ thì mới cứu giúp mọi người ra khỏi sông mê, bể khổ
để lên bờ giải thoát. Theo tôi đó là một điều lợi cao
quý vô cùng. Chính Đức Phật muốn nhắc nhở cho chúng sinh
điều lợi đó, cho nên Ngài xả bỏ quốc thành thê tử để
đi tu. Đi tu là để dạy cho chúng sanh một bài học rằng:
Đừng nghĩ làm vua là sướng. Theo Ngài thì làm vua không sướng
đâu, và những người giàu vàng giàu bạc cũng chưa chắc
đã có hạnh phúc. Nếu thật sự hạnh phúc thì Ngài đã hưởng
rồi sao lại bỏ nó? Vì Ngài cho nó là cái hạnh phúc mong
manh, hẹp hòi, ích kỷ nên Ngài bỏ nó để đi tìm một thứ
hạnh phúc lớn lao hơn. Đó là hạnh phúc của sự Giác ngộ,
của tâm Từ bi. Lời Ngài dạy có tác dụng là thức tỉnh
chúng sanh đừng có mê muội, phải luôn luôn tỉnh giác, sáng
suốt. Khi tâm ta sáng suốt thì đó là một sự lợi ích lâu
dài, còn không sáng suốt tức là mê muội và sẽ sống trong
vòng loanh quanh, nếu có hạnh phúc thì hạnh phúc ấy có vui
nhưng dễ tan vỡ.
Có
một lần Đức Phật ngồi giữa đám cỏ, có người đi ngang
qua hỏi Ngài rằng: Sa-môn Cù Đàm ngồi một mình như vậy
có sầu muộn không? Đức Phật trả lời: Ta mắc chi mà sầu
muộn! Anh ta liền hỏi: Ngài không sầu muộn chắc là Ngài
hoan hỷ? Ngài trả lời: Ta được gì mà hoan hỷ! Anh ta ngạc
nhiên và nghĩ: Không sầu muộn thì hoan hỷ, không hoan hỷ
thì sầu muộn, cớ sao ở đây Ngài sầu muộn cũng không,
mà hoan hỷ cũng không? Biết tâm lý hoang mang của người kia,
Ngài mới nói: Sầu muộn chỉ đến với người có tâm hoan
hỷ, hoan hỷ chỉ đến với người có tâm sầu muộn. Ta đây
đã dứt hết tâm sầu muộn rồi, nên Ta không sầu muộn cũng
không hoan hỷ. Tâm ta không giao động. Đó là một lời dạy
cao siêu để chúng ta học và suy gẫm.
Sầu
muộn chỉ đến với người có tâm hoan hỷ là thế nào? Bây
giờ đây ta có được một thỏi vàng bỏ trong túi thì hoan
hỷ lắm (tâm người hoan hỷ), nhưng ra đường nó rớt đâu
mất tìm không ra (sầu muộn). Nếu người không có vàng trong
túi thì có rớt đâu mà sầu, có vàng đâu mà hoan hỷ. Tôi
có một cục vàng trong túi tôi mừng quá, nên tôi hoan hỷ.
Giờ đây nó rớt mất nên tôi mới sầu muộn. Còn như chúng
ta làm gì có vàng đâu để rớt mà sầu muộn, và không có
vàng trong túi làm gì có hoan hỷ. Thế là sầu muộn chỉ đến
với người có tâm hoan hỷ.
Hoan
hỷ chỉ đến với người có tâm sầu muộn là sao? Ví như
tôi đang đói là sầu muộn (đang sầu muộn). Nếu ai đó cho
tôi một ổ bánh mì ăn, hết đói tất nhiên là hoan hỷ. Đó
là hoan hỷ chỉ đến với người có tâm ầu muộn. Nhưng
mà cái hoan hỷ, cái sầu muộn đó đều do cái duyên bên ngoài
tạo ra hết. Có cục vàng thì hoan hỷ, mất cục vàng thì
sầu muộn, có ổ mì ăn thì hoan hỷ, hết ổ mì ăn thì sầu
muộn, đều do cái duyên bên ngoài tạo ra. Cho nên cái hoan
hỷ, cái sầu muộn đó rất mong manh, chỉ có trong vòng đối
đãi, nó cứ nói đuôi nhau, hết hoan hỷ đến sầu muộn,
hết sầu muộn lại hoan hỷ. Đức Phật đã vượt lên cái
hoan hỷ và sầu muộn đối đãi đó và Ngài đã tạo cho mình
một cái hoan hỷ chính trong lòng Ngài, không cần có vàng Ngài
mới hoan hỷ, mà cũng không phải vì mất vàng mà Ngài sầu
muộn. Vì Ngài đã vượt lên trên sự hoan hỷ và sầu muộn
đó nên Ngài được tự tại trên cái hoan hỷ giải thoát
đó.
Ở
đây, các Phật tử thấy tượng Phật ngồi trên tòa sen khi
nào cũng luôn luôn hoan hỷ, khi nào miệng cũng mỉm cười
luôn, không có sầu không có muộn. Còn chúng ta lắm khi sầu
thì nhăn mặt khó coi lắm, trái lại khi cười thì miệng toe
toét cũng khó nhìn lắm. Còn Đức Phật thì khi nào cũng vậy,
dáng ngồi bình thản tự tại, trên diện của Ngài không tỏ
gì là sầu muộn, không có chút gì là khoái trá, không có
chút gì hí hửng hoan hỷ hết. Chính đó là niềm vui giải
thoát bất diệt.
Theo
Phật, tụng Kinh Pháp Hoa chúng ta cố gắng nhìn lên tượng
Ngài, cố gắng suy nghĩ lời Ngài dạy, cố gắng thâm nhập
đạo lý vi diệu của Ngài để làm cho lòng chúng ta thắm
nhuần lời dạy của Ngài, để thâm tâm luôn được nhẹ
nhàng hoan hỷ, sống trong cuộc đời hiện tại với tâm bao
dung hỷ xả, lấy đó làm hành trang cho cuộc đời. Tương
lai mai sau nhờ nghiệp báo tốt này, nhờ cái thắng duyên đó
mà chúng ta cùng được vào trong các cảnh giới hoan hỷ. Được
như vậy, tất cả chúng ta mới thấy rõ được cái ân đức
của Phật lớn lao lắm, chứ không phải là chuyện bình thường.
Mặc dầu có đôi lúc chúng ta cầu xin Phật chuyện này chuyện
khác, điều đó là chính đáng, nhưng chính đáng hơn hết
là thấm nhuần theo đạo lý Giác ngộ của Ngài, để giác
ngộ tự lòng mình (tự giác) và giác ngộ cho người khác
(giác tha), đó là điều hạnh phúc lớn lao cho tất cả chúng
ta.
Cầu
mong cho tất cả các Phật tử chúng ta, phát tâm dõng mãnh,
luôn luôn thủy chung trì tụng Kinh Phật mà tu hành theo lời
Phật dạy, đó mới là chơn hạnh phúc lâu dài.
-ooOoo-
17.
Hiếu hạnh
Đức
Phật có dạy: Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh
Phật. Đó là một lời dạy từ bi thâm thúy vô cùng. Qua đó,
Ngài muốn nhắc nhở cho tất cả những người con phải biết
sống có hiếu hạnh. Nếp sống hiếu hạnh là nếp sống có
văn hóa, là nếp sống có đạo đức. Văn hóa đạo đức
là ý nghĩa cao quí nhất của đời người. Nếu sống thiếu
văn hóa đạo đức thì uổng cuộc đời, không có ý nghĩa.
Vì vậy nên tiền nhân của chúng ta đã có biết bao nhiêu
lời căn dặn để lại trong ca dao tục ngữ:
Nào
là:
Công
cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa
mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một
lòng thờ mẹ kính cha,
Cho
tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Hoặc
là:
Có
ông bà mới có ta,
Ông
bà là gốc, mẹ cha là cành,
Thân
ta như thể lá xanh,
Nhờ
gốc tiếp nhựa, nhờ cành dưỡng nuôi,
Con
người có tổ có tông,
Như
cây có gốc,như sông có nguồn.
Qua
những lời ca dao tục ngữ ấy, chúng ta biết rằng người
sống hiếu hạnh đó là một người sống với một nếp sống
văn hóa, là một nếp sống đạo đức của dân tộc Việt
Nam chúng ta. Cho nên người nào thể hiện được hiếu hạnh
của mình chừng nào đối với cha mẹ thì người đó biết
sống và người đó thực là một người Phật tử, một người
Việt Nam.
Công
ơn cha mẹ sâu dày vô kể cho nên Đức Phật đã dạy: Có
hai hạng người khó đền ơn cho hết được: đó là cha với
mẹ. Nếu có kẻ vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ đi xa
ngàn dặm, cung phụng đủ mọi thứ thức ăn, áo mặc, thuốc
men, chăn mền, thậm chí cha mẹ tiểu tiện trên vai mình, người
con vẫn vui vẻ, như thế cũng chưa đền đáp được công
ơn sinh thành của cha mẹ. Thế cho biết công ơn sinh thành
cha mẹ lớn lao, vì tận tụy nuôi dưỡng, săn sóc thương
yêu đùm bọc người con từ khi mới lọt lòng bơ vơ. Chính
tình thương đó là một tình thương vô tư, một tình thương
không tính toán, một tình thương đậm đà, không xiết kể.
Từ tình thương đó mà có bao nhiêu sự công khó cha mẹ dành
dụm cho con, để cho con được khôn lớn, để cho con được
học hành, để cho con được sung sướng ăn mặc dầu cha mẹ
lắm khi vất vả khổ sở. Cũng có những trường hợp vì
con mà cha mẹ phải làm những điều tội lỗi, vì con mà cha
mẹ phải sa đọa, nếu người con không biết tới những điều
đó thì người con đó thật là vô tình, thật là bất hiếu.
Vô tình bất hiếu tức nhiên không xứng đáng làm người,
ngược lại, có tình có hiếu chừng nào thì công hạnh con
người càng xứng đáng chừng nấy. Nên gia đình nào có cha
lành, có con thảo thì chính đó là một gia đình hạnh phúc.
Nhưng làm sao để có được cha lành, làm sao để có được
con thảo nếu không biết tu? Làm cha không biết tu, làm mẹ
không biết tu, bị rượu chè cờ bạc lôi cuốn thì khó mà
đem hết cái lòng từ nuôi nấng dạy dỗ con mình. Còn nếu
người con không biết tu, bị rượu chè, lôi cuốn thì cũng
khó lòng mà yêu thương hiếu kính với cha mẹ mình. Cho nên
Đức Phật đã dạy: Trong gia đình nào có người con biết
tu, biết bố thí, biết ái ngữ, biết lợi hành, biết đồng
sự thì gia đình đó được sự hiếu kính của con. Gia đình
nào không có người con biết tu, không bố thí, không ái ngữ,
không lợi hành, không đồng sự thì gia đình đó cha mẹ không
hưởng được sự hiếu kính của con.
Như
vậy cái hạnh phúc gia đình ở chỗ nào, chính là ở nơi
cha lành con thảo. Nếu cha không lành con không thảo, tức gia
đình đó khó nói rằng có hạnh phúc, có an vui. Nếu ai thể
hiện được lòng hiếu hạnh chừng nào, chính là đem lại
sự an vui hạnh phúc cho gia đình chừng nấy.
Hôm
nay quí vị vừa xuất gia vừa tại gia, sanh trong một gia đình
có hiếu hạnh, biết tôn thờ Tam bảo, và cũng đã nhớ lời
Đức Phật dạy, thấm thía những lời ca dao tục ngữ của
tiền nhơn, thiết lễ trai tăng cúng dường để cầu nguyện
ơn Tam bảo gia hộ cho tiên vong của mình được siêu thăng
lạc quốc. Trước lời thỉnh cầu hôm nay, chư Tăng hiện
tiền sinh nhứt tâm cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho các tiên
linh quí Phật tử tội chướng tiêu trừ, phước trí tăng
trưởng, sớm vãng sanh cực lạc thế giới.
-ooOoo-
18.
Tìm hiểu sơ lược về Phật giáo Ấn, Trung, Việt
I.
Phật Giáo Ấn Độ
Ánh
sáng Phật giáo bắt đầu soi đến nhân gian từ khi Giáo chủ
Thích Ca thành đạo ở gốc cây Bồ đề.
Sau
khi thành đạo, Ngài liền tìm hóa độ năm vị Tỳ kheo thường
tùy tùng Ngài và vô số Tăng Ni cùng tín đồ khác. Với một
tinh thần bình đẳng từ bi khác Bà-la-môn giáo, Đức Phật
đã nhiếp hóa người rất dễ dàng. Từ vua chí dân, từ nghèo
đến giàu, từ hạng biên tộc đến quý tộc, không một hạng
nào Ngài bỏ rơi mà không nhiếp hóa. Bởi vậy trong trong giáo
đoàn của Ngài đủ mặt các tầng lớp xuất gia tu học. Uy
danh của Ngài và đệ tử mỗi ngày mỗi lan rộng, nên bên
trong đã làm cho những kẻ hiếu danh như ông Đề-bà-đạt-đa
mưu phản nghịch, bên ngoài đã làm cho bọn Bà-la-môn tìm
kế chống đối, song rốt cuộc họ đều phải nhượng bộ,
vì giáo lý viên dung và nhân cách cao thượng của Ngài, Ngài
vẫn thản nhiên, phân lãnh đồ chúng đi giáo hóa các phương,
trải qua 49 năm không biết nhàm mỏi. Cho đến ngày cuối cùng
trong rừng Ta-la, Ngài còn ân cần răn dạy và độ cho Ông
Tu-bạt-đà-la xuất gia.
Trong
thời gian truyền bá này có nhiều vị đệ tử đã tỏ ra
hy sinh để truyền bá chánh pháp. Như Tôn-giả Tỳ kheo Purna
đến xin Phật một mình đến xứ Du-lô-na lạ lùng, có tiếng
hung dữ, để truyền bá, hoặc như Tôn-giả Mục Kiền Liên
đã bị ngoại đạo ám hại trên đường hóa đạo trở về
v.v...
Nhờ
giáo pháp cao thâm cũng như sự tận tâm cố gắng đó, nên
mặc dầu bị gốc rễ ngoại đạo cản trở, trong thời gian
non nửa thế kỷ, đạo Phật đã gầy dựng trên khắp lưu
vực sông Hằng, sông A-cách-la phía Bắc đến Tuyết sơn ly,
Nam đến xứ Ma-dà-dà, Đông đến Thiện Bạch Champa, và Tây
đến Câu-diệm-di (Kosambi), một cơ sở đồ sộ.
Sau
khi Phật nhập Niết-bàn, Tôn-giả Ma-ha-Ca-diếp (Maha Kassapa)
thay Phật thống nhất Tăng chúng. Đa số hàng vô học theo
Phật mà nhập Niết-bàn, còn hàng hữu học thì buồn bã,
đến đỗi có các Tăng chúng trong 18 ngôi chùa lớn tại thành
Vương xá tự phá chùa rồi bỏ đi. (Sau vua A-xà-thế trùng
tu trong một tháng xong cả). Ngược lại có những vị si tỳ
kheo thì vui mừng, như ông Tu Bạt đà-la-ma la đã nói: "Đại
Sa-môn còn thì ta cứ bị ràng buộc theo những điều tịnh,
bất tịnh, nên làm, không nên làm. Nay Đại Sa-môn mất, ta
được tự do, muốn làm thì làm, không muốn thì đi nghỉ."
Nhân đó Tôn-giả Ca-diếp liền họp 500 Thánh chúng tại Tịnh
xá Thất-Diệp-Khốt ở thành Vương xá (do A-xà-thế lập),
kiết tập đạo lý của Phật dạy trong vòng bảy tháng, kể
từ đầu hạ an cư tiếp theo năm Phật Niết-bàn. Đồng thời
ở chỗ khác, Tôn-giả Ba-sư-ca (Gaspa) cũng chiêu tập hàng
vạn Tăng chúng kiết tập Pháp tạng. Nhân đó manh nha chia
thành hai bộ phái: Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, để
sau này biệt lập hẳn.
Sau
Phật nhập diệt độ 100 năm, Ngài Trưởng lão Da-xá qua nước
Tỳ xá ly, nhân nghe phái Tỳ khưu xứ Bạt kỳ xướng ra mười
điều luật mới (mà về sau phái Thượng tọa cho đó là mười
điều phi pháp), nên mở hội thảo luận cùng nhau ráo riết,
rốt cuộc 10 điều đó cũng được phái Bạt kỳ khư khư
bảo thủ, lại được vua nước Ma kiệt đà la Ca la A-dục
binh vực. Ngài Da xá trước sự tình ấy, liền họp 700 Tăng
chúng tuyên bố 10 điều kia là phi pháp và kiết tập Pháp
tạng lần thứ hai. Do đây hai bộ phái hình thành rõ rệt,
rồi mỗi ngày vì càng xa cách Phật, vì nhân tâm biến đổi,
địa thế bất đồng, ở trong cơn loạn lạc đó, đoàn quân
của Á lịch sơn đại vương từ Ai Cập tràn vào Ấn Độ,
nên hai bộ phái lại lần lần chia thêm ra mười tám bộ nữa,
cộng với hai bộ gốc thành ra 20 bộ. Đây là sự biến đổi
lần thứ nhứt trong lịch sự Phật giáo Ấn Độ. Trong thời
gian độ 100 năm này, bên trong thì có Luật sư Mục Kiền Liên
Tử tu và Pháp sư Ưu ba cúc đa, tận lực truyền trì luật
pháp; bên ngoài sau khi đoàn quân của Á lịch sơn đại vương
tuy rút đi, nhưng sự liên lạc giữa người Ấn với người
Ai Cập, Hy Lạp vẫn còn, nên Phật giáo chịu ảnh hưởng
nền nghệ thuật Hy Lạp mà tạo thành nền nghệ thuật riêng
cho mình và gieo rắc Phật pháp vào hai nước kia. Phật giáo
thời này như vậy kể ra có phần phát triển, song vì còn
giữ tính cách bảo thủ nên sự lưu truyền vẫn còn ở các
địa hạt như xưa.
Đến
thời A-dục vương triều Khổng Tước, nghĩa là sau Phật nhập
diệt trên 200 năm, trong Phật giáo là biến đổi lần thứ
hai. Khác với lần biến đổi trước thuộc phạm vi tranh cãi
về giáo lý. Đâu đâu cũng nghe tứ chúng cãi về năm sự
(sự sở dụ, vô tri, do dự, than linh nhập, đạo nhân sanh
cố khởi) của ông Đại thiên Tỳ khưu. Phái Đa văn thì tôn
ông là bậc Đại thừa Bồ tát và công nhận năm sự kia.
Kết quả lần kiết tập thứ ba được triệu tập tại thành
Hoa Thị xứ Trung Ấn (kinh đô của đế quốc Ấn Độ) trong
sự ủng hộ triệt để của vua A dục.
A-dục
là một ông vua rất có công to trong lịch sử truyền bá Phật
giáo, hơn nữa là một vĩ nhân trong lịch sử nhân văn của
thế giới. Trước khi đầu Phật, ông là một ông vua thông
minh đởm lược, hợp với tánh tàn bạo độc đoán, (vì ác,
nên người sau gọi là Chiên đà la A-dục), nên đã nối nghiệp
ông
nội và phụ hoàng, mở rộng đế quốc Ma-Kiệt-Đà, thống
nhất lãnh thổ Ấn Độ đến các tiểu quốc Ấn về dưới
sự cai trị của mình, làm cho các lân bang thấy vậy khiếp
sợ. Nhưng sau nhờ gặp Tỳ kheo Ni Cù-đà giáo hóa cho, liền
hối hận tội lỗi đã giết hàng triệu sanh linh, nên quy đầu
về Phật, hóa thành một ông vua nhân từ, không còn dùng uy
thế để sát hại, mà lại dùng uy thế ấy để truyền bá
Phật pháp trong nhân dân (vì vậy người sau gọi Đa ra A-dục).
Ông thường ban hành các sắc dụ khuyên nhân dân thực hành
Phật pháp, khắc lời Phật dạy vào các trụ đá để kỷ
niệm các nơi Phật tích và dựng khắp nơi để truyền bá
cho dân chúng. Xây 84.000 Bửu tháp để tôn thờ Xá lợi, lại
cho em ruột là Tỳ-đại-du-ca, con trai là Ma-hê-đà (Mahinda),
con gái là Tăng già mật (Sanghamitta) xuất gia để góp sức
vào việc truyền bá Chánh pháp. Đồng thời với sức truyền
bá mãnh liệt và có phương pháp ấy, lại có những vị Cao
Tăng như Đàm Vô Đức, Mục kiền tử để tu chỉnh nội bộ,
nên Phật giáo thời này cực thịnh, gây được ảnh hưởng
cả bề sâu lẫn bề rộng trong dân chúng. Phật giáo về trước
lưu hành chung quanh lưu vực sông Hằng và Kha cách la, nay vượt
biên cương truyền khắp lãnh thổ Ấn Độ và lan đến các
nước ngoài trị quyền nhà vua.
Sau
khi vua A-dục qua đời, phương Nam có Ma hê đà truyền Phật
giáo đến nước Sư Tử (tức Tích Lan ngày nay), được quốc
dân sùng bái nhiệt liệt, nên thêm một lần nữa kiết tập
đã được tổ chức tại nước này và dùng văn Pàli để
chép Tam Tạng, làm nơi căn cứ của hệ thống Phật giáo Nam
phương sau này.
Phương
Bắc Tôn-giả Mạt-xiển đề truyền Phật giáo vào hai nước
Ca-thấp-di và Kiền-sà-ra, cảm hóa hàng vạn triệu người
theo Phật. Tôn-giả Đại lặc khí truyền vào Du-na thế giới
(Yonava) thuộc A Phú Hãn. Thời ấy giảng kinh Ca ta ra ma (Katakarama
sutta), khiến cho cư dân ở đó đều thấm nhuần Phật giáo,
về sau vùng này có vị vua Mạch mạn đặt nhi (Milinda) rất
tham tín và ủng hộ Phật giáo. Những đạo lý thảo luận
giữa ông và Tỳ kheo Na tiên đã tạo thành cuốn kinh Na tiên
Tỳ kheo sau này (tên Pàli là Milinda Panhà Sutta).
Thời
gian này kéo dài đến 600 năm sau Phật nhập diệt tức là
lúc các bộ phái cùng nhau ly hiệp biến hóa đến cực điểm,
lại là lúc đế quốc Ma kiệt đà đã bị vua Ấn Đạt la
ở Nam Ấn lật đổ, lập nên A đạt la vương triều, Bà-la-môn
thừa cơ hoạt động, lấn áp Phật giáo, nên đa số Tăng
đồ phía Bắc đi qua nước Đại nhục chi gặp được Ca nị
sắc ca (Kaniska) là một ông vua rất ủng hộ Phật giáo không
kém vua A dục, chiêu tập 500 vị Đại đức kiết tập Pháp
tạng lần thứ tư tại nước Ca thấp di la (nếu kể lần
kiết tập tại Tích Lan vị chi 5 lần) để dung hòa các mối
kiến giải dị đồng của bộ phái. Lần này, một tác phẩm
vĩ đại mới là luật Tỳ bà sa 200 cuốn, xuất hiện gồm
thâu hết thảy kiến giải xuất sắc vào trong ấy. Do đó,
trung tâm Phật giáo nay lại đổi sang Tây Bắc Ấn chứ không
phải Trung Nam Ấn như trước nữa.
Trải
qua thời gian 600 năm sau khi Phật nhập diệt. Phật giáo có
4 kỳ kiết tập như trên. Nhưng hai kỳ đầu chỉ nhóm chúng
tụng lại lời Phật dạy cho nhớ mà thôi. Mãi đến kỳ kiết
tập sau mời dùng văn tự chép thành kinh điển. Kết quả
thành hai lối văn: Pàli và Phạn văn. Nhờ đó Phật giáo còn
lưu truyền đến ngày nay hầu khắp thế giới, và trong hai
kỳ kiết tập đầu thiên về giới luật, mà hay kỳ kiết
tập sau lại thiên về giáo lý, nhờ vậy thánh điển truyền
đến ngày nay đầy đủ cả hai phần luật và đạo lý.
Tóm
lại, trong khoảng 600 năm sau Phật nhập diệt là thời gian
Tiểu thừa Phật giáo chiếm quyền ưu tiên tại Ấn Độ.
Ta có thể chia thời gian này làm 3 thời kỳ như sau:
1.
Thời kỳ thứ nhất, khoảng 100 năm sau Phật nhập diệt. Thời
gian này nhờ ảnh hưởng cảm hóa của Phật còn mạnh, các
đệ tử một mặt tuân thuần Phật chế, chưa có điều gì
xảy ra. Ấy là thời kỳ thuần túy.
2.
Thời kỳ thứ hai, khoảng từ 100 đến 400 năm sau Phật nhập
diệt. Trong thời gian này bộ phái phân chia ráo riết, tuy đồng
một tín ngưỡng, đồng tôn thờ một Giáo chủ. Nguyên do
chính yếu nhất của sự phân chia là phái bảo thủ thì trọng
thực hành, còn phái lý luận thì chủ tư biện. Phái bảo
thủ chủ tâm giữ tròn quy luật, còn phái lý luận thì thấy
triết lý của Áo nghĩa thư vẫn còn ảnh hưởng trong giới
trí thức Ấn Độ, thêm vào Bà-la-môn bắt đầu xen vào Phật
giáo, học giáo lý để mượn về chú giải Áo nghĩa thư,
làm cho chánh tà hỗn tạp, nên phái này chú ý đến đạo
lý nhiều hơn. Cả hai phái thành biệt lập, không thể hòa
hợp lại. Ấy là thời kỳ phân chia bộ phái.
3.
Thời kỳ thứ ba, khoảng từ 400 đến 600 năm sau Phật nhập
diệt, vì lẽ không hợp nhau nên mỗi bên đều cật lực phát
huy những điều sáng lạn, phát huy những tư tưởng Đại
thừa bấy lâu nay tiềm ẩn để tạo nên Phật giáo Đại
thừa, thay địa vị Tiểu thừa tại Ấn Độ, mà Tiểu thừa
từ đây lặn xuống. Mãi đến 700 năm sau Phật nhập diệt,
có Ngài Ha lê bạt ma (Harimarman) ở Bắc Ấn làm luận Thành
Thật, phát huy đạo lý Chân không, Pháp không, có ý tổng
hợp Giáo lý Đại thừa Tiểu thừa giáo tại Ấn Độ. Ấy
là thời kỳ hết phân chia, cung kết Tiểu thừa.
Riêng
về Đại thừa, thì kể ra có triệu chứng phục hưng từ
lần kiết tập thứ ba để ấn định năm sự của ông Đại
Thiên. Nhưng mãi đến khoảng 600 năm sau Phật nhập diệt,
Tôn-giả Mã Minh đã sinh ra đời ở Bắc Ấn, làm luận Khởi
Tín, vua Ca nị sắc ca ủng hộ tuyên truyền. Tiếp đó 100
năm lại có Bồ tát Long Thọ ra đời ở Nam Ấn (xứ Serar)
làm luận Trung Quán, luận Thập Nhị Môn, luận Trí Độ, phát
xuất Không tôn và Chân ngôn tôn, rồi truyền cho đệ tử
là Long Trí và Đề-bà, nối nghiệp giảng luận tạo ra Bách
luận, tồi tà hiển chánh, nên Đại thừa được phát dương
mạnh mẽ (Phật giáo truyền vào nước Việt Nam ta thời này).
Sau
Bồ tát Long Thọ 200 năm, có Bồ tát Vô Trước sanh từ Bắc
Ấn, sau đến Trung Ấn, xướng lý Đại thừa Duy thức và
em là Bồ tát Thế Thân, trước theo Tiểu thừa làm luận Câu
xá, sau trở theo Đại thừa cùng với anh em cực lực phát
huy lý Duy thức. Do đó Đại thừa phát đạt. Khoảng 1000 năm
sau Phật nhập diệt có nhiều vị Đại Đức, Luận sư ra
đời, tuyên truyền giáo lý. Đến đây Ấn Độ gồm đủ
Không tôn và Hữu tôn, khiến Bà-la-môn khó bề thực hiện
cái mộng phục hưng của họ.
Nếu
kế tiếp theo hai lần biến đổi trước, thì lần thứ ba
vào thời kiết tập thứ tư, luận Tỳ bà xuất hiện. Lần
thư tư vào thời Mã Minh, Long Thọ, lần thứ năm vào thời
Bồ tát Vô Trước, Thế Thân ra đời. Trong sự biến đổi
này, hai lần trước có tính cách phân chia bộ phái, lần thứ
ba có tính cách thống nhất bộ phái và chấm dứt sự phân
tách Tiểu thừa. Lần thứ tư là Đại thừa Không tôn xuất
hiện, qua lần thứ năm Đại thừa Hữu tôn ra đời. Phật
giáo thời này là thời cực thạnh nhất.
Nhưng
mãi đến khoảng 1.500 năm sau Phật nhập diệt, bên trong vì
nghĩa học kém suy, đa số Tăng đồ chỉ chuộng Phật môn
hình thức, bên ngoài Bà-la-môn được cơ hội phục hưng,
bài xích Phật giáo, lại có Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ (Turquie)
xâm nhập Ấn Độ (1018 sau TL), dùng thủ đoạn khốc liệt
gia hại Phật giáo, đập phá chùa tháp, áp bức Tăng, Ni nên
Phật giáo phải bị suy vi hầu gần tuyệt tính. Lịch sử
Phật giáo Ấn Độ tuy chấm hết nơi đây, song cùng trong lúc
Ấn Độ bắt đầu suy tàn thì các nước khác lại hưng thịnh,
chẳng hạn Phật giáo ở Trung Hoa nhằm thời thạnh Đường
rực rỡ biết bao!
Thời
gian trôi qua, ngoại trừ mấy ngôi cổ tháp Phật tích, Phật
giáo bắt đầu lưu hành trên đất Ấn Độ. Mãi đến thế
kỷ 19, nước Anh cai trị Ấn Độ. Do đó người châu Âu tới
lui nghiên cứu Văn hóa Ấn Độ mà trong đó có Phật giáo,
họ đã tìm thấy giá trị cao quí của Phật giáo đối với
hạnh phúc của nhân loại nên xôn xao khen ngợi, làm cho người
Ấn sực tỉnh lại "của quý" của dân tộc mà họ vô tình
đã chôn lấp, thì lại liền hô hào: Phục hưng Phật giáo.
Rayendrachilala
tiên sinh là một học giả Phật giáo đầu tiên, xuất hiện
giữa phong trào nghiên cứu văn hóa Ấn Độ của người Âu
Tây. Ông căn cứ về 144 loại kinh về Phạn bản ở Népal,
làm ra cuốn "Népal Phật giáo Phạn bổn" (The Sanskrit Buddhist
Literature of Nepal) và xuất bản cuốn "Tiểu phẩm Bát nhã"
vào năm 1888. Ông là người có công đối với sự nghiên cứu
Phật giáo.
Năm
1893, Sarat Chaudradas tiên sinh lại đề xướng lên hội "Nghiên
cứu Thánh điển Phật giáo Ấn Độ và nhân loại học thuật".
Người Ấn càng bị kích thích thêm về vấn đề nghiên cứu
Phật giáo.
Năm
1891, hội Đại Bồ Đề được thành lập. Hội này có thế
lực trong việc vận động phục hưng Phật giáo Ấn Độ hiện
thời, có chi bộ đặt tại Nữu Ước, Luân Đôn v.v... xuất
bản Nguyệt san "The Maha Bouddhism" để truyền bá Phật giáo
khắp Âu Mỹ. Rồi đến "Toàn Tích Lan Phật giáo đại hội"
(1928) trước sau thành lập dựa trên một mục đích "chấn
hưng Phật giáo".
Gần
đây xứ sản sinh Phật đã trỗi dậy mạnh mẽ trở lại,
để lãnh đạo Phật giáo khắp toàn cầu. Hội "Phật giáo
thế giới" thành lập tại Tích Lan. Mở Đại hội nghị Phật
giáo thế giới lần thứ nhứt vào năm 1950, gồm 500 đại
diện và thông tín viên của 25 quốc gia Phật giáo đến dự,
tất cả các nước này hóa thành chi bộ của Hội. Sau đó
ông Hội trưởng của Hội là Bác sĩ Malalasekera đã lần lượt
đi thăm các chi bộ. Hội nghị của Hội mở lần thứ hai
tại Nhật Bản năm 1953, và ắt sẽ có hội nghị như vậy
nhiều lần nữa. Hội đã xuất bản hai tờ báo News Letter
và The Buddhist World, chuyên tải các tin tức và giáo lý phát
hành khắp các nước.
Cho
đến năm 1942, nhân dân Ấn khoảng 400 triệu người, đã có
1.157 vạn tín đồ Phật giáo. Đấy là một vinh quang lớn
lao Phật giáo khắp thế giới vậy.
II.
Phật giáo Việt Nam
Phật
giáo Việt Nam bước đầu không phải hoàn toàn do Trung Hoa
truyền vào mà do Ấn Độ. Lý do vì đường giao thông bằng
đường thủy giữa Ấn Độ và Trung Hoa phải ngang qua Việt
Nam. Ngay thế kỷ đầu, Phật giáo Việt Nam đã có, do sự
ghé lại của đoàn người buôn Ấn Độ có tín ngưỡng Phật.
Rồi đến cuối thế kỷ thứ II, và đầu thế kỷ thứ III,
Phật giáo mới du nhập chính thức do bốn nhân vật dưới
đây, trước sau truyền vào:
- Ma
ha kỳ vực
-
Khương Tăng Hội
-
Chí Vương Lương (đều người Ấn).
-
Mâu Bác (người Trung Hoa).
Sau
Đại đức Tỳ ni đa lưu chi, người Nam Ấn, năm 574 qua Trung
Hoa gặp nạn Châu Võ bèn đến đất Hồ Nam gặp Tam tổ Tăng
Xán, được Tổ truyền tâm ấn và vâng lời Tổ nên năm 580,
Ngài qua Việt Nam ở chùa Pháp Vân, tỉnh Hà Đông giáo hóa
rồi lập ra phái Thiền tôn thứ nhất. Ngài Pháp Hiền là
người thứ nhất Việt Nam được truyền tâm ấn. Từ đó
pháp hệ của Ngài được lưu truyền mãi cho đến ngày nay.
Lịch
sử truyền bá Phật giáo Việt Nam còn chép có ba đoàn truyền
bá Phật giáo Việt Nam:
- Đoàn
thứ nhứt có ba vị: Minh Viễn, Tuệ Hạnh. Vô Hành.
-
Đoàn thứ hai có ba vị: Đàm Nhuận, Trí Hành, Tăng già bặc
ma.
-
Đoàn thứ ba có sáu vị: Vân kỳ, Mộc Xoa, Khuy Sung, Tuệ Diệm,
Trí Hành và Đại Thặng Đăng.
Trong
ba đoàn ấy, ta thấy hai người Trung Hoa, chỉ có Ngài Tăng
già bạc ma là người Trung Á, đoàn thứ ba đáng chú ý hơn
vì toàn người Việt cả, các Ngài đã qua Trung Hoa, Ấn Độ
cầu pháp và dịch Kinh. Dân Trung Hoa bấy giờ không dám khinh
người Việt nữa, chỉ nhờ tài uyên bác của các vị Cao
Tăng ấy. Sau đó các Ngài Nhật Nam, Vô Ngại v.v... đã khai
thác cho nền văn hóa Quốc gia và giáo hóa cho dân tộc rất
nhiều.
Khoảng
năm 786-836 cũng trong thời thuộc Đường, có Ngài Vô Ngôn
Thông Thiền sư, từ Trung Hoa sang ở chùa Kiến Sơ (Bắc Ninh)
lập ra phái Thiền tôn thứ II và truyền pháp lại cho Ngài
cảm thành.
Tóm
lại, Phật giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc lần thứ hai
qua đời thời đại Hậu Lý Nam Đế và suốt thời Bắc thuộc
lần thứ ba, tuy cũng có lúc ngưng nhưng phần nhiều được
phát triển thịnh hành.
Xuống
đến các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, bên trong Tu sĩ có
các Ngài: Ngô Chân Lưu, Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Trần Nhân
Tôn, Đa Bảo, Viên Chiếu, Minh Không, Pháp Loa, Huyền Quang v.v...
là những bậc cao đức trọng, đứng ra phò vua giúp nước,
Pháp sư Ngô Chân Lưu đã được nhà Đinh phong cho chức Khuông
Việt Quốc sư, Sư Vạn Hạnh Triều lý (1010-1225) đã gây thanh
thế cho nền Văn hóa dân tộc. (Lê Văn Siêu trong cuốn "Nền
Văn minh Việt Nam" đã quyết chắc người sáng kiến dựng
thành Thăng Long là Sư Vạn Hạnh).
Bên
Phật tử có Ngài: Lý Thái Tôn, Trần Quốc Tuấn, Lý Thường
Kiệt, Trần Thái Tôn v.v... là những người đã thâm hiểu
Phật giáo và làm vẻ vang cho Phật giáo và đất nước. Chẳng
hạn Lý Thái Tôn sau khi đánh thắng Chiêm Thành đã phong chức
Quốc sư cho vị sư Trung Hoa ở Chiêm Thành bị bắt về và
lập ra phái Thiền tôn lần thứ III.
Và
vua Trần Nhân Tôn, là một vị vua đại anh hùng của dân tộc
đã xuất gia tu hành lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử với
sắc thái Việt Nam, làm kéo dài hưng thịnh Phật giáo.
Tóm
lại, Phật giáo các triều này rất thạnh, rất có công lớn
trong việc gây dựng cho nền Văn hóa dân tộc lưu truyền đến
ngày nay.
Vào
thời Nam Bắc phân tranh, Phật giáo chỉ có khuyếch trương
môn phái, chẳng có gì vẻ vang, bước sang triều Nguyễn và
Pháp thuộc cũng chỉ duy trì chừng đỗi ấy thôi. Sau khi Nguyễn
Phúc Ánh viện quân Pháp dẹp Tây Sơn lập ra Triều Nguyễn,
từ Gia Long đến Bảo Đại, vua nào cũng có tin Phật, danh
Tăng có các Ngài: An Tịnh, An Thiền, Nhất Điện, Diệu Giác
hết sức hoằng dương Phật pháp, song chẳng tiến được
đến đâu. Phần đông Tăng đồ thời này thất học, chỉ
theo uế lợi ô danh, lấy chùa làm gia đình riêng, chuyên việc
mưu sinh chứ không có một tinh thần tín ngưỡng chân chánh.
Năm
1930, bước suy vong hầu như qua khỏi bờ tối tăm. Ở Bắc
có Hòa thượng Vĩnh Nghiêm, Hòa thượng Tố Cát, Hòa thượng
Hằng Sơ và Sư Trí Hải vận động lập ra Hội Phật giáo
Bắc Việt, xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ. Ở Trung Kỳ lập
ra An Nam Phật học Hội năm 1932. Hội quán đặt tại Huế.
Hội do các vị Cao Tăng như Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập
Thập Tháp (Bình Định), Hòa thượng Giác Tiên, Hòa thượng
Giác Nhiên, Hòa thượng Tịnh Hạnh, Hòa thượng Tịnh Khiết
v.v...và các cư sĩ Nguyễn Khoa Tân, Nguyễn Đình Hòe, Ưng Bàng,
đặc biệt có Bác sĩ Lê Đình Thám, Bác sĩ Trương Xướng,
Họa sĩ Nguyễn Khoa Toàn, Nguyễn Hữu Tuân, Cao Xuân Huy... là
sáng lập viên của Hội và cho ra tạp chí Viên Âm... Ở Nam
có Hòa thượng Lê Khánh Hòa, Huệ Quang, lập ra Hội Nam Kỳ
Nghiên cứu Phật học, ra tạp chí Từ Bi Âm, Duy Tâm và lập
Học đường ở Lưỡng Xuyên. Cho đến nay, dầu trải qua thời
gian chiến tranh loạn lạc, Phật giáo vẫn phát triển không
ngừng. Hội Việt Nam Phật học tại Trung Việt càng bành trướng
cả bề rộng lẫn bề sâu. Hội Phật học Nam Việt thành
lập, thay cho các Hội trước và xuất bản tạp chí Từ Quang
năm 1949. Về cơ quan đào tạo Tăng Ni hiện tại thì ngoài
mấy vị học Tăng du học ngoại quốc, trong nuớc có trường
Ấn Quang, Dược Sư tại Nam Việt, trường Tăng Học Đường
tại Nha Trang, trường Báo Quốc, trường Diệu Đức tại Huế,
và các trường tư thục trung học, tiểu học mở khắp các
nơi để nâng cao trình độ văn hóa cho dân chúng. "Tổng Hội
Phật giáo Việt Nam toàn quốc" được thành lập năm 1952,
cũng như Giáo hội Tăng già Trung, Nam, Bắc đều được chỉnh
đốn. Những tổ chức mới này tuy chưa phát triển được
khả quan song cũng được phát đạt rực rỡ sau này. Đó là
điều hy vọng lớn lao mà Phật tử chân chính đang chờ mong
và cố gắng phát triển.
III.
Phật giáo Trung Hoa
Theo
lời đức Khổng Tử trong sách Liệt tử dẫn: "Khâu này nghe
phương Tây có bậc Thánh nhân, không trị mà không loạn, không
nói mà mọi người đều tin", thì có lẽ Phật giáo đã vang
dội đến Trung Hoa khi Phật còn tại thế. Nhưng đến đời
Đông Hán (TL-?67) vua Minh Đế mới chính thức du nhập, do Tôn-giả
Ma Đằng và Trúc Pháp Lan. Hai vị này theo lời mời qua Trung
Hoa ở đất Lạc Dương, chùa Bạch Mã dịch kinh đầu tiên,
gồm có 5 bộ: Tứ thập nhị chương, Thập địa đoạn kiết,
Pháp hải tuế v.v...Lần nữa, các vị cao Tăng như An Thế
Cao v.v... lục tục đến truyền bá. Đời Tần Hán (T310), Tôn-giả
Phật Đồ Trừng sang thuyết pháp, tiếp đó nhờ có Tôn-giả
Đạo An và La Thập mà Phật giáo hằng truyền mạnh mẽ một
thời. Đến đời Nam Bắc triều (khoảng thế kỷ 5, 6) có
Tôn-giả Nam Nhạc xướng tông Thiên Thai, Phật giáo Trung Hoa
lại càng có thêm sắc thái mới. Thế rồi thứ kỷ thứ 6,
Phật giáo bị ách Thái Võ Đế nhà Hầu Ngụy. Cách đời
Tuyên Võ, Phật giáo cực thịnh trở lại, lại bị ách Võ
Đô Bắc Chu phá hủy lần thứ hai. Mãi đến Đời Đường
(Cao Tổ, Thái Tôn Lý Thế Dân) có Tôn-giả Huyền Trang du học
Ấn Độ về truyền bá, cùng các Cao Tăng khác đã làm Phật
giáo một thời thạnh nhất trong lịch sử Phật giáo Trung
Hoa trước sau. Nhưng từ cuối Đường dân nhà Mãn Thanh, Phật
giáo chỉ còn tính cách duy trì, lại gặp phải ách Võ Tôn,
Thái Tôn hủy diệt nên Phật giáo cơ hồ bị suy vi hẳn. Đến
đời Dân quốc (1911), Phật giáo bắt đầu phục hưng. Trụ
cột của sự trùng hưng này là các Cao Tăng Đỗ Nhàn, Thái
Hư, Âu Dương, Kỉnh Vô. Nhiều Phật học viện được tổ
chức, các báo chí Đại Âm, Hải Triều Âm, Vi Diệu Thanh v.v...
ra đời, đã gây ảnh hưởng lớn cho Phật giáo Trung Hoa và
lan qua các nước.
Phật
giáo đã cung cấp cho nền văn hóa Trung Hoa rất nhiều. Chẳng
hạn như nhà Học giả Lương Khải Siêu viết trong bộ Ấm
Năng Thất: "Văn bạch thoại có ra nhờ nguồn gốc ở lối
văn dịch trong nhà Phật." Tuy nhiên, từ ngày xảy ra Trung Nhật
chiến tranh đến nay, Phật giáo ở đó hầu như trở lại
cái thời hoang vu loạn lạc của Tam Võ, Nhất Tôn xưa kia...
-ooOoo-
19.
Mong có hòa bình và hạnh phúc
I.
Nói
đến hòa bình của Thế giới là nói đến an ninh của các
dân tộc và của toàn thể loài người, hòa bình và an ninh
quyện chặt vào nhau không thể tách rời và phải được xây
dựng vun đắp trên cơ sở giá trị tinh thần đạo đức của
toàn thể nhân loại chứ không phải của riêng ai.
Trong
đạo Phật thì hòa bình cùng với tư tưởng vô ngã vị tha
và đạo lý loại trừ tham sân si đã trở thành nền tảng
của giá trị tinh thần và đạo đức Phật giáo. Nói về
hòa hợp, Đức Phật đã nêu lên 6 nguyên tắc lớn làm kim
chỉ nam cho mọi người noi theo, đó là:
1.
Thân hòa đồng tu: là con người phải tôn trọng và yêu thương
lẫn nhau, không dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực đối
với nhau. Nguyên tắc này không những chỉ đạo mối quan hệ
giữa con người với con người, mà trong quan hệ quốc tế
nó còn là tư tưởng chỉ đạo mối quan hệ giữa các quốc
gia với nhau.
2.
Khẩu hòa vô tránh: là thương người ta phải nhẹ nhàng trong
lời ăn tiếng nói, tôn trọng nhau, lấy điều hơn lẽ phải
để thuyết phục nhau và tránh những lời nói lăng nhục,
xỉ vả nhau. Trong quan hệ quốc tế điều đó có ý nghĩa
là sử dụng con đường đàm phán hòa bình thương lượng
hòa bình để giải quyết chiến tranh, tránh tuyên truyền hận
thù và khích động hận thù.
3.
Ý hòa đồng duyệt: là thương con người trong hoạt động
tinh thần, tư duy phải thấm nhuần tư tưởng bác ái, từ
bi, bình đẳng, vô ngã, vị tha, phải gạt bỏ bất đồng
và nuôi dưỡng những điểm đồng nhất để đạt được
những lợi ích chung quan trọng hơn.
4.
Lợi hòa đồng quân: là tư tưởng chỉ đạo mối quan hệ
bình đẳng cùng có lợi giữa người với người, giữa các
quốc gia không phân biệt lớn bé, giàu nghèo. Trong tình hình
thế giới hiện nay, tư tưởng này chỉ đạo chúng ta hành
động thật gấp để nhằm chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang,
đặc biệt là chạy đua vũ trang hạt nhân nhằm mục đích
không chỉ là ngăn chặn nguy cơ thảm họa hạt nhân mà còn
nhằm chuyển toàn bộ tài nguyên, tài năng và sự sáng tạo
của con người sang giải quyết về vấn đề kinh tế và xã
hội đang đặt ra trước mọi người. Đó là giải quyết
nạn đói, bệnh tật, thất nghiệp, nợ nuớc ngoài, khủng
hoảng nhiên liệu, mù chữ v.v... Mọi người đều có quyền
được sống trong hòa bình, công lý bình đẳng và hạnh phúc.
5.
Giới hòa đồng tu: Nhằm khuyên con người hãy tuân thủ chuẩn
mực đạo đức xã hội. Tuân thủ những lời răn dạy làm
việc lành tránh điều ác. Chúng tôi cho rằng đạo đức lớn
nhất hiện nay là phải cứu lấy nhân loại, cứu lấy hành
tinh này khỏi tàn phá của hạt nhân, của ô nhiễm môi trường,
môi sinh và bảo đảm cuộc sống hạnh phúc cho mọi người,
mọi nhà.
6.
Kiến hòa đồng giải: là thương con người nên chia xẻ cùng
những tri thức, kiến thức, những giá trị của nền văn
minh nhân loại và xử dụng những giá trị đó không phải
là để hủy diệt con người mà để đem lại hạnh phúc cho
con người, cho hiện tại và cho tương lai.
Sáu
nguyên tắc hòa hợp trên góp phần loại bỏ bất đồng tranh
cãi. Những nguyên tắc đó nếu được thực hiện sẽ là
một bảo đảm cho một nền hòa bình chân chính và bền vững.
Chúng tôi mong những nhà hoạt động Tôn giáo với mọi người
có lương tri hãy hành động khẩn cấp, hãy đứng về phía
lẽ phải, tôn trọng lẽ phải và cùng nhau chặn đứng những
bàn tay tội ác đang âm mưu gây tai họa cho nhân loại. Hãy
cầu nguyện và hành động cương quyết để bảo vệ hòa
bình và an ninh trên toàn thế giới. Hãy đem lại hạnh phúc
cho mọi người và mọi nhà. Cầu mong đấng từ bi hộ trì
cho sự nghiệp của chúng ta.
II.
Một
thời Thế Tôn ở tại Vương xá, trên núi Linh Thức. Lúc bấy
giờ, vua A-xà-thế nước Ma-Kiệt-Đà, muốn chinh phục dân
Bạt-kỳ và nói: "Ta quyết chinh phục dân Bạt-kỳ này, dầu
chúng có uy quyền, có hùng mạnh. Ta quyết tâm làm cỏ dân
Bạt -kỳ; ta sẽ tiêu diệt dân Bạt-kỳ; ta sẽ làm cho dân
Bạt-kỳ bại vong."
Rồi
vua A-xà-thế liền nói với Bà-la-môn Vũ Xá, đại thần của
nước Ma-kiệt- đà: "Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn,
và nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an Ngài
có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú không, rồi
khanh bạch tiếp: Bạch Thế Tôn, vua A-xà-thế nước Ma- Ma-kiệt-
đà muốn chinh phục dân Bạt- kỳ và nói: Ta quyết chinh phục
dân Bạt-kỳ này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh. Ta
quyết tâm làm cỏ dân Bạt-kỳ, ta sẽ tiêu diệt dân Bạt-kỳ,
ta sẽ cho dân Bạt-kỳ bại vong. Thế Tôn trả lời khanh thế
nào; hãy ghi nhớ kỹ và nói lời hư vọng".
Bà-la-môn
Vũ vâng lệnh vua A-xà-thế, cho thắng những cỗ xe thù thắng,
tự cưỡi lên một cỗ xe, cùng với các cỗ xe ấy đi ra khỏi
Vương xá, đến tại núi Linh Thứu, đi xe đến chỗ còn đi
xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn, khi đến
liền nói lên những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế
Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Sau
khi ngồi một bên, đại thần Vũ Xá bạch Thế Tôn về mục
đích chuyến thăm với lời căn dặn của vua về việc vua
muốn đánh dân Bạt-kỳ, và mong Thế Tôn cho lời khuyên vì
biết Thế Tôn không nói lời hư vọng.
Thế
Tôn không trực tiếp trả lời đại thần Vũ Xá mà quay qua
hỏi Tôn giả Ananda. Nội dung những lời hỏi giữa Thế Tôn
và Tôn giả Ananda là cách gián tiếp trả lời đại thần
Vũ Xá nhắc cho vua A-xà-thế có nên hay không nên đánh nước
Bạt-kỳ.
1.
Này Ananda, người có nghe dân Bạt-kỳ thường hay tụ hợp
và tụ họp đông đảo với nhau.
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Bạt-kỳ thường hay tụ họp với
nhau, thời dân Bạt-kỳ sẽ cường thịnh, không bị suy giảm.
2.
Này Ananda, người có nghe dân Bạt-kỳ tụ họp trong niệm
đoàn kết và làm việc trong niệm đoàn kết không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Bạt-kỳ, tụ họp trong niệm đoàn
kết, giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc trong niệm
đoàn kết.
Này
Ananda, khi nào dân Bạt-kỳ tụ họp trong niệm đoàn kết,
giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc trong niệm đoàn
kết, thời dân Bạt-kỳ sẽ cường thịnh, không bị suy giảm.
3.
Này Ananda, ngươi có nghe dân bạt-kỳ không ban hành những
luật lệ không cần phải ban hành, không hủy bỏ những luật
lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của
dân Bạt-kỳ đã ban thời xưa không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân bạt-kỳ không ban hành những luật
lệ không cần phải ban hành, không hủy bỏ những luật lệ
đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân
Bạt-kỳ đã ban thuở xưa.
Này
Ananda, khi nào dân bạt-kỳ không ban hành những luật lệ không
cần phải ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được
ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Bạt-kỳ đã
ban thuở xưa, thì dân Bạt-kỳ sẽ cường thịnh, không bị
suy giảm.
4.
Này Ananda, ngươi có nghe dân Bạt-kỳ Tôn sùng, kính trọng,
đảnh lể, cúng dường các bậc trưởng lảo Bạt-kỳ và
nghe theo lời dạy của những vị này không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Bạt-kỳ Tôn sùng, kính trọng, đảnh
lể, cúng dường các bậc trưởng lảo Bạt-kỳ và nghe theo
lời dạy của những vị này.
Này
Ananda, khi nào dân Bạt-kỳ Tôn sùng, kính trọng, đảnh lể,
cúng dường các bậc trưởng lảo Bạt-kỳ và nghe theo lời
dạy của những vị này, thì dân Bạt-kỳ sẽ cường thịnh,
không bị suy giảm.
5.
Này Ananda, ngươi có nghe dân Bạt-kỳ không có bắt cóc và
cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Bạt-kỳ phải sống
với mình không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Bạt-kỳ không có bắt cóc và cưỡng
ép những phụ nữ và thiếu nữ Bạt-kỳ phải sống với
mình.
Này
Ananda, khi nào dân Bạt-kỳ không có bắt cóc và cưỡng ép
những phụ nữ và thiếu nữ Bạt-kỳ phải sống với mình
thì dân Bạt-kỳ sẽ cường thịnh, không bị suy giảm.
6.
Này Ananda, ngươi có nghe dân Bạt-kỳ tôn sùng, kính trọng,
đảnh lể,cúng dường các tự miếu của Bạt-kỳ ở tỉnh
thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã
cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với qui pháp không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Bạt-kỳ tôn sùng, kính trọng, đảnh
lể, cúng dường các tự miếu của Bạt-kỳ ở tỉnh thành
và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng
từ trước, đã làm từ trước đúng với qui pháp.
Này
Ananda, khi nào dân Bạt-kỳ tôn sùng, kính trọng, đảnh lể,
cúng dường các tự miếu của Bạt-kỳ ở tỉnh thành và
ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ
trước, đã làm từ trước đúng với qui pháp, thì dân Bạt-kỳ
sẽ cường thịnh, không bị suy giảm.
7.
Này Ananda, ngươi có nghe dân Bạt-kỳ bảo hộ, che chở, ủng
hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Bạt-kỳ, khiến các
vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A
-la-hán đã đến được sống an lạc không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Bạt-kỳ bảo hộ, che chở, ủng hộ
đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Bạt-kỳ, khiến các vị
A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A -la-hán
đã đến được sống an lạc.
- Này
Ananda, khi nào dân Bạt-kỳ bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng
pháp các vị A-la-hán ở tại Bạt-kỳ, khiến các vị A-la-hán
chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A -la-hán đã đến
được sống an lạc, thì dân Bạt-kỳ sẽ cường thịnh, không
bị suy giảm.
Rồi
Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vũ Xá, đại thần của nước
Ma-kiệt-đà:
- Này
Bà-la-môn, một thời Ta sống ở Bạt-kỳ, tại miếu Sarandada,
Ta dạy cho dân Bạt-kỳ 7 pháp bất thối này. Này Vũ Xá, khi
nào 7 pháp bất thối được duy trì giữa dân Bạt-kỳ, khi
nào dân Bạt-kỳ được giảng dạy 7 pháp bất thối này,
này Vũ Xá, dân Bạt-kỳ sẽ cường thịnh, không bị suy giảm.
Khi
được nói như vậy, Bà-la-môn Vũ Xá, đại thần nước Ma-kiệt-đà
bạch Thế Tôn:
- "Thưa
Tôn Giả Gotama, nếu dân Bạt-kỳ chỉ hội đủ một pháp
bất thối này, thì nhất định dân Bạt-kỳ sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ 7 pháp bất
thối".
Thưa
Tôn Giả Gotama, vua A-xà-thế nước Ma-kiệt-đà, không thể
đánh bại dân Bạt-kỳ ở chiến trận trừ khi dùng ngoại
giao hay kế ly gián, Thưa Tôn Giả Gotama, nay chúng con phải
đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.
- Này
Bà-la-môn ngươi hãy làm những gì ngươi nghĩ hợp thời.
Bà-la-môn
Vũ Xá, đại thần nước Ma-kiệt-đà hoan hỷ, tán thán lời
dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt
(Kinh Đại Bát Niết-Bàn, tập III, HT. Minh Châu dịch, xb. 1972).
III.
Đạo
Phật là đạo hòa bình. Khi chúng ta nói về hòa bình thì được
mọi ngưòi tán thán và tin tưởng. Lời nói của chúng ta không
phải là lời nói trên đầu môi chót lưỡi, mà là lời nói
từ trong tâm khảm thành ý nói ra.
Khi
tôi dự Hội nghị Hoà bình ở Liên Xô về thì ở trong nước,
giáo hội và chính quyền địa phương giới thiệu tôi ra ứng
cử đại biểu Quốc hội, tôi từ chối nhưng quí vị không
chịu nên tôi phải chiều theo sự giới thiệu sắp đặt của
giáo hội. Khi đi tiếp xúc với cử tri tại Đại học Y khoa,
có rất nhiều bác sĩ và sinh viên. Tại đây tôi nói: Xã hội
ta rất cần một nền kinh tế mạnh và cũng rất cần một
chuẩn mực đạo đức gắn liền với xã hội đó. Muốn nâng
cao kinh tế phải chú trọng nâng cao đạo đức và ngược
lại. Bởi có trường hợp nền kinh tế yếu kém nên tệ nạn
xã hội xãy ra nhiều, vì đói quá nên họ mới đi ăn cắp.
Đó là do kinh tế suy đồi thành ra mất đạo đức. Nhưng
cũng có trường hợp vì quá tham lam làm cho kinh tế phải suy
sụp. Tôi lấy ví dụ: Một móng trụ cầu đáng lý phải đúc
100 bao xi măng mới đủ. Giờ vì tham họ đã xén bớt 10 bao
nên chất lượng không bảo đảm. Đi một thời gian thì cầu
bị đổ. Sau đó cứ đúc đi đúc lại mãi mà cầu vẫn chưa
xong, đó là do đạo đức suy đồi và tham lam nên làm cho họ
mờ mắt. Có một sinh viên đứng dậy hỏi tôi rằng: Nếu
khi Hòa thượng đắc cử vào Quốc hội rồi, thì Hòa thượng
làm thế nào để nâng cao đạo đức? Tôi trả lời rằng:
Nhiệm vụ của Quốc hội là làm Luật. Chính các bộ luật
này là cương lĩnh để duy trì trật tự, nâng cao kinh tế
và phát huy truyền đạo dức. Nếu người làm đúng pháp luật
thì được kkhen thưởng, còn ai vi phạm thì sẽ bị trừng
phạt. Nhưng pháp luật cũng có khe hở của nó cho nên con người
hay léo lắt và lách luật, qua mặt luật pháp và như tục
ngữ ta có câu: "Đồng bạc đánh toạc tờ giấy". Luật pháp
không thể nào đi khắp các ngõ ngách quanh co, khúc chiết trong
tâm con người được. Vì thế luật pháp phải kêu gọi tới
lương tâm. Kêu gọi và khích lệ lương tâm chính là điều
tôi đã làm từ xưa đến nay, và Phật giáo chúng tôi cũng
đã làm từ xưa nay. Không phải chỉ làm và kêu gọi khích
lệ về lương tâm, chúng tôi còn đi xa hơn nữa, là cốt phát
huy Phật tánh nơi mỗi con người, Bởi vì lương tâm nó chỉ
hạn cuộc giữa người với nhau, cư xử thương yêu nhau, giúp
đỡ nhau trong cộng đồng xã hội. Đức Phật đề cao Phật
tính nơi mỗi con người, đó chính là đạo đức Phật giáo.
Chính nó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của người Phật
tử chúng ta. Điều này có ý nghĩa bao quát, rộng lớn, thâm
thúy và vĩnh cửu. Đó là điều tôi và Phật giáo chúng tôi
đã làm liên tục trong 2000 năm qua trên đất nước chúng ta.
Chính việc làm của Phật giáo liên tục như nghĩ, khi con người
đã mất lương tâm thì pháp luật sẽ trở thành vô nghĩa
dưới con mắt họ. Cũng vậy, nếu chúng sanh bỏ mất Phật
tánh thì khó mà thoát khỏi cảnh luân hồi.
Cho
nên hàng Phật tử chúng ta theo và tôn thờ Đức Phật, kính
lễ Đức Phật, dưới ánh sáng từ bi của Ngài, chúng ta mong
rằng tất cả mọi người đều được minh tâm kiến tánh.
Minh tâm kiến tánh là ngộ được Phật tính nơi chính mình
hay là ngộ được tự tánh của lòng mình. Cái tâm mình như
Đức Phật gọi, đó là một kho tàn, theo nghĩa đen thì nó
có thể chứa đũ tất cả vàng ngọc châu báu, đồng thời,
cũng chứa cả bùn nhơ. Theo nghĩa bóng thì vàng ngọc châu
báu là từ bi hỷ xả, vô ngã vị tha, là trí tuệ bát nhã,
đó là vàng ngọc châu của tâm, nhưng đồng thời nó cũng
chứa chất đủ thứ sạn sứ nhơ nhớp, đó là tham,sân,si,
cống cao, ngã mạn, tật đố. Hai thứ đó vẫn tồn tại và
xen lẫn trong lòng chúng ta. Nếu chúng ta để cho một trong
hai thứ này phát huy thì thứ kia phải lắng xuống, và ngược
lại. Khi chúng ta để đức tính tốt như từ bi, hỷ xả làm
chủ lấy mình thì đó sẽ là giọt nước cam lồ rưới tắt
mọi ưu phiền của chính chúng ta và của người khác. Nếu
chúng ta để cho lòng tham làm chủ thì những thứ cặn bã
đó sẽ dẫn ta vào con đường tội lỗi, gây đau khổ cho
mình và cho người. Vì vậy Đức Phật gọi người tu sĩ là
chiến sĩ (chiến sĩ đây không phải là chiến sĩ đánh nhau
ngoài chiến trường), tự mình chiến đấu nơi chiến trường
của lòng mình. Cứ một phút có tâm độc ác xuất hiện,
cứ như vậy tâm nhẫn nhục khiêm hạ nổi lên thì tâm hung
dữ, cống cao, ngã mạn xuất hiện. Nếu mình không phải là
một chiến sĩ, không biết Ma cũng là mình và Phật cũng chính
tự trong lòng mình, thì chắc chắn mình sẽ đi theo con đường
Ma đi hơn là đi theo Phật. Khi đã biết Ma cũng là mình và
Phật cũng là mình thì mình đi theo Phật chứ không đi theo
nữa. Ai cũng biết cái hại đi theo Ma sẽ dẫn ta vào địa
ngục, còn đi theo Phật sẽ đưa ta lên thiện thú, thiên giới
và cõi đời này.
Do
đó hàng ngày chúng ta phải biết mình tụng kinh, niệm Phật
để làm gì? Chúng ta tụng kinh, niệm Phật, nghe giảng là
cố nhắc nhở lòng mình hãy tự soi sáng tâm mình, đừng để
lòng tham chi phối dẫn đến sa đọa. Biết bao cạm bẫy trước
mắt ta: Nào sắc thanh, hương,vị, xúc, nó có mãnh lực lôi
cuốn chúng ta sa ngã và bắt chúng ta làm nô lệ cho chúng.
Tôi nói một ví dụ: Như nay chúng ta đang có một tâm hồn
rất trong sáng, nhưng nếu có một cục vàng để trước mắt
chắc lòng cũng tối đi. Tâm dù trong sáng đến mấy, nếu
có một chút lợi, chút danh, có quyền cao chức trọng dính
vào thì tâm có trong sáng đến mấy có lúc vẫn bị mờ, lúc
ấy mình không tự chiến đấu với mình thì ai vào đó mà
chiến đấu? Trong trường hợp này chắc người khác không
thể chiến đấu thay cho mình được. Tuy nhiên, mình cũng có
thể tự cứu mình được bằng hồi chuông cảnh tỉnh qua
lời kinh tiếng kệ, qua lời Phật dạy. Người ta thường
nói, đời là một trường vinh nhục, có danh, có lợi, có
quyền thế, hễ được thì làm vua, thua làm giặc. Vua ở đây
theo Phật giáo là giác ngộ và giặc ở đây là phiền não.
Muốn được làm vua thì phải tu, phải học, phải làm chủ
lấy mình, phải tự cứu mình khi biết mình sa đọa. Giặc
phiền não thì bao giờ cũng có, không nhiều thì ít, ngày nào
cũng hiện diện bên ta, trong ta. Nếu đã trong ta và bên ta
thì phải biết điều nào hay thì làm và điều nào dở thì
tránh.
Khi
đã phân biệt được tốt xấu thì giả sử có một mối
lợi rất lớn nhưng nó phi nghĩa, nếu nhận thì sẽ có hại
cho ta và cho mọi người khác thì nhất định ta sẽ không
nhận, trái lại, nếu có một mối lợi dù nhỏ nhưng chính
nghĩa thì ta quyết không từ chối. Cũng vậy, nếu có một
chức danh lớn không chính đáng, có hại cho ta và mọi người
thì ta không nhận, nhưng nếu có một chức danh dù nhỏ nhưng
chính nghĩa giúp ích cho ta và mọi người thì ta vẫn hoan hỷ
nhận.
Đức
Phật không cấm chúng ta làm ông này bà nọ, làm giàu có bằng
sức lao động của mình, một cách chính đáng, của có được
Ngài còn chỉ cho chúng ta nên chia 3 phần. Một phần để chi
tiêu cho việc hàng ngày như tiền chợ, tiền gạo, đóng học
phí cho con v.v..., một phần lo để dành phòng khi hữu sự
dùng đến như con cái bệnh hoạn, ma chay, đám tiệc, cưới
hỏi, kỵ giỗ xảy ra. Phần còn lại là dùng để tái sản
xuất hay mua sắm công cụ để làm việc ... Như vậy Ngài
khuyên ta làm giàu đúng nghĩa, làm ông này bà nọ chính danh,
miễn nó đem lại hạnh phúc cho ta và cho số đông là được.
Ngài cũng cấm làm giàu một cách phi nghĩa như của trộm cắp,
ăn chận, ăn xén, tham nhũng v.v....Làm được như vậy chính
đó là tu, là tự mình làm thanh tịnh lấy mình, không ai thanh
tịnh cho mình hết. Nói một cách nôm na là tự đấu tranh
với chính mình để loại trừ tham, sân, si, phiền não. Nhưng
khi tranh đấu một không đủ sức thì phải tưởng nhớ tới
Phật, tưởng nhớ tới lời dạy của Ngài, qua đó nhờ sự
gia hộ của Ngài để chúng ta có thêm sức mà chiến đấu
với điều ác. Còn nếu chúng ta xa kinh xa Phật, đơn thân
độc mã không có bạn đồng hành, thì khó có thể vượt
qua con ma danh lợi, chính nó có một ma lực quyến rũ rất
mạnh, nên từ xưa đến nay, biết dến nay, biết bao nhiêu
người ngã đổ vì nó.
Thắng
một ngàn quân địch giữa mặt trận rất dễ, nhưng tự thắng
mình lại khó hơn, nên trong kinh pháp Cú Đức Phật đã dạy
rằng: "Thắng ngàn quân địch chưa phải thiệt thắng, ai thắng
được mình mới là sự thắng cao quí nhấ