...”...
Cúng dường là nuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng còn ở đời.
Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ gìn giữ để Tam Bảo
thường còn, đều gọi là cúng dường.
Tam
Bảo là Phật, Pháp và Tăng. Phật đã quá khứ, chỉ còn lại
hình tượng.
Pháp
bắt nguồn từ chữ Phạn đến chữ Hán còn nằm sẵn trong
kho tàng nhà chùa.
Tăng
là những tu sĩ tu theo Phật học chánh pháp. Chính những vị
này có bổn phận gìn giữ hình tượng Phật còn, phiên dịch
giảng giải chánh pháp.
Tam
Bảo đều quí kính, song hệ trọng nhất là Tăng. Nếu không
có Tăng thì ai gìn giữ chùa chiền, ai giảng dạy chánh pháp?
Thế nên, cúng dường Tam Bảo là nói chung, mà hệ trọng là
Tăng. Tăng chúng còn là Tam Bảo còn, Tăng chúng mất thì
Tam Bảo cũng vắng bóng. Vì thế mọi sự cúng dường
đều đặt nặng vào Tăng, với mục đích Tam Bảo tồn tại
ở nhân gian.
Thế
mà có những người cúng dường một cách lệch lạc mất
hết ý nghĩa cúng dường. Như có một Phật tử đi chùa đến
thầy Trụ trì xin cúng năm đồng, liền đó được nghe hỏi
"cầu cái gì", Phật tử ngơ ngác. Thầy Trụ trì hỏi thêm
"cầu an hay cầu siêu", Phật tử bóp đầu suy nghĩ đáp "cầu
siêu", rồi biên một dọc tên vào sổ cầu siêu. Phật tử
này như thế, Phật tử khác cũng thế. Ðã thành thông lệ,
cúng chùa là phải cầu siêu hay cầu an. Cầu an cầu siêu cho
bản thân mình, cho gia đình mình, cho thân thuộc mình, sự
cúng ấy quả là vì mình. Vì mình mà đi chùa, vì mình mà
cúng chùa, đích thực là tham lam ích kỷ. Nếu mang một tâm
niệm tham lam ích kỷ đến với đạo thì chưa xứng đáng
một Phật tử. Cái hư dở này tại ai? Chính tại người hướng
dẫn đã chỉ lối sai lạc.
Ðến
phần ông thầy, do Phật tử cầu siêu cầu an nên có tiền.
Ðồng tiền này sau một thời kinh cầu nguyện xong, ông tự
coi như trọn quyền sử dụng không có tánh cách e dè sợ sệt
gì cả. Nếu một buổi lễ cầu nguyện được Phật tử cúng
nhiều tiền, thế là ông mặc tình phung phí, vì tự cho do
công tụng cúng của mình mà được. Thế thì đời tu hành
cốt vì giác ngộ giải thoát, vô tình trở thành người tụng
kinh mướn. Người tu cốt xả phú cầu bần, xả thân cầu
đạo, biến thành kẻ thụ hưởng. Trái với mục đích xuất
gia, trở thành kẻ hư hèn, chính vì nhận đồng tiền phi pháp.
Cầu nguyện là một điều phụ thuộc nhỏ nhít trong Phật
pháp, vì nó không phải là chân lý. Thế mà, người ta thổi
phồng nó lên, để rồi cả đời người tu gần như hết
tám chục phần trăm Phật sự đều nằm trong những lễ cầu
nguyện. Truyền bá một điều không phải chân lý, ắt hẳn
chánh pháp phải chịu suy đồi. Người có trách nhiệm hướng
dẫn Phật tử mà một bề cổ xúy cho sự cầu cúng, là đưa
họ vào rừng sâu mê tín, gây thêm lòng tham lam ích kỷ cho
họ. Quả là kẻ tạo thêm tội lỗi, chớ không phải người
tu hành.
Người
Phật tử chân chánh khi phát tâm cúng dường Tam Bảo, chỉ
vì mong cho Tam Bảo thường còn ở thế gian để đưa chúng
sanh ra khỏi đau khổ mê lầm. Nếu đến chùa, Phật tử cúng
năm mười đồng, Tăng, Ni có hỏi cầu điều gì, Phật tử
nên thưa: "Chúng tôi chỉ cầu mong chư Tăng, chư Ni nhận món
tịnh tài này để có phương tiện an ổn tu hành, hầu truyền
bá chánh pháp lợi ích chúng sanh."
Chỉ
vì Tam Bảo, vì chúng sanh mà cúng dường, đây là tâm hồn
cao thượng quảng đại vị tha. Làm việc bố thí cúng
dường cao đẹp như vậy công đức làm sao giới hạn đuợc.
Vì Tam Bảo thường còn ở thế gian để làm lợi ích cho chúng
sanh, trong chúng sanh đã có bản thân mình và thân quyến mình
rồi. Quên mình chỉ nghĩ đến toàn thể chúng sanh, không phải
lòng lợi tha vô bờ bến là gì? Với một lòng vị tha rộng
lớn như vậy, dù một số tiền nhỏ, một vật dụng mọn
đem cúng dường cũng là phước đức vô biên.
Tăng,
Ni nhận sự cúng dường chân chánh của Phật tử, tự nhiên
thấy mình có một trọng trách lớn lao vô cùng. Làm sao tu
hành tinh tiến? Làm sao truyền bá chánh pháp lợi ích chúng
sanh? Ðể xứng đáng thọ nhận những thứ cúng dường của
Phật tử, chỉ cần nỗ lực tu hành, cố gắng học tập để
hiện tại và vị lai làm lợi ích chúng sanh. Nếu hiện đời,
Tăng, Ni, không làm tròn hai việc này, có thể mai kia phải
mang lông đội sừng để trả nợ tín thí. Biết như thế,
hiểu như thế, Tăng, Ni làm sao dám lơi lỏng trong việc tu
hành học tập. Thế là, nhờ sự cúng dường chân chánh của
Phật tử thúc đẩy Tăng, Ni đã cố gắng càng cố gắng hơn
trong nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của chính mình. Thấy mình
thiếu nợ, mới cố gắng lo đền trả bằng cách nỗ lực
tu hành và độ sanh, đây là mục tiêu đức Phật bắt Tăng,
Ni thọ nhận đồ cúng dường của Phật tử. Tăng, Ni là người
có bổn phận hướng dẫn tín đồ cúng dường chân chánh
đúng pháp thì cả thầy trò đều cao thượng và lợi ích
lớn.
Tuy
nhiên, nói thế không có nghĩa chúng ta hoàn toàn phủ nhận
sự cầu nguyện. Chúng ta thấy rõ cầu nguyện chỉ là trợ
duyên nhỏ xíu, kẻ đối tượng cầu nguyện chỉ được lợi
ích một hai phần mười, như trong kinh nói. Chúng ta đã thừa
nhận "nhân quả nghiệp báo" là chân lý thì sự cầu nguyện
là ngoại lệ, có kết quả cũng tí xíu thôi. Cổ vũ cho điều
phi chân lý, để cho người xao lãng chân lý, là việc làm
trái với chánh pháp. Vì lòng hiếu thảo của Phật tử, buộc
lòng chúng ta phải cầu nguyện, khi cầu nguyện chúng ta phải
cảnh cáo rằng: "Việc làm này là phụ thuộc không đáng kể,
kết quả ít lắm." Có thế mới khỏi lệch lạc trên con đường
hoằng hóa lợi ích chúng sanh. Ðã thấy cầu nguyện là việc
phụ, chúng ta đừng vì nó làm mất thì giờ tu học của Tăng,
Ni, làm mất thì giờ truyền bá chánh pháp.
Chúng
ta tu theo đạo Phật là đi trên con đường sáng, ánh sáng
giác ngộ đến đâu thì bóng đêm mê lầm tan đến đấy.
Mê tín là bóng đêm, giác ngộ là ngọn đèn sáng. Bóng đêm
và ánh sáng hai cái không thể có đồng thời. Nếu sáng thì
không tối, hoặc tối thì không sáng. Có giác ngộ là không
có mê tín, có mê tín thì không có giác ngộ.
Nếu chứa chấp mê tín là chúng ta đã phản bội với đạo
giác ngộ. Trong đạo giác ngộ quả thật không có mê tín.
Học đạo và truyền đạo giác ngộ, chúng ta cương quyết
dẹp hết bóng đêm mê tín. Có được như vậy mới gọi là
người trung thực với chánh pháp.
Bằng
ấp ủ nuôi dưỡng chứa chấp mê tín, dù kẻ ấy mỗi ngày
cúng Phật trăm lần vẫn là kẻ phá hoại chánh pháp. Thà
là chúng ta cam chịu chết đói, quyết không vì lợi dưỡng
mà làm những điều mê tín, dẫn dắt người đi trên đường
mê tín. Ðã thừa nhận mình là Phật tử, quyết định không
vì lòng tham để bị một số người lợi dụng dẫn đi con
đường mê tín...”...
|