2.
Phật ở trên Chùa, Phật ở trong lòng
Đầu
năm Sửu tại nơi đây chúng ta đã đặt viên đá đầu tiên
để kiến thiết Sắc tứ Tịnh Quang tự. Thời gian thắm thoát
đã hai năm, trải qua bao sự khó khăn vì thời tiết, vì công
việc, vì trở ngại bên trong và bên ngoài. Trở ngại bên
ngoài là thời khí, còn trở ngại bên trong là những ý kiến
dị đồng. Những ý kiến có khi có thiện chí đóng góp cho
sự xây dựng mau thành tựu tốt đẹp, nhưng cũng có những
ý kiến nhiều khi không thuận cho việc xây dựng. Mặc dầu
thế, Ban kiết thiết đã cố gắng kiên trì, vượt qua tất
cả mọi khó khăn đó, để hoàn thành được phần cơ bản
kiến thiết Sắc tứ Tịnh Quang tự đẹp đẽ như ngày hôm
nay. Đó là nhờ thiện chí chung không những của Ban Kiến
thiết mà còn của tất cả quí vị Tôn túc, các Phật tử
xa gần và cũng nhờ sự thiện chí giúp đỡ của chính quyền
địa phương tỉnh Quảng Trị, đã nhiệt tình và nhận thức
rõ, ngôi Sắc tứ Tịnh Quang tự này đã có một lịch sử
gắn liền với đất nước, nhất là gắn liền với sự xây
dựng miền đất tỉnh Quảng Trị. Nhờ sự thiện chí này
một phần nào đó giúp cho hàng Phật tử chúng ta luôn luôn
gắn bó với đạo, dù trải qua thời gian nào, có lúc thịnh
lúc suy, dù khó khăn dù thuận lợi, nhưng lòng đạo của chúng
ta không bao giờ thay đổi. Và biết đâu trong số chúng ta
ngày hôm nay lại không thể không là những Phật tử đã có
duyên lành xây dựng am Tịnh độ thời ngài Chí Khả ngày
xưa.
Bởi
vì theo quan niệm Phật giáo chúng ta thì con người không chỉ
sinh ra nằm trong chiếc nôi và chấm dứt trong cái nhà mồ.
Nhưng quan niệm Phật giáo chúng ta là con người có một mạng
sống miên viễn lâu dài, một quan niệm không gian vô cùng
và thời gian vô tận. Vì thế mà lòng sống đạo của chúng
ta cũng đi theo quan niệm thời gian đó, không bị thời gian
chi phối mà thay đổi.
Hôm
nay, trong ngày kỵ giỗ Tổ, lại là lúc mà sự xây dựng Sắc
tứ Tịnh Quang tự được hoàn thành cơ bản và các vị trong
Ban Kiến thiết Tỉnh Giáo hội ở đây quyết định tổ chức
lễ An vị Phật để phụng thờ.
Nhân
đây tôi xin nói thêm về việc thờ tự như tại sao phải
an vị Phật và an vị có ý nghĩa gì đối với chúng ta?
Chúng
ta an vị Phật là rước Phật trong lòng chúng ta đem thờ tại
chùa, để khi nhìn thấy Phật tại chùa mà nhớ Phật trong
lòng của chúng ta và cũng để làm duyên cho mọi người khác
đến. Sau chúng ta có thể nhìn thấy Phật mà phát huy Đức
Phật trong lòng của mình lên.
Nói
về thờ Phật thì có câu chuyện của ngài Triệu Châu như
sau:
Ngày
xưa có một người đến chùa lạy Phật thì gặp Thiền sư
Triệu Châu, ngài bảo vào chùa lễ Phật đi. Anh ta vào chùa
ngó qua ngó lại vài vòng trở ra thưa rằng: Phật đâu có,
chỉ có mấy vị tượng gỗ tượng đồng mà thôi. Ngài Triệu
Châu nói: Chính là đó. Anh ta lại hỏi: Vậy thì Phật đâu?
Ngài nói: Phật ở trong chùa.
Chúng
ta hiểu thế nào về câu chuyện đối đáp của ngài với
anh cư sĩ đến chùa lạy Phật? Cũng với tinh thần đó có
một lần thượng đường, Thiền sư Triệu Châu đọc bốn
câu kệ:
"Kim
Phật bất độ lô,
Mộc
Phật bất độ hỏa,
Thổ
Phật bất độ thủy,
Chơn
Phật tại Kỳ trung".
Nghĩa
là:
"Phật
vàng không qua khỏi lò,
Phật
gỗ không qua khỏi lửa,
Phật
đất không qua khỏi nước,
Phật
thật ở trong đó".
Vua
Lê Thánh Tông trong khi đọc bài kệ đó, đầu óc ông nặng
kiến thức về Nho giáo cho nên vua quên câu sau: Chơn Phật
tại kỳ trung mà vua chỉ đọc ba câu đầu rồi cho rằng:
Phật không tự cứu được mình thì còn cứu ai! Chính ý kiến
của vua Lê Thánh Tông ngày trước không hiểu đúng tinh thần
Phật pháp thì lảng vãng đâu đó lúc này, lúc khác, sau này
cũng có những người đem ý kiến đó ra để chê rằng: Phật
không tự cứu lấy mình thì làm sao cứu được ai.
Vậy
khi chúng ta thờ Phật, chúng ta phải cố gắng đọc cho hết
4 kệ đó, nhất là cố gắng đọc cho trọn ý nghĩa của câu
chót: Chơn Phật tại kỳ trung, thì chúng ta mới thấy hết
ý nghĩa của sự thờ Phật là cao cả như thế nào. Bởi vì
Phật pháp bất ly thế gian giác, không ngoài sự tướng thế
gian, không ngoài công việc thế gian mà có Phật pháp. Chính
trong công việc thế gian, trong sự tướng thế gian mà có Phật
pháp. Phật pháp ở trong đó với những tinh thần sáng suốt
giác ngộ của những người hiểu Phật pháp.
Vì
vậy, nếu chúng ta thờ Phật một cách trang nghiêm thanh tịnh
thì chúng ta phải hiểu tinh thần bốn câu kệ của ngài Triệu
Châu, khi ấy việc thờ Phật của chúng ta mới có ý nghĩa
và việc thờ Phật của chúng ta mới đem lại sự an lạc
cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội. Chính tinh thần từ
bi đó của đạo Phật là tinh thần cởi mở, tinh thần hòa
hợp, tinh thần bao dung, cho nên đạo Phật đã nối kết được
tinh thần yêu nước chống ngoại xâm như là một chất keo
nối kết quá khứ với hiện tại, gắn liền dân tộc từ
xưa cho đến ngày hôm nay.
Trong
chất keo để gắn bó tạo nên sự đoàn kết của nhân dân
ta để tạo thành một sức mạnh giữ gìn độc lập cho dân
tộc đến ngày hôm nay, chất keo ấy chính là đạo Phật.
Và chất keo đó ngày nay vẫn còn.
Vì
vậy tôi mong rằng, khi Phật đã thờ ở đây thì các Phật
tử cố gắng đi chùa để tụng kinh, học Phật, nhất là
cố gắng chiêm ngưỡng tượng Phật trên chùa để phát huy
Đức Phật ở trong lòng của chúng ta lên. Được như thế
thì sự thờ Phật của chúng ta mới đầy đủ ý nghĩa và
mới đem lại cho chúng ta sự an lành thiết thực mà Đức
Phật đã dạy bảo cho chúng ta.
Bấy
nhiêu lời tôi xin cầu chúc quí vị Tôn túc và chư Phật tử
luôn luôn được an lạc trong chánh pháp của Phật đà.
-ooOoo-
3.
Muốn được yên vui sanh tồn cần phải học Phật
Xưa
nay cho đến về sau cũng thế, có nhiều người vẫn còn thành
kiến cho đạo Phật cũng chỉ là một Tôn giáo, có giá trị
của một Tôn giáo như bao nhiêu Tôn giáo hiện đang lưu hành
trên thế giới: Cơ Đốc giáo của Jésus Christ, Hồi giáo của
Mô-ha-mét (Mohamet) v.v... mà nhân loại đã dành riêng cho nó
một góc trời, một địa hạt để tùy tín ngưỡng tự do...
Ngược lại, một số người cho Phật giáo không phải Tôn
giáo mà là một Triết học, một học thuyết. Đức Phật
Thích-ca Mâu-ni với những thuyết lý của Ngài, cũng không
khác Khổng Tử với thuyết Chánh danh, Lão Tử với thuyết
Vô vi, Bergson với thuyết Trực giác, Darwin với thuyết Tiến
hóa. Chúng ta không thể đồng tình, miễn cưỡng đứng vào
một trong hai thái độ ấy; vì đứng vào đó, chúng ta sẽ
giảm mất một phần sáng suốt để nhận chân một cái đạo
chuộng lý trí, trọng thực hành, mở rộng từ bi phổ biến
bình đẳng là đạo Phật, để cởi mở gông cùm đau khổ,
vạch ra một con đường an vui giải thoát.
Nếu
chúng ta cho Phật Giáo là Tôn giáo, được hiểu theo nghĩa
thông thường, nó không phải mê tín thần quyền, chỉ ngưỡng
mong sự cứu rỗi, tìm an vui, cầu hiểu sự thật, toàn bằng
vào một chút lòng tin.
Nếu
muốn nói Phật Giáo là Triết học, thì nó không phải huyền
tưởng không đàm, phát minh bản thể sự vật, suy tầm lý
lẽ xa xăm mà thiếu phương châm để thật chứng. Hay nếu
muốn nói Phật Giáo là gì gì đi nữa, thì lời nói chúng
ta cũng chỉ là lời phiến diện hẹp hòi. Chi bằng ta cứ
nói ngay đạo Phật là đạo Phật, vì chính danh từ ấy đã
chứng minh mạnh mẽ đạo Phật không phải Tôn giáo mê tín,
không phải Triết lý không đàm. Đạo Phật nghĩa là đạo
giác ngộ, nếu còn mê tín thời không thể giác ngộ, không
đàm cũng không làm sao giác ngộ được.
Căn
cứ lẽ đó, chúng ta nên biết đạo Phật rất bổ ích, thích
hợp với sự tiến triển tốt đẹp của nhân loại; hơn nữa
đạo Phật có thể hướng dẫn tâm trí nhân loại tới chỗ
giác ngộ sự thật, chứ không phủ nhận lý trí, vì chính
đạo Phật đã xây dựng trên lý trí thực nghiệm, đạo Phật
có thể hướng dẫn hành động loài người tới chỗ hợp
lý, bởi đạo Phật đã kiến lập trên thực tế tu hành.
Nói
thêm cho rõ, đạo Phật đã hướng dẫn lý trí chúng ta đi
về con đường nào? Nhứt là đối với hai vấn đề mà mọi
người đều băn khoăn, vấn đề nhân sanh và vũ trụ, thì
đạo Phật đã quan niệm nó thế nào?
Nói
đến vũ trụ, ta ngó sang bên đông, ngó về bên tây, ngó lên
tận trời, ngó xuống đáy bể, không đâu không phải vũ trụ,
hình như là một khối chắc thật phổ biến bao bọc lấy
ta và muôn loài, từ khi ta chưa sanh đã có, đến khi ta chết
vẫn còn. Phải chăng vũ trụ đã thường còn đến thế? Nếu
thật vậy, chúng ta rất hoan nghênh và đồng thanh hô lớn:
Vũ trụ muôn năm. Nhưng xét kỹ lại, thì thấy đúng như lời
Phật dạy sau đây: Cõi nước mong manh, không ngừng biến chuyển,
nhờ sự quan hệ với nhau mà phát sinh và tồn tại, chứ đâu
phải do một người nào làm ra, một nguyên nhân gì tạo lập.
Trong đó một ngọn lá rơi, tức là vũ trụ thay hình, một
khúc sông lở tức là vũ trụ đổi dạng. Nếu ta chú ý nhìn
xem trong một ngày trạng huống của sự vật, từ lớn chí
bé, ta đều thấy toàn chung một luật đổi thay. Cơn gió lốc
thổi mạnh không thể trọn ngày, trận mưa to không suốt sáng,
hoa kia sớm nở chiều tàn cùng biết bao ruộng dâu đã hóa
bể, như thế thì vũ trụ có chi miên trường thật có, mà
trái lại biến dịch mong manh; trong hưng thạnh đã ẩn vẻ
điêu tàn, khi sanh thành là tiêu diệt, tuy có đó mà không
đó, đổi dạng thay hình trong nháy mắt...
Vũ
trụ thế ấy, còn nhân sanh thế nào? Thoạt tiên, ta ngó từ
quốc gia này đến quốc gia khác, từ một xã hội đến toàn
thế giới, không đâu không có dấu chân, hình ảnh con người;
phải chăng nhân sanh là những sự thật thường còn? Trước
trước ta đã có, và sau sau ta vẫn còn; chính như thân ta từ
khi lọt lòng mẹ đến bây giờ 10 năm, 20 năm, bảy tám mươi
năm mà ta cứ vẫn là ta chứ không phải người nào khác.
Nếu quả vậy là điều chúng ta rất hy vọng mà đồng thanh
hô lớn: Nhân sanh vạn tuế. Nhưng xét sâu vào thực trạng
nhân sanh, lại không khỏi làm cho ta ngậm ngùi suy nghĩ. Như
lời Đức Phật dạy: Thân mạng không thường, nhân sanh thống
khổ. Thật vậy, chẳng có bằng cớ gì tỏ cho ta thấy đời
thường còn, an vui, tự tại cả. Thay đổi nào tướng mạo,
màu sắc, tâm tính, ý chí; lúc mới sanh không giống lúc tuổi
già, khi thành nhân khác hẳn khi bé nhỏ, nằm trong nôi há
miệng đòi bú khác với lúc ngồi ăn cơm. Chẳng những thay
đổi trong từng năm mà luôn từng ngày, từng giờ. Nên người
xưa đã nói: Khi để chân lên giường cùng khi bỏ chân xuống
đất, hai người đã không giống nhau. Và họ cũng đã viếr
ra câu: Sáng như tơ mà tối lại như sương để tả mái tóc
xanh vô định.
Ngoài
luật vô thường thiên nhiên chi phối ấy, còn vô số lầm
than đều được trút hết vào con người. Chưa ngớt khổ
về nắng mưa đói rét, sống, chết, già, đau, lại dồn thêm
nỗi thống khổ do đồng loại tham hận tương tàn gây nên,
ai không thấy trạng huống nhân loại ngày nay, khổ vì ai đó,
mà tiếng khóc lời than càng thêm kéo dài lan rộng, những
nỗi oan ức bất bình càng ngày càng chất chứa lên cao tận
trời xanh. Nghĩ đến cảnh đói rét bê tha, nhà hoang người
vắng mà ai chẳng động lòng. Nhưng chưa gớm ghê và chua xót
mấy bằng khi thấy mạng người như sợi tơ mảnh củi mục;
sự sống chẳng còn chút gì bảo đảm, mặc dầu ngày nay
pháp luật nhân đạo rất nhiều mà chưa được thi hành cũng
lắm. Giá trị con người chẳng hơn gì loài vô tri giác, con
người thay thế thú vật bị đau làm vật hy sinh, làm mồi
ngon cho thần chết. Cái họa đồng loại tương tàn ngày nay
ai cũng thấy rõ. Nếu ta thử đi hỏi từng người lớn bé
trẻ già khắp thiên hạ có được mấy kẻ hân hoan mà trả
lời với ta, đời họ không khổ vì ái ân xa lìa, vì oán
thù gặp gỡ, vì uất hận bất bình, ghen ghét thất vọng...
Cho nên có nhà thi sĩ đã ngâm:
Trắng
răng đến kẻ bạc đầu,
Cùng
mang tiếng khóc ban đầu mà ra.
Đời
là một bể khổ, nên ai mới lọt lòng cũng đều cất tiếng
khóc than!
Ôi!
Nhân sanh như thế, vũ trụ như kia, vì ai nên nỗi! Người
ta làm thế nào để tẩu thoát ngoài cõi đời ác trược nầy
ư? Chúng ta mang câu hỏi ấy lần lữa đi hỏi từ người
nầy sang người khác, nhưng hoàn toàn thất vọng, họ chỉ
cho ta tìm xem sách Tôn giáo, Triết học, Khoa học v.v... Ta tìm
sách Tôn giáo thì thấy phần nhiều chủ trương tương tợ
với nhau rằng: "Tất cả vạn sự hay vạn vật khổ vui đều
do xây dựng của trời sanh, trái với trời sanh là khổ, tin
thuận trời sanh là vui". Song ta không tin vậy được; vì nếu
trời sanh nhân đức, thì còn sanh ra chi cảnh khổ nầy; còn
nếu trời sanh không nhân đức tài năng thì ta có tin cần
cũng vô hiệu. Rồi ta lần tìm đến sách chánh trị, thì thấy
trong đó rất dồi dào về pháp luật, điều ước, có thể
dẹp nội loạn, chống ngoại xâm; song những nỗi khắc khoải
của con người, nỗi thắc mắc trong tâm trí cùng các ác thần
lão, bệnh, tử, sanh, mê mờ, thống khổ... chánh trị không
thể dẹp yên. Thất vọng ở chánh trị, ta tìm sang khoa học,
thì thật đã làm ta chóa mắt, bao nhiêu tài trí, biến hóa
vô cùng, như thần tiên giáng thế, nó đã giúp ích cho nhân
quần biết mấy; nhưng một điều mà khoa học không thể trả
lời với ta: "Làm thế nào để ngăn đón lòng người nham
hiểm, dùng sai khoa học, gây nên tai vạ máu sông xương núi,
sát hại tàn khốc như ngày nay thì ai chịu trách nhiệm?" Do
đó ta thấy khoa học đã nhiều mặt làm tốt nhưng cũng có
mặt vô tình mài con dao bén trao tay cho kẻ hung tàn, thêm dầu
vào đống lửa dục vọng để con người tự tay thiêu đốt
thân mình.
Chưa
thỏa mãn với khoa học, chúng ta thử hy vọng vào các học
thuyết triết học. Triết học hầu hết là không đàm, thiếu
phương châm diệt khổ. Nho giáo ư? Thì toàn là Lý tánh, Dịch
số. Đạo giáo ư? Thì xương minh Huyền lý, Đơn đạo, nhưng
đối với bản quyền sự vật giải quyết rất sơ sài, và
phương pháp để tu hành thực chứng rất thiếu khuyết. Như
thế chúng ta cũng thất vọng luôn với các học thuyết ấy
và may mắn thay còn có đạo Phật. Chúng ta rất sung sướng
mà nghe câu trả lời nầy của đạo Phật: "Vũ trụ vô thường
nhân sanh thống khổ, không phải do trời sanh, đất dưỡng,
không duy vật duy tâm". Vì trời là một pháp, đất cũng là
một pháp, người là một pháp, cỏ cây cũng là một pháp,
tâm là một pháp, vật cũng là một pháp, cho đến cái có
là một pháp, mà cái rỗng không cũng là một pháp, không một
pháp tồn tại biệt lập, nếu không nhờ sự quan hệ giúp
nhau, không nhờ sự chi phối đối đãi theo cơ cảm mọi loài,
tuy đồng mà biệt, tuy biệt mà đồng, một người tội ác,
tự mình đau khổ còn gây đau khổ cho tất cả nữa. Cho nên
sự sống khổ đau của nhân loại nầy không phải riêng ai
định đoán cả, mà bởi tại con người; truy tầm căn nguyên
xét tận gốc rễ, lại không phải tại con người mà bởi
hành động con người; không phải bởi hành động con người
mà tại tâm lý con người. Nên kinh dạy: "Vì tâm cấu nên
chúng sanh cấu, nếu tâm tịnh thời chúng sanh tịnh". Vậy
thì cõi đời ô trọc, xấu xa, khổ sở hoặc thanh tịnh tốt
đẹp, an vui đều do tâm lý con người làm chủ động. Một
tâm lý ích kỷ, mười tâm lý ích kỷ, trăm ngàn vạn tâm
lý ích kỷ sẽ tập thành một thế giới đảo điên, tăm
tối. Trái lại, một tâm lý từ bi, mười tâm lý từ bi, trăm
ngàn vạn tâm lý từ bi sẽ dựng nên một Tịnh độ an lạc.
Khổ
hay vui, trước mặt ta đã có sẵn hai con đường: Một con
đường đến đọa lạc, tối tăm do tâm lý xấu, hành động
xấu, và một con đường đến vinh quang, hạnh phúc do tâm
lý tốt, hành động tốt. Vậy bây giờ chúng ta hãy lựa con
đường nào mà đi? Dĩ nhiên, quí ngài cũng như tôi, chúng
ta quyết lựa con đường nói sau, và chính con đường ấy
là con đường chư Phật đã đi. Đi trên con đường ấy phải
đủ hai điều kiện: Một là tập tánh vô ngã để diệt trừ
lòng ích kỷ cá nhân, phái đảng, để nhận rõ lẽ tương
quan sanh tồn, muốn sống an vui không phải tương tàn mà cần
hỗ trợ. Hai là nhận đúng lý nhân quả, hành động theo nhân
quả; biết rằng lời nói, hành động ấy sẽ trở lại với
mình cũng thế, và nếu muốn hành động hợp lý phải có
phương pháp hợp lý để thi hành. Dùng Phật giới để ngăn
trừ hành vi xấu ác, dùng Phật định để tiêu diệt tâm
niệm đảo điên loạn lạc, dùng Phật Tuệ để dẹp giặc
vô minh, thấu lẽ vô thường, ngộ nhập chân lý.
Tóm
lại chúng ta cần phải học Phật, vì đạo Phật không phải
Tôn giáo, Triết học mà là đạo Giác ngộ. Có giác ngộ mới
an vui, mới hợp lý, hợp tình giúp trí thức của chúng ta
tiến hóa sáng suốt, giúp hành động của ta tiến hóa tốt
đẹp để xây dựng một đời sống an vui thanh tịnh.
-ooOoo-
4.
Đức Phật đản sanh
Hôm
nay kỷ niệm Khánh đản của Ngài, chúng ta thành kính chuẩn
bị đón mừng giờ phút thiêng liêng nhất là ngày Đức Bổn
sư của chúng ta ra đời.
Trong
lịch sử của Đức Phật có 4 ngày trọng đại đáng ghi nhớ,
đó là ngày Đức Phật giáng sinh, Đức Phật xuất gia, Đức
Phật thành đạo và Đức Phật nhập Niết-bàn. Và có 4 chỗ
quan trọng nhất mà Đức Phật đã dặn: "Này Ananda, có 4 thánh
tích mà kẻ thiện nam tín nữ cần phải chiêm ngưỡng và
tôn kính đó là: 1) Chỗ Như Lai đản sanh; 2) Chỗ Như Lai chứng
ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; 3) Chỗ Như Lai chuyển
Pháp luân Vô thượng; 4) và chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô
dư y Niết-bàn. Này Ananda, những ai trong khi đi chiêm bái những
thánh tích mà từ trần với tâm thâm hoan hỉ thời những
vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh ở cõi
thiện thú cảnh giới chư Thiên".
Như
vậy là Ngài dạy, sau khi Ngài nhập Niết-bàn nếu các đệ
tử của Ngài, người nào muốn tưởng nhớ Ngài, niệm ân
Ngài thì hãy đi đến, nhớ đến bốn chỗ động tâm này:
Đó là nơi Đức Phật Giáng sinh dưới gốc cây Vô ưu ở
tại vườn Lâm-tỳ-ni, nơi Đức Phật Thành đạo dưới cội
Bồ-đề tại núi Tượng Đầu, nơi Đức Phật Thuyết pháp
tại vườn Lộc Uyển ở thành Ba-la-nại và nơi Đức Phật
nhập Niết-bàn dưới gốc cây Ta-la song thọ ở thành Câu-thi-na.
Đức Phật gọi chỗ đó là 4 chỗ động tâm là vì sao? Là
bởi khi Đức Phật đã nhập Niết-bàn, chúng ta không còn
thấy hình dung, ngôn ngữ của Ngài ở trước mặt, ở trong
tâm của chúng ta nữa, do vậy chúng ta chỉ còn đem tâm tưởng
nhớ tới những nơi Đức Phật đã sinh ra, đã chứng quả,
đã thuyết pháp và đã nhập Niết-bàn. Cho nên ở giữa thế
gian này gọi Ngài là Vua pháp.
Tại
sao gọi Ngài là Vua pháp? Vua pháp có nghĩa là Ngài tự tại
đối với muôn pháp. Điểm đặc biệt của Ngài từ khi sanh
cho đến khi nhập diệt đều ở dưới gốc cây: Khi Ngài giáng
sinh cũng ở dưới gốc cây, khi thành đạo cũng ở dưới
gốc cây, khi thuyết pháp cũng ở trong vườn cây và khi nhập
Niết-bàn cũng ở dưới gốc cây. Tuy ở dưới gốc cây nhưng
Ngài hơn tất cả chúng ta, hơn tất cả mọi người ở trên
ngai vàng nệm gấm, trên nhà cao cửa rộng mà không được
giải thoát, không chứng nhập Niết-bàn và không cứu độ
được ai. Ngược lại Đức Phật sanh ra, thành đạo, thuyết
pháp và nhập Niết-bàn đều ở dưới gốc cây nhưng Ngài
đã trở thành một bậc vĩ nhân, một bậc giải thoát, một
đấng Vô thượng, Ngài là Đạo sư của tất cả chúng sanh
của trời và người, Ngài đã dìu dắt chúng sanh trong tam
giới vượt qua con đường sanh tử luân hồi, đưa người
đến bờ giác ngộ.
Trong
giờ phút trọng đại này, chúng ta hãy lắng lòng để tưởng
nhớ tới ngày đản sanh của Ngài. Trước mắt chúng ta là
những hình ảnh hiện ra khi Ngài xuất gia, ấy là khi Bồ-tát
vừa ra khỏi thân mẹ là Hoàng hậu Ma Da. Ra khỏi thân mẹ,
Ngài đã bước đi bảy bước trên hoa sen, một tay chỉ lên
trời, một tay chỉ xuống đất và nói: "Trên trời dưới
trời duy Ta là độc tôn". Để trở thành một Hoàng từ ở
trong cung thì trước đó Ngài vốn là một vị Bồ-tát đã
trải qua nhiều đời nhiều kiếp hành Bồ-tát đạo mà trong
kinh Bổn sanh có ghi hơn 542 lần ghi đậm dấu ấn độ sanh
của Ngài.
Chuyện
kể rằng: Khi còn là vị Bồ-tát, có lúc Ngài khi thì làm
loài này, khi thì đầu thai làm loài khác. Có lúc làm vua hiền,
có khi làm con thảo, có lúc làm thầy hay, có khi làm bạn tốt,
dù ở bất cứ loài nào, Ngài cũng đem lại lợi ích cho họ.
Trải qua bao đời kiếp hành Bồ-tát đạo, hành hạnh tự
lợi lợi tha, công việc quả mãn, tu hành nhiều pháp môn,
tự giác giác tha đến khi duyên đã đủ phước đã đầy,
trí toàn vẹn và kiếp cuối cùng làm một vị Bồ-tát tên
Hộ Minh ở trên cung trời Đâu Suất, Bồ-tát chánh niệm chờ
cho cơ duyên thuần thục thị hiện cõi Ta-bà mà giáo hóa cứu
độ chúng sanh.
Từ
cung trời Đâu Suất, Ngài nhìn thấy tại Ấn Độ, nơi hoàng
cung của vua Tịnh Phạn là chỗ đáng để Ngài thác sinh, thị
hiện làm thân người như bao người khác, nương vào đó mà
giáo hóa độ thoát mọi loài. Khi thác sanh Ngài cỡi con voi
trắng sáu ngà hiện xuống ứng mộng nơi Hoàng hậu Ma Da phu
nhân và từ đó Ma Da phu nhân mới mang thai Bồ-tát cho đến
ngày hạ sinh Ngài. Voi trắng sáu ngà là biểu tượng của
Bồ-tát. Voi tượng trưng cho sức mạnh. Sáu ngà của voi cũng
là điểm đặc biệt, vì trên thực tế không có con voi nào
có 6 ngà hết, nhưng đây là hình ảnh tượng trưng cho vị
Bồ-tát đã tu hành thành tựu được sáu độ là: 1) Bố thí
độ xan tham; 2) Trì giới độ phá giới; 3) Nhẫn nhục độ
sân hận; 4) Tinh tấn độ giải đãi, phóng túng; 5) Thiền
định độ tán loạn; 6) Trí tuệ độ ngu si. Với sức mạnh
của bố thí, Ngài đã bao kiếp thực hành hạnh bố thí. Ngài
bố thí từ vật chất đến tinh thần. Về vật chất ai thiếu
gì mà xin Ngài, Ngài đều bố thí cả. Ai xin mắt thì Ngài
cho mắt, cho đến xin các bộ phận khác trong cơ thể Ngài
đều cho hết, thậm chí đến cả vợ con nếu ai đến cầu
xin Ngài cũng cho. Về tinh thần, thì Ngài đã nhiều lần hy
sinh thân mạng để cứu vớt cho họ.
Ngài
làm được việc khó làm đó là do Ngài ở trên lý Vô ngã
để hành Bồ-tát đạo. Với hạnh bố thí, với sức mạnh
nhẫn nhục, với sức mạnh trì giới, với sức mạnh tinh
tấn, với sức mạnh thiền định và với sức mạnh trí tuệ
mà Ngài đã thực hành, trải qua bao đời kiếp kết hợp lại
nên Ngài đã thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
nên con voi trắng đó cũng là biểu tượng cho Đức Phật.
Ngài từ cung trời Đâu Suất là vị Bồ-tát Hộ Minh cỡi
voi trắng 6 ngà ứng mộng nơi bà Hoàng hậu Ma Da phu nhân,
từ đó Bà mang thai và sau đó Đản sanh Ngài. Trong khi Đản
sanh Ngài không phải như những người thường khác. Khi vừa
hạ sanh Ngài đã đứng thẳng đi bảy bước có bảy hoa sen
đỡ chân, nhìn bốn phương tám hướng mà xướng lên rằng:
"Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn", nghĩa là: Trên
trời dưới trời duy Ta là độc tôn. Với một hiện tượng
lạ lùng như thế, nó bao gồm nhiều ý nghĩa sâu xa mà hôm
nay chúng ta cầm tìm hiểu cho rõ.
Vào
trong các ngôi chùa Việt Nam hiện nay thuộc Bắc tông, thấy
hình tượng của Ngài bao giờ cũng ngồi trên hoa sen. Đức
Phật khi sanh đi trên hoa sen, bởi chính Đức Phật là bông
sen. Hoa sen là tượng trưng cho đức hạnh và trí tuệ của
Ngài.
Có
một lần Ngài đi trên đường, sau Ngài có một du sĩ ngoại
đạo tên là Dona, nhìn thấy dấu chân in trên đất trên con
đường mà Ngài đã đi qua, ông ta thốt lên: Ôi! Dấu chân
này sao mà đẹp quá, từ xưa đến nay ta chưa thấy ai có dấu
chân như thế này cả, ông thầm thán phục và đoán chắc
đây là của một bậc vĩ nhân nào mới xuất hiện, nghĩ thế
nên ông liền đến hỏi thăm. Người Ông đến hỏi thăm chính
là Đức Phật. Ông nói: Thưa hiền giả, tôi vừa nhìn thấy
một dấu chân in trên đường, rất đẹp, tôi đoán chắc
đây là dấu chân của hiền giả chứ không ai khác, vì hiền
giả vừa đi qua đây. Vậy xin hỏi hiền giả ngài có phải
là Thiên thần không? Đức Phật trả lời: Không! Ta không
phải là Thiên thần. Vậy Ngài có phải là Dạ-xoa không? Không!
Ta không phải là Dạ-xoa. Vậy Ngài có phải là Càn-thát-bà
không? Không! Ta không phải là Càn-thát-bà. Vậy Ngài là người
chăng? Không! Ta không phải là loài người. Ngoại đạo Dona
lấy làm ngạc nhiên. Ông ta lẩm bẩm: Không phải thần thì
là người, không phải người thì Dạ-xoa, không phải Dạ-xoa
thì Càn-thát-bà, không Càn-thát-bà thì là ai? Ngài không phải
là những hạng vừa nêu trên vậy Ngài là ai? Ông ta không
hiểu nổi, hỏi lại thì Đức Phật trả lời rằng: Ta là
Dạ-xoa nhưng Dạ-xoa đã giác ngộ hơn tất cả các loài Dạ-xoa.
Trước đây Ta là Càn-thát-bà nhưng là Càn-thát-bà đã giác
ngộ và hiện không còn là Càn-thát-bà nữa. Ta là loài người
nhưng Ta đã giác ngộ không còn sanh tử luân hồi nữa. Ta
là trời nhưng Ta đã giác ngộ không còn là trời nữa. Vậy
Ngài là ai? Ta là Phật. Ta ví như hoa sen sanh ra từ bùn, mọc
lên từ bùn mà không nhiễm mùi bùn. Ta sanh ra trong đời, lớn
lên trong đời nhưng không nhiễm mùi đời. Ta là hoa sen, như
vậy ta là Phật. Chính ngay Đức Phật, Ngài cũng tự ví Ngài
là hoa sen. Cho nên hoa sen tượng trưng cho Đức Phật, bởi
vì hoa sen có một tính cách sinh từ bùn, lớn lên từ bùn
mà không nhiễm mùi bùn. Đức Phật cũng thế, sanh ra trong
đời, lớn lên trong đời mà không nhiễm mùi đời. Như vậy
hoa sen là Phật và Phật cũng là hoa sen.
Khi
Ngài sinh ra và bước trên bảy hoa sen có ý nghĩa như thế
nào? Có người thắc mắc hỏi tại sao không bước 8 bước,
9 bước, 10 bước... mà lại chỉ bước có bảy bước thôi?
Ở đây, theo thiển ý của tôi, nó có những ý nghĩa sâu xa
và con số bảy chỉ là con số biểu trưng. Đức Phật sở
dĩ thành Phật được là nhờ tu hành những pháp môn giải
thoát mới thành Phật được. Phật tu hành gồm bảy pháp
môn. Chính bảy pháp môn này đã đưa Ngài đến giác ngộ,
giải thoát ra khỏi luân hồi sanh tử, đưa Ngài đến quả
vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bảy
pháp môn đó là gì? 1) Pháp môn Tứ Niệm xứ; 2) Pháp môn
Tứ Chánh cần; 3) Pháp môn Tứ Như ý túc; 4) Pháp môn Ngũ
căn; 5) Pháp môn Ngũ lực; 6) Pháp môn Thất Giác chi; 7) Pháp
môn Bát Thánh đạo. Nói chung là 37 phẩm trợ đạo. Nhờ tu
37 phẩm trợ đạo mà Ngài thành tựu đạo giác ngộ Vô thượng
Bồ-đề. Trong luận Đại Trí Độ tập I có nói: Ba mươi
bảy phẩm trợ đạo là con đường đi đến Niết-bàn, đi
trọn con đường ấy là đến được Niết-bàn. Thành Niết-bàn
có ba cửa là Không, Vô tướng, Vô tác. Lại nữa, 37 đạo
phẩm là pháp thượng diệu nên chúng ta phải tìm hiểu. [1]
Khi
giáng sinh Đức Phật bước trên mỗi bước đều có hoa sen,
thành thử mỗi pháp môn là mỗi hoa sen. Bước trên mỗi pháp
môn, đứng trên mỗi pháp môn, thực hành tất cả các pháp
môn để thành Phật, đứng trên bảy hoa sen để đi tới thành
một bậc Đại giác. Bảy hoa sen có ý nghĩa tu hành là như
vậy. Ngoài ra nó còn có một ý nghĩa nữa là bảy hoa sen ở
cõi Ta-bà có thể ví cho 7 vị Phật: Quá khứ, hiện tại đã
có 7 Đức Phật ra đời, đó là Đức Phật Tỳ-bà-thi, Đức
Phật Thi-khí, Đức Phật Tỳ-xá, Đức Phật Câu-lưu-tôn,
Đức Phật Câu-na-hàm-mâu-ni, Đức Phật Ca-Diếp và Đức
Phật Thích-ca-Mâu-ni. Sáu hoa sen trước là tượng trưng cho
sáu vị Phật đã sinh ra trước Ngài, và hoa sen sau thứ 7 là
chính Ngài đứng trên đó. Ngài bước đi trên bảy hoa sen
là để ví dụ cho 7 Đức Phật đã hiện sinh trên cõi Ta-bà
thế giới này để hóa độ chúng sanh trong đó có Ngài.
Đức
Phật đi bốn bước ngó bốn phương tám hướng và xướng
lên câu: "Thiên thượng thiên hạ duy Ngã độc tôn" (Trên trời
dưới đất duy Ta là độc tôn) là nghĩa thế nào?
Trong
con người của chúng ta cái gì là cao quí nhất? Con mắt, lỗ
mũi, cái đầu, cái thân hay cái gì là cao quý nhất? Chẳng
có cái gì cao quý hết. Nếu nói thân ta là cao quí thì thân
ta do tứ đại cấu thành, bản chất nó cũng vô thường, là
như huyễn. Còn nói cái tâm ta là cao quý chăng? Chính cái tâm
chúng ta cũng không phải là cao quý. Nhưng cái thân cái tâm
đó nếu không có nó không thành tựu được trí tuệ và từ
bi, thành tựu được đạo đức và giác ngộ. Nhờ nhân duyên
hòa hợp tạo thành cái đạo đức, cái trí tuệ, giác ngộ
và chính đó mới là cái cao quý hơn cả. Cho nên một người
dầu ăn mặc đẹp và sang trọng đến đâu, nếu không có
tâm từ bi cũng không gọi là cao quý. Nói một cách chân thật
đúng như pháp thì ai thành tựu được từ bi vô thượng,
cứu cánh tột đỉnh của đức từ bi thì người đó là người
cao thượng độc tôn hơn hết. Ai thành tựu được trí tuệ,
giác ngộ tới tột đỉnh thì người đó là độc tôn.
Đức
Phật đã thành tựu được từ bi và trí tuệ tột đỉnh
như vậy cho nên Ngài xưng là "Thiên thượng thiên hạ duy Ngã
độc tôn". Nói đến cái Ta thì ai cũng có, trong quý vị, trong
tôi ai cũng có cái ta hết. Giả sử có người xưng "Ta là
độc tôn" thì chỉ là độc tôn trong một nhóm người, trong
một đoàn thể đôi ba chục, thậm chí vài trăm cho đến vài
chục triệu hay hơn nữa, nhưng chỉ độc tôn trong một thời
gian nào đó, chứ không thể độc tôn mãi mãi, và cũng không
thể độc tôn cả chư Thiên và loài người được. Độc
tôn làm sao được khi chúng ta còn mang nặng tham sân si và
nghiệp chướng nặng nề. Dù có ai đó điên điên khùng khùng
mà xưng là độc tôn, thì độc tôn đó là độc tôn điên,
độc tôn khùng chứ không phải độc tôn thật sự. Chỉ duy
Phật là cứu cánh viên mãn, tột đỉnh đức từ bi và trí
giác ngộ hoàn toàn, thì mới gọi là độc tôn vì Ngài đã
thành tựu được tất cả. Đạt được từ bi giác ngộ tức
là thành tựu được quả vị Vô thượng Bồ-đề nên Ngài
xưng: Trên trời dưới đất duy Ta là độc tôn, vô lượng
sanh tử hôm nay đã chấm dứt.
Trong
vô lượng sanh tử qua bao đời kiếp, Ngài đã lưu chuyển
trong tam giới và chính hôm nay là ngày chấm dứt không còn
sanh tử nữa nên nói: Thiên thượng thiên hạ duy Ngã độc
tôn. Độc tôn đó ngày hôm trước như Đức Phật nói, tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh. Ta là Phật đã thành, các
ngươi là Phật sẽ thành. Như vậy để xác chứng Đức Phật
đã thành tựu và Ngài xưng: Thiên thượng thiên hạ duy Ngã
độc tôn, thì giả sử một mai kia, chúng ta thành tựu được
trí tuệ tột đỉnh, khi ấy chúng ta cũng xưng được là Thiên
thượng thiên hạ duy Ngã độc tôn, nhưng bây giờ thì chưa
xưng được.
Thời
Đức Phật ra đời tại Ấn Độ thì tín ngưỡng Bà-la-môn
đã thịnh hành, họ cho rằng chỉ có Bà-la-môn là cao cả
hơn hết, như Phạm thiên, như tạo hóa sinh ra muôn loài, sinh
ra muôn vật. Muôn vật từ đó mà sinh ra. Ai có mặt trên cõi
đời này cũng từ đấng Phạm thiên sinh ra, từ Thần chủ
của Bà-la-môn mà sinh ra hết. Vậy thì những vĩ nhân, những
bậc thánh giả sinh ra đó cũng từ Phạm thiên sinh ra, hoặc
Phạm thiên sai xuống cõi đời này để thay mặt ngài mà dẫn
dắt chúng sanh. Với một quan niệm phổ thông như vậy đã
tồn tại trong xã hội Ấn Độ rất lâu và khi Đức Phật
xuất hiện, quan điểm đó đã bị Ngài đánh đổ và để
chúng sanh hiểu rằng, Ngài sinh ra không phải từ Phạm thiên,
Ngài sinh ra không phải từ Bà-la-môn cho nên Ngài nói: Thiên
thượng thiên hạ duy Ngã độc tôn. Ta sinh ra tự chính ta,
do nghiệp lực và phước báu từ nhiều đời kiếp trước
mà thành tự quả vị, chứ không từ một vị trời, một
vị thần Bà-la-môn nào cả.
Theo
các tướng gia, Ngài sinh ra đời chỉ có hai con đường để
chọn, một là làm Chuyển luân Thánh vương, hai là làm Phật.
Để kiểm tra Ngài có đúng là bậc vĩ nhân không, một số
gia chủ, một số các Giáo trưởng Bà-la-môn thường cho các
môn đồ của mình đích thân đi kiểm tra xem Ngài có phải
là một bậc vĩ nhân không, có đủ tiêu chuẩn mà xã hội
Ấn Độ đề ra cho một bậc vĩ nhân không? Nếu đủ tiêu
chuẩn của một bậc vĩ nhân thì một trong hai con đường
vị ấy phải đi đó là làm Chuyển luân Thánh vương, trị
nước an dân theo chánh pháp. Còn nếu đi tu thì sẽ thành một
bậc Giác ngộ, cứu độ chúng sanh. Bậc vĩ nhân đó phải
đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp.
Ba
mươi hai tướng là:
1.
Lòng bàn chân bằng phẳng.
2.
Lòng bàn chân có tướng bánh xe đủ ngàn tăm.
3.
Ngón tay thon dài.
4.
Gót chân rộng và bằng.
5.
Ngón tay ngón chân có lưới lụa xòe như của chim nhạn.
6.
Tay chân mềm mại.
7.
Mu bàn chân cao và đầy.
8.
Bắp đùi như Nai chúa Y-nê-diên.
9.
Khi đứng thẳng ngón tay sờ đến đầu gối.
10.
Tướng âm tàng như trâu chúa.
11.
Thân cao và rộng cân đối như cây Ni-câu-loại.
12.
Lông trên thân mọc xoay hướng lên.
13.
Mỗi lỗ chân lông có một sợi lông.
14.
Thân sắc vàng như màu hoàng kim.
15.
Có ánh sáng một trượng.
16.
Da mỏng, mịn.
17.
Bảy chỗ trên thân đều đặn.
18.
Dưới hai nách đầy đặn.
19.
Phần thân trên như Sư tử.
20.
Thân to lớn và thẳng.
21.
Vai tròn và đẹp.
22.
Có 40 cái răng.
23.
Răng đều đặn.
24.
Răng trắng trong.
25.
Hai má như Sư tử.
26.
Được thượng vị trong các vị.
27.
Lưỡi rộng.
28.
Có âm thanh như của trời Phạm thiên.
29.
Mắt xanh biếc.
30.
Lông mi như trâu chúa.
31.
Nhục kế ở trên đầu.
32.
Tướng lông trắng giữa hai chân mày. [2]
Và
có 80 vẻ đẹp tùy hình: 1. Đỉnh đầu không thể thấy: 2.
Mũi thẳng, cao, đẹp, lỗ mũi kín; 3. Mí mắt như trăng mới
mọc, có màu xanh lưu ly; 4. Vành tai mọc thòng xuống; 5. Thân
chắc thật như lực sĩ trời Na-la-diên; 6. Khớp xương như
móc câu; 7. Mỗi lần thân xoay như voi chúa; 8. Khi đi chân cách
đất bốn tấc, có dấu ấn hiện trên đất; 9. Móng tay màu
hồng đỏ, mỏng và mướt; 10. Xương đầu gối cứng, tròn,
đẹp; 11. Thân sạch sẽ; 12. Thân mềm mại; 13. Thân không
cong; 14. Ngón tay tròn, thon; 15. Ngón tay đẹp; 16. Mạch sâu;
17. Mắt cá kín; 18. Thân mịn màng; 19. Thân vững chắc, đi
không xiên xẹo; 20. Thân đầy đặn; 21. Thức đầy đủ; 22.
Dung nghi đầy đặn; 23. Chỗ ở yên ổn không thể động;
24. Uy đức chấn động hết thảy; 25. Mọi người đều ưa
xem; 26. Mặt không lớn dài; 27. Dung mạo đoan chính, không pha
tạp; 28. Mặt đầy đủ; 29. Môi đỏ như màu trái Tần-bà;
30. Âm vang sâu lắng; 31. Rốn sâu, tròn, đẹp; 32. Lông trên
thân xoay về phía hữu; 33. Tay đầy đủ; 34. Tay chân vừa
ý; 35. Chỉ tay rõ ràng, ngay thẳng; 36. Chỉ tay dài; 37. Chỉ
tay không dứt; 38. Chúng sanh ác tâm trông thấy hòa vui; 39.
Mặt rộng, đẹp; 40. Mặt đầy đặn, trong sáng như trăng;
41. Theo ý chúng sanh vui vẻ cùng nói; 42. Lỗ chân lông tỏa
mùi thơm; 43. Miệng tỏa mùi thơm; 44. Nghi dung như sư tử;
45. Đi đứng như voi chúa; 46. Cách đi như ngỗng chúa; 47. Đầu
như quả Ma-la-đà; 48. Âm thanh rõ ràng; 49. Răng bén; 50. Sắc
lưỡi màu hồng; 51. Lưỡi mỏng; 52. Sắc lông màu hồng; 53.
Lông trong sạch; 54. Mắt rộng, dài; 55. Tướng các khiếu (lỗ)
đầy đủ; 56. Tay chân trắng thuần như hoa sen; 57. Rốn không
bày; 58. Bụng không bày; 59. Bụng nhỏ; 60. Thân không khuynh
động; 61. Thân chắc nịch; 62. Phần thân lớn; 63. Thân cao
ráo; 64. Tay chân sạch, mềm mại; 65. Hào quang thân dài một
trượng; 66. Thân chiếu sáng khi đi; 67. Xem chúng sanh bình đẳng;
68. Không khinh chúng sanh; 69. Theo âm thanh của chúng sanh không
quá, không giảm; 70. Thuyết pháp không sai khác; 71. Tùy theo
ngôn ngữ của chúng sanh mà thuyết pháp; 72. Một lần phát
âm, tiếng vang đến nhiều người; 73. Có nhân duyên theo thứ
lớp thuyết pháp; 74. Có tướng hết thảy chúng sanh không
thể xem hết được; 75. Người xem không nhàm chán; 76. Tóc
dài, đẹp; 77. Tóc không rối; 78. Tóc xoáy, đẹp; 79. Màu tóc
như ngọc xanh; 80. Tay chân có đức tướng.
*
Trong
kinh Hi Hữu Vị Tằng Hữu Pháp (Trung Bộ 123, Hòa thượng Minh
Châu dịch) có mô tả sự hy hữu về cuộc đời Đức Phật
như sau:
* Bồ-tát
ở cung trời Đâu suất:
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: "Chánh niệm
tỉnh giác, Bồ-tát sanh và an trú trong thiên chúng Tusita (Đâu-suất)
cho đến thọ mạng. Con thọ trì sự việc này là một hy hữu,
một vị Tằng hữu của Thế Tôn".
* Bồ-tát
nhập mẫu thai:
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn Bồ-tát sau
khi từ Thiên chúng (Kàya) Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai".
"Khi
Bồ-tát nhập vào mẫu thai, khi ấy một hào quang vô lượng,
thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp
thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế
giới của các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới
gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho
đến các thế giới ở giữa các thế giới, tối tăm, u ám,
không có nền tảng những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời
với đại thần lực, với đại oai lực như vậy như vậy
cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một
hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện
ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy nhờ hào quang
ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống
ở đây". Và thế giới này chuyển động, rung động, chuyển
động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa
oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng bạch
Thế Tôn... Con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn là một
hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn".
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi vị
Bồ-tát nhập mẫu thai, bốn vị thiên tử đến canh gác bốn
phương trời và nói: "Không cho một ai, người hay không phải
loài người được phiền nhiễu vị Bồ-tát hay mẹ vị Bồ-tát".
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: Mẹ
của Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào,
và mẹ vị Bồ-tát không bị xâm phạm bởi bất kỳ người
đàn ông nào có nhiễm tâm".
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi vị
Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ của Bồ-tát tận hưởng 5 dục
công đức đầy đủ, tận hưởng trọn vẹn 5 dục công đức".
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi vị
Bồ-tát nhập mẫu thai, Mẹ của Bồ-tát không bị một bệnh
tật gì. Bà sống với tâm hoan hỉ, với tâm khoan khoái. Bà
thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ
phận và chân tay. Ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần
nhất, có 8 cạnh khéo cắt, khéo giũa, trong sáng, không tỳ
vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây
được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ,
màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên
ngọc trên bàn tay của mình người ấy sẽ thấy rõ ràng:
"Đây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có 8 cạnh
khéo cắt, khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong
mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc
ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng
lợt. Cũng vậy này Ananda, khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ
vị Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm
hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình
vị Bồ-tát đầy đủ bộ phận và chân tay".
* Mẹ
Bồ-tát mệnh chung và sanh lên Đâu suất:
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: "Sau khi sanh
vị Bồ-tát 7 ngày, mẹ của Bồ-tát mệnh chung sanh lên cõi
trời Đâu suất".
* Mẹ
Bồ-tát mang thai Bồ-tát 10 tháng mới sinh:
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: "Trong khi
các người đàn bà khác mang bào thai trong bụng 9 tháng hay
10 tháng rồi mới sanh, mẹ vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát không
phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát mang vị Bồ-tát trong bụng
10 tháng rồi mới sanh".
* Mẹ
Bồ-tát đứng và sanh Bồ-tát:
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: "Trong khi
các người đàn bà khác, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con,
mẹ vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ
vị Bồ-tát đứng mà sanh vị Bồ-tát".
* Khi
sanh vị Bồ-tát chư Thiên đi trước rồi mới đến loài người:
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế tôn: "Khi vị
Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, vị Bồ-tát không đụng đến
đất. Có 4 Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà
mẹ và thưa: "Hoàng hậu hãy hoan hỉ, Hoàng hậu sanh một bậc
vĩ nhân".
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi vị
Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh. Như viên
ngọc Ma-ni Bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Hòn
ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nại
cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều
thanh tịnh. Cũng vậy khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra,
Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt
nào, bởi loại mủ nào, bởi loại máu nào, bởi loại vật
bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch".
* Khi
sanh Bồ-tát có hai dòng nước chư Thiên tắm cho người:
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: "Khi vị
Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, hai dòng từ hư không hiện ra,
một dòng lạnh một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa
sạch sẽ cho vị Bồ-tát và cho bà mẹ".
* Sau
khi sanh Bồ-tát Ngài bước đi bảy bước:
"Bạch
Thế Tôn, con tận mặt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: "Vị Bồ-tát
khi sanh ra Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt
hướng phía Bắc bước đi bảy bước, một lọng trắng được
che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương lên tiếng như con
Ngưu vương, thốt ra lời như sau: Ta là bậc tối thượng ở
trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao
nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn
phải tái sanh ở đời này nữa."
* Khi
sanh Bồ-tát quả đất rung động, ánh sáng chiếu khắp:
"Bạch
Thế Tôn, con tận mắt nghe, ghi nhớ từ Thế Tôn: Khi vị Bồ-tát
từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy một hào quang vô lượng thần
diệu thắng xa oai lực của chư Thiên, hiện ra cùng khắp thế
giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của
các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới gồm các
vị Sa-môn, Bà-la-môn, các chư Thiên và loài người. Cho đến
các cảnh giới ở giữa các thế giới, tối tăm, u ám, không
có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với
đại thần lực, đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu
thấu, trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng
thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh
sống tại các chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và
nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Và 10 ngàn
thế giới này chuyển động rung động, chuyển động mạnh.
Và hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư
Thiên hiện ra ở thế giới". Vì rằng bạch Thế Tôn... Con
thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu
của Thế Tôn".
"Do
vậy, này Ananda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu,
một vị tằng hữu của Như Lai".
*
Kinh
Đại Bổn trong Trường Bộ, bài kinh số 14, thuộc Kinh tạng
Pàli do Hòa thượng Minh Châu phiên dịch, cũng mô tả việc
sự xuất hiện của vị Bồ-tát Tỳ-bà-thi (Vipassi) từ cung
trời Đâu-suất xuống cõi Ta-bà, cũng giống như sự xuất
hiện của Bồ-tát Hộ Minh ở giữa cõi đời để cứu độ
chúng sanh. Hành trạng của các Ngài xuất hiện với mục đích
duy nhất là để làm Phật, đột thoát mọi loài ra khỏi bể
khổ trầm luôn, đưa chúng sanh về với con đường giải thoát
và giác ngộ. Chúng ta hãy đọc qua sự xuất hiện của Bồ-tát
Tỳ-bà-thi để đối chiếu với sự xuất hiện của đức
Phật Thích-ca sinh ra ở cõi Ta-bà này.
* Từ
Đâu-suất Bồ-tát nhập mẫu thai:
Bồ-tát
sau khi từ giã cảnh giới Đâu suất thiên chánh niệm tỉnh
giác nhập vào mẫu thai. Khi ấy một hào quang vô lượng, thần
diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế
giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của
các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới gồm các
vị Sa-môn, Bà-la-môn, các vị hoàng tử và dân chúng cho đến
các cảnh giới ở giữa các thế giới tối tăm, u ám, không
có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với
đại thần lực, đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu
thấu trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng thắng
xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại
các chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng
có những chúng sanh khác sống ở đây". Và 10 ngàn thế giới
này chuyển động rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang
vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện
ra ở thế giới.
Khi
vị Bồ-tát nhập mẫu thai, bốn vị Thiên tử đứng canh gác
4 phương trời và không cho một ai, người hay không phải loài
người, được hãm hại vị Bồ-tát.
Khi
vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát giữ giới một
cách hồn nhiên: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm,
không nói láo, không uống các thứ rượu nấu, rượu lên
men.
Khi
vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không khởi dục
tâm đối với bất cứ một nam nhân nào và không vi phạm
tiết hạnh với bất kỳ một người đàn ông nào dầu người
ấy có tâm ái nhiễm đối với bà.
Khi
vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không bị bệnh
tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với thân khoan khoái. Bà
thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ
phận và chân tay. Ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần
nhất, có 8 cạnh khéo cắt, khéo giữa, trong sáng, không tỳ
vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây
được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ,
màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên
ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng:
"Đây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có 8 cạnh
khéo cắt, khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong
mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc
ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng
lợt. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi vị Bồ-tát nhập mẫu
thai, mẹ vị Bồ-tát không bị bệnh tật gì. Bà sống với
tâm hoan hỷ, với thân khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của
mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay.
* Mẹ
Bồ-tát mệnh chung 7 ngày sau khi sanh Bồ-tát:
Sau
khi sanh vị Bồ-tát 7 ngày, mẹ vị Bồ-tát mệnh chung, sanh
lên cảnh trời Đâu-suất.
* Mười
tháng mới sanh Bồ-tát:
Trong
khi các người đàn bà khác mang bào thai trong bụng 9 tháng
hay 10 tháng mới sanh, mẹ vị Bồ-tát sinh vị Bồ-tát không
phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát mang vị Bồ-tát 10 tháng rồi
mới sanh.
* Mẹ
Bồ-tát đứng và sanh:
Trong
khi các người đàn bà khác hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con,
mẹ vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ
vị Bồ-tát đứng mà sanh vị Bồ-tát.
* Khi
sanh chư Thiên đỡ Ngài trước:
Khi
vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, chư Thiên đỡ lấy Ngài
trước, sau mới đến loài người.
* Khi
sanh Bồ-tát không đụng đến đất:
Khi
vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, vị Bồ-tát không đụng
đến đất. Có 4 Thiên tử đỡ lấy Ngài đặt Ngài trước
bà mẹ và thưa: "Hoàng hậu hãy hoan hỷ. Hoàng hậu sanh một
bậc vĩ nhân".
* Khi
sanh Bồ-tát không bị nhiễm ô:
Khi
vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không
bị nhiễm ô bởi nước nhớp nào, bởi loại mủ nào, bởi
loại máu nào, bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh,
trong sạch".
Như
viên ngọc Ma-ni Bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại.
Hòn ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải
Ba-la-nại cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì
cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi vị
Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không
bị nhiễm ô bởi nước nhớp nào, bởi loại mủ nào, bởi
loại máu nào, bởi loại vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong
sạch".
* Bồ-tát
sau khi sanh được chư Thiên phun nước tắm sạch sẽ cho Bồ-tát:
Khi
vị Bồ-tát sanh ra, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một
dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch
sẽ cho vị Bồ-tát và cho bà mẹ.
* Sau
khi sanh Bồ-tát bước đi 7 bước:
Vị
Bồ-tát khi sinh ra, Ngài đứng vững thăng bằng trên hai chân,
mặt hướng phía bắc bước đi 7 bước, một lọng trắng
được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng
như con Ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng
trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao
nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng không còn
phải tái sanh ở đời này nữa".
* Khi
Bồ-tát sanh, hào quang chiếu khắp thế giới:
Khi
vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy một hào quang vô
lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra
cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên,
các thế giới của Ma vương và Phạm thiên, và thế giới
ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các vị Hoàng tử
và dân chúng. Cho đến các cảnh giới ở giữa các thế giới
không có nền tảng, u ám, tối tăm, những cảnh giới mà mặt
trăng và mặt trời với đại thần lực, với đại oai đức
như thế cũng không thể chiếu thấu. Trong những cảnh giới
ấy, một hào quang vô lượng thắng xa oai lực của chư Thiên
hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy, nhờ
hào quang ấy mới được thấy nhau và nói: "Cũng có những
chúng sanh khác sống ở đây". Và mười ngàn thế giới chuyển
động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng
thần diệu ấy thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở
thế giới.
* Khi
sanh ra Bồ-tát có đủ 32 tướng tốt:
Sinh
Bồ-tát ra và được báo tin cho vua hay: "Đại vương, Hoàng
hậu đã sinh được một hoàng tử". Khi thấy Hoàng tử xong,
vua liền cho mời các vị Bà-la- môn đoán tướng và nói: "Này
các hiền giả, hãy xem tướng cho Hoàng tử". Khi xem tướng
Hoàng tử xong các vị Bà-la-môn đoán tướng tâu với vua:
"Đại vương hãy hân hoan; Đại vương đã sanh một bậc vĩ
nhân! May mắn thay cho Đại vương, đại hạnh thay cho Đại
vương đã được một Hoàng tử như vậy sanh trong gia đình.
Tâu Đại vương vị Hoàng tử này có đủ 32 tướng tốt của
bậc Đại nhân. Ai có đủ 32 tướng tốt sẽ chọn hai con
đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống
tại gia đình, người này sẽ trở thành Chuyển luân Thánh
vương, dùng Chánh pháp trị nước, bình định 4 phương, đem
lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ 7 món báu. Bảy món báu
trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu,
ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng
quân báu. [3] Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những
bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục
cõi đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh
pháp không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ
gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành
bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác vén màn vô minh che đời.
* Bồ-tát
có 32 tướng tốt sẽ chọn một là đi tu, hai là làm vua:
Đại
vương, 32 tướng tốt của bậc đại nhân là gì mà Hoàng
tử nếu đầy đủ những tướng tốt này sẽ chọn đi hai
con đường, không có con đường nào khác. Nếu sống tại
gia đình, vị này sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương,
dùng Chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại
an toàn cho quốc độ, đầy đủ món báu. Bảy món báu trở
thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa
báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng
quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc
anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục cõi
đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp
không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia
đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc
A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác vén màn vô minh che đời.
* 32
tướng tốt của Bồ-tát:
1.
Tâu Đại vương, Hoàng tử có lòng bàn chân bằng phẳng, tướng
này được xem là tướng tốt của bậc Đại nhân.
2.
Dưới hai bàn chân của Hoàng tử này, có hiện ra hình bánh
xe, với ngàn tăm xe, với trục xe và bánh xe, với các bộ
phận hoàn toàn đầy đủ, tướng này được xem là tướng
tốt của bậc Đại nhân.
3.
Hoàng tử này có gót chân thon dài.
4.
Hoàng tử này có ngón tay ngón chân thon dài.
5.
Hoàng tử này có tay chân mềm mại.
6.
Hoàng tử này tay chân có màn da lưới.
7.
Hoàng tử này có mắt cá tròn như con sò.
8.
Hoàng tử này có ống chân như con dê rừng.
9.
Hoàng tử này đứng thẳng, không co lưng xuống có thể rờ
đầu gối với hai bàn tay.
10.
Hoàng tử này có tướng mã âm tàng.
11.
Hoàng tử này có màu da như đồng, màu sắc như vàng.
12.
Hoàng tử này có da trơn mướt khiến bụi không thể bám dính
vào.
13.
Hoàng tử này có lông da mọc từ lông một, mỗi lỗ chân
lông có một lông.
14.
Hoàng tử này có lông mọc xoáy tròn thẳng lên, mỗi sợi
lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên
từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt.
15.
Hoàng tử này có thân hình cao thẳng.
16.
Hoàng tử này có bảy chỗ tròn đầy.
17.
Hoàng tử này có nửa thân trước như con Sư tử.
18.
Hoàng tử này không có lõm khuyết xuống giữa hai vai.
19.
Hoàng tử này có thân thể cân đối như cây bàng (nigrodha:
ni-câu-luật). Bề cao của thân ngang bằng bề dài của hai
tay sải rộng, bề dài của hai tay sải rộng ngang bằng bề
cao của thân.
20.
Hoàng tử này có bán thân trên vuông tròn.
21.
Hoàng tử này có vị giác hết sức sắc bén.
22.
Hoàng tử này có quai hàm như con Sư tử.
23.
Hoàng tử này có 40 cái răng.
24.
Hoàng tử này có răng đều đặn.
25.
Hoàng tử này có răng không khuyết hở.
26.
Hoàng tử này có răng cửa (thái xỉ) trơn láng.
27.
Hoàng tử này có tướng lưỡi rộng dài.
28.
Hoàng tử này có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim Ca-lăng-tần-già
(Karavika).
29.
Hoàng tử này có hai mắt màu xanh đậm.
30.
Hoàng tử này có lông mi như con bò cái.
31.
Hoàng tử này giữa hai lông mày có sợi lông trắng mọc lên,
mịn màng như bông nhẹ.
32.
Hoàng tử này có nhục kế trên đầu, tướng này được xem
là tướng tốt của bậc Đại nhân.
Tâu
Đại vương, vị Hoàng tử này có đủ 32 tướng tốt của
bậc Đại nhân. Ai có đủ 32 tướng tốt sẽ chọn hai con
đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống
tại gia đình, người này sẽ trở thành Chuyển luân Thánh
vương, dùng Chánh pháp trị nước, bình định 4 phương, đem
lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ 7 món báu.
Vua
ra lệnh cúng dường các vị Bà-la-môn đoán tướng ấy, các
áo vải mới và làm thỏa mãn mọi sự đòi hỏi ước muốn."
* Có
bốn người vú nuôi săn sóc Thái tử:
Vua
cho nuôi những bốn người vú cho Hoàng tử: Người cho bú,
người lo tắm, người lo bồng ẳm, người mang trên nách.
Lọng trắng ngày đêm được che trên Hoàng tử và lệnh được
truyền ra: "Không được để lạnh hay nóng, cỏ, bụi hay sương
làm phiền Hoàng tử". Hoàng tử được mọi người âu yếm.
Cũng như hoa sen xanh, hoa sen hồng hay hoa sen trắng được mọi
người yêu thích; cũng vậy, Hoàng tử được mọi người
âu yếm, gần như được ẳm từ nách người này qua nách
người khác".
* Tiếng
nói của Bồ-tát như chim Ca-lăng-tần-già:
Khi
Hoàng tử được sanh ra, Hoàng tử phát âm rất là tuyệt diệu,
âm vận điều hòa, dịu ngọt và hấp dẫn, giống như con
chim Ca-lăng-tần-già sinh trong núi Hy-mã-lạp, giọng chim rất
tuyệt diệu, âm vận điều hòa, dịu ngọt và hấp dẫn; cũng
vậy, Hoàng tử phát âm rất là tuyệt diệu, âm vận điều
hòa, dịu ngọt và hấp dẫn".
* Mắt
Bồ-tát có thể nhìn suốt 1 do tuần, không nhấp nháy:
Khi
Hoàng tử sanh ra, Thiên nhãn hiện ra với Ngài, do nghiệp báo
sanh và nhờ Thiên nhãn ấy, Ngài có thể nhìn thấy khắp xung
quanh cho đến 1 do tuần, ban ngày cũng như ban đêm".
Khi
Hoàng tử sanh ra, Ngài nhìn thẳng sự vật với cặp mắt không
nhấp nháy, như hàng chư Thiên ở Tam-thập-tam-thiên. Vì Hoàng
tử nhìn không nháp nháy, Hoàng tử được gọi tên là: "Vị
đã nhìn thấy". Khi vua ngồi xử kiện, vua cho đặt Hoàng tử
ngồi bên nách mình để xử kiện, Hoàng tử ngồi bên nách
cha như vậy và chú tâm quan sát phương thức xử kiện đến
nỗi tự mình cũng có thể phán đoán xử kiện. Do Hoàng tử
"có thể quan sát và xử kiện đúng luật pháp".
* Vua
cho dựng 3 tòa lâu đài cho Thái tử ở:
Rồi
vua cho xây dựng 3 tòa lâu đài cho Hoàng tử, một cho mùa mưa,
một cho mùa đông, một cho mùa lạnh, và 5 món dục lạc đều
được chuẩn bị đầy đủ. Hoàng tử sống 4 tháng mưa trong
lâu đài dành cho mùa mưa, được hầu hạ mua vui với các
nữ nhạc sĩ và không một lần nào, Ngài bước xuống khỏi
lầu".
* Thái
tử dạo chơi vườn Ngự Uyển:
Hoàng
tử sau thời gian nhiều năm cho gọi người đánh xe:
"Này
khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến
vườn ngự uyển để xem phong cảnh". "Thưa vâng, Hoàng tử",
người đánh xe vâng lời Hoàng tử, cho thắng các cỗ xe thù
thắng rồi bạch Thái tử: "Tâu Thái tử các cỗ xe thù thắng
đã thắng xong, hãy làm những gì Thái tử xem là hợp thời".
Lúc ấy Thái tử leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các
cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển".
* Thấy
cảnh già là khổ:
Hoàng
tử đi đến vườn ngự uyển, thấy một người già nua, lưng
còng như nóc nhà, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, khổ não,
không còn đâu là tuổi trẻ. Thấy vậy Hoàng tử hỏi người
đánh xe: "Này khanh, người ấy là ai vậy? Sao tóc người đó
không giống các người khác? Sao thân người đó không giống
các người khác?"
- "Tâu
Hoàng tử, người ấy được gọi là người già vậy".
- "Này
khanh, sao người ấy được gọi là người già?"
- "Tâu
Hoàng tử, người ấy gọi là người già vì nay người ấy
sống không bao lâu nữa".
- "Này
khanh, rồi Ta có bị già không, một người chưa quá tuổi
già?"
- "Tâu
Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tất cả sẽ
bị già nua, dầu chúng ta chưa quá tuổi già!".
- "Này
khanh, nay Ta thăm vườn ngự uyển vậy là vừa rồi. Hãy cho
đánh xe trở về cung".
"Thưa
vâng, Hoàng tử", người đánh xe vâng theo lời hoàng tử, cho
đánh xe trở về cung. Hoàng tử về trong cung đau khổ sầu
muộn và suy nghĩ: "Sĩ nhục thay cái gọi là sanh. Vì ai sanh
ra cũng phải già yếu như vậy!".
* Vua
hỏi việc dạo chơi của Thái tử ở ngự uyển có vui không?
Khi
ấy vua cho gọi người đánh xe và hỏi: "Này khanh, Hoàng tử
có vui vẻ không, ở vườn ngự uyển, có hoan hỷ không, tại
vườn ngự uyển?"
- "Tâu
Đại vương, Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển
và cũng không có hoan hỷ tại vườn ngự uyển".
- "Này
khanh, khi đến vườn ngự uyển Hoàng tử đã thấy gì".
"Tâu
Đại vương, Hoàng tử trong khi đi đến vườn ngự uyển,
thấy một người già nua, lưng còng như nóc nhà, chống gậy
vừa đi vừa run rẩy, khổ não không còn đâu là tuổi trẻ.
Thấy vậy, Hoàng tử hỏi con: "Này khanh, người đó là ai
vậy? Sao tóc người đó không giống các người khác? Sao thân
người đó không giống các người khác?"
- "Tâu
Hoàng tử, người ấy được gọi là người già vậy". "Này
khanh, sao người ấy được gọi là người già?" "Tâu Hoàng
tử, người ấy gọi là người già vì nay người ấy sống
không bao lâu nữa". "Này khanh, rồi Ta có bị già không, một
người chưa quá tuổi già?"
- "Tâu
Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tất cả sẽ
bị già nua, dầu chúng ta chưa quá tuổi già!".
- "Này
khanh, nay Ta thăm vườn ngự uyển vậy là vừa rồi. Hãy cho
đánh xe trở về cung".
- "Thưa
vâng, Hoàng tử".
Tâu
Đại vương con vâng theo lời Hoàng tử, cho đánh xe trở về
cung. Tâu Đại vương, Hoàng tử về trong cung đau khổ sầu
muộn và suy nghĩ: "Sĩ nhục thay cái gọi là sanh. Vì ai sanh
ra cũng phải già yếu như vậy!".
* Vua
ngăn không cho Thái tử xuất gia:
Khi
ấy vua suy nghĩ: "Không thể để cho Hoàng tử từ chối không
trị vì. Không thể để cho Hoàng tử xuất gia! Không thể
để cho lời các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự
thật".
Rồi
Vua lại sắp đặt cho Hoàng tử đầy đủ 5 món dục lạc
nhiều hơn nữa, để Hoàng tử có thể trị vì, để Hoàng
tử khỏi phải xuất gia, để cho lời các vị Bà-la-môn đoán
tướng không thể trở thành sự thật. Và vua tăng cường
cho Hoàng tử sống tận hưởng đầy đủ sung túc 5 món dục
lạc".
* Thái
tử thấy cảnh bệnh hoạn là khổ:
Hoàng
tử khi đang đi đến vườn ngự uyển, thấy một người bệnh
hoạn, khổ não, nguy kịch, bò lết trong tiểu tiện đại tiện
của mình, cần có người khác nâng đỡ, cần có người khác
dìu dắt. Thấy vậy Hoàng tử hỏi người đánh xe: "Này khanh,
người này đã làm gì mà mắt của nó không giống mắt của
người khác, giọng nói của nó không giống giọng nói của
những người khác?"
- "Tâu
Hoàng tử, đó là một người được gọi là người bệnh
vậy".
- "Này
khanh, người ấy sao được gọi là một người bệnh?"
- "Tâu
Hoàng tử, người ấy được gọi là một người bệnh vì
người ấy chưa thoát khỏi căn bệnh của mình".
- "Này
khanh, vậy rồi Ta có bị bịnh không, một người chưa bị
bịnh?"
- "Tâu
Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, tất cả chúng ta sẽ
bị bệnh tật, dầu chúng ta chưa bị bịnh tật".
- "Này
khanh, nay Ta thăm vườn ngự uyển vậy là vừa rồi. Hãy cho
đánh xe trở về cung".
"Thưa
vâng, Hoàng tử". Người đánh xe vâng theo lời Hoàng tử, cho
đánh xe trở về cung. Hoàng tử về trong cung đau khổ sầu
muộn và suy nghĩ: "Sĩ nhục thay cái gọi là sanh. Vì ai sanh
ra cũng phải già, cũng phải bệnh!".
* Vua
hỏi việc dạo chơi lần 2 của Thái tử:
Khi
ấy vua cho gọi người đánh xe và hỏi:
- "Này
khanh, Hoàng tử có vui vẻ không, ở vườn ngự uyển? Này
khanh, Hoàng tử có hoan hỷ không, tại vườn ngự uyển?"
- "Tâu
Đại vương, Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển
và cũng không có hoan hỷ tại vườn ngự uyển".
- "Này
khanh, khi đến vườn ngự uyển Hoàng tử đã thấy gì?"
"Tâu
Đại vương, Hoàng tử khi đang đi đến vườn ngự uyển,
thấy một người bệnh hoạn, khổ não, nguy kịch, bò lết
trong tiểu tiện đại tiện của mình, cần có người khác
nâng đỡ, cần có người khác dìu dắt. Thấy vậy Hoàng tử
hỏi con: "Này khanh, người này đã làm gì mà mắt của nó
không giống mắt của người khác, giọng nói của nó không
giống giọng nói của những người khác?"
- "Tâu
Hoàng tử, đó là một người được gọi là người bệnh
vậy".
- "Này
khanh, người ấy sao được gọi là một người bệnh?"
- "Tâu
Hoàng tử, người ấy được gọi là một người bệnh vì
người ấy chưa thoát khỏi căn bệnh của mình".
- "Này
khanh, vậy rồi Ta có bị bịnh không, một người chưa bị
bịnh?"
- "Tâu
Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, tất cả chúng ta sẽ
bị bệnh tật, dầu chúng ta chưa bị bịnh tật!".
- "Này
khanh, nay Ta thăm vườn ngự uyển vậy là vừa rồi. Hãy cho
đánh xe trở về cung".
- "Thưa
vâng, Hoàng tử".
"Con
vâng theo lời Hoàng tử, cho đánh xe trở về cung. Tâu Đại
vương, Hoàng tử về trong cung đau khổ sầu muộn và suy nghĩ:
"Sĩ nhục thay cái gọi là sanh. Vì ai sanh ra cũng phải già
cũng phải bệnh!".
* Vua
cố ngăn cản Thái tử xuất gia lần 2:
Khi
ấy vua suy nghĩ: "Không thể để cho Hoàng tử từ chối không
trị vì. Không thể để cho Hoàng tử xuất gia! Không thể
để cho lời các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự
thật".
Rồi
Vua lại sắp đặt cho Hoàng tử đầy đủ 5 món dục lạc
nhiều hơn nữa, để Hoàng tử có thể trị vì, để Hoàng
tử khỏi phải xuất gia, để cho lời các vị Bà-la-môn đoán
tướng không thể trở thành sự thật. Và Hoàng tử sống
tận hưởng đầy đủ sung túc 5 món dục lạc".
* Thái
tử dạo chơi lần 3 thấy cảnh chết:
Hoàng
tử sau thời gian nhiều năm cho gọi người đánh xe: "Này khanh,
hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn
ngự uyển để xem phong cảnh?"
"Thưa
vâng, Hoàng tử", người đánh xe vâng lời Hoàng tử, cho thắng
các cỗ xe thù thắng rồi bạch Thái tử: "Tâu Thái tử các
cỗ xe thù thắng đã thắng xong, hãy làm những gì Thái tử
xem là hợp thời". Lúc ấy Thái tử leo lên cỗ xe thù thắng
và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn
ngự uyển".
Hoàng
tử trên đường đi đến vườn ngự uyển, thấy một số
người mặc sắc phục khác nhau và đang dựng một dàn hỏa
táng. Thấy vậy Hoàng tử hỏi người đánh xe: "Này khanh,
vì sao đám đông người ấy người mặc sắc phục khác nhau
và đang dựng một dàn hỏa táng?"
- "Tâu
Hoàng tử, vì có một người vừa mới mệnh chung".
- "Này
khanh, Ngươi hãy đánh xe đến g6àn người vừa mới mệnh
chung?"
"Thưa
vâng, tâu Hoàng tử". Người đánh xe vâng theo lời Hoàng tử,
cho đánh xe đến người vừa mới mệnh chung. Khi thấy người
chết Hoàng tử hỏi: "Này khanh, sao người ấy được gọi
là người chết?"
- "Tâu
Hoàng tử, người ấy được gọi là người chết vì nay bà
mẹ, ông cha, các người bà con ruột thịt khác không thấy
người ấy nữa; và người ấy cũng không thấy bà mẹ, ông
cha, các người bà con ruột thịt khác".
- "Này
khanh, Ta chưa chết rồi Ta có bị chết không? Phụ vương Mẫu
hậu hay những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy
Ta chăng và Ta sẽ không thấy Phụ vương Mẫu hậu hay những
người bà con ruột thịt chăng?"
- "Tâu
Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta nay chưa chết
nhưng rồi chúng ta cũng bị chết. Phụ vương, Mẫu hậu hay
những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy Hoàng
tử và Hoàng tử cũng không thấy Phụ vương, Mẫu hậu hay
những người bà con ruột thịt khác".
- "Này
khanh, nay Ta thăm vườn ngự uyển vậy là vừa rồi. Hãy cho
đánh xe trở về cung".
"Thưa
vâng, Hoàng tử". Người đánh xe vâng theo lời Hoàng tử, cho
đánh xe trở về cung. Hoàng tử về trong cung đau khổ sầu
muộn và suy nghĩ: "Sĩ nhục thay cái gọi là sanh. Vì ai sanh
ra cũng phải già, cũng phải bệnh, cũng phải chết như vậy!".
* Vua
cố ngăn cản không cho Thái tử xuất gia lần 3:
Khi
ấy vua cho gọi người đánh xe và hỏi: "Này khanh, Hoàng tử
có vui vẻ không ở vườn ngự uyển? Này khanh, Hoàng tử có
hoan hỷ không, tại vườn ngự uyển?"
- "Tâu
đại vương Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển,
Tâu đại vương Hoàng tử không có hoan hỷ tại vườn ngự
uyển?"
- "Này
khanh, khi đến vườn ngự uyển Hoàng tử đã thấy gì?"
"Tâu
đại vương, Hoàng tử khi đang đi đến vườn ngự uyển,
thấy một số đông người mặc sắc phục khác nhau và đang
dựng một dàn hỏa táng. Thấy vậy Hoàng tử hỏi con: "Này
khanh, vì sao đám đông người ấy người mặc sắc phục khác
nhau và đang dựng một dàn hỏa táng?"
- "Tâu
Hoàng tử, vì có một người vừa mới mệnh chung".
- "Này
khanh, ngươi hãy đánh xe đến gần người vừa mới mệnh
chung?"
"Thưa
vâng, tâu Hoàng tử". Con vâng theo lời Hoàng tử, cho đánh
xe đến người vừa mới mệnh chung. Khi thấy thây chết Hoàng
tử hỏi con: "Này khanh, sao người ấy được gọi là người
chết?"
- "Tâu
Hoàng tử, người ấy được gọi là người chết vì nay bà
mẹ, ông cha, các người bà con ruột thịt khác không thấy
người ấy nữa; và người ấy cũng không thấy bà mẹ, ông
cha, các người bà con ruột thịt khác!".
- "Này
khanh, Ta chưa chết rồi Ta có bị chết không? Phụ vương,
Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác sẽ không
thấy Ta chăng, và Ta sẽ không thấy Phụ vương, Mẫu hậu
hay những người bà con ruột thịt chăng?"
- "Tâu
Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta nay chưa chết,
nhưng rồi chúng ta cũng bị chết. Phụ vương, Mẫu hậu hay
những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy Hoàng
tử và Hoàng tử cũng không thấy Phụ vương, Mẫu hậu hay
những người bà con ruột thịt khác?"
- "Này
khanh, nay Ta thăm vườn ngự uyển vậy là vừa rồi. Hãy cho
đánh xe trở về cung".
"Thưa
vâng, Hoàng tử". Con vâng theo lời Hoàng tử, cho đánh xe trở
về cung. Hoàng tử về trong cung đau khổ sầu muộn và duy
nghĩ: "Sĩ nhục thay cái gọi là sanh. Vì ai sanh ra cũng phải
già, cũng phải bệnh cũng phải chết như vậy!".
* Vua
ngăn cản Thái tử xuất gia lần 4:
Khi
ấy vua suy nghĩ: "Không thể để cho Hoàng tử từ chối không
trị vì! Không thể để cho Hoàng tử xuất gia! Không thể
để cho lời các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự
thật".
Rồi
Vua lại sắp đặt cho Hoàng tử đầy đủ 5 món dục lạc
nhiều hơn nữa, để Hoàng tử có thể trị vì, để Hoàng
tử không thể xuất gia, để cho lời các vị Bà-la-môn đoán
tướng không đúng sự thật. Và Hoàng tử sống tận hưởng
đầy đủ sung túc 5 món dục lạc".
* Thái
tử thấy sự giải thoát của người xuất gia và quyết tâm
xuất gia tìm đạo:
Hoàng
tử sau thời gian nhiều năm, cho gọi người đánh xe: "Này
khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến
vườn ngự uyển để xem phong cảnh".
"Thưa
vâng, Hoàng tử", người đánh xe vâng lời, cho thắng các cỗ
xe thù thắng rồi bạch Thái tử: "Tâu Thái tử, các cỗ xe
thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là
hợp thời". Lúc bấy giờ Hoàng tử leo lên cỗ xe thù thắng
và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn
ngự uyển.
Hoàng
tử trên đường đi đến ngự uyển thấy một vị xuất gia,
đầu trọc, đắp áo cà-sa. Thấy vậy, Hoàng tử hỏi người
đánh xe: "Này khanh, người này đã làm gì, mà đầu người
ấy lại khác đầu của những người khác, và áo của người
ấy cũng khác áo của những người khác?"
- Tâu
Hoàng tử, người ấy được gọi là người xuất gia!
- Này
khanh, sao người ấy được gọi là người xuất gia?
- Tâu
Hoàng tử, xuất gia nghĩa là khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh
hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp,
khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với
chúng sanh.
- Này
khanh, lành thay hạnh xuất gia! Này khanh, lành thay khéo tu phạm
hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành
công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có
lòng từ đối với chúng sanh! Này khanh, hãy đánh xe đến
gần vị xuất gia.
"Thưa
vâng!", người đánh xe vâng theo lời Hoàng tử, đánh xe đến
gần người xuất gia. Rồi Hoàng tử hỏi vị xuất gia:
- Thưa
Hiền giả, ngài đã làm gì mà đầu của ngài không giống
những người khác, và áo của ngài cũng không giống các người
khác?
- Thưa
Hoàng tử, tôi là một người xuất gia.
- Thưa
Hiền giả, thế nào gọi là người xuất gia?
- Thưa
Hoàng tử, tôi là người được gọi là xuất gia, vì tôi
khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp,
khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh,
khéo có lòng từ đối với chúng sanh.
- Thưa
Hiền giả, lành thay hạnh xuất gia của ngài, lành thay khéo
tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp,
khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh,
khéo có lòng từ đối với chúng sanh.
* Thái
tử xuất gia:
Rồi
Hoàng tử bảo người đánh xe: "Này khanh, hãy lấy xe này và
cho đánh xe về cung. Còn Ta ở nơi đây, sẽ cạo bỏ râu tóc,
đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình".
"Thưa
vâng", người đánh xe vâng lời Hoàng tử lấy xe và đánh
xe về cung. Còn Hoàng tử, chính tại chỗ ấy, cạo bỏ râu
tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không
gia đình.
Lúc
bấy giờ, tại kinh đô có người nghe tin: "Hoàng tử đã cạo
bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình". Khi nghe tin, các vị ấy suy nghĩ: "Pháp luật
như vậy không phải tầm thường, xuất gia như vậy không
phải tầm thường, vì Hoàng tử trọng pháp luật ấy đã
cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình,
sống không gia đình. Nay Hoàng tử đã cạo bỏ râu tóc, đắp
áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
tại sao chúng ta lại không?" Rồi đại chúng ấy cạo bỏ
râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình dưới sự lãnh đạo của Bồ-tát. Rồi Bồ-tát
cùng với đồ chúng du hành, đi ngang qua những làng, thị xã
và đô thị.
Trong
khi an lặng tịnh cư, Bồ-tát suy nghĩ: "Sao Ta lại sống, bị
bao vây bởi đồ chúng này. Tốt hơn là Ta sống một mình,
lánh xa đồ chúng nầy".
* Bồ-tát
tìm ra nguyên nhân của sanh tử và con đường đưa đến giác
ngộ (12 nhân duyên):
Sau
một thời gian Bồ-tát sống một mình, lánh xa đồ chúng,
các vị xuất gia này đi một ngả, Bồ-tát đi một ngả.
Trong
khi an lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, Bồ-tát suy nghĩ:
"Thế giới nầy thật rơi vào cảnh khổ não, phải sanh rồi
già, rồi chết, rồi từ bỏ thế giới này để tái sanh thế
giới khác. Không một ai biết một con đường giải thoát
khỏi sự đau khổ này, thoát khỏi già và chết.
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Cái gì có mặt, già chết mới có mặt.
Do duyên gì, già chết sanh?" Bồ-tát sau khi như lý tư duy, nhờ
trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do sanh có mặt, nên già
chết có mặt. Do duyên sanh, già chết sanh".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Cái gì có mặt, sanh mới có mặt? Do duyên
gì, sanh phát khởi?" Rồi Bồ-tát sau khi như lý tư duy, nhờ
trí tuệ, phát sanh minh kiến sau đây: "Do hữu có mặt nên
sanh mới có mặt. Do duyên hữu, nên sanh phát khởi".
Bồ-tát
lại nghĩ: "Cái gì có mặt, hữu mới có mặt? Do duyên gì,
hữu phát sanh?" Sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ Ngài phát
sanh minh kiến sau đây: "Do thủ có mặt nên hữu mới có mặt.
Do duyên thủ, hữu phát sanh".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Cái gì có mặt thủ mới có mặt? Do duyên
gì, thủ phát sanh?" Sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ Ngài
phát sanh minh kiến sau đây: "Do ái có mặt, thủ mới phát
sanh".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Cái gì có mặt, ái mới có mặt. Do duyên
gì, ái phát sanh?" Rồi Bồ-tát sau khi như lý tư duy, nhờ trí
tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do thọ có mặt, ái mới
có mặt. Do duyên thọ, ái phát sanh".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Cái gì có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên
gì, thọ mới phát sanh?" Rồi Bồ-tát sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do xúc có mặt,
thọ mới có mặt. Do duyên xúc, thọ mới phát sanh".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Cái gì có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên
gì, xúc mới phát sanh?" Rồi Bồ-tát sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do lục nhập có
mặt, xúc mới có mặt. Do duyên lục nhập, xúc mới phát sanh".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Cái gì có mặt, lục nhập mới có mặt.
Do duyên gì, lục nhập mới phát sanh?" Rồi Bồ-tát sau khi
như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do
danh sắc có mặt, lục nhập mới có mặt. Do duyên danh sắc,
lục nhập mới phát sanh".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Cái gì có mặt, danh sắc mới có mặt? Do
duyên gì, danh sách mới phát sinh?" Rồi Bồ-tát sau khi như
lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do thức
có mặt, danh sắc mới có mặt. Do duyên thức, danh sắc mới
phát sanh".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Cái gì có mặt, thức mới có mặt. Do duyên
gì, thức mới phát sanh?" Rồi Bồ-tát sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do danh sắc có mặt,
thức mới có mặt. Do duyên danh sắc, thức mới phát sanh".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ như sau: "Thức này xoay trở lui lại, từ nơi
danh sắc, không vượt khỏi danh sắc. Chỉ như thế này, con
người được sanh ra hay trở thành già, hay bị bệnh, hay từ
biệt cõi này, hay sanh lại ở cõi khác; nghĩa là do duyên sanh
sắc, thức sanh; do duyên thức, danh sắc sanh; do duyên danh sắc,
lục nhập sanh; do duyên lục nhập, xúc sanh; do duyên xúc, thọ
sanh; do duyên thọ, ái sanh; do duyên ái, thủ sanh; do duyên thủ,
hữu sanh; do duyên hữu, sanh sinh; do duyên sanh, lão, tử, ưu,
bi, khổ sầu, não sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn
bộ khổ uẩn vậy".
"Tập
khởi, tập khởi". Từ nơi Bồ-tát, khởi sanh pháp nhãn từ
trước chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh,
ánh sáng sanh.
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, già chết không
có mặt? Cái gì diệt, già chết diệt?" Rồi Bồ-tát, sau khi
như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do
sanh không có mặt, già chết không có mặt. Do sanh diệt, già
chết diệt".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, sanh không có mặt?
Cái gì diệt, sanh diệt?" Rồi Bồ-tát sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do hữu không có
mặt, sanh không có mặt. Do hữu diệt, sanh diệt".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, hữu không có mặt?
Cái gì diệt, hữu diệt?" Rồi Bồ-tát, sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do thủ không có
mặt, hữu không có mặt. Do thủ diệt, hữu diệt".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, thủ không có mặt?
Cái gì diệt, thủ diệt?" Rồi Bồ-tát, sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do ái không có mặt,
thủ không có mặt. Do ái diệt, thủ diệt".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, ái không có mặt?
Cái gì diệt, ái diệt?" Rồi Bồ-tát sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do thọ không có
mặt, ái không có mặt. Do thọ diệt, ái diệt".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, thọ không có mặt?
Cái gì diệt, thọ diệt?" Rồi Bồ-tát sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do xúc không có
mặt, thọ không có mặt. Do xúc diệt, thọ diệt".
Rồi
Bồ-tát suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, xúc không có mặt?
Cái gì diệt, xúc diệt?" Rồi Bồ-tát sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do lục nhập không
có mặt, xúc không có mặt. Do lục nhập diệt, xúc diệt".