Trong
Tuần Văn hóa Phật giáo được tổ chức, từ ngày 1-3 đến
7-3-2008, tại Huế doanh nhân Tạ Thị Ngọc Thảo (Tổng Giám
đốc Công ty TTNT) đã nhắn nhủ tăng ni, Phật tử không nên
e dè và ngần ngại khi làm giàu, bởi danh xưng Phật tử đã
là một “thương hiệu” đáng tin cậy của các đối tác
kinh doanh. Xin ban biên tập TVHS cho chúng tôi biết quan niệm
của nhà Phật với vấn đề kinh doanh như thế nào?
Trước
hết chúng tôi minh định danh xưng Phật tử: Phật tử nói
chung là hai thành phần đệ tử của Đức Phật: Xuất
gia và Tại gia. Đệ Tử Xuất gia, giữ 10 giới gọi là
Sa Di, giữ 250 giới gọi là Tỳ khưu. Nữ tu sĩ giữ 348 giới
gọi là Tỳ Khưu Ni.
Hàng
xuất
gia
là những người tự nguyện từ bỏ nếp sống gia đình,
sống đời sống độc thân thanh đạm, không tài sản, thành
phần này được gọi là giới tu sĩ, nói thông thường là
quý Tăng Ni có nhiệm vụ tu học để giải thoát cho mình và
cho chúng sinh khỏi vòng khổ đau, sinh tử luân hồi.
Hàng
tại
gia hay còn gọi là Cư Sĩ, giữ 5 giới, có
gia đình và bổn phận đối với cộng đồng xã hội, có
nhiệm vụ hộ pháp, cung cấp các nhu cầu, vật thực cho hàng
xuất gia. Trong bài dưới đây chúng tôi giới hạn câu
trả lời đối với hàng Cư sĩ Phật tử:
CƯ
SĨ
VỚI
VẤN ĐỀ KINH DOANH LÀM GIẦU
Đạo
Phật chủ trương thiểu dục tri túc , không đặt
nặng vấn đề của cải vật chất. Nhưng nhu cầu vật chất
lại là một trong những mục đích đấu tranh của con người
sống trong xã hội ngày nay, nhất là trong thế giới tư bản,
trong cơ chế thị trường.
Một
trong những mâu thuẫn căn bản của thời đại mới là hễ
đáp ứng được nhu cầu vật chất này lại nảy sanh ra nhu
cầu vật chất mới khác và lúc nào cũng phải đầu tắt
mặt tối với việc làm giầu nhằm thỏa mãn những nhu cầu
đó. Trong một môi trường như vậy, người cư sĩ sẽ
có một vị trí như thế nào và phải ứng xử làm sao?
Trước
khi đi vào chủ đề chính, thiết tưởng cũng cần phải xác
định giới hạn cũng như đối tượng của vấn đề.
Đạo Phật trên danh nghĩa thiết yếu là đạo giác ngộ, giải
thoát con người ra khỏi khổ đau, đem lại một đời sống
hạnh phúc, an lạc cho mọi người và nếu muốn con người
có thể tiến xa hơn là gỉai thoát khỏi vòng sinh tử luân
hồi.
Mục
tiêu tối hậu là giác ngộ giải thoát hoàn toàn, nhưng giáo
lý nhà Phật đã chia con đường lớn ra thành từng con đường
nhỏ hay từng giai đoạn để mọi người, tùy theo hoàn cảnh,
cơ duyên, đều có thể tự mình đạt được từng bước
giải thoát trong đời sống hằng ngày.
Nhà
Phật theo con đường trung đạo. Mỗi Phật tử đều có thể
áp dụng giáo lý nhà Phật vào một hoặc cả hai giai đoạn
tu tập, giai đoạn thứ nhất là ứng dụng giáo lý vào đời
sống hàng ngày như là không làm các điều ác, làm các điều
lành, giữ năm giới cấm và mười điều thiện nhằm mục
đích đem lại niềm hạnh phúc, an lạc và giải thoát cho chính
mình, cho gia đình và cho xã hội và giai đoạn thứ hai là
dốc toàn tâm, toàn lực tu tập để giác ngộ giải thoát
triệt để. Giai đọan này dành cho những người có ước
muốn giác ngộ giải thoát hoàn toàn ra khỏi vòng sinh tử
luân hồi, thì phải nỗ lực giữ nhiều giới cấm hơn và
tự thanh tịnh hóa tâm ý, chấm dứt dòng suy nghĩ miên man
che mờ Chân Tâm, để Chân Tâm được hiển lộ. Những
người đi theo giai đoạn thứ hai này thường là những người
tự nguyện từ bỏ nếp sống gia đình, sống đời sống độc
thân thanh đạm, không tài sản, thành phần này được gọi
là giới tu sĩ.
Ngoài
hàng tu sĩ xuất gia còn có hàng cư sĩ tu tại nhà, thành phần
này chiếm đại đa số, là thành phần căn bản của gia đình,
xã hội và là nền tảng của đạo Phật. Do vì người
Cư sĩ có vợ chồng con cái, nên việc tu hành thường chỉ
giới hạn ở giai đoạn thứ nhất, cốt yếu đạt được
đời sống ấm no, hạnh phúc, an lành cho bản thân, gia đình
và giúp ổn định cho cộng đồng xã hội. Cho nên ước muốn
trở nên người giàu có và có địa vị trong xã hội, nhằm
xoá tan hay làm vơi đi nỗi khổ đau do đời sống vật chất
thiếu thốn đem lại, để từ đó thiết lập một đời sống
tâm linh an lạc, là một tâm lý thường tình.
Theo
các nhà xã hội học, nhu cầu căn bản của con người cần
phải có để tồn tại là ăn, uống, ngủ nghỉ, sự an ninh
và sự quan tâm của người khác. Đây là nhu cầu thiết
yếu nhằm duy trì sự tồn tại của con người, nên Phật
giáo thừa nhận nhu cầu căn bản này. Phật giáo cho rằng
chỉ khi nào nhu cầu căn bản này được đáp ứng thì con
người mới có thể tu tập và tiến cao hơn trong thế giới
tâm linh được.
Ngoài
nhu cầu căn bản ra, con người còn có một ham muốn khác đó
là tham dục. Tham dục có thể là hiện tượng báo trước
của tội ác vì nó vượt quá nhu cầu căn bản của con người,
là ham muốn quá mức nên không thể đạt được trọn vẹn.
Vì để thoả mãn lòng tham dục, nên con người đã bất chấp
mọi hành vi thủ đoạn, nhằm đạt được lòng tham dục của
mình, nhưng lòng tham dục lại không bờ bến. Tệ nạn tham
nhũng và tội ác xã hội một mặt đến từ đói khổ, mặt
khác cũng xuất phát từ lòng tham dục của con người. Do vậy
Phật giáo không chấp nhận cả hai thứ đói nghèo và tham
dục.
Thời
Phật tại thế Ngài rất chú trọng đến đời sống gia đình,
quan hệ vợ chồng cùng việc nuôi dạy con cái. Có nhiều
kinh điển đề cập đến việc kết hôn, mang thai, sanh con
và cuộc sống gia đình... Sự kiện này cho thấy Phật Giáo
không nằm ngoài thế gian, không cách ly với thế gian. Ngay
cả việc làm giầu chân chính đạo Phật cũng không chống
lại, có thể nói như vậy là vì Phật giáo chống lại cái
nghèo, từ cái nghèo vật chất đến cái nghèo tinh thần. Đức
Phật đã từng cho rằng nghèo khổ là một tai ương.
Có
lần Đức Phật hỏi các đệ tử “Đối với người đời,
nghèo đói có phải là tai ương không?” Đệ tử đáp: “thưa
phải”. Phật lại hỏi “Đã nghèo còn mang thêm nợ thì
có phải là tai ương không?”. Đệ tử đáp “Thưa phải”.Phật
lại hỏi: “người đang mắc nợ lại vay thêm nợ nữa thì
có phải là tai ương không?” Đệ tử đáp: “Thưa phải”.Phật
nói: “Đến lúc đó chủ nợ đến đòi nợ, người ấy không
trả nổi bị chủ nợ làm nhục thế có phải là tai ương
không?”. Đệ tử đáp: “thưa phải”.
Cho
nên, đối với Phật giáo, có đầy đủ những nhu cầu tối
thiểu về vật chất cho đời sống hàng ngày là một điều
cần thiết hơn là nhu cầu tâm linh. Ngày xưa, có một người
nông dân bị mất bò đi tìm suốt ngày vẫn không thấy, khi
đi ngang nơi Phật đang thuyết pháp và muốn được nghe pháp,
Phật biết anh ấy suốt ngày chưa được ăn uống gì nên
Ngài gọi đệ tử đem cơm canh cho anh ấy ăn trước rồi
sau mới nghe pháp. Điều này chứng minh rằng Đức Phật biết
rất rõ, khi con người đang bị đói khát thì không thể nói
đến vấn đề tâm linh được.
Không
những thế sự nghèo khổ luôn gắn liền với tệ nạn xã
hội và tội phạm. Trong kinh Chuyển luân thánh vương Sư tử
hống và kinh Cứu-la-đàn-đầu thuộc Kinh Trường Bộ, có
ghi rằng nghèo khổ do thiếu thốn về vật chất và do thiếu
thốn về vật chất nên phát sinh ra tệ nạn xã hội như trộm
cắp, giết người, làm mất sự ổn định xã hội. Ðức
Phật khuyên nếu muốn cho con người từ bỏ cái ác tính phạm
tội, các tổ chức cộng đồng xã hội cần phải giúp dân
chúng cải thiện tình trạng kinh tế gia đình, như giúp hạt
giống và nông cụ cần thiết cho người làm ruộng, cho các
nhà buôn vay tiền không lãi làm vốn, trả tiền công thích
đáng cho các công nhân làm việc. Việc trị tội bằng hình
phạt như ở tù hay tử hình các tội phạm đều không mang
lại kết quả tốt.
Do
đó, Ðức Phật thường khuyên nhủ hàng cư sĩ
nên cố gắng làm việc bằng chính công sức của mình để
cải thiện tình trạng kinh tế gia đình, làm cho gia đình sung
túc, giầu có của cải. Ðiều ấy không có nghĩa là Ðức
Phật chấp nhận cho mọi người tích trữ của cải với lòng
tham dục, vì đó là trái với giáo lý căn bản của Ngài.
Ngài cũng không tán đồng bất cứ phương tiện làm ăn sinh
sống nào. Có vài nghề sản xuất và mua bán khí giới có
tính cách tàn hoại sự sống bị Ngài cấm chỉ, xem như là
những phương tiện sinh sống không chân chính.
Ngoài
ra, Ngài cũng nói tới bốn điều hạnh phúc hay bốn niềm
vui của người học Phật tại gia: (1) Được thụ hưởng
một nền kinh tế vững chắc hay một tài sản dồi dào do
tự mình tạo ra một cách công minh và hợp pháp, (2) Được
tự do chi tiêu cho mình, cho gia đình, cho thân bằng quyến thuộc
của mình và cho những việc làm phước thiện, (3) Không có
nợ nần, và (4) Sống một cuộc đời ngay thẳng, trong sạch,
không tạo các việc ác bằng tư tưởng, lời nói và hành
động .
Để
đạt được bốn niềm vui hạnh phúc này Ngài đã chỉ dạy
bốn điều kiện cho người cư sĩ tu tại nhà là: (1) chăm
chỉ, cố gắng đạt tới một nghề nghiệp tinh chuyên, (2)
phải bảo vệ tài sản kiếm được một cách chính đáng
bằng mồ hôi, nước mắt, (3) kết bạn với những người
đạo đức, học rộng biết nhiều, thông minh và phóng khoáng,
để giúp mình tiến bộ trên con đường học chính đạo,
xa lánh ác nghiệp và (4) tiêu tiền trong khả năng có và dành
một phần cho những việc từ thiện xã hội, không hà tiện
mà cũng không hoang phí .
Kế
đó Ngài nêu ra bốn đức tính cần có để đem lại hạnh
phúc đích thực cho tương lai của con người: (1) phải có
lòng tin vững chắc vào những giá trị đạo đức, tinh thần
và trí tuệ, (2) không sát sanh, không trộm cắp, không lường
gạt, không tà dâm, không nói dối và không uống các chất
say, (3) thực hành hạnh bố thí, mở lòng quảng đại và không
tham luyến, và (4) phát triển trí tuệ để tận diệt nguồn
gốc của sự khổ hầu tiến đến đạo quả Niết Bàn .
Như
vậy chúng ta thấy rằng giáo lý của Đức Phật nhắm vào
đơn vị nền tảng của xã hội là gia đình để tạo ra sự
ổn định kinh tế và từ đó đưa đến sự ổn định cộng
đồng xã hội và phát triển kinh tế quốc gia mang lại ấm
no hạnh phúc cho dân chúng. Vì thế, một người
cư sĩ Phật giáo chân chính vẫn có thể làm giầu trong
cương vị một nhà buôn bán nhỏ, một nhà thương mại hạng
trung hay một nhà kinh doanh lớn nếu chúng ta biết ứng dụng
những lời dạy của Đức Phật nói trên vào công việc kinh
doanh, từ việc sáng tạo sản phẩm đến việc đưa sản phẩm
tới người tiêu dùng đều với mục đích trong sáng, không
xuất phát chỉ vì lòng tham dục cho riêng cá nhân mình mà
phải vì người khác, vì lợi ích chung của cộng đồng xã
hội và môi trường sống chung quanh. Không gian tham, không
đầu cơ tích trữ hàng hóa, không bóc lột nhân công, không
tranh đoạt sự sống của kẻ khác và không cạnh tranh thương
mại bất chính là những điều cần thiết cho
người cư sĩ Phật giáo chân chính trên thương trường. Có
được như vậy thì chắc chắn chúng ta sẽ có một thứ hạnh
phúc tinh thần lớn lao mà không một thứ hạnh phúc nào có
thể so sánh được vì chúng ta đem lại phúc lợi cho số đông,
cho cộng đồng xã hội và cho dân tộc đất nước.
Ban
Biên Tập TVHS
Trở
Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp