5.
Bất diệt trong sinh diệt
Trong
Kinh Lăng Nghiêm, vua Ba-tư-nặc bạch Phật:
- Bạch
đức Thế tôn: Ngày trước, khi chưa gặp Ngài, Trẫm thường
nghe các ngoại đạo nói thân này chết rồi mất hẳn. Và
như thế gọi là Niết-bàn. Đến nay tuy gặp Phật, đối với
vấn đề ấy Trẫm vẫn chưa thể giải quyết cách nào cho
khỏi trái với Tâm tánh bất sinh diệt?
Phật
dạy:
- Đại
vương: Cái thân thể của Đại vương đó có thường còn
không tiêu diệt không?
- Bạch
đức Thế Tôn! Phải tiêu diệt.
- Đại
vương chưa chết sao biết sẽ tiêu diệt?
- Vì
thân Trẫm tuy chưa chết như Trẫm xét thấy nó thay đổi mãi
mãi như lửa đốt củi thành than, than tiêu ra tro, cho đến
tan mất.
- Chính
vậy, Đại vương! Nhưng Đại vương già yếu như thế dáng
mạo hiện giờ có giống lúc còn nhỏ không?
- Bạch
đức Thế Tôn: Giống thế nào được! Khi còn nhỏ Trẫm tươi
trẻ mà nay già cả thì tóc bạc mặt nhăn...
- Nhưng
đột nhiên thay đổi như thế chăng?
- Bạch
đức Thế Tôn: Nó ngấm ngầm thay đổi, Trẫm không hề biết.
Khi 20 khác lúc 10 tuổi, khi 30 lại suy hơn 20; đến bây giờ
62 tuổi, ngó lại lúc 50 thì lúc ấy cường tráng nhiều. Nhưng
đó là kể trong từng chục năm, chứ thật suy xét kỹ càng
thì nó thay đổi trong từng phút từng giây và rồi đây sẽ
điêu tàn...
- Đại
vương: Đại vương xét thân thể Đại vương biến hóa không
ngừng và sẽ tiêu diệt như thế, nhưng Đại vương có biết
trong cái thân sinh diệt ấy có cái gì bất sinh diệt không?
- Bạch
đức Thế Tôn! Thật Trẫm không biết.
- Đại
vương! Đại vương bắt đầu thấy nước sông Hằng lúc mấy
tuổi?
- Bạch
đức Thế Tôn! Khi 3 tuổi, mẫu thân Trẫm dắt đi bái yết
đền thờ trời Kỳ-bà, bấy giờ đi ngang qua sông Hằng Trẫm
đã trông thấy nước sông ấy.
- Đại
vương vừa nói thân thể Đại vương thay đổi rõ ràng nhất
là trong hàng chục năm. Vậy khi 2 tuổi Đại vương thấy nước
sông Hằng với 13 tuổi thấy nước sông ấy, hai cái thấy
đó có khác gì nhau không?
- Bạch
không! Cho đến nay 62 tuổi rồi mà sự thấy vẫn cũng như
thế.
- Đại
vương! Đại vương lấy làm lo lắng khi thấy thân thể Đại
vương tóc bạc da nhăn, khi già khác lúc trẻ. Nhưng cái thấy
nước sông Hằng đó có trẻ già thay đổi như thân thể ông
không?
- Bạch
không! Cái thấy ấy lúc nhỏ cho đến bây giờ đây không
sai biệt gì cả.
Phật
dạy:
- Đại
vương! Mặt Đại vương tuy nhăn mà tánh thấy (kiến tính)
chưa khi nào nhăn. Hễ cái gì nhăn thì quyết phải biến đổi,
còn cái gì không nhăn thì cái ấy quyết định bất biến.
Cái gì biến đổi thì phải tiêu diệt, còn cái gì không biến
đổi thì vốn bất sinh diệt. Cái đã trong sinh diệt thì đâu
có bị sinh tử lưu chuyển. Sao Đại vương không tự giác
bản tánh bất sinh diệt ấy mà dẫn câu chết rồi mất hẳn
của bọn đoạn kiến ngoại đạo để tự nghi hoặc.
Vua
Ba-tư-nặc nghe Phật khai thị như thế, liền giác ngộ bỏ
thân thì thọ thân, chứ không khi nào mất hẳn.
*
Như
một người ngồi trên chiếc đò, đò đi mà thấy và cho rằng
bờ chạy. Cũng như thế, người ta chỉ nhìn mình hoàn toàn
với con mắt sinh diệt. Người ta đã tự phủ nhận giá trị
của mình vậy.
Đạo
Phật, trái lại, lại phát huy cho ta thấy trong cái thân thể
sinh diệt vô thường có cái bản tánh vô thượng bất sinh
diệt. Đạo Phật đã phát huy bản tánh ấy bằng cách căn
cứ ngay với giác quan thô cạn chứ không xa xôi đâu khác.
Và khi nói đến bản tánh bất sinh diệt ấy, thì đạo Phật
đã dùng vô số danh từ rất cao đẹp.
Thật
ra, chúng ta bất lực, tư tưởng hành động bị "vô minh" chi
phối, là vì chúng ta không tự ngộ bản tánh ấy. Nếu giác
ngộ tánh bất diệt trong sinh diệt thì toàn thể sinh diệt
là bất diệt vậy.
Và
cuộc đời chúng ta sẽ hiện thân của Từ bi, sẽ rạng ngời
ánh Trí tuệ, nếu chúng ta luôn luôn sống với bản tánh bất
diệt trong cuộc đời sinh diệt.
(1959)
-ooOoo-
6.
Giản dị trong nếp sống
Các
nhà nghiên cứu Phật giáo đều có một nhận định chung rằng,
khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, khi ấy có mấy ai đã hiểu
Phật giáo, nhưng tại sao Phật giáo được chấp nhận một
cách dễ dàng, êm thấm, đẹp đẽ như vậy. Đó là họ tiếp
nhận Phật giáo thông qua hành động của các nhà sư. Hình
ảnh cụ thể của các nhà sư có nhiều điểm gần giống
với họ, làm cho người dân quí mến nên họ đã gần nhà
sư, gần đạo Phật. Nhiều hình thái, nhiều việc làm của
nhà sư phục vụ cho dân, ở với dân, những hình ảnh ấy
là cách để cho dân gần, nhưng tóm tắt trong đó có 4 điều.
Điều
thứ nhất là nhà sư đạm bạc trong ăn uống. Cách ăn chay
của chúng ta là lối ăn hết sức đạm bạc. Ở đâu cũng
ăn được. Rau cải, vài miếng đậu, chút nước tương thế
là xong. Cách ăn này người đời cũng ăn như thế, nhờ đó
cho nên dân thấy rằng sự ăn uống của nhà sư khiêm tốn
giản dị. Biết như vậy nên ngày hôm nay nếu có những người
gần đạo Phật, thấy chúng ta ăn uống quá cầu kỳ, xa lạ
đối với họ, thì họ sẽ xa lánh chúng ta. Do đó chúng ta
phải tri túc trong ăn uống. Khi đi độ đám, làm đàn ma chay
kỵ giỗ, các thầy đừng ham ăn ham uống quá nhiều. Nếu
có ăn thì ăn vừa đủ no để nuôi thân, nếu có uống thì
uống nước ngọt thay cho uống bia, uống rượu. Và nếu khi
các vị cư sĩ đãi bia thì mình cũng đừng uống. Khi mình
uống thì trước mặt họ không nói gì nhưng sau lưng họ chê
mình, đó là việc hết sức tối kỵ.
Tôi
biết ở Huế trước đây đi cúng tới nhà thí chủ có một
số vị trước hết là đòi bia liền. Đó là điều hôm nay
các thầy phải lưu ý. Nếu họ có mời cũng không uống. Tôi
xin nói kinh nghiệm của tôi. Trước đây tôi cũng không uống
bia, nhưng cái bụng cứ hay đau lâm râm, có một vị sư nói
Thầy nên uống một ít bia thì cái bụng của thầy sẽ êm,
vì nó tống khứ các đồ ăn trong bụng đi. Vì muốn cái bụng
hết đau nên cũng nhắm mắt uống một ly. Lúc đầu uống
thấy cay cay, uống ngụm thứ hai thấy cũng hơi được được,
ngụm thứ ba thấy ngọt ngọt (vì cho sữa vào). Nếu tôi không
kịp ngăn lại thì bây giờ tôi cũng là ông thầy uống bia
rồi.
Sau
có bà bổn đạo nghe được tôi có uống bia, nên khi tôi vào
Sài Gòn chữa mắt, Phật tử ra chào và nói: Con nghe Ôn uống
bia được, con mua một thùng để sẵn đây. Khi đó tôi nghĩ,
như thế này thì nguy hiểm quá. Tôi uống một lon bia chưa
hết mà mụ đi quảng cáo tới 10 người thành ra 10, 20 lon,
vô tình mà mình mang cái họa. Nghĩ thế nên tôi bỏ luôn.
Từ khi bỏ luôn đến giờ thì cái bụng hắn cũng êm luôn.
Cho nên các thầy phải rút kinh nghiệm, giản dị trong ăn uống
là vậy. Đó là một hình thái sinh hoạt để cho người ta
gần gũi với mình.
Thứ
hai là giản dị trong sinh hoạt. Các vị thiền sư trước đây
của chúng ta ăn mặc sinh hoạt giản dị lắm, không có rườm
rà khách sáo quan liêu như bây giờ. Nếu có việc các vị
phải đi xe, các vị cố gắng lái xe vừa phải. Các vị biết
rằng xe sang thì khỏe và êm, chắc chắn có người quen nhưng
nhiều người không quen, ít người thích nhưng nhiều người
chê. Vì hoàn cảnh và thời thế, không đi xe không được,
nhưng đi xe vừa phải, đó cũng là giản dị trong sinh hoạt.
Thứ
ba là đứng đắn trong gia quyếtn. Trong gia đình phải ăn nói
thật thà, không quanh co, lắt léo, phức tạp trong giao tiếp.
Nếu ăn nói quanh co thì sẽ làm cho người ta chán ngấy và
mất niềm tin ở nơi mình.
Thứ
tư là tận tụy với đời. Nếu có chuyện gì giúp đời được
thì cố gắng giúp cho thật tốt. Chẳng hạn như cứu trợ
nạn lụt thì chúng ta phải lăn xả ra mà làm, đó cũng là
một cách cứu đời. Có những người chưa biết Phật là
gì cả, nhưng qua việc làm của quí thầy họ thấy thích,
họ liền xin tu theo Phật, chứ họ đôi khi cũng không biết
giáo lý Phật mà chỉ biết các thầy, các cô làm tốt thì
họ theo. Đó là trường hợp chung. Cá biệt còn có những
trường hợp riêng lẽ như: Ở gần địa phương chúng ta rất
cô quạnh, không đủ phương tiện, có người bị ốm nửa
đêm không có xe đưa đi bệnh viện. Nếu chúng ta có phương
tiện thì nên đem đến đưa họ đi nhà thương thì họ sẽ
cảm mến và theo ta.
Những
điều đó nếu chúng ta làm được sẽ gây thêm uy tín cho
bản thân chúng ta. Đó cũng là một sự lợi ích xuyên qua
việc làm và cũng đi đúng tinh thần đạo Phật là vào đời
để cứu đời trong cơn hoạn nạn. Làm được như vậy là
tạo nên một sự thông cảm, gây được thiện cảm đối
với mọi người. Tôi thấy tinh thần hòa đồng của đạo
Phật rất hay, chính vì thế mà đạo Phật đã đi khắp hang
cùng ngõ hẻm của nhân gian mà nó đã trở thành một đạo
của dân tộc.
Nói
tóm lại, chính đời sống đạm bạc, lối sống giản dị,
nói năng ngay thẳng thật thà mà nhà sư đã hòa đồng được
với nhân dân, đó cũng là một cách thực hành lời Phật
dạy.
Một
vài lời như vậy, tôi mong anh em Tăng Ni chúng ta tạo một
nếp sống như thế nào đó để cho mình xứng đáng là ông
sư của chính mình, một ông sư của Việt Nam. Thứ đến là
mong anh em phải thực hiện nghiêm túc, một ngày phải có một
thời kinh. Nếu không tụng kinh thì niệm Phật, nếu không
niệm Phật thì hành thiền để thúc liễm thân tâm hầu làm
gương cho hậu học, cho đệ tử và cho hàng Phật tử tín
tâm đang hướng về chúng ta. Thời đại của chúng tôi mỗi
khi an cư thì phải tụng kinh bộ, hết bộ này đến bộ khác,
liên tục trong 3 tháng, ngoài ra còn học kinh, luật, trì chú
một ngày phải vài chục biến cho đến vài trăm biến. Đó
là điều bắt buộc. Bây giờ anh em dù có bận việc mấy
thì cũng có một thời kinh, thậm chí một giờ hành thiền
hay trì chú vài chục biến thì sẽ có kết quả tức khắc,
nó đem lại sự lợi lạc cho chính mình và sẽ tạo sự an
toàn cho đại chúng.
Bấy
nhiêu lời nhắc nhở anh em tinh tấn trong mùa an cư năm nay.
Cầu chư Phật gia hộ cho mùa an cư của Tăng Ni giới hạnh
viên mãn.
-ooOoo-
7.
Cầu thấy Phật
Tự
tánh chơn như bản lai thanh tịnh là chơn Phật; tà kiến, tham,
sân, si là ma vương. Tà mê là khi ma vương ở trong nhà, chánh
kiến là khi Phật ở trong ta. Cho nên trong tâm tánh phát sanh
những điều tà kiến, tham, sân, si, tức là ma vương tự do
qua lại; nếu chánh kiến phát hiện trừ hết tham, sân, si,
tức thời ma biến thành Phật, giả hóa thành chơn.
Pháp
thân Phật, báo thân Phật, hóa thân Phật, ba thân ấy vốn
là một thể, nếu thấy được tự tánh chơn thật thanh tịnh,
tức là chính nhơn thành Phật Bồ-đề. Tự tánh chơn thật
thanh tịnh vốn từ hóa thân mà sanh và thường ở trong hóa
thân; do tự tánh khích sử, tác động hóa thân thực hành
chánh đạo, vậy sau mới viên mãn chơn tánh, không cùng không
tận.
Dâm
tánh vốn là nhân của tịnh tánh; trừ hết dâm tánh tức
thành tánh thanh tịnh; tự trong tâm tánh của mình xa lìa ngũ
dục mà thấy được chơn tánh thì chỉ trong giây lát tức
là chơn rồi.
Ngày
nay nếu chỉ gặp đặng pháp môn Đại thừa đốn giáo, thấy
tự tánh ấy tức là thấy Phật; ngoài ra nếu muốn tu hành
cầu mong làm Phật, thì chẳng biết chỗ nào tìm thấy. Người
nào trong tâm tự thấy mình chơn thật, hễ có chơn là nguyên
nhân thành Phật, còn giả sử không thấy được tự tánh
mà cứ dong ruổi tìm Phật ở ngoài, thì vừa khởi tâm đi
tìm đã thành ngu si vậy.
Pháp
môn Đại thừa đốn giáo này, lưu truyền cứu độ trong thế
gian, mỗi người phải tự mình tu tập, nếu những người
học đạo sau nầy, không có kiến giải như trên để tu hành,
ắt bị luống phế công phu.
Hoài
bão duy nhất xưa nay của những người tin Phật là mong cầu
được thấy Phật, để vượt bể trầm luân vì có thấy
Phật mới có thể gần Phật, gần Phật mới có thể như
Phật và thành Phật vậy.
Nhưng
Phật ở đâu mà mong thấy mong thành?
Phải
chăng Phật là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp; và phải chăng
Phật là những sắc tướng đoan trang mà chúng ta thường thấy
thờ phụng trong các chùa chiền tinh xá?
Nếu
chỉ bằng vào hình dung sắc tướng ấy mà cho là thấy Phật,
thì phải chăng là những người đem tâm tà kiến điên đảo,
phỉ báng Như Lai khi họ đứng trước hình tượng Đức Phật
cũng có thể cho rằng họ đã thấy Phật. Phải chăng những
người không tâm tin thuận, mê tín dị đoạn, khi họ đứng
trước hình dung Đức Phật cũng có thể bảo rằng họ đã
thấy Phật...
Thế
nên, Phật tuy có đủ 32 tướng tốt song ta chỉ nhìn Phật
bằng 32 tướng đó chưa phải là nhìn thấy chơn thân của
Phật. Kinh Kim Cang nói: "Nếu lấy sắc thấy Ta, lấy âm thanh
cầu Ta, người ấy hành tà đạo, không thể thấy Như Lai"
là thế. Thành thử muốn cầu thấy Phật tự tướng phải
cầu thấy tự tâm, tự tâm đã có Phật thì lúc nào chỗ
nào cũng đều thấy Phật; trái lại tự tâm không Phật, thì
dầu Phật ở trước mắt cũng như trông thấy một tướng
gì. Vậy ta nên biết tâm Phật và tâm chúng sanh vốn là một,
nếu gạn lọc mê lầm tức là sáng suốt, tẩy trừ cấu uế
tức là thanh tịnh; tâm thanh tịnh, tánh sáng suốt ấy tức
là Phật, vì Phật chỉ là hiện thân của chơn tánh vô cùng
thanh tịnh sáng suốt ấy.
Tự
tánh thanh tịnh là Phật, nhưng tự tánh vốn ở trong ta nếu
khi tự tánh đã trừ sạch vô minh tà kiến, phiền não tham
sân thì tức nơi thân nầy cũng có thể bảo là hóa thân của
Phật. Đã có Hóa thân ắt có Báo thân, có Báo thân ắt có
Pháp thân, ba thân không hai không khác.
Đến
đây ta không nên quan niệm Đức Phật là một đấng siêu
hình như thần linh, thượng đế. Không nên quan niệm Đức
Phật chỉ hoàn toàn nơi sắc tướng bên ngoài; cũng không
nên quan niệm khi thấy được hình dung gọi là thấy Phật;
khi không thấy hình dung gọi rằng Phật không thể cầu.
Nhưng
tự tánh chơn tâm là Phật, Phật là không bị còn mất sanh
diệt. Chỉ vì vô minh ràng buộc phải bị ẩn mờ, hễ ta
phá hết vô minh, phát huy chánh kiến, gầy dựng Đức Phật
trong tâm, un đúc Phật trong tánh được vững vàng thì dầu
trải qua thiên ma bách chiết, ở vào khổ thú nê lê cũng chẳng
chút phai sờn, không lạc vào ma đạo.
Cầu
thấy Phật được như thế mới thiết thực và lợi ích cho
thân tâm.
(Phỏng
dịch bài kệ trong Pháp Bảo Đàn kinh, 1950)
-ooOoo-
8.
Hạnh cứu khổ của Bồ-tát Quán Thế Âm
Trong
kinh Đức Phật dạy rằng: "Nếu đời không có khổ sanh lão
bệnh chết, không có khổ ân ái xa lìa, không có khổ oán
thù gặp gỡ, không có khổ vì cầu mong không được thì Ta
đã không ra đời". Như vậy Đức Phật ra đời là vì lòng
từ bi cứu khổ cho chúng sanh. Đức Quán Thế Âm thể hiện
lòng từ bi đó của Đức Phật, nên ngài đã quyết chí tu
hành và đã trở nên một vị Bồ-tát với một tâm nguyện
từ bi rộng lớn, cứu khổ cho tất cả chúng sanh trong mọi
trường hợp và trong mọi thời đại như ngài đã nguyện.
Trong
kinh Phổ Môn nói:
Lúc
bấy giờ Bồ-tát Vô Tận Ý chắp tay bạch đức Thế Tôn
rằng: Bồ-tát Quan Âm vì lý do gì mà có danh hiệu ấy? Đức
Phật dạy: Vô số trăm ngàn vạn ức chúng sanh chịu đủ
khổ não, nếu nghe danh hiệu Bồ-tát Quan Âm một lòng xưng
niệm thì Ngài liền nghe được âm thanh ấy và làm cho họ
đều được giải thoát.
Người
nào trì niệm danh hiệu của ngài, dù có rơi vào đống lửa
dữ dội, lửa không đốt cháy do vì thần lực của Quán Thế
Âm. Nếu bị cuốn trôi bởi dòng nước lớn, mà niệm hồng
danh Bồ-tát Quan Âm, thì liền gặp được chỗ đất khô cạn.
Giả sử có trăm ngàn vạn ức người vì kiếm vàng bạc,
lưu ly xà cừ mã não san hô, hổ phách, trân châu và những
ngọc quý, mà vào biển lớn, rồi bị trật gió hắc ám cuồng
phong thổi giạt thuyền buồm sa vào nước quỷ. Nếu trong
đoàn ấy dù chỉ một người, xưng niệm danh hiệu Bồ-tát
Quan Âm, thì cả mọi người đều được giải thoát khỏi
tai nạn qủy dữ. Vì duyên cớ ấy mà danh hiệu của ngài
là Quan Thế Âm. Lại nếu có người sắp bị hành hình mà
niệm danh hiệu Bồ-tát Quan Âm, dao gậy trong tay người kia
đang nắm gẫy ra từng đoạn và kẻ tội nhân liền được
giải thoát. Giả sử trong cõi đại thiên thế giới đầy
dẫy qủy dữ Dạ xoa, La sát muốn hại người nào, mà nghe
người ấy xưng niệm hồng danh Bồ-tát Quan Âm, thì các qủy
dữ còn không thể đem con mắt dữ dằn mà nhìn người ấy,
huống hồ làm hại. Lại nữa những người có tội hoặc
không, đang bị gông cùm xiềng xích thân thể, mà niệm danh
hiệu Bồ-tát Quan Âm, thì những gông xiềng đều bị hư hỏng,
làm cho người ấy liền được giải thoát. Trong cõi đại
thiên đầy dẫy giặc thù, có người dẫn đầu một đoàn
lái buôn mang các báu vật đi qua đường hiểm, trong đoàn
có kẻ nói lên lời rằng, này các bạn ơi, đừng có sợ
hãi, hãy chuyên một lòng trì niệm danh hiệu Bồ-tát Quan Âm,
vị Bồ-tát ấy thường đem cho ta sự không khiếp sợ, nếu
các anh niệm danh hiệu Bồ-tát thì sẽ thoát được nạn giặc
cướp nầy. Những người lái buôn nghe nói đồng thanh cất
tiếng: Nam Mô Quan Âm Bồ-tát, mà được giải thoát. Nầy
Vô Tận Ý, Thần lực uy lực Bồ-tát Quan Âm rất lớn lao.
Người nhiều dâm dục, nếu thường cung kính niệm hiệu Quan
Âm thì lìa dâm dục, người nhiều giận dữ nếu thường
cung kính niệm hiệu Quan Âm thì lìa được giận dữ, người
nhiều ngu si, nếu thường cung kính niệm hiệu Quan Âm, thì
lìa được ngu si Bồ-tát Quan Âm có sức oai thần rất lớn
lao nên làm cho chúng sanh được nhiều lợi ích. Bởi thế
mọi người thường nên tâm niệm đến ngài. Nếu có nữ
nhân cầu sinh con trai, lễ bái cúng dường Bồ-tát Quan Âm
thì liền sinh được con trai đầy đủ phước đức trí tuệ,
gốc rễ phước đức, mọi người yêu kính. Bồ-tát Quan Âm
thần lực như vậy, người nào cung kính lễ bái Bồ-tát,
được phước rất nhiều không phải công suông. Bởi thế
mọi người nên niệm danh hiệu Quan Âm Bồ-tát. Nầy Vô Tận
Ý, giả sử có người trì niệm danh hiệu sáu mươi hai ức
hằng sa Bồ-tát, lại thêm suốt đời cúng dường đồ ăn,
thức uống, y phục, đồ nằm, dược phẩm, ý ông nghĩ sao?
Công đức của người cúng dường như vậy có được nhiều
không? Vô Tận Ý bạch đức Thế Tôn, thật là nhiều lắm.
Đức Phật lại dạy, như nếu có người thọ trì danh hiệu
Bồ-tát Quan Âm, lễ bái cúng dường dù chỉ một thời, phước
đức hai người bằng nhau không khác, ngàn vạn ức kiếp hưởng
phước không cùng. Nầy Vô Tận Ý, thọ trì danh hiệu Bồ-tát
Quan Âm phước đức vô lượng vô biên như vậy. Ngài Vô Tận
Ý lại bạch đức Thế Tôn, Bồ-tát Quan Âm du hành trong cõi
thế giới Ta bà bằng cách nào, và thuyết pháp cho cả chúng
sanh bằng cách ra sao?
Đức
Phật dạy: Người ở nước nào đáng dùng thân Phật để
mà giáo hóa, Bồ-tát Quan Âm liền hiện thân Phật. Đáng được
hóa độ bằng thân Duyên giác, Bồ-tát liền hiện ra thân
Duyên giác. Đáng được hóa độ bằng thân Thanh văn, Bồ-tát
liền hiện ra thân Thanh văn. Đáng được hóa độ bằng thân
Phạm vương, Bồ-tát liền hiện ra thân Phạm vương. Đáng
được hóa độ bằng thân Đế-thích, Bồ-tát liền hiện
ra thân Đế-thích. Đáng được hóa độ bằng thân Tự Tại,
Bồ-tát liền hiện thân trời Tự Tại. Đáng được hóa độ
bằng Đại Tự Tại, Bồ-tát liền hiện trời Đại Tự Tại.
Đáng được hóa độ bằng thân hình của Thiên đại tướng
quân, Bồ-tát hiện thân Thiên đại tướng quân. Đáng được
hóa độ bằng Tì-sa-môn, Bồ-tát liền hiện thân Tì-sa-môn.
Đáng được hóa độ bằng thân Tiểu vương, Bồ-tát liền
hiện thân hình Tiểu vương. Đáng được hóa độ bằng thân
trưởng giả, Bồ-tát liền hiện thân hình Trưởng giả. Đáng
được hóa độ bằng thân cư sĩ, Bồ-tát liền hiện thân
hình cư sĩ. Đáng được hóa độ bằng thân Tể quan, Bồ-tát
liền hiện thân hình Tể quan. Đáng được hóa độ bằng
thân Bà-la-môn, Bồ-tát liền hiện thân Bà-la-môn. Đáng được
hóa độ bằng các loại hình: Tỳ-kheo-tăng, Tỳ-kheo-ni, hoặc
Ưu-bà-tắc hay Ưu-bà-di, Bồ-tát liền hiện các loại thân
ấy. Đáng được hóa độ bằng thân phụ nữ của các trưởng
giả, cư sĩ tể quan, hay Bà-la-môn, Bồ-tát liền hiện thân
hình phụ nữ. Đáng được hóa độ bằng thân đồng nam hay
thân đồng nữ Bồ-tát liền hiện thân đồng nam đồng nữ.
Đáng được hóa độ bằng các loài trời, rồng hoặc Dạ-xoa,
hay Càn-thát-bà hoặc A-tu-la hoặc Ca-lâu-la, Ma-hầu-la-dà, người
hoặc phi nhân, Bồ-tát liền hiện các loại thân kia. Đáng
được hóa độ bằng thần Kim Cang, Bồ-tát liền hiện thần
Chấp Kim Cang. Bồ-tát Quan Âm đã thành tựu được công đức
như vậy, dùng đủ loại hình du hành thế gian cứu vớt chúng
sanh, bởi thế các ngươi hãy nên nhất tâm cúng dường Bồ-tát.
Vị Bồ-tát ấy bậc đại hữu tình, thường có năng lực
đem lại can đảm trong lúc nguy cấp, trong nỗi kinh hoàng, trong
chốn tai nạn, cho nên mọi người trong cõi Ta bà mệnh danh
Bồ-tát là Người ban bố sự không khiếp sợ.
Như
vậy, lòng từ bi của đức Quán Thế Âm không phải thuộc
dạng hình thức mà lòng từ bi hiến thân khắp tất cả mọi
hình dạng; lòng từ bi không phải vì tướng mà luôn cả vô
tướng; không phải hữu tình mà luôn cả vô tình. Cho nên
lòng từ bi đó mới lan khắp tất cả mọi nơi mà trong kinh
gọi là Phổ môn thị hiện (thị hiện khắp mọi nhà): nhà
Tể Tướng, nhà Sa-môn, Bà-la-môn, nhà cư sĩ, nhà phụ nữ,
nhà trần trục, mọi nhà. (Cho nên gọi là Phổ môn thị hiện).
Vì phổ môn thị hiện nên đã cảm ứng tất cả chúng sanh
và chúng sanh cũng cảm ứng đến ngài, nên dù có gặp tai
nạn thì cũng được qua khỏi. Nhờ gặp tai nạn mà qua khỏi
đó, nên tượng ngài luôn luôn được tôn thờ và được
mọi người nhớ và niệm đến.
Chính
ngay tại đất nước Việt Nam chúng ta cũng đã có hai mẩu
chuyện về đức Quan Thế Âm, đó là chuyện Quan Âm Thị Kính
và chuyện Nam Hải Quan Âm. Chuyện Quan Âm Thị Kính tôi thiết
tưởng rằng đa số các vị đều đã hiểu, tuy nhiên để
hiểu cho cặn kẽ hơn, chúng ta hãy nghe Giáo sư Hoàng Như Mai
thuật lại trong Tập Văn số 32 (1995) như sau:
"Truyện
Quan Âm Thị Kính là một truyện Nôm hay trong kho tàng truyện
Nôm của ta. Cốt truyện hấp dẫn, ý nghĩa sâu sắc, văn chương
trang nhã.
Đây
là sự tích đức Quan Âm Bồ-tát theo truyền thuyết dân gian
có câu thành ngữ: "Oan như oan bà Thị Kính", ấy là truyện
này.
Thị
Kính là một phụ nữ ở nước Cao Ly (nay là Triều Tiên).
Kiếp trước là trai và đã tu được chín kiếp, còn một
kiếp nữa, kiếp thứ mười thì thành công quả. Để thử
thách, đức Thích-ca Mâu-ni hiện ra làm một cô gái đẹp đến
quyến rũ. Chàng trai khước từ nhưng lại lỡ lời nói câu:
Có
chăng kiếp khác họa là.
Tuy
là lỡ lời, nhưng điều này chứng tỏ là có động tâm phát
sinh ý niệm. Về điểm này, khoa tâm lý ngôn ngữ học cũng
xác minh: Lỡ lời nói nhầm không phải là một sự lỡ nhầm
mà có nguyên nhân trong tư duy, có ý nghĩ nhưng giấu diếm,
ý nghĩ ấy bộc lộ trong những trường hợp lỡ lời nói
nhầm.
Nào
ngờ phép Phật nhiệm thay
Lỡ
lời mà đã vịn ngay lấy lời.
Đức
Thích-ca thấy người này cần phải trải qua một kiếp nữa
để tu dưỡng thêm.
Kiếp
sau ấy là Thị Kính, con gái duy nhất của nhà họ Mãng. Tại
sao từ là trai, lại đầu thai thành gái? Bởi vì kiếp trước
người này đã có biểu hiện xiêu lòng vì một cô gái, cho
nên kiếp này người này mang thân gái và chịu những sự
khổ não vì tình duyên là để hiểu thấu: Tình là khổ.
Tình
là khổ lần thứ nhất: Thị Kính đến tuổi lấy chồng.
Nhà họ Sung có con trai tên là Thiện Sĩ, muốn cầu hôn.
Thị
Kính vì đạo hiếu không muốn đi lấy chồng, ở nhà phụng
dưỡng cha mẹ, nhưng lại cũng vì đạo hiếu mà khi cha mẹ
khuyên bảo, Thị Kính vâng lời lấy Thiện Sĩ.
Bước
đi một bước là sa vào đường tình và ngày càng đắm đuối.
Một
đôi tài sắc vừa xinh
Đố
tang đồ vẽ bức tranh nào bằng
Có
đêm thề thốt dưới trăng
Một
rằng thế thế, hai rằng sinh sinh
Đá
kia tạc lấy lời mình
Vàng
kia thếp lấy chữ tình mà trao.
Cuộc
tình xem như rất tốt đẹp. Nhưng đó chỉ là giả tướng.
Trong bông hoa tươi đã có con sâu, nó sẽ làm cho hoa héo rũ.
Sự thế vốn là vô thường.
Một
buổi tối, Thiện Sĩ ngồi học và Thị Kính ngồi kề bên
may khâu. Thiện Sĩ đọc sách đến khuya, mỏi mệt dựa vào
vợ ngủ. Thị Kính chợt trông thấy ở dưới cằm chồng
có sợi râu mọc ngược, cho là điềm gở liền sẵn con dao
cầm trên tay, toan cắt sợi râu ấy đi. vừa lúc ấy, Thiện
Sĩ giật mình tỉnh giấc, tưởng vợ định giết mình, nên
la to lên.
Cha
mẹ chàng chạy vào, chứng kiến sự việc, nghi là Thị Kính
có tư tình toan hại chồng, không tin lời minh oan của nàng
nên mời sui gia sang trả Thị Kính về nhà cha mẹ.
Về
nhà Thị Kính rất buồn vì nỗi chưa báo đáp được chút
gì mà lại làm rầu lòng cha mẹ. Nàng nghĩ chỉ có dốc lòng
tu để độ cho cha mẹ thì mới đền đáp nghĩa sinh thành
được thôi.
Nhưng
nàng không dám ngỏ ý với cha mẹ, sợ cha mẹ thương không
cho đi tu. Nàng bèn trốn nhà, cải dạng nam trang đến xin tu
ở chùa Văn Tự. Sư phụ đặt tên cho là Kính Tâm.
Kính
Tâm tưởng đã được yên tâm tu hành, bỏ hết mọi chuyện
phiền não.
Thanh
gươm trí tuệ mài đây
Bao
nhiêu khổ não cắt ngay cho rồi
Hương
xông pháp giới ngùi ngùi
Thông
rung trống kệ, trúc hồi mõ kinh.
Nào
ngờ lại xảy ra sự việc.
Trong
làng có nhà giàu, cô con gái tên là Thị Mầu thường đến
lễ chùa ngày rằm, mồng một. Thị Mầu nhìn thấy tiểu Kính
Tâm đẹp trai liền mê và tìm cách quyến rũ. Nhưng tiểu Kính
Tâm hoàn toàn không động lòng. Thị Mầu càng nặng lòng tương
tư và không tự kềm chế được đã tư tình với đứa ở
trai trong nhà và mang bầu.
Bị
làng tra hỏi, không thể chối cãi được và lại nhân câu
dỗ dành của làng:
Phải
ai thì thú thực tình,
Luật
cho đoàn tụ cũng thành thất gia.
Thị
Mầu bèn khai là đã trót tư tình với Kính Tâm. Thế là làng
bắt Kính Tâm đem ra đánh đòn.
Thấy
Kính Tâm bị đòn đau quá, sư phụ thương tình xin nộp khoán
cho làng, lĩnh Kính Tâm về răn dạy. Dù thương, nhưng vì Kính
Tâm đã phạm giới luật nên Sư phụ không thể để Kính
Tâm tu trong chùa được nữa, khuyên Kính Tâm ra ở ngoài cổng
chùa và cố gắng hối cải.
Đủ
ngày đủ tháng, Thị Mầu đẻ ra một đứa con trai. Bị cha
mẹ đay nghiến "Con ai thì trả cho người ta", Thị Mầu đành
mặt dạn mày dầy đem con lên đặt ngoài cổng chùa. Kính
Tâm thương đứa hài nhi, bồng lên nuôi nấng. Làm thế khác
nào nhận đứa trẻ đích thực là con mình; Sư phụ cũng hoài
nghi và mọi người thì chê cười. Kính Tâm nhẫn nhục nuôi
đứa trẻ khôn lớn. Cháu nhỏ được ba tuổi thì Kính Tâm
lìa trần. Đến khi khâm liệm, người ta mới phát hiện ra
Kính Tâm là gái và bấy giờ mới rõ Thị Kính đã bị chịu
tiếng oan bấy lâu nay.
Kiếp
tu thứ mười này đã viên mãn, Thị Kính được thành Phật:
đó là đức Quan Âm Bồ-tát".
*
Kế
đến truyện Nam Hải Quán Thế Âm, truyện nầy còn có tên
thông thường là truyện Bà Lại Chúa Ba. Diệu Thiện tài sắc
đức độ hơn cả hai chị, lại khước từ việc lấy chồng
và xin đi tu theo đạo Phật, vì nàng rất mộ đạo. Vua bảo
thế nào nàng cũng không chịu nghe, nên nàng đã bị vua cha
tức giận hành hạ. Sau đó nàng đã trốn lên núi Yên Tử
tu hành cho đến ngày thành chánh quả, tức là đức Quán Thế
Âm mà trong Quan Âm Nam Hải đã nói như thế này:
Chơn
như đạo Phật rất mầu,
Tâm
Trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân,
Hiếu
là độ được song thân,
Nhân
là cứu vớt trầm luân muôn loài.
Linh
trong nghìn mắt nghìn tai,
Cũng
trong một điểm linh đài mà ra
Ngẫm
trong biển khổ nam ta
Phổ
môn cứu khổ Phật bà Quan Âm.
*
Cho
nên đối với tất cả chúng sanh ngài là một bậc Bồ-tát
thí vô úy như trong kinh Phổ Môn đã nói. Ở trong các độ
thì bố thí độ là ban bố sự không sợ hãi. Do đó, chúng
sanh trong Ta-bà thế giới xưng niệm danh hiệu ngài là bậc
bố thí vô úy. Bố thí trong nhà Phật có ba thứ: Một là
tài thí, hai là pháp thí và ba là vô úy thí. Vô úy thí là
cách bố thí cao nhất. Đức Quán Thế Âm đã thành tựu tài
thí, pháp thí cho nên ngài cũng thành tựu vô úy thí.
Sự
sợ hãi của chúng sanh lan khắp nơi bất cứ giờ nào, bất
cứ khi nào cũng có thể xảy ra cho tất cả. Nhưng làm sao
để tránh sự sợ hãi đó? Tức nhiên là phải có sự nỗ
lực tự thân của mình, nhưng đồng thời cũng phải có sự
hỗ trợ của các đấng từ bi. Cho nên khi gặp những lúc
khổ não, mà niệm đến đức từ bi của ngày Quán Thế Âm
thì liền được cảm ứng. Cảm ứng đó vừa là tự lực,
vừa là tha lực. Niệm đức Quán Thế Âm, tức tâm ta đã
hướng về Ngài. Ngay giờ phút đó ta không còn lo trở ngại
gì cả, không còn lo tai nạn, không còn lo tâm hồn bị khủng
bố, không còn lo tâm vị ngã mà ta và tâm ta hòa quyện cùng
tâm từ bi của đức Quán Thế Âm và đức từ bi của Ngài
cũng cảm ứng đến ta, mà hình thành một sự độ thoát cho
chúng ta khi lâm tai nạn.
Hiểu
rõ ý nghĩa đức từ bi của ngài luôn luôn độ thoát cho chúng
sanh, nên trong kinh dạy: Niệm Quán Thế Âm, tu theo hành đức
Quán Thế Âm thì cái niệm của chúng ta mới được thành
tựu như ý nguyện. Vì vậy chúng ta niệm đức Quán Thế Âm
để tu tập hạnh Quán Thế Âm, bất cứ ở đâu, bất cứ
hoàn cảnh nào, ngài cũng cảm ứng, hộ trì; khi ấy cái nguyện
của chúng ta mới có kết quả viên mãn theo ý nguyện của
chúng ta. Vì lòng từ bi lớn lao ấy cho nên nghe tới đức
Quán Thế Âm thì chúng ta liền tưởng đến lòng từ bi của
ngài. Ngài luôn luôn nhìn xuống chúng ta, tức là đem lòng
từ bi ấy phủ trùm cho chúng ta, và chúng ta khi ngước lên
nhìn ngài cũng với lòng tôn kính. Đó là một cái nhìn độ
lượng, cái nhìn có sự cảm ứng đạo giao nan tư nghì.
Tôn
trí tượng Quán Thế Âm để thờ cũng là do sự cảm ứng
đạo giao nan tư nghì đó. Tượng Quán Thế Âm đã đi vào
tâm hồn chúng ta, vào trong nhà của chúng ta, đi vào văn học
dân gian của dân tộc ta. Cũng là do cái sự cảm ứng đạo
giao nan tư nghì đó. Cho nên Phật tử chúng ta thờ đức Quán
Thế Âm với tâm tưởng sáng suốt, với một tâm từ bi quảng
đại bao la, do đó chúng ta luôn luôn được sự gia hộ của
đức Quán Thế Âm bất cứ lúc nào.
Hôm
nay là ngày vía của đức Quán Thế Âm, tôi lược qua hạnh
nguyện từ bi của ngài cũng để cầu nguyện cho tất cả
chúng ta, gia đình, xã hội, đất nước chúng ta đều được
an lành và cầu nguyện cho tất cả chúng ta luôn được sự
gia hộ của đức Quán Thế Âm Bồ-tát.
-ooOoo-
9.
Tâm từ bi
Thiện
sanh thưa: "Bạch đức Thế Tôn, làm sao có thể tu được Bi
tâm?
- Thiện
nam tử, người có trí vì thấy rõ hết thảy chúng sanh bị
chìm đắm trong bể lớn sanh tử khổ não mà muốn tế độ
nên phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh chưa đủ 10 lực,
bốn món vô úy, ba niệm đại bi, mà muốn tìm cách làm cho
chúng sanh đầy đủ nên phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng
sanh mê lầm không ai dìu dắt mà phát sanh Bi tâm; hoặc vì
thấy chúng sanh bị trụy lạc trong năm món dục không thể
ra khỏi mà vẫn cứ thả liều nên phát sanh Bi tâm; hoặc vì
thấy chúng sanh bị của cải vợ con ràng buộc chẳng được
thoát ly mà phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh tự ỷ
sắc đẹp sức lực, sanh lòng kiêu mạn mà phát sanh Bi tâm;
hoặc vì thấy chúng sanh bị tà sư phỉnh gạt rất đáng thương
xót mà phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh trong ba cõi
chịu mọi điều khổ não mà vẫn còn say đắm nên phát sanh
Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh tạo ra ba nghiệp thân khẩu
ý độc ác, phải chịu quả khổ, mà vẫn cứ đắm say nên
phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh khát khao ngũ dục
như người khát uống nước mặn mà phát sanh Bi tâm; hoặc
vì thấy chúng sanh tuy ưa vui mà chẳng tạo nhân vui, tuy ghét
khổ mà cứ gây nên khổ, như không giữ giới mà muốn được
sanh về cõi trời mà phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng
sanh thiệt không có ngã và ngã sở, mà lầm tưởng có ngã
và ngã sở nên phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh bản
tánh không nhất định, phải bị lưu chuyển luân hồi nên
phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh sợ khổ, sanh, già,
chết mà cứ tạo nghiệp nhân sanh, già, chết mà phát sanh
Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh thân tâm chịu sự thống khổ,
mà vẫn tạo nghiệp nên phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng
sanh bị khổ ân ái xa lìa mà không chịu diệt ân ái nên phát
sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh ở trong vô minh đen tối
không biết thắp đèn trí tuệ mà phát sanh Bi tâm; hoặc vì
thấy chúng sanh bị lửa phiền não thiêu đốt, không thể
tìm nước thiền định để dập tắt nên phát sanh Bi tâm;
hoặc vì thấy chúng sanh biết ngũ dục là khổ mà vẫn cầu
mãi không thôi như người đói ăn nhằm cơm độc, nên phát
sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh ở trong đời ác gặp
vua bạo ngược chịu nhiều điều thống khổ mà vẫn cứ
buông lung nên phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh bị
lưu chuyển chịu 8 món khổ mà không biết đoạn trừ khổ
nhân ấy nên phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh đói
khát, lạnh, nóng không được tự tại mà phát sanh Bi tâm;
hoặc vì thấy chúng sanh hủy phạm cấm giới, sẽ bị đoạ
lạc địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh mà phát sanh Bi tâm; hoặc
vì thấy chúng sanh về các phương diện sắc lực thọ mạng,
an ẩn biện tài không được tự tại mà phát sanh Bi tâm;
hoặc vì thấy chúng sanh bị đui điếc tật nguyền mà phát
sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh ở biên địa không tu
các pháp lành mà phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh
gặp đời đói thiếu thân thể gầy yếu lại cướp bóc lẫn
nhau nên phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh ở trong kiếp
đao binh lại càng tàn hại lẫn nhau, tăng thêm lòng ác, sẽ
chịu vô lượng quả khổ nên phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy
chúng sanh gặp đời có Phật nghe pháp chơn chánh ích lợi
không biết thọ trì nên phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng
sanh tin theo tà sư ác hữu, không chịu noi theo giáo huấn của
thiện tri thức nên phát sanh Bi tâm; hoặc vì thấy chúng sanh
cày ruộng, buôn bán, làm ăn cực khổ mà phát sanh Bi tâm;
hoặc vì thấy chúng sanh cha mẹ, anh em, vợ chồng, tôi tớ,
quyến thuộc, họ hàng không thương mến nhau mà phát sanh Bi
tâm; hoặc vì thấy cái vui nơi các cõi trời, dầu cõi trời
phi tưởng cũng chẳng hơn gì cái khổ ở địa ngục, biến
hoại vô thường mà tất cả chúng sanh đều chung chịu nên
phát sanh Bi tâm.
Thiện
nam tử, khi chưa đắc đạo mà quán như vậy thì gọi là Bi;
nếu đắc đạo rồi thì gọi là Đại bi. Vì sao? Vì khi chưa
đắc đạo tuy quán như vậy, nhưng quán có hạn lượng, chúng
sanh cũng có hạn lượng, khi đắc đạo rồi thì quán và chúng
sanh đều không hạn lượng; nên gọi là Đại bi. Khi chưa
đắc đạo, Bi tâm còn lay chuyển nên gọi là Bi, khi đắc
đạo rồi không bị lay chuyển nên gọi là Đại bi. Khi chưa
đắc đạo chưa có thể cứu vớt tất cả chúng sanh, nên
gọi là Đại bi.
Thiện
nam tử, người có trí tu tập Bi tâm tuy chưa thể đoạn trừ
khổ não cho chúng sanh, nhưng đã lợi ích vô lượng. Sáu món
Ba-la-mật đều lấy Bi tâm mà làm sanh nhơn.
Vậy
nên, nếu tu Bi tâm thời hãy thí những sự khó thí, hãy nhẫn
những điều khó nhẫn, hãy làm được những gì khó làm.
Do vậy hết thảy pháp lành đều lấy Bi tâm làm gốc. Những
ai tu được Bi tâm thì có thể phá trừ nghiệp dữ như núi
Tu Di, không bao lâu sẽ được Vô thượng Bồ- đề, dầu làm
chút việc làm mà được quả báo như núi Tu Di.
Cảnh
đời đau khổ không phải tự nhiên, không phải do ai chủ
định, chính do lòng ác độc chúng sanh gây nên và chỉ có
lòng Từ bi mới phá tan được. Hành vi man trá tàn bạo cũng
chính do ác tâm gây ra và chỉ có lòng Từ bi mới trừ diệt
được.
*
Vậy
nên trên con đường tu học, trong sự xây dựng hạnh phúc
cho mình cần có tâm Từ bi hướng dẫn chỉ đạo. Một lòng
Từ bi trong sạch, bình đẳng, rộng rãi, sáng suốt, thiết
thực và dũng cảm.
Lòng
Từ bi trong sạch nghĩa là không vẩn đục một chút mưu lợi
ẩn ý, tiềm tàng một dục vọng man trá gì.
Lòng
Từ bi bình đẳng, rộng rãi, không phân chia thân sơ, quí tiện,
nghèo giàu, không hạn cuộc trong gia đình, xứ sở, phương
trời.
Lòng
Từ bi, sáng suốt, hướng mọi đau khổ đến chân trời giải
thoát, ứng dụng pháp thí khai sáng cho chúng sanh mê muội.
Lòng
Từ bi thiết thực dũng cảm, làm những việc khó làm, nhẫn
những sự khó nhẫn, thí những điều khó thí, luôn luôn thương
nghĩ đến chúng sanh, trừ khổ đem vui cho chúng sanh.
Đức
Phật là gương sáng của hạnh Từ bi. Người Phật tử là
người phải thực hành lòng Từ bi đó.
(Lược
dịch phẩm Bi tâm trong kinh "Ưu-bà tắc")
-ooOoo-
10.
Mở trường giáo dục Tăng Ni trẻ
Trước
hết tôi xin chào mừng quí vị đã hoan hỷ nhận lời mời
của chúng tôi đến dự buổi lễ hôm nay. Sự hiện diện
của quí vị làm cho buổi lễ được thêm phần ý nghĩa long
trọng và giúp chúng tôi vững tin để hoàn thành công việc
giáo dục.
Đại
hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc họp tại chùa Quán Sứ
để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam cuối năm 1981.
Khi Đại hội truy cử Hòa thượng Đức Nhuận 85 tuổi lên
ngôi Pháp Chủ của Giáo hội, Hòa thượng có đưa ra 3 đề
nghị:
1.
Cho phép Phật giáo được mở trường Phật học để đào
tạo Tăng tài. Trước tiên là tại Hà Nội, Huế và thành
phố Hồ Chí Minh.
2.
Phật giáo được phép nuôi chúng điệu để có người thừa
kế.
3.
Tín đồ Phật giáo được tự do đi lễ chùa nghe giảng.
Ba
đề nghị này được Đại hội nhiệt liệt hoan nghênh và
được Cụ Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
lúc bấy giờ chấp thuận.
Từ
đó các tỉnh tiếp tục mở trường, đến nay trên cả nước
đã có hai trường Cao Cấp Phật học và 22 trường Cơ bản
Phật học. Ngay tại miền Bắc đã mấy chục năm qua không
có trường Phật học thì nay cũng đã mở được 5 trường.
Tại miền Nam có 17 trường. Những tỉnh như Long An, Mỹ Tho,
Bà Rịa, Vũng Tàu, Lâm Đồng xưa nay chưa có trường thì nay
cũng đã có trường. Thế mà ở Huế chúng ta hôm nay mới
bắt đầu xoay sở được Phật sự này. Nếu so với các tỉnh
khác thì Huế bị lạc hậu hơn 10 năm. Đây là một điều
đã mất đi thiện cảm trọng nể của các nơi khác dành cho
Phật giáo Huế từ hơn nửa thế kỷ qua.
Thế
nhưng hình thành cho được buổi lễ Khai giảng hôm nay cũng
không phải dễ, nếu không có sự kiên trì nhẫn nại của
Ban Trị Sự và nhiều vị khác khuyến khích, ủng hộ, cũng
như sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền thì tưởng rằng
buổi lễ này không có được.
Vậy
chúng tôi xin chân thành cám ơn quí vị. Cầu chúc quí vị
luôn được an lành. Và mong được quí vị luôn giúp đỡ
liên tục cho chúng tôi, để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ
cao cả là đào tạo nên những sứ giả tốt cho đạo mà cũng
là người bạn lành chân thật trong đời, trong hướng đi
lên xây dựng cuộc sống an lành hạnh phúc.
Giờ
đây tôi xin phép quí vị nói với học Tăng học Ni.
Các
học Tăng ni thân mến,
Các
con nên lấy buổi hôm nay làm vui mừng, Thầy cho rằng đây
là một cơ hội tốt để cho các con bước vào con đường
học tập có qui cũ. Nhờ sự học tập có qui cũ, các con mới
hiểu Đức Phật như thế nào, hiểu giáo lý đạo Phật như
thế nào, rồi mới có thể tu hành đứng đắn theo đạo Phật.
Mà có tu hành đứng đắn theo đạo Phật mới trở thành một
người xuất gia có ích lợi cho chính mình, có ích lợi cho
đạo. Người xưa có nói: Tu mà không học là tu mù, học mà
không tu là què. Mù và què thì không đi đến đâu được
cả. Cho nên học và tu là hai điều song song, luôn luôn phải
trau giồi tiến bộ.
Đối
với đạo Phật chúng ta, học và tu gắn liền với nhau, chứ
không phải ngày hôm nay học để ngày mai mới tu, chính trong
lúc học cũng là tu. Vậy thì các con phải hiểu: Tu để mà
học là phải song hành. Bởi bao lời dạy của đức Phật
đều là những lời răn nhắc để khai mở tâm trí cho chúng
ta trên con đường giải thoát, chứ không phải chỉ đưa ra
những kiến thức suông, kiến thức khoa học; không tương
quan
gì đối với nhân phẩm, đạo đức, đời sống của con người.
Vậy nên các học Tăng, học Ni phải coi đây là một cơ hội
tốt, không nên lơ là bỏ qua, mà nên đem hết tâm trí của
mình, tận lực học hỏi những lời dạy của Thầy sắp truyền
trao cho mình hầu một ngày một xa các con sẽ có một căn
bản giáo lý và từ đó các con mới có thể phát triển lên
được. Trong tuổi thơ ấu là tuổi ngọc nầy, nếu các con
lơ là bỏ qua thì sau này khó có thời gian học lại được,
khi đó các con có hối tiếc cũng không còn kịp nữa.
Thầy
mong các con cố gắng dù gặp khó khăn gì, trở ngại gì cũng
không nên lùi bước trên con đường học tập của mình. Nếu
các con còn trẻ mà không học thì sẽ mù mịt trong tương
lai khi làm Thầy mà câu chuyện Thầy sắp kể đây là một
ví dụ.
Ngày
xưa có một chú tiểu ngày ngày cứ ngâm nga một bài kệ rằng:
"Nhơn sanh bất tuế, bất kiến thủy lão hạc, bất sanh như
nhất nhật nhi đắc kiến chi." Nghĩa là người sống trăm
tuổi mà không thấy con hạc già thì chẳng bằng sống chỉ
một ngày mà thấy được con hạc già.
Một
hôm đi ngang qua tịnh xá của vị bổn sư chú tiểu, ngài Ananda
nghe được và hỏi: Này chú tiểu, bài kệ đó ai dạy cho
con? Dạ, thầy con dạy cho con. Thầy con nói bài kệ đó chính
Đức Phật truyền lại bài kệ này, tại sao ta là người
đa văn, gần Phật suốt một đời thuyết giáo của Ngài,
mà ta đâu có nghe cái bài kệ lạ lùng như thế, nó không
có ý nghĩa gì cả, chắc là con đã đọc lộn rồi, để ta
chỉ lại cho con đọc. Ngài mới dạy rằng: "Nhơn sanh bất
tuế, bất kiến sanh diệt pháp, bất như sanh bất nhật, đắc
kiến sanh diệt pháp." Nghĩa là: Người sống trăm tuổi mà
không thấy được lẽ sống biến dịch vô thường của vũ
trụ thì không bằng sống chỉ một ngày mà thấy được lẽ
sống biến dịch vô thường của vũ trụ.
Con
hãy đọc lại như thế cho đúng. Chú tiểu đọc lại theo
lời ngài Ananda dạy. Khi ấy ông thầy bổn sư của chú tiểu
nghe đọc như thế ông thấy trái tai, kêu học trò tới la,
tại sao thầy đã dạy như kia, bây giờ con lại đọc như
thế này. Vậy ai bảo con đọc như vậy, sai lời dạy của
thầy như thế. Chú tiểu thưa rằng, chính ngài Ananda chỉ
cho con học như thế. Ông thầy bổn sư nói: "Ồ, ngài Ananda
đã già cả, lú lẫn rồi, ngài đâu có hiểu gì nữa đâu
mà nói cho đúng. Cứ đọc y nguyên như cũ mà thầy đã dạy".
Than
ôi! Khi làm tiểu mà đọc như thế, đến khi làm thầy cũng
đọc như thế thì còn gì là Phật pháp. Cho nên ngày hôm nay
nếu chúng ta không học, thì chúng ta cũng là một chú tiểu
và cũng chỉ là một ông thầy dạy cho học trò đọc một
câu kệ vô nghĩa đó mà thôi. Khi làm một người xuất gia
mà đọc một câu kệ vô nghĩa thì người đó giáo hóa ai
được. Mà một người xuất gia tự mình không lợi mà cũng
không lợi cho người khác thì thử hỏi đời sống của người
xuất gia có ý nghĩa gì? Có đi đúng với hoài bảo của Phật
là tự giác giác tha, tự lợi lợi tha hay không? Thế nên các
con cố gắng học cho tinh tấn. Dù ai nói ngã nói nghiêng, lòng
các con vẫn giữ như kiềng ba chân. Các con cố gắng mà học
không được thay lòng đổi dạ gì cả. Đừng nghe kẻ xấu
nói: "Học chi mà học, học chỉ làm công cụ, học tào lao",
như thế là không phải hảo chí xuất gia, đừng nghe lầm
như vậy. Các con có cơ hội thì phải học, còn những gì
khác thì hãy để ra ngoài ta.
Muốn
tiến bộ phải theo minh sư, muốn hiểu đạo phải học bậc
Đạo sư, phải có bạn lành. Bạn lành là một nửa phần
cho sự đắc đạo giải thoát cho chúng ta. Vậy trên bước
đường tu học, ngoài minh sư ra, các con nên chọn bạn tốt
mà chơi. Trong Kinh Pháp Cú, Phật dạy: "Nếu không gặp được
người hơn mình, không gặp được người ngang mình để kết
bạn, thì thà sống một mình còn hơn là kết bạn với người
ngu". Kết bạn với người ngu là người tham lam, ích kỷ,
hẹp hòi, biếng nhác và đọc những lời vô nghĩa như chú
tiểu kể trên.
Thầy
thấy rằng đây là một cơ duyên rất tốt, các con khó mà
có thể gặp lại được bởi vì các con nên biết, cái xứ
Huế này đã lẹt đẹt, chậm thua người ta về việc mở
trường Cơ bản Phật học nầy rồi. Cho nên ngày hôm nay có
được cơ hội học tập thì phải dũng mãnh mà học, như
voi xung trận, không nói tới nói lui, không nói qua nói lại,
chỉ một đường mà tiến tới thôi.
Sau
đây tôi xin có đôi lời tâm tình với các vị Giáo sư, các
vị Giảng viên của trường.
Giáo
dục là nền tảng của văn hóa văn minh. Văn hóa văn minh nhờ
giáo dục mà có. Qua văn hóa văn minh người ta biết đến
sự giáo dục của một đất nước đó như thế nào. Con người
có văn hóa văn minh mới thành con người, nếu không có văn
hóa văn minh thì cũng khó thành một con người cao quí đúng
nghĩa của nó. Nhưng có được một sự giáo dục tốt đẹp
phải nhờ thầy hay, tận tâm tận lực với học trò, đem
hết tâm tư của mình để trao truyền những điều hay lẽ
phải cho học trò, vì không ai sanh ra đã biết, nhờ học mới
biết, nhờ khốn cùng mà biết. Sanh nhi tri rất khó.
Nhưng
làm sao học nếu không có thầy? Cho nên việc giáo dục, bậc
thầy là ngôi sao sáng dẫn đường cho học trò. Ngôi sao sáng
chừng nào thì học trò càng thấy sáng đường mà đi chừng
nấy. Vì thế cho nên vị trí của một Giáo sư, Giảng sư
là cao cả lắm. Người xưa đã nói: "Nhất tự vi sư, bán
tự vi sư" (dầu chỉ dạy một chữ học trò cũng phải tôn
trọng làm thầy). Bởi vì nửa chữ, một chữ cũng là tia
lửa sáng để soi đường cho chúng ta đi ra khỏi chỗ tăm
tối. Cao quí lắm thay.
Vì
thế chúng tôi mong mỏi các vị Giáo sư, Giảng sư hãy cùng
chung với chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ giáo dục để giúp
cho các học Tăng học Ni càng ngày càng tiến bộ. Nếu một
mai đây trên con đường đi đến trường, rủi có vị vấp
phải cục đá bị thương hoặc vào lớp thiếu viên phấn
thì mong các vị hoan hỷ, và không cho điều đó là quan trọng,
mà thấy việc giáo dục giáo truyền kiến thức của mình,
góp phần đào tạo lớp hậu lai mới là điều quan trọng,
đó là một nhiệm vụ cao cả không ai gánh vác được ngoài
các thầy.
Tiếp
đến chúng tôi xin tâm sự với các vị Bổn sư của các học
Tăng học Ni.
Thưa
các vị bổn sư của các học Tăng học Ni,
Các
vị cho các đệ tử của mình đến học ở đây không có
nghĩa rằng các vị giao phó người đệ tử mình cho nhà trường,
mà đồng thời các vị phải có bổn phận nhắc nhở đệ
tử của mình, khuyên răn đệ tử của mình từ việc học
cho đến việc tu. Vì nếu một học Tăng hay học Ni nào đó
làm điều không đúng, học nhác, chơi bời, hạnh kiểm yếu,
thì cái đó nhà trường không hoàn toàn chịu trách nhiệm,
mà nhà trường chỉ chịu trách nhiệm một phần, nhưng phần
lớn là do các vị chịu lấy. Tôi mong mỏi các vị luôn luôn
để tâm dìu dắt hàng đệ tử của mình để khỏi thua chúng
kém bạn.
Nhân
đây tôi cũng xin Ban Bảo trợ đôi điều.
Thưa
quí vị trong thưa Ban Bảo trợ.
Nói
gì thì nói, trường có được đứng vững hay không, lâu bền
và phát triển tốt đẹp hay không cũng đều do sự Bảo trợ
của các vị. Nếu sự bảo trợ yếu thì nhất định sự
phát triển của trường cũng yếu. Nên tôi mong mỏi các vị
cố gắng, tích cực, vui vẻ coi như đó là một công đức
lớn để giúp chúng tôi hoàn thành sự giáo dục cho các Tăng
ni. Muốn có một Tăng ni tốt trong tương lai thì hôm nay chúng
ta phải ra công dạy dỗ, chăm sóc để sau này đáp ứng được
cái bản hoài của Đức Phật là hoằng pháp lợi sanh, cứu
khổ cho nhân quần và xã hội.
Tôi
xin cám ơn và cầu chúc tất cả đều được an lạc.
-ooOoo-
11.
Tại sao phải mở trường Phật học
Các
trường Cơ bản Phật học mở ra là cốt để đào tạo các
vị Tăng Ni trẻ có đủ trình độ học vấn cơ bản và một
sự tu hành vững chắc. Đến khi lớn lên làm một vị Tăng,
vị Ni cũng có một trình độ vững chắc như vậy để hoằng
dương Chánh pháp, lợi lạc quần sanh.
Chúng
đệ tử của Phật có bốn, là Tăng, Ni, cư sĩ Nam và cư sĩ
Nữ. Như vậy Ni ở vị trí thứ hai trong hàng đệ tử bốn
chúng của Phật. Nên đối với Phật pháp, đối với bản
hoài của Đức Phật, là người đệ tử luôn luôn phải tâm
niệm thực hiện cho được bản hoài của Ngài để chứng
minh cho việc làm đệ tử. Được như vậy thật là một điều
hết sức sung sướng. Nhưng làm sao để được Phật chứng
minh? Chính Đức Phật cũng đã từng dạy: "Ở gần bên Ta
mà không thực hành theo lời dạy của Ta thì như cách xa Ta
ngàn dặm. Trái lại, dù ở xa Ta nhưng thực hành theo lời
dạy của Ta thì cũng như ở gần hai bên Ta". Ngày hôm nay chúng
ta đã cách Phật rất xa, thuộc về đời mạt pháp. Tuy cách
xa Phật nhưng chúng ta còn có đủ thiện duyên để tin Phật,
học hiểu giáo lý của Phật, gặp thầy, gặp bạn để trau
giồi đức hạnh, để tu tập, để tiến lên con đường giải
thoát của Phật, thì đó là một điều hạnh phúc, rất là
may mắn cho chúng ta.
Như
Đức Phật đã dạy, tất cả mọi chúng sanh còn đang ở trong
vòng đau khổ. Nhưng sự đau khổ đó có từ đâu có và nguyên
nhân của sự đau khổ đó thế nào? Thì chính Đức Phật
dạy: Nguyên nhân của sự đau khổ đó, nguồn gốc không ở
đâu xa lạ hết, mà chính ngay trong bản thân của mỗi người.
Trong bản thân của mỗi người tùy theo sự nhận thức như
thế nào thì cuộc đời nó sẽ hiện ra như thế đó. Nên
nói cuộc đời an lạc hay cuộc đời đau khổ, cái đau khổ
an lạc bên ngoài có cái thủ, có cái duyên, nhưng chính cái
an lạc, cái đau khổ bắt gốc từ sự nhận thức của con
người. Nếu sự nhận thức đó mang cái chấp ngã điên đảo,
tham lam, ích kỷ, thì sự nhận thức đó sẽ đưa đến sự
đau khổ. Ngược lại, một sự nhân thức sáng suốt, nhìn
sự vật một cách như thật, như Đức Phật đã từng dạy:
Là vô thường, vô ngã. Nhận thức đúng như vậy, không sinh
ngã chấp, không đắm trước, thì đó là một nhận thức
đúng đắn mang lại sự an lạc. Nếu không nhận thức đúng
đắn thì sinh ra đau khổ. Vậy cái gì khổ? Cái cây nó không
khổ, chén cơm nó không khổ, hòn núi nó không khổ, con sông
nó không khổ, cái nhà nó không khổ, cục vàng nó không khổ,
những thứ đó nó không khổ.
Cục
vàng dù có thể trong rương hay có rớt xuống khỏi bùn nó
không khổ. Hòn núi có còn đó hay có tiêu đi hòn núi cũng
không khổ, cái nhà có còn đó hay có cháy đi cái nhà đó
cũng không khổ. Vậy ai khổ? Không phải cái nhà, không phải
cục vàng mà cái khổ đó là con người khổ. Người có cục
vàng mang cục vàng, đắm trước cục vàng, mất cục vàng
thì đau khổ. Đó là sự đau khổ của trong tâm thức, sự
đau khổ của sự nhận thức, chứ không phải sự đau khổ
của cục vàng. Ta thường nói mất cục vàng cho nên ta đau
khổ, có cục vàng cho nên ta an vui. Đó là một lời nói không
xứng đáng, không đúng cách cho lắm. Bởi vì có người có
vàng nhưng họ lại không vui, nhưng cũng có những người không
có vàng nhưng họ lại không khổ. Như vậy cục vàng cũng
không phải là đau khổ, cũng không phải là an vui. Mà đau
khổ hay an vui chính tự nơi con người.
Ngày
xưa, ở bên Trung Hoa có Hứa Do và Sào Phủ, hai ông này là
hai nhà ẩn sĩ, bỏ hết cả danh lợi cả thế gian để đi
ở ẩn. Thời đó vua Nghiêu cũng là một vị vua hiền, nghe
Hứa Do là một vị hiền sĩ, cho người đi mời Hứa Do về.
Hứa Do nghe được vua cho mời về nhưng cũng không biết vua
nói chuyện gì. Khi vào gặp thì vua Nghiêu liền nói: Tôi nghe
ngài là một bậc hiền sĩ, đức hạnh hơn tôi. Xin ngài ở
lại để ngài cai trị đất nước này thay tôi, đem lại sự
an lạc thái bình cho thiên hạ, chứ tôi không đủ đức độ
như ngài. Nghe xong, ông Hứa Do bịt tai bỏ đi. Bỏ đi và quay
xuống sông rửa tai và lẩm bẩm nói: Xưa nay chưa từng nghe
câu nói đó, nên nghe rồi nó chát chúa và bẩn thỉu lỗ tai
quá. Cho nên ông phải xuống sông rửa tai. Cùng lúc ấy Sào
Phủ dẫn trâu đi uống nước, thấy Hứa Do đang rửa tai như
vậy liền hỏi: Tại sao anh xuống đây rửa tai? Ông thuật
lại chuyện vua Nghiêu mời ông ra trị nước, làm cho khó chịu
quá nên phải xuống đây rửa tai. Nghe vậy, ông Sào Phủ liền
dắt trâu đi chỗ khác, ông không cho trâu uống nước chỗ
đó nữa vì sợ nhớp tai trâu của ông.
Câu
chuyện đó là một điển hình để chứng tỏ rằng ngôi vị
đó là ngôi vị nhiều người ham. Có được ngôi vị đó
thì hết sức sung sướng, nhưng khi mất ngôi vị đó cũng
rất đau buồn. Có người coi ngôi vị đó là một chướng
ngại và triền phược, chỉ gây đau khổ cho mình mà thôi.
Chứ không thêm không bớt gì hơn.
Thế
cho biết rằng: Cái đau khổ hay an lạc là xuất phát từ cái
tâm. Nên Đức Phật nói: Nhất thiết duy tâm tạo, không có
sự vật gì gọi là chân thật hết. Những cái hiện tướng
hiện ra trước mắt ta đều do tâm chứng ta biến hiện. Nó
không phải như thế mà tâm ta biến ra như thế. Đó là duy
tâm, cũng gọi là duy thức. Như vậy tâm thức chính nơi bản
thân ta, nên khổ vui cũng từ nơi bản thân ta. Do đó khi mê
lầm thì đau khổ, giác ngộ thì an vui. Đó là chân lý sáng
suốt mà Đức Phật đã dạy trên 2500 năm cho đến bây giờ
vẫn là chân lý bất di bất dịch. Là đệ tử của Đức
Phật, điều trước tiên chúng ta phải học là học điều
đó, gạt bỏ những gì Phật nói đó là xấu xa, hẹp hòi,
ích kỷ, xan tham, tật đố, cống cao, ngã mạn. Chẳng hạn
như vô minh, Phật biểu bỏ đi đừng có nhận hắn vào trong
ta. Tham lam, sân hận, kiêu mạn, tật đố...phải vứt bỏ
đi, các con đừng mang những thứ đó vào trong con người làm
chi cho khổ. Đức Phật dạy như vậy.
Ngày
xưa có một vị Tỳ kheo đau rất nặng không biết làm sao
gặp Phật cho được, liền nhờ một vị Tỳ kheo khác thỉnh
Phật tới cho ông ta gặp. Đến khi Phật tới thì ông Tỳ
kheo đó lồm cồm ngồi dậy thì Phật bảo: Thôi thôi cứ
nằm yên đó khỏi ngồi dậy. Phật mới hỏi rằng: Lâu nay
ông có quán vô thường không? Dạ có, vị Tỳ kheo đáp. Có
quán vô ngã không? Dạ có. Có quán ngũ uẩn giai không? Dạ
có. Vậy ông có điều gì mà không vừa ý ở nơi ta không?
Dạ không, con không có điều gì không ưa ý nơi Đức Thế
Tôn hết. Vậy có điều gì ông không thỏa mãn không? Dạ
có. Phật hỏi điều gì thế? Vị Tỳ kheo nói: Dạ, con mong
mỏi được thấy Đức Thế Tôn nhưng vì con mang thân bệnh
quá khổ nên con không gặp được Thế Tôn, nên con không cảm
thấy thỏa mãn. Đức Phật dạy: Thân Ta cũng là cái thân
vô thường vô ngã, ngươi thấy cái chi thân ô uế này? Hễ
ngươi thấy pháp tức là thấy Ta. Thấy Ta tức là thấy pháp.
Phật dạy như vậy.
Nên
có một vị thiền sư hỏi một người đi lễ Phật về câu
hỏi như thế này: Này ông bạn, ông đi đâu về? Ông ta trả
lời: Tôi đi lễ Phật về. Vị thiền sư hỏi: Phật ở đâu?
Ông ta trả lời: Trong chùa. Vị thiền sư liền nói: Đó là
cục gỗ chứ đâu phải Phật. Ông ta hoảng hồn, hoang mang.
Ông nghĩ là ông đã lễ lạy mấy năm nay, bây giờ thiền
sư này nói không phải Phật nên ông ta quay hỏi lại: Thế
Phật ở đâu? Vị thiền sư liền nói: Phật ở trong chùa.
Tại sao có chuyện ngược xuôi như vậy? Khi ông vào lễ Phật
trở ra, vị thiền sư hỏi Phật ở đâu? Ông trả lời: Phật
ở trong chùa, vị thiền sư không chấp nhận đó là Phật.
Nhưng đến khi ông hỏi lại, vậy thì Phật ở đâu? Vị thiền
sư đó trả lời: Phật ở trong chùa! Vị thiền sư nói như
vậy là nghĩa gì? Đó là một bài học để nhắc nhở không
phải cho người lạy lễ Phật, mà cũng chính là nhắc nhở
cho tất cả chúng ta. Nhắc nhở chúng ta bằng cách lễ Phật
như thế nào? Lễ Phật như thế nào để thấy Phật? Lễ
Phật như thế nào là không thấy Phật. Có nghĩa: Phật bảo
chúng ta làm tất cả những gì Phật bảo làm, còn những gì
Ngài không bảo, chúng ta không làm. Lễ Phật như thế là thấy
Phật ở trước mắt, là sự lễ Phật để được thấy Phật.
Nói
tóm lại, tinh thần của Đức Phật dạy chúng ta không gì
khác hơn là cố nhắc nhở cho chúng ta, phải sửa cái nhìn
của mình như thế nào để nhìn theo đúng với cái nhìn của
Đức Phật. Thấy thế nào đúng theo cái thấy của Đức Phật.
Nói thế nào đúng theo lời nói của Đức Phật, làm thế
nào đúng theo lời dạy của Đức Phật, đó là điều Đức
Phật luôn luôn nhắc nhở chúng ta.
Vậy
mở trường, dạy học cho học Tăng học Ni không có gì cao
quí hơn là trao truyền lời dạy cao cả, sáng ngời đó của
Đức Phật đến cho các vị. Nếu các vị thành tâm cần mẫn,
siêng năng học hỏi, tu trì, không những chỉ nghe mà còn phải
suy nghĩ, chẳng những phải suy nghĩ mà còn tu tập - văn, tư,
tu đầy đủ trong mỗi câu kinh, trong mỗi bài học. Có như
vậy các vị mới có thể tiến gần với lời dạy của Đức
Phật, gạt bỏ những cái nhìn sai quấy, hẹp hòi, ích kỷ,
ngã chấp của mình để có được một cái nhìn sáng suốt
và giác ngộ. Đó là tôn chỉ để Giáo hội mở trường Cơ
bản.
Vậy
tôi mong các vị thấu hiểu điều đó mà vâng lời các vị
giáo thọ, các vị giáo sư. Ngoài ra, các vị giáo sư cũng
cố gắng tìm tòi học hỏi thêm ở các vị cao minh khác, trong
sách vở khác, học rất kỹ, học thật sâu để cho lời giáo
lý của Phật được thấm nhuần. Được như vậy thì giáo
lý của Đức Phật một ngày nào đó không phải là giáo lý
của Phật nữa mà chính là giáo lý của mình. Học như thế
nào để cho giáo lý của Phật trở thành giáo lý của mình.
Nếu là giáo lý của Phật thì có khi ta nhớ, có khi ta quên.
Nhưng khi nó đã trở thành giáo lý của mình rồi thì không
bao giờ mình quên hết. Khi mình đã trở thành giáo lý và
giáo lý đã trở thành mình thì mình và giáo lý tuy hai mà
một. Được như thế mới đạt được kết quả thành tựu
viên mãn.
Hôm
nay tôi tâm sự với các vị như vậy để các vị thấy rõ
mục đích tôn chỉ của Trường Cơ bản mở ra là để dạy
cho Tăng Ni học cái gì? Làm cái gì để các vị có cách đào
tạo giúp cho các Tăng Ni trên bước đường tu học. Mong rằng
sau này trở nên một vị Tăng, vị Ni có đủ tài đức giúp
cho việc hoằng dương Chánh pháp, góp sức với các vị khác
trong tỉnh mà nói rộng ra là góp sức với Giáo hội để
duy trì Chánh pháp, làm cho Chánh pháp cửu trụ thế gian lâu
bền như chúng ta hằng mong muốn.
-ooOoo-
12.
Con rồng trong Kinh điển Phật giáo
Thường
lệ đã thành truyền thống, đầu năm mới rằm tháng giêng,
các Phật tử đều đến chùa làm lễ cầu an. Trước hết
là cầu an cho mình và sau đó là cầu an cho gia đình và xã
hội. Đây là một việc làm tốt đẹp để un đúc Bồ-đề
tâm và thực hành Bồ-tát hạnh.
Hôm
nay là ngày đầu tiên tụng kinh Pháp Hoa cũng là thực hiện
ước muốn đó, thay mặt chư Tăng, tôi chúc các Phật tử
thân tâm an lạc và cầu nguyện chư Phật, chư vị Bồ-tát,
chư vị thiện thần gia hộ cho gia đình các Phật tử và tất
cả chúng ta đều được an lành, cát tường như ý.
Năm
nay là năm Rồng, tôi sẽ nói chuyện Rồng trong kinh điển
Phật giáo và dân tộc ta.
Rồng
là con vật như thế nào? Chưa ai thấy hết, nhưng khắp nơi
trên thế giới rất nhiều người tin tưởng có Rồng và hình
dung con Rồng mỗi nơi mỗi khác. Ở Ấn Độ gọi Rồng là
Naga, Trung Hoa gọi là Long, Việt Nam ta gọi là Rồng. Đó là
con vật có hình dạng mình rắn, đầu sư tử, chân cọp. Tuy
là tưởng tượng nhưng nó đã trở thành tín ngưỡng phổ
thông, rất được quần chúng yêu mến, họ vẽ ra nhiều cách
và chính trong sách vở thời xưa, hình dáng con Rồng cũng khá
phong phú không kém ngày nay.
Trước
hết tôi xin nói về con Rồng Việt Nam.
Trong
lịch sử dân tộc Việt Nam, vị thỉ tổ đầu tiên về nguồn
gốc của dân tộc Việt Nam là do Lạc Long Quân gặp nàng Âu
Cơ ở Động Đình Hồ, sau đó sinh ra một cái bọc trăm trứng,
từ bọc đó nở ra trăm người con. Lạc Long Quân là cốt
Rồng, Âu Cơ là cốt Tiên, khi sinh ra 100 người con như vậy,
Rồng vốn ở nước, Tiên ở núi cho nên mới chia 100 người
con ra hai phần: 50 người đi theo cha xuống biển, 50 người
đi theo mẹ lên núi, từ đó dân tộc ta có nguồn gốc là
con Rồng cháu Tiên.
Khi
dân tộc ta có nguồn gốc con Rồng cháu Tiên thì chúng ta là
dòng giống Rồng Tiên. Dòng giống Rồng Tiên vốn là dòng
giống cao cả, oai phong, dũng cảm. Rồng Tiên có sức mạnh
phi thường và khả năng biến hóa khôn lường.
Đời
Lý có vua Lý Công Uẩn, con nuôi của Thiền sư Lý Khánh Vân,
được sự dạy dỗ giúp đỡ của Thiền sư Vạn Hạnh, là
hai vị Thiền sư đầu đời Lý rất nổi tiếng về đạo
hạnh và trí tuệ thông bác hơn người.
Khi
ấy gặp lúc vua Lê Ngọa Triều cuối đời Tiền Lê là một
vị hôn quân, sa đọa, hung ác, dân tình oán thán. Vua này ăn
chơi trác táng nên đã sinh bệnh không thể ngồi dậy thiết
triều được, mỗi khi thiết triều chỉ nằm mà thôi, cho
nên có danh là Lê Ngọa Triều. Trước tình hình như vậy,
ngài Vạn Hạnh Thiền sư cùng Đào Cam Mộc, một vị đại
thần trong triều sắp đặt đưa Lý Công Uẩn lên làm vua,
lập nên triều đại nhà Lý trị vì trên 200 năm rất vững
chắc.
Khi
lên ngôi, vua tự xưng là Lý Thái Tổ. Từ đất Hoa Lư, vua
Lý Thái Tổ nghĩ rằng, đất nước đã độc lập, không thể
ở một nơi đất đai chật hẹp, giao thông không thuận tiện,
ngài nghĩ, tại sao trẫm không dời đô về một chỗ khác
cho thuận tiện hơn cho việc triều chính, tiện cho việc đối
nội lẫn đối ngoại. Từ đó vua mới ra chiếu dời đô về
đất Hà Nội bây giờ. Trong khi về đến Hà Nội thấy một
con Rồng vàng bay lên, nên vua mới lấy đó để đặt cho Kinh
đô nước ta là Thăng Long. Thăng Long là thủ đô của nước
Việt Nam lúc bấy giờ. (Thăng Long tức là Rồng bay lên). Rồng
bay lên thì cũng có thể hạ xuống, chỗ hạ xuống là ở
tỉnh Bắc Ninh, nên mới có Vịnh Hạ Long, tức là vịnh Rồng
hạ xuống
Rồng
bay lên từ Hà Nội lấy thủ đô là Thăng Long và hạ xuống
ở vịnh Hạ Long (tỉnh Bắc Ninh). Chỗ này bây giờ là một
di tích thiêng liêng và là kỳ quan thế giới được Liên hiệp
quốc công nhận.
Ở
miền Nam có một con sông gọi là sông Cửu Long, tức là sông
có 9 con Rồng (tức chín luồng nước hợp lại như chín con
Rồng giao nhau), và có bến Nhà Rồng ở thành phố Hồ Chí
Minh. Như thế là Việt Nam chúng ta từ vị khai tổ ở Bắc,
nguồn gốc đầu tiên theo truyền thuyết là Lạc Long Quân
và nàng Âu Cơ, đến khi Lý Thái Tổ lên ngôi vua và hạ chiếu
dời đô về Hà Nội, đặt tên là Thăng Long, rồi có vịnh
Hạ Long ở Bắc Ninh là nơi Rồng hạ xuống, tất cả đều
có dính dáng đến Rồng.
Như
vậy nước Việt Nam chúng ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau
đầu, đuôi và giữa đều có Rồng. Theo địa lý thì miền
Bắc là đầu Rồng, ở giữa cố đô Huế cũng có bệ Rồng
(triều nhà Nguyễn) là mình, và vào trong Nam là chân Rồng,
đâu đâu cũng có Rồng hết. Mà Rồng là một linh vật nhanh
nhẹn, thông minh, biến hóa khôn lường, đó là một hình tượng
rất được dân chúng ưa chuộng. Việt Nam chúng ta là con Rồng
cháu Tiên thì chúng ta phải bảo vệ, xây dựng và giữ gìn
nó như thế nào để xứng đáng là con Rồng cháu Tiên.
Như
vậy là tôi đã nói sơ lược về Rồng có dính đến truyền
thuyết dân tộc Việt Nam ta.
Bây
giờ tôi nói Rồng có liên quan đến kinh điển Phật giáo.
Trong kinh sách Phật có 3 lần Rồng xuất hiện.
Lần
thứ nhất là lúc Đức Phật Giáng sinh thì có 9 con Rồng phun
nước tắm cho Phật, gọi là Cửu Long phún thủy (Chín con
Rồng phun nước để tắm cho Phật). Đó là một tích sử
rất xa xưa, bây giờ ở miền Trung ít thấy, còn miền Nam
thì nhiều. Các chùa miền Nam khi họ khắc hoặc chạm trổ
tượng, bao giờ cũng có tượng Đản sinh, xung quanh có 9 con
Rồng đứng hầu, là lấy tích sử Đức Phật ra đời có
9 con Rồng phun nước tắm cho Phật. Đó là Rồng xuất hiện
trong kinh sách Phật giáo lần thứ nhất.
Lần
thứ hai là trên đường Đức Phật đi giáo hóa sau khi Ngài
Thành đạo. Sau ngày Thành đạo, Ngài đến Lộc Uyển thuyết
pháp độ cho 5 vị Tỳ kheo Kiều Trần Như xong, Ngài liền
nghĩ đến hạng căn cơ nào tiếp theo có thể tiếp nhận được
giáo lý của Ngài? Ngài quán biết tại xứ Ấn Độ lúc bấy
giờ có 3 anh em ông Ca-diếp gọi là Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp,
Già-da Ca-diếp và Na-đề Ca-diếp, rất nổi tiếng là hàng
ngoại đạo rất được kính trọng mà ở đấy họ đang thờ
Thần lửa. Ngài muốn hóa độ cho 3 anh em Ca-diếp bằng cách:
Hôm ấy Ngài đi qua chỗ cư trú của ông Ca-diếp anh, thì trời
tối nên xin vào ở trọ và ngủ lại. Ông anh Ưu-lâu-tần-loa
Ca-diếp thấy Ngài hình dung phương phi rạng rỡ, nét mặt
thanh thoát, tự tại, giải thoát, ông liền hỏi Ngài: Đạo
nhơn có mạnh khỏe không mà xem người vui vẻ như thế? Ngài
mới trả lời rằng: "Vô bệnh đệ nhất lợi, thiểu dục
tri túc đệ nhất phú, thành tín đệ nhất thân, Niết-bàn
đệ nhất lạc" (không bệnh là lợi nhất, biết đủ là giàu
nhất, thành tín là thân nhất, Niết-bàn là vui nhất). Vì
Phật giáo có những cái nhất như thế nên Phật tử chúng
ta khi học hỏi giáo lý của Ngài, đã thâm nhập giáo lý ấy
thì cũng rất tự tại và an vui.
Ngài
nói xong rồi và hỏi: Ông có bằng lòng cho tôi trọ lại một
đêm không? Ông ta trả lời: Cho Đạo nhơn trọ lại tôi không
tiếc gì; nhưng tiếc rằng bây giờ đây Tăng chúng đồ đệ
của tôi đông quá, không có chỗ để cho Ngài tạm trú, duy
chỉ còn một chỗ ở nơi đền thờ Thần Lửa ở bên góc
kia, Ngài có thể tạm trú ở đó có được không? Ngài nói,
chỗ nào cũng được, ông chỉ cho tôi trọ lại một đêm
thì tôi cám ơn vô cùng. Khi đó ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp
nói rằng: Tuy tôi nói là nói vậy, nhưng trong đền thờ Thần
Lửa đó nguy hiểm lắm, tôi sợ tánh mạng của Ngài bất
an, không toàn vẹn được, vì trong đó có con Hỏa Long (Rồng
Lửa), hễ người nào vào đó lạ hơi thì nó sẽ phun khói,
phun lửa ắt sẽ bị tiêu hết, không cách gì tránh được.
Ngài nói cám ơn và xin ông chớ lo. Ông vui lòng chấp nhận
cho tôi ở là tốt lắm rồi.
Đến
khi Đức Phật vào ở trong đền thờ Thần Lửa đó, con Rồng
Lửa ngửi thấy mùi hơi lạ, nó từ trong động trườn ra
phun khói. Khi khói phun tới chỗ Ngài, nhưng lạ thay, khói đó
dội ngược trở lại nơi chính nó. Nó lại phun lửa, lửa
chưa tới Ngài mà dội ngược lại nơi nó. Khi đó con Rồng
Lửa mất hết cả thần thông, không làm sao hại Ngài được,
nên nó gô mình lại (cuộn tròn) nằm cong núp vào một góc
để tránh khói lửa do nó phun ra. Thấy vậy, động lòng từ
bi, Đức Phật liền đưa bình bát ra và con Rồng Lửa bay vào
đó để lánh nạn, nên trong kinh có chữ hàng Long phục Hổ
(hàng phục Rồng và hàng phục Cọp). Vì sao Ngài hàng phục
được các loài hung dữ như vậy? Vì Ngài lấy đức từ bi,
lấy lửa tam-muội để hàng phục các loài hung dữ ấy.
Lại
nói ông Ca-diếp anh, khi thấy lửa trong đền nổi lên, thầy
trò ông liền hối nhau múc nước để dội vào trong đền.
Thầy trò ông càng dội nước, thì lửa càng bùng lên dữ
dội, không cách nào dập tắt được. Ông lấy làm lo lắng
cho tính mạng của Ngài và đâm ra hối hận vì đã để Ngài
ngủ trong đó.
Bất
thình lình, Đức Phật ung dung ôm bình bát từ trong đền thờ
Thần Lửa bước ra, thầy trò ông Tần-loa Ca-diếp vô cùng
ngạc nhiên, kính phục và bước lại hỏi Ngài. Thưa Đạo
nhơn, lâu nay không có ai dám đối địch với con Rồng Lửa
hung dữ này cả, nay sao Đạo nhơn hàng phục nó một cách
dễ dàng như vậy? Khi gặp Đức Phật ông ta trầm trồ ngợi
khen Đức Phật, nhưng trước mặt đồ chúng đệ tử của
ông, ông vẫn lầm bầm nói: Tuy Đạo nhơn ấy có thần thông
như vậy nhưng chưa bằng ta. Ông ta nói với đệ tử như vậy.
Khi
đệ tử vào trong động để đốt lửa thì lửa không cháy.
Ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp nghĩ chắc đây là ông Đạo nhơn
làm cho lửa không cháy, chứ không ai vào đây hết, liền quay
qua hỏi Đức Phật có đúng không? Đức Phật trả lời: Phải,
chính Ta làm. Phật hỏi lại. Vậy các ngươi có muốn đốt
lửa lên không? Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp thưa: Dạ, ưng lắm.
Vì chúng tôi đang thờ Thần Lửa nên chúng tôi phải đốt
lửa cho cháy mãi mãi, không được để cho lửa tắt. Ngài
bảo họ tới đốt thì lập tức lửa bừng cháy và cháy mãi,
cháy cao, không tài nào làm cho ngọn lửa nhỏ lại được.
Ông Ca-diếp anh nói, chắc là vị Đạo nhơn này làm rồi chứ
không con ai lẫn vào đây nữa! Ông liền hỏi Ngài có phải
Ngài làm không? Đức Phật trả lời: Phải. Phật hỏi lại,
thế các ngươi có muốn tắt lửa không? Ông mừng quá nói:
Dạ muốn. Phật lấy tay chỉ vào thì lửa tắt. Đến khi hết
củi để đốt, đồ đệ đem búa ra bửa thì búa mới nhấc
lên trời thì không tài nào hạ xuống được. Ông Ưu-lâu-tần-loa
Ca-diếp nói: Chắc ông Đạo nhơn này làm chứ không ai khác?
Ông liền hỏi Phật, có phải Đạo nhơn làm không? Phật nói:
Phải. Vậy các ngươi có ưa hạ búa xuống không? Ông nói:
Dạ ưa. Thế là Phật chỉ tay một cái thì búa liền hạ xuống.
Tuy
thấy thần lực của Đức Phật như vậy, nhưng ông Ưu-lâu-tần-loa
Ca-diếp tự ái nghĩ rằng, xưa nay mình lãnh đạo một số
đồ công chúng đông đảo và tự cho mình đã đắc thần
thông, giờ đây phép thần thông của ông Đạo nhơn này quá
vượt trội mình. Tuy vậy, trước mặt đệ tử ông, ông vẫn
luôn miệng nói: Mặc dầu vậy nhưng vẫn chưa bằng ta. Ta
đã chứng quả A-la-hán rồi, chư ông Đạo nhơn này chưa chứng
quả A-la-hán. Đức Phật với tâm mình biết tâm của người
khác liền nói: Này ông bạn tốt, ông nói như vậy là không
đúng sự thật, ông chưa chứng được A-la-hán. Vì nếu ông
đã chứng quả A-la-hán rồi thì không còn tâm hơn thua so sánh.
Giờ ông còn cái tâm niệm ngã nhơn hơn thua đó chưa hết,
ông chưa phải là người đã chứng quả A-la-hán.
Khi
đó Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp mới kính phục Đức Phật và
nói: Thưa Đạo nhơn, tôi biết cái đạo của Ngài cao hơn
cái đạo của tôi, và cho tôi xin làm đệ tử với Ngài. Đức
Phật liền chấp nhận. Thế là ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp
anh trở thành đệ tử của Đức Phật cùng với 500 đồ chúng
đệ tử của ông. Khi đã làm đệ tử của Phật rồi thì
bao nhiêu khí cụ thờ Lửa ông sai đem liệng xuống sông Hằng.
Hai
người em cũng tu theo đạo thờ Thần Lửa như anh mình ở
khúc dưới sông Hằng, thấy đồ thờ Thần Lửa của anh mình
sao trôi bồng bềnh trên sông như vậy, họ đoán chắc anh
mình có tai nạn gì xảy ra rồi đây. Hai người em liền đi
ngược dòng sông để tìm hiểu thực hư ra sao, thì gặp anh
mình và đồ chúng đi theo sau Đức Phật. Họ lấy làm lạ
vô cùng vì nghĩ anh mình là người có uy tín, tu theo đạo
Thờ Lửa là đạo cao thượng, tại sao giờ lại đi theo sau
ông Đạo nhơn lạ lùng thế này? Họ liền hỏi anh thì được
người anh kể lại cho nghe hết mọi chuyện về Đức Phật.
Khi ấy hai người em thấy đạo lực anh mình cao cường như
vậy mà cũng thua Phật, liền bàn bạc với nhau và cuối cùng,
họ xin đi theo Phật luôn cùng với đồ chúng mỗi người
125 vị. Cộng có 250 đệ tử của hai anh em cũng theo Ngài tu
luôn. Như vậy cả ba anh em cộng lại là 750 người đi theo
Phật, 500 còn lại là đệ tử của Ngài Xá-lợi-phất và
Mục-kiền-liên cùng các vị đệ tử khác, nên trong kinh thường
nói: Thiên nhị bách ngũ thập nhơn câu (1250 Tỳ kheo đông
đủ trong hội thuyết pháp) của Phật. Như vậy là Rồng xuất
hiện lần thứ hai trong kinh Phật.
Bây
giờ Rồng xuất hiện lần thứ ba.
Các
Phật tử đã tụng Kinh lâu ngày rồi có nhớ ở phẩm nào
không? Chính nó xuất hiện ở phẩm Đề-bà-đạt-đa. Trong
phẩm Đề-bà, Đức Phật phúc chúc cho các vị đệ tử thuyết
pháp và các vị Bồ-tát phát nguyện đem Kinh Pháp Hoa đi giáo
hóa. Ngài Văn Thù cũng phát nguyện trước Đức Phật là sẽ
đem Kinh Pháp Hoa đi giáo hóa các nơi.
Có
một hôm, trong hội chúng Đức Phật nói rằng: Các đệ tử
của Ta đem Kinh đi giáo hóa khắp nơi, Văn-thù-sư-lợi cũng
đem Kinh đi giáo hóa. Ở Long Cung là chỗ vua Rồng ở, Văn
Thù sẽ đến đây ngay hôm nay. Vừa nói xong thì Bồ-tát Văn
Thù từ biển xuất hiện. Trí Tích Bồ-tát hỏi Ngài Văn Thù:
Mấy lâu nay Ngài đi giáo hóa dưới Long Cung có được nhiều
người theo không? Văn Thù trả lời: Thưa Đại sĩ, dạ đông
lắm, không kể xiết. Trí Tích Bồ-tát hỏi Ngài Văn Thù rằng:
Ngài dạy cho đệ tử pháp môn gì mà người ta theo đông như
vậy? Ngài nói: Tôi dạy Kinh Pháp Hoa. Tri Tích Bồ-tát nói:
Kinh Pháp Hoa là bộ Kinh thâm diệu, trong khi Ngài giáo hóa như
vậy có thấy ai có căn cơ lanh lợi, ngộ hiểu được pháp
tu hành thành Phật mau chóng không? Ngài Văn Thù nói: Có. Người
ấy là ai? Dạ đó là Long Nữ (là con của Rồng).
Long
Nữ mới 8 tuổi mà đã có căn trí rất lanh lợi, tu hành có
thể thành Phật đạo một cách mau chóng. Nói vừa xong thì
Long Nữ hiện lên. Khi Long Nữ hiện lên thì Ngài Xá-lợi-phất
nghi, Ngài nghĩ rằng: Thân người nữ có 5 sự chướng như
Đức Phật đã nói: Một là, thân người nữ không được
làm Ma vương; hai là không thể làm được vua Trời Phạm Thiên;
ba là không thể làm vua Trời Đế Thích; bốn là, không được
làm Chuyển Luân Thánh Vương; năm là, không được làm Phật.
Thân người nữ có 5 điều chướng ngại như vậy, nhưng ở
đây Long Nữ đã là người nữ, mà lại là thân Rồng, thuộc
loài súc sinh, thì làm sao mà nói thành Phật mau chóng được?
Ngài Xá-lợi-phất nghi lắm. Biết Xá-lợi-phất nghi như vậy
nên Long Nữ liền nói rằng: Thưa Tôn-giả Xá-lợi-phất kính
mến, giả sử tôi đem chuỗi ngọc này cúng dâng lên Đức
Thế Tôn, Đức Thế Tôn liền nhận xâu chuỗi ngọc đó, thời
gian đó có mau không? Ngài Xá-lợi-phất trả lời: Rất mau.
Long Nữ thưa lại rằng, tôi nay thành Phật cũng mau chóng như
thế. Vừa nói xong thì chuyển thân Long Nữ biến thành nam
nhân và thành Phật ngay trước hội chúng.
Ở
đây chắc các Phật tử cũng nghe nói thân người nữ có 5
điều chướng đó nên không thể làm Ma vương (Chúa tể loài
Ma), không thể làm được Phạm thiên vương (làm chúa tể
cõi thế gian), không thể làm được Trời Đế Thích (tức
là vị trời làm chủ cõi trời 33), không được làm vua Chuyển
Luân Thánh Vương (tức là một ông vua đem Chánh pháp cai trị
muôn dân). Ông vua đó mỗi lần ra đời thì có bảy thứ báu
xuất hiện theo ông, trong các thứ báu đó có một thứ xe
báu, khi nào muốn đi thì chiếc xe ấy hiện đến và ông cỡi
lên xe ấy để chu du thị sát khắp bốn châu thiên hạ, để
quan sát dân tình mà cai trị. Xe ấy đi khắp đông, tây, nam,
bắc chỉ trong một canh giờ mà thôi là về chỗ cũ; và thứ
năm là, không được làm Phật. Chuyển Luân Thánh Vương là
ông vua Thế gian, Đế Thích là ông vua cõi trời Tam thập tam
ở Dục giới. Còn Phật là ông vua pháp (Pháp vương). Thân
người nữ có trở ngại là không làm được năm chức vị
đó cho nên gọi là ngũ chướng. Nói như vậy có khác nào
nói rằng, trong Phật Pháp không có sự bình đẳng, trong Phật
Pháp cho người nữ thấp hơn người nam hay sao? Nếu nói người
nữ thấp hơn người nam thì tại sao có chỗ Phật dạy rằng:
"Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật". Đã có tánh Phật
thì bất luận nam nữ đều có thể thành Phật. Cho đến với
loài súc sinh nếu có tánh tự giác, đều có Phật tánh thì
trước sau đều có thể thành Phật được hết.
Tại
sao nói thân người nữ có 5 chướng nên không làm được
5 chức vị đó? Chúng ta biết rằng trong nhà Phật, chữ chướng
có 3 thứ:
- Phiền
não chướng.
-
Nghiệp chướng.
-
Báo chướng.
Khi
tụng kinh lễ Phật, chúng ta đều có nguyện: Nguyện tiêu
tam chướng trừ phiền não. Phiền não chướng tức là tham,
sân, si, tật đố, kiêu mạn, ích kỷ, ganh tỵ, đố kỵ...Tất
cả những tật xấu đó gọi chung là phiền não. Những thứ
phiền não nầy làm cho tâm người ta bất an, bị sầu muộn,
bị dằn vặt, buồn bực, lo lắng như lửa đốt, nên gọi
là phiền não. Chúng ta muốn tu nhưng vì các thứ đó nó ngăn
ngại nên không tu được. Muốn giải thoát nhưng bị 5 thứ
đó làm cho chướng ngại nên không giải thoát được. Muốn
được an vui thì bị các phiền não đó làm ta buồn bực không
vui được.
Tự
chúng ta chiêm nghiệm suy nghĩ về chúng ta cũng đủ hiểu.
Tôi lấy một ví dụ: Hằng ngày chúng ta đi tụng kinh rất
siêng năng, nhưng hôm đó có người rao lên rằng: Nếu ai đó
đến với tôi đúng 6 giờ sáng tôi sẽ biếu cho một thỏi
vàng. Chắc chắn khi ấy lòng tham nổi dậy nên cũng có người
bỏ tụng kinh, thế là chướng rõ ràng, vì sao? Vì nó ngăn
trở con đường tu giải thoát của mình, đó gọi là phiền
não chướng. Mình biết rằng sân si là một điều không tốt,
là một điều tai hại (nhất niệm sân tâm khởi, bát vạn
chướng môn khai, nghĩa là một khi khởi một niệm sân si thì
muôn điều chướng ngại nổi lên). Mặc dầu biết như vậy,
nhưng khi một ai nói một tiếng về mình mà mình không bằng
lòng, thì mình sẽ nổi sân liền, không làm sao mà tu được.
Đang đi tụng kinh, giữa đường mà gặp một người nào đó
không quen, quẹt vào làm cho mình bị rách áo thì liền quay
trở lại sừng sộ cãi lộn với họ đã, chứ còn tụng kinh
thì thôi để mai, mốt tụng cũng được. Đó tức là phiền
não chướng, vì nó làm chướng ngại con đường giải thoát,
con đường tu tập, làm chướng ngại sự tìm đến cảnh an
vui thanh tịnh của mọi người.
Thứ
hai là nghiệp chướng, tức là cái nghiệp làm chướng ngại
con đường tu tập của mình. Tôi thí dụ: Sáng nay đi tụng
kinh Pháp Hoa ở chùa Từ Đàm, nhưng khi đạp xe qua chợ Bến
Ngự thấy có quán cà phê mùi thơm bốc ra hấp dẫn, thèm
quá mình không cưỡng lại được, thôi thì phá lệ ghé qua
uống một cốc đã. Cái nghiệp uống cà phê nó lôi đi theo
nghiệp uống cà phê, nghiệp ham mê bóng đá nó lôi đi theo
nghiệp bóng đá, nghiệp ưa đánh lộn nó lôi theo nghiệp ưa
đánh lộn. Bao nhiêu cái nghiệp đó ở nơi chúng sanh hoặc
nhiều hoặc ít đều có hết. Nếu nghiệp đó mình không thắng
nổi hắn, phải đi theo hắn thì đời đời chìm đắm theo
nó, chứ không tiến lên con đường giải thoát, giác ngộ
được, nên gọi là nghiệp chướng.
Thứ
ba là báo chướng. Báo chướng nghĩa là sinh ra đã gặp quả
báo. Có người ưa đi tụng kinh quá mà sao bữa nay trong người
không khỏe, bị đau bụng, mai đau chân, mốt nhức đầu, không
sao đi tụng kinh được. Họ cũng biết giáo pháp của Đức
Phật dạy quí báu vô cùng, muốn đi nghe quá nhưng bữa nay
hai tai nó ù, không nghe được. Nghe người ta diễn tả rằng:
Tượng Đức Phật rất trang nghiêm, thanh thoát, tự tại, an
lạc, họ muốn thấy tượng Đức Phật, muốn chiêm ngưỡng
tượng Đức Phật nhưng vì hai con mắt bị mù không thấy
được nên gọi là báo chướng.
Vậy
khi nói thân người nữ bị năm chướng không làm được 5
chức vị đó là thuộc về loại chướng nào? Nó thuộc về
báo chướng chứ không phải nghiệp chướng, cũng không phải
phiền não chướng. Bởi thân ta có khi không luận nam hay nữ,
khi đã dứt hết phiền não chướng rồi thì không còn phiền
não nữa. Trong hiện thân dứt hết phiền não, dứt hết nghiệp
chướng rồi thì không còn phiền não và không còn nghiệp
chướng nữa, nhưng cái thân báo chướng nơi mình khi sinh ra
đã mang cái thân đó. Trong khi mang nó thì thân đàn ông khác,
thân đàn bà khác. Thân nam giới có nhiều tự tại hơn, trái
lại, thân nữ giới có nhiều cái triền phược hơn, vì bị
nhiều triền phược nên cũng bị nhiều ngăn ngại: Do vậy
người nữ không được làm Đế Thích, không được làm Ma
vương, không được làm Chuyển Luân Thánh Vương, không được
làm Phạm Thiên Vương, và không được làm Phật, vì đó là
báo chướng chứ không phải nghiệp chướng, không phải phiền
não chướng. Bởi vì phiền não chướng cũng y như nam giới,
nghiệp chướng cũng y như nam giới không khác gì hết, nhưng
vì dư báo trong hiện tại làm chướng ngại, nên không thể
làm chủ năm chức vị đó mà thôi. Năm chướng này là năm
chướng thuộc về báo chướng chứ không phải phiền não
hay nghiệp chướng gì hết. Báo chướng là cái dư báo do mình
tạo nghiệp đời trước, nên ngày hôm nay phải chịu báo
thân như vậy, cho nên có những vị đắc đạo trong hiện
thân, Đức Phật cũng thành đạo trong khi hiện thân chứ không
phải Ngài thành đạo lúc nhắm mắt, thế nhưng cái dư báo
của sắc thân đó, Ngài cũng phải chịu. Ví như đau ốm,
rét lạnh, nhức đầu sổ mũi...là thuộc về báo chướng.
Các
vị A la hán cũng vậy, trong hiện tại chứng quả A la hán
thì chính các vị đó đã dứt hết phiền não chướng, nghiệp
chướng nhưng cũng còn mắc báo chướng nên phải chịu sự
triền phược của cái nghiệp báo đó. Như trong kinh có nêu
câu chuyện: Có một vị đã chứng A la hán rồi nhưng khi đi
khất thực không có ai cúng dường.
Đó
là ngài Losaka, vì lẽ trong kiếp trứơc bà mẹ của Ngài rất
mộ đạo, hay cúng dường bố thí cho các bậc tu hành, trái
lại, ngài thì hay ghét mấy vị đi khất thực. Thấy ngài
đâu là ngài ối đổ nấy, vì vậy nên không có ai dám đến
nhà của ngài để khất thực, mặc dầu pháp khất thực của
các nhà sư thì không phân biệt nhà nào hết, nhà nào cũng
phải đi ngang qua cả. Nhưng bữa đó, có một vị Bích Chi
Phật đến khất thực nơi nhà của ngài, khi ấy ngài không
có ở nhà. Bà mẹ đem cúng dường Bích Chi Phật những thực
phẩm tốt nhất. Khi vị Bích Chi Phật vừa đi ra khỏi thì
gặp Losaka trở về, thấy vậy liền tra hỏi vị Bích Chi Phật
rằng: Ông vào xin trong nhà tôi có gì không? Ngài trả lời:
Có. Ông biểu ngài đưa bình bát cho ông coi và thấy trong bình
bát có thức ăn. Ông giành lấy bình bát của ngài và đổ
xuống đất và lấy chân chà cho nát. Vì tạo nghiệp không
tốt đối với vị Bích Chi Phật nên kiếp sau, ngài bị luân
hồi và sanh vào trong nhà người chài lưới ở miền biển
rất nghèo. Làng này lâu nay làm ăn cũng khá, bữa được bữa
mất nhưng không bao giờ đói. Nhưng từ khi sanh ngài ra thì
nhà ấy và làng buôn luôn luôn bị mất mùa, đói kém. Họ
bèn điều tra xem xét và được biết kể từ khi ngài có mặt
thì làm thiệt hại cả làng, nhưng chưa ai dám nói ra.
Một
hôm để xác minh có phải là ngài người làm cho cả làng
bị thiệt hại như vậy không, họ bèn chia làng ấy ra làm
hai thôn: Thôn trên và thôn dưới. Thôn không có ngài Losaka
ở thì làm ăn phát đạt, trái lại, thôn có ngài Losaka sinh
và đang ở đó thì luôn luôn mất mùa, đói kém. Khi đã biết
chính ngài là người làm cho cả thôn bị đói kém, họ liền
đuổi hai mẹ con ngài đi. Cả hai mẹ con dắt nhau đi xin, nhưng
tới đâu cũng không ai cho gì hết. Khi bà mẹ để ngài ở
nhà đi xin một mình thì họ cho rất nhiều, còn nếu mang ngài
đi theo thì không ai cho cả. Bà mẹ cảm thấy chán nản và
định bỏ rơi con. May thay một hôm gặp ngài Xá-lợi-phất,
ngài nhìn thấy Losaka mặc dầu mắc quả báo như vậy, nhưng
có căn chủng rất tốt nên ngài nhận đem về nuôi dạy. Ngài
dạy cho Losaka học và tu hành, sau đó không bao lâu thì chứng
quả A la hán. Mặc dầu chứng quả A la hán nhưng đến khi
đi khất thực, khất đâu cũng không được. Buổi sáng ngài
đi khất thực thì các thí chủ chưa mở cửa. Ngài đợi gần
trưa đi khất thực thì người ta đã cúng dường cho mấy
vị trước rồi, đến khi ngài đi tới thì hết thức ăn.
Khi ngài đi chặng giữa cũng có người cúng, nhưng khi ngồi
ăn thì quạ xuống giành mất, cứ như vậy nên ngài phải
chịu đói luôn. Thấy vậy ngài Xá-lợi-phất liền đi khất
thực đem về cho ngài ăn. Khi đưa cơm cho ngài Losaka ăn, ngài
vừa bưng bình bát lên thì cơ