67Tôi
được nghe nói vào đầu năm 2007 Hoà thượng Thích Nhất Hạnh
sẽ về Việt Nam tổ chức ba trai đàn chẩn tế thật
lớn tại ba miền Việt Nam gọi là Đại Trai Đàn Chẩn Tế
Giải Oan. Vậy xin quý ban biên tập hoan hỷ cho tôi biết
mục đích và ý nghĩa về lễ trai đàn chẩn tế này và lễ
này có phải là một lễ lớn truyền thống của Phật giáo
không? (Nguyễn Văn An, Hải Phòng Việt Nam)
TRẢ
LỜI:
Trai
Đàn Chẩn Tế Giải Oan hay còn gọi là Trai Đàn
Thủy Lục là một pháp hội cúng chay và cầu siêu cho
những vong hồn người chết không có ai thờ tự, không có
nơi nương tựa, đang sống vất vưởng ở dưới nước và
ở trên cạn.
Duyên
khởi pháp hội này như sau::
“...
Về tập tục tụng kinh siêu độ cho người chết, theo hòa
thượng Ðạo An [01], “vốn không phải là một tập
tục truyền thống của Phật giáo”. Tập tục này
chỉ bắt đầu có ở Trung Quốc từ đời nhà Ðường. Ðiều
này có thể đúng vì theo sử chép, thì năm 738, vua Ðường
Huyền Tông đã ban sắc lệnh cho toàn quốc, ở mỗi quận
đều xây một ngôi chùa, đều đặt tên là chùa Khai Nguyên
(Khai Nguyên là niên hiệu thứ nhì của vua Huyền Tông). Ðó
là chùa công, do các quan lại địa phương trông coi, dùng làm
nơi tổ chức các lễ tiết quốc gia, cầu quốc thái dân an.
Việc làm này vừa có ý nghĩa đem ân huệ của Phật ban đến
quốc dân, cũng vừa để biểu thị quyền uy của chính quyền
trung ương. Năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn, kéo binh về chiếm
kinh thành, khiến vua Huyền Tông phải chạy vào Tứ Xuyên lánh
nạn. Một năm sau thì quân triều đình dẹp yên giặc loạn.
Trong một năm chiến tranh này, số người chết - chiến sĩ
của cả hai bên và thường dân -, nhiều vô số kể. Triều
đình bèn ra chỉ dụ cho tất cả các chùa Khai Nguyên trong
toàn quốc, thỉnh chư vị cao tăng đại đức, thiết lễ tụng
kinh cầu siêu độ cho chiến sĩ và thường dân đã chết trong
cuộc chiến, đồng thời an ủi các gia đình nạn nhân.
Dân chúng thấy triều đình làm như thế, bèn bắt chước
làm theo, cứ mỗi khi trong nhà có người chết, liền thỉnh
chư tăng tụng kinh cầu siêu độ. Từ đó mà lễ cầu siêu
độ cho người chết trở thành một tập tục trong dân gian.”[02]
Tập
tục cầu siêu độ này được truyền qua Việt Nam không rõ
vào thời nào nhưng có thể bắt đầu từ thời đại nhà
Lý. Ðó là việc tổ chức các trai đàn chẩn tế, gọi
là “diệm khẩu phổ thí pháp hội” có nghĩa
là những đại hội về Phật Pháp để bố thí thức ăn cho
loài quỷ đói. Pháp này được thực hành trên căn bản một
tác phẩm mang tên là “Thí Chư Ngạ Quỷ Ẩm Thực Cập
Thủy Pháp” do Ngài Bất Không (Amogha) dịch vào thế kỷ
thứ tám, đời Ðường. Và hiện nay, trong thời khóa
tụng niệm buổi chiều, các chùa ở Việt Nam thường có một
nghi thức thí thực cô hồn ngắn, gọi là Mông Sơn Thí
Thực Văn. Nghi thức này bắt đầu từ đời nhà
Tống tại Mông Sơn, tỉnh Tứ Xuyên bên Trung Quốc, vì thế
mới có danh xưng là "Mông Sơn Thí Thực".
Trong
“Thiền uyển tập anh”: Tăng thống Huệ Sinh (-1064)
đời vua Lý Thánh tông, có để lại tác phẩm “Pháp Sự
Trai Nghi” nói đến nghi thức chẩn tế.
Vào
năm 1789 sau khi đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu Vua Quang Trung
đã ban sắc lệnh làm lễ tưởng niệm các chiến sĩ hữu
công và tiến cúng cô hồn tử sĩ, kể cả mấy vạn quân
Thanh đã tử trận.
Vua
Gia Long sau khi thống nhất sơn hà cũng thiết đàn siêu độ
cho quan quân tử sĩ và những oan hồn uổng tử vì chiến cuộc
do Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành chủ tế với bài
văn tế viết bằng quốc âm Tướng Sĩ Trận Vong và Cô Hồn
Thập Loại (1802).
Vào
năm Giáp ngọ, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho tổ chức trai đàn tại
chùa Linh mụ cầu cho quốc thái dân an, cho các quân linh tử
trận được siêu thoát.
Và
vào những năm đầu thập niên 70, do chiến tranh gây ra nhiều
cảnh chết chóc hãi hùng, khoa nghi chẩn tế được thực hiện
rất nhiều, nhất là tại Huế. Hầu như tháng nào ở
đây cũng có ít nhất một đàn.
******
Theo
niềm tin của người dân, nghi thức Trai đàn nhằm cầu siêu
cho người chết được siêu thoát và qua đó cũng cầu an cho
người sống được an lạc. Trong tín ngưỡng dân gian này
không thể thiếu vai trò của Phật giáo vì người dân quan
niệm đạo Phật là đạo từ bi cứu khổ.
Theo
giáo lý nhà Phật, Đạo Phật là đạo từ bi và trí tuệ,
sự từ bi này không chỉ đối với người sống mà còn
với người chết, không chỉ từ bi với con người mà còn
từ bi với các loài chúng sinh không phải con người, từ bi
bình đẳng đến cả các vong linh khổ não, các oan hồn uổng
tử vất vưởng, không nơi nương tựa, lang thang khắp mọi
nơi, mọi cõi, lang thang ở bụi dậm, bờ ao. Chính
vì lòng từ bi đó mà người ta lập ra Trai đàn để cầu
siêu cho các vong hồn được siêu thoát, hoá giải mọi tai
ương hận thù mà người dân tin là có thể xảy đến,
để cuộc sống được ấm no, yên ổn. Đó cũng là “điểm
nổi bật của vai trò Phật giáo trong tập tục phong hóa dân
gian chính là khuynh hướng “dân tộc hóa” nghi lễ tập tục
Phật giáo, có nghĩa là hòa quyện hình thức nghi lễ giữa
đạo và đời…” [03]
Theo
Phật giáo, trong thế giới hiện tượng tương đối này, hết
thảy vạn sự vạn vật đều chịu tác động bởi quy luật
Nhân Quả. Tất cả đều có những tương quan tác động qua
lại với nhau, duyên vào nhau mà sinh diệt, tồn tại. Do đó,
các nghi lễ cầu an, cầu siêu và trai đàn phổ độ có thể
được xem là những trợ duyên cho sự sống và sự chết
của con người về mặt tinh thần. Đứng về phương diện
đạo lý thường tình sống trong thế giới hiện tượng tương
đối mà xét thì "lễ" là sự thể hiện cho cái "nghĩa" sống
của con người, song để thể hiện cái "lễ" ấy thì cần
phải dựa vào "nghi thức" để thực hiện cho phải lẽ.
Trong
Phật giáo Nguyên Thuỷ không có kinh cầu siêu, kinh cầu an
mà chỉ về sau các nhà sư Phật giáo Bắc tông, do nhu cầu
phát triển nên uyển chuyển áp dụng các loại kinh khác nhau
cho hai mục đích vừa nêu, ví dụ như dùng kinh A Di Đà
và kinh Địa Tạng để cầu siêu cho người quá
vãng, dùng phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa
và
kinh
Dược Sư để cầu an cho người lâm bệnh, v.v… Phải
chăng, ý nghĩa căn bản của cầu siêu và trai đàn chẩn tế
phổ độ là để biểu tỏ tấm lòng chân tình thương mến
người thân quá vãng, thương xót đồng bào tử nạn, thương
xót những cô hồn đói lạnh và nhất là để an tâm cho người
sống?
******
Trong
pháp hội “Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan” được
hoà thượng Nhất Hạnh dự trù tổ chức tại ba miền Việt
Nam vào đầu năm 2007 có mục đích, theo lời hoà thượng:
“để cầu nguyện và giải trừ oan khổ cho tất
cả những ai đã từng gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của
cuộc chiến tranh, dù đã qua đời hay còn tại thế…, để
cầu nguyện cho tất cả những người thân đã từng chết
đi một cách oan ức, trong rừng sâu, ngoài biển cả, trong
trại tù, ngoài côn đảo và dưới những hố chôn tập thể,
để cùng cầu nguyện cho nhau, cho những người đã khuất
và những người còn đang tiếp tục gánh chịu oan nghiệt,
và để tất cả cùng có cơ hội chữa lành những vết
thương rướm máu lâu ngày chưa lành, để nối kết lại tình
đồng bào ruột thịt, và làm vơi đi những oan khổ uất ức
đã được chứa chất lâu nay”. [04]
Như
vậy Trai đàn mang hai ý nghĩa cho cả người sống và người
chết. Người chết, được thân nhân tin tưởng là
sẽ được siêu thoát và người sống được bớt khổ
đau, “chữa lành những vết thương rướm máu lâu ngày
chưa lành và để nối kết lại tình đồng bào ruột thịt,
và làm vơi đi những oan khổ uất ức đã được chứa chất
lâu nay”.
Để
hiểu thêm về ý nghĩa pháp hội Trai đàn chẩn tế Thuỷ Lục,
ban biên tập chúng tôi mời quý độc giả đọc lại bài pháp
ngắn của Đại lão Hòa thượng Hư Vân thuyết giảng
trong dịp kiến lập pháp hội Thủy Lục để truy điệu các
chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn tại Quảng Châu Trung
Quốc vào ngày 18-8-1946:
“Hôm
nay, các giới chức đồng phát tâm kiến lập pháp hội Thủy
Lục để truy điệu các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử
nạn. Vì vậy, tôi sẽ giảng thuyết sơ về duyên khởi của
sự kiến lập đàn tràng Thủy Lục.
Sao
gọi là Thủy Lục ? Thủy tức là nước tại sông biển ao
hồ. Lục tức là đất đai tại núi non, cao nguyên, đồng
bằng. Thủy Lục (đất nước) bao hàm cả hư không. Nếu là
vật có hình tướng thì không vượt ngoài ba vật này (đất,
nước, hư không).
Đấng
Như Lai của chúng ta khởi tâm đại từ bi, cứu tế khắp
loài hữu tình, nên mới lập ra pháp môn này. Duyên khởi của
pháp hội Thủy Lục là khi tôn giả A Nan tu tập thiền định
trong rừng, có một con quỶ chúa đến cầu xin cứu độ. Tôn
giả A Nan liền trở về núi Linh Thứu, cầu Phật dạy bảo.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhân đó mà thuyết pháp Thủy Lục.
Con qủy chúa vốn là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì
thương xót chúng sanh trên đất liền đang chịu bao thống
khổ, và muốn giúp cho âm hồn trong cõi địa ngục U Minh được
vãng sanh lên cõi Cực Lạc, nên thiết pháp siêu độ.
Pháp
hội này khởi đầu từ đời vua Lương Võ Đế ở nước
Tàu. Nhà vua phát tâm Bồ Đề rất mực chân thành mà cung
thỉnh hòa thượng Chí Công, định chế nghi thức lập đàn
tràng "Thủy Lục" để làm lợi ích cho các oan hồn uổng tử.
Sắp đặt đèn cầy xong, vua Lương Võ Đế lễ một lạy;
kế đến thắp đèn "Tận Minh", rồi lễ thêm một lạy. Khi
đó, cung điện chấn động. Vua lễ lần thứ ba thì trời
mưa hoa báu. Công đức đàn tràng "Thủy Lục" như thế.
Đời
Đường, tại chùa Pháp Hải, thiền sư Anh Công lại kiến
lập đàn tràng Thủy Lục để cầu siêu độ cho vua Tần Trang
Nhượng, Phạm Tuy, Bá Khởi, Vương Long Vũ, Trương Nghị, Chẩn
Muội, v.v... đã bị trầm luân cả ngàn năm, khiến họ siêu
thăng cõi trời. Cư sĩ Tô Đông Pha đời Tống, đại sư Liên
Trì đời Minh, v.v..., cùng chư thánh hiền bao đời bổ sung
thêm vào, khiến cho nghi thức lập đàn tràng Thủy Lục ngày
một hoàn bị. Muôn pháp do tâm tạo. Mọi người đều thành
tâm, tất sẽ có cảm ứng.
Hư
Vân tôi thể theo lời khẩn thỉnh của các vị đại hộ pháp
mà làm pháp chủ cho đàn tràng này, thật khó từ chối được.
Các
chiến sĩ trận vong trong thời kỳ kháng chiến, xả thân báo
quốc, nhưng hồn họ vất vưỡng, không nơi nương tựa. Vì
tôn sùng ân đức này, chúng ta kiến lập đàn tràng để cầu
siêu độ cho họ. Nghĩa dân bất khuất, lưu lạc đường hoang,
nhà tan người mất, không hàng phục quân địch, trung thành
vì nước. Cô hồn vô chủ, lang thang khắp nơi. Lại có những
vong hồn uổng tử, chết vì bị trúng đạn, xe cán, bịnh
dịch, chết đuối, chết oan v.v... Chúng ta phải đều cầu
siêu độ hết để an ủi chúng sanh ở cõi u linh. Kẻ chết
được an, người sống được ích lợi, tức là làm lợi
ích khắp cõi dương và cõi âm.
Đây
là lý nhân quả tuần hoàn. Xoay lại đạo lý nhân tâm, không
ngoài các việc ác chớ làm mà phải hành theo những việc
lành. Bao việc khổ sở trên thế gian đều do đã trồng nhân
xấu đời trước. Nếu tán tận lương tâm, bỏ quên hiếu
để, trung tín, lễ nghĩa, khiêm, sĩ, cứ làm càn làm bậy,
thì khiến lụy đến người hiền, và thế giới mãi mãi vẫn
còn loạn lạc. Đất nước vừa được trùng quang độc lập,
phải cực lực hưng thiện dẹp trừ việc xấu, cải ác theo
lành, thì mới không bị nước ngoài xâm lăng. Nếu không lo
chuyện đại cuộc mà vẫn cứ khởi nội loạn, thì nhân dân
không biết sẽ chết nơi nào. Lúc này, nếu người có lương
tâm phải sớm giác ngộ, biết đoàn kết, giải trừ kiếp
vận cho đất nước. Nước Tàu từ lúc Hoàng Đế khởi binh
đánh vua nước Cửu Lệ cho đến ngày nay, chiến tranh mãi
không dừng.
Nếu
muốn hòa bình mãi mãi thì mọi người phải nên phát tâm
Bồ Đề, và tâm đại từ đại bi. Bồ Đề là chữ Phạn,
nghĩa tức là giác. Giác tức là đất tâm sáng chiếu. Sự
khác biệt giữa chư Phật và chúng sanh là việc giác ngộ
hay chưa giác ngộ. Những vị đã giác ngộ tất cả các pháp
trên thế gian đều do duyên sanh như mộng như huyễn, và thể
tánh vốn không, chẳng bị nhiễm ô, được gọi là thánh
hiền. Bất giác tức là vô minh. Một khi vô minh khởi lên
thì mê mờ sự lý. Từ tự tâm của chúng ta, sanh ra mười
pháp giới. Mười pháp giới đều do tâm tạo. Mười pháp
giới gồm có bốn pháp giới thánh hiền và sáu pháp giới
phàm phu. Bốn pháp giới thánh hiền là pháp giới của Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Gọi là cảnh giới thánh hiền
vì nơi đó các ngài đã vượt ngoài ba cõi, không còn thọ
luân hồi. Nếu phân biệt thì giữa bốn pháp giới thánh hiền
có phân chia cao thấp. Pháp giới tối thượng tức là pháp
giới của chư Phật. Kế tiếp là pháp giới của Bồ Tát,
rồi đến pháp giới của Duyên Giác, và cuối cùng là pháp
giới của Thanh Văn. Sáu pháp giới phàm phu vẫn còn nằm trong
biển khổ luân hồi là pháp giới của trời, người, A Tu
La, súc sanh, địa ngục, ngạ quỶ. Pháp giới của cõi trời
có ba mươi hai tầng trời. Sau khi thọ hết phước báu, chư
thiên vẫn bị luân hồi như thường. Con người từ đế vương,
tể tướng cho đến nông dân, công thương, sĩ thứ, đều
thọ hết tất cả khổ của sanh già bịnh chết. Loài A Tu
La có phước nhưng không có đức như chư Thiên nên cuối cùng
vẫn phải bị hoại diệt.
Trong
loài súc sanh, cũng có sự khác nhau về việc hưởng lạc và
thọ khổ, như loài rồng phượng, sư tử, lân giác thì thường
hưởng lạc, và ít thọ khổ hơn loài trùng kiến thấp sanh,
hóa sanh. Khổ nhọc hay an lạc trong loài quỶ cũng không đồng.
Các quỶ vương như Diêm Vương và Thành Hoàng đều hưởng
lạc nhiều mà thọ khổ ít hơn những loài quỶ cô hồn vô
chủ. Khổ nhất là loài ngạ quỶ. Chúng sanh trong địa ngục
thường thọ vô biên khổ cực, chẳng hề được sung sướng.
Mười
pháp giới không ngoài một tâm. Giác ngộ hay chưa giác ngộ
cũng từ tâm này ra. Đức Phật của chúng ta thật rất đại
từ đại bi. Ngài giảng kinh thuyết pháp để khiến cho mọi
người phát tâm Bồ Đề. Phát tâm Bồ Đề cũng sai khác.
Bậc lớn thì phát tâm tu hành thành Phật. Bậc trung thì phát
tâm tu hành thành Bồ Tát. Bậc nhỏ thì phát tâm tu hành thành
Thanh Văn Duyên Giác. Chư thiên cũng có vị phát tâm Bồ Đề.
Do sự phát tâm rộng hẹp, lớn nhỏ, nên việc thành tựu
đạo quả mau chậm không đồng. Chúng ta đang sống trong cõi
người, phải nên phát tâm Bồ Đề rộng lớn, cứu độ chúng
sanh, thay họ chịu khổ. Lại nữa, nên nguyện rằng sẽ dẹp
trừ khổ lụy và khiến chúng sanh được siêu thăng. Nếu
người người đều phát tâm như thế thì cõi nhân gian sẽ
không còn khổ đau.
Có
người hỏi tôi về thần thông biến hóa, thế giới chừng
nào hòa bình, vận nước tốt xấu như thế nào ? Tuy nhiên,
tôi vốn là phàm phu, không biết việc chi, lại chỉ là cây
gỗ già nua khô mục, không thể chạm khắc. Bất quá, so với
quý vị thì ăn cơm hơn nhiều năm, ngu si hơn nhiều năm, nghe
các ngôn ngữ lời nói nhiều hơn, xem nhiều quyển kinh hơn.
Nhận biết làm người là khổ đau, nên tôi mới nói ra những
lời này. Quý vị chớ nên hỏi việc quốc gia có hòa bình
an lạc hay không, mà chỉ nên tự hỏi ngay tâm địa của mình.
Ngày đêm sáng tối, chớ nên phân biệt quan dân, nam nữ. Tự
khắc phục tâm tánh, chớ để tự tâm mê mờ. Phải thật
hành hiếu để trung tín, và cùng mọi người hỗ tương khích
lệ. Phải nên trung thành với quốc gia, giáo dục con cái đàng
hoàng, hòa thuận vợ chồng, lễ kính thân bằng quyến thuộc
bà con láng giềng, có tín nghĩa khi giao hảo với bạn bè.
Nếu người người làm được như thế thì thế gian tự nhiên
thái bình. Ngược lại, nếu biết sai mà không sửa đổi thì
khổ não tất sẽ chạy theo, không thể tránh được. Dầu
nhân tâm có phức tạp như thế nào, vẫn tự giữ bổn phận
của mình, không chìm đắm trong muôn ngàn mong cầu.” [05]
Ban
Biên Tập TVHS
Chú
Thích:
[01]
Giáo Khoa Phật Học cấp 2, do Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp
Tạng Việt Nam ấn hành
[02]
Ngài Ðạo An (312-385), một danh tăng lỗi lạc thời Ðông Tấn,
Trung Quốc. Ngài là đại đệ tử của ngài Trúc Phật Ðồ
Trừng, một vị đại tăng người Ấn Ðộ vào Trung Quốc
truyền giáo. Do tình trạng chiến tranh Ngài đã phải
rời bỏ quê hương Hà Bắc (nhà Hậu Triệu) dẫn đồ chúng
khoảng 500 người chạy về thành Tương Dương lánh nạn và
tu tập tại đâỵ Vào thời điểm này thì PG đã phát triển
khá mạnh mẽ tại Trung Quốc, các vua chúa Trung Quốc nói chung
đều rất sùng mộ đạo Phật, đặc biệt là vua Phù Kiên
(nhà Tiền Tần) hùng mạnh nhất trong số 16 tiểu quốc thời
đó vì hâm mộ danh tiếng của Ngài, đã đích thân mang nhiều
ngàn quân đánh chiếm thành Tương Dương để cung thỉnh Ngài
về làm quốc sự. Suốt đời Ngài chỉ lo hoằng dương
chánh pháp, đệ tử theo học có đến hàng ngàn người. Ngài
đã đào tạo nên những môn đệ rất lừng danh, trong đó
có Ngài Huệ Viễn (hay còn gọi là Tuệ Viễn), được xem
như là sơ tổ của pháp môn Tịnh Ðộ Tông tại Trung Quốc.
[03]
TT. Thích Đồng Bổn,
[04]
Thích Nhất Hạnh, Phổ cáo quốc dân và đồng bào Phật tử
Về các Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan http://www.langmai.org/TNH/Dac%20Biet/Thong%20Bach/HTML/traidoangiaoan.htm
[05]
Hư Vân Thiền Sư, Pháp Ngữ, Thích Hằng Đạt Việt dịch -
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo 2004 http://www.thuvienhoasen.org/u-huvanluc2.htm#8)
Dưới
đây là nghi thức văn “Thỉnh Linh, Thí Thực và Cầu
Siêu sử dụng tại gia đình trong dịp Đại Trai Đàn
Chẩn Tế tại Việt Nam do Hoà thượng Nhất Hạnh soạn thảo:
(phần
âm thanh
audio)
NGHI
THỨC VĂN THỈNH LINH, THÍ THỰC VÀ CẦU SIÊU
Sử
dụng tại gia đình trong dịp Đại Trai Đàn Chẩn Tế
(dạng
PDF)
Tựu
vị:
Lễ
tứ bái...
Bình
thân quỳ
1.
Hào
quang chiếu rạng nơi tăm tối
Bụt
đã phân thân xuống đạo tràng
Xin
độ hương linh về cõi Tịnh
Ngồi
sen chín phẩm đến Tây phương...
Nam
mô Bồ Tát Tiến Vãng Sinh.
2.
Hương
hoa thỉnh, hương hoa thỉnh
Nhất
tâm phụng thỉnh:
Chúng sanh độ hết mới chứng bồ đề
Địa ngục chưa không nguyền chưa dừng nghỉ
Nam mô đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương (3 lần)
giáo chủ cõi U Minh
Xin đừng quên lời thề nguyện năm xưa
Có mặt nơi này hướng dẫn hương linh cùng các loại cô hồn
về đây nơi chốn đàn trai Bình Đẳng Giải Oan tham gia pháp
hội...
3.
Hương
hoa thỉnh, hương hoa thỉnh
Nhất
tâm phụng thỉnh:
Giáo Nghĩa Viên Thông thật tuyệt vời
Cánh tay cứu độ hiện ngàn nơi
Không đâu cầu thỉnh mà không ứng
Biển khổ thuyền giong cứu độ người
Nam mô đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (3 lần)
bậc đại từ cứu khổ cứu nạn thường chuyên hạnh lắng
nghe
Xin đừng quên lời thề nguyện năm xưa
Có mặt nơi này hướng dẫn hương linh cùng các loại cô hồn
về đây nơi chốn đàn trai Bình Đẳng Giải Oan tham gia pháp
hội...
Hội
cát tường vừa mở
Dòng
cam lộ đã tuôn
Cô
hồn phất tử khắp mười phương
Nương
vào pháp lực lên đường siêu sinh
Lời
kinh tiếng pháp uy linh
Giải
trừ oan khổ bất bình tiêu tan.
Nam
mô bồ tát Vân Lai Tập (3lần)
4.
Hương
hoa thỉnh, hương hoa thỉnh
Nhất
tâm triệu thỉnh:
Biển khổ mênh mông nghiệp đã mang
Hôn mê chưa tỉnh giấc kê vàng
Hãy mau trì niệm hồng danh Bụt
Rời bỏ bờ mê, bến giác sang.
Một nén danh hương
Một phen triệu thỉnh...
Phụng
vị:
Các
bậc tổ tiên ông bà cha mẹ quá cố trong bảy đời qua
cùng
với thân nhân quyến thuộc
hàng
trăm ngàn chiến sĩ trận vong trên mọi nẻo đường đất
nước
hài
cốt chôn vùi chưa biết phải tìm đâu
hàng
triệu đồng bào nạn nhân của đạn bom
hoặc
không may đã bỏ mình trên bước đường chiến tranh lánh
nạn
tất
cả những ai đã phải chết dần mòn trong các nơi giam hãm
tất
cả những thuyền nhân thiệt mạng làm mồi cho rồng cá
hoặc
trở thành nạn nhân của hải tặc sau khi đã lênh đênh
trên
biển cả lâu ngày
cùng
tất cả các oan hồn uổng tử khắp nơi
không
phân biệt già trẻ, gái trai, bắc nam, chủng tộc,
tôn
giáo và chánh kiến.
Nguyện nhờ ơn đức Bụt, Pháp và Tăng,
nương tựa chân ngôn
giờ phút này đây
trở về phó hội
tham dự đàn chay Bình Đẳng Giải Oan
nghe kinh chuyển hóa
hưởng nguồn Cam lộ.
5.
Hương
hoa thỉnh, hương hoa thỉnh
Nhất
tâm triệu thỉnh:
Ác vàng vừa lặn
Thỏ ngọc đã lên
Dù cốt nhục cũng phân ly
Mặt mũi xưa đâu còn thấy?
Hai nén danh hương
Hai phen triệu thỉnh...
Phụng
vị:
Các
bậc tổ tiên ông bà cha mẹ quá cố trong bảy đời qua
cùng
với thân nhân quyến thuộc
hàng
trăm ngàn chiến sĩ trận vong trên mọi nẻo đường đất
nước
hài
cốt chôn vùi chưa biết phải tìm đâu
hàng
triệu đồng bào nạn nhân của đạn bom
hoặc
không may đã bỏ mình trên bước đường chiến tranh lánh
nạn
tất
cả những ai đã phải chết dần mòn trong các nơi giam hãm
tất
cả những thuyền nhân thiệt mạng làm mồi cho rồng cá
hoặc
trở thành nạn nhân của hải tặc sau khi đã lênh đênh
trên
biển cả lâu ngày
cùng
tất cả các oan hồn uổng tử khắp nơi
không
phân biệt già trẻ, gái trai, bắc nam, chủng tộc,
tôn
giáo và chánh kiến.
Nguyện
nhờ ơn đức Bụt, Pháp và Tăng,
nương tựa chân ngôn
giờ phút này đây
trở về phó hội
tham dự đàn chay Bình Đẳng Giải Oan
nghe kinh chuyển hóa
hưởng nguồn Cam lộ.
6.
Hương
hoa thỉnh, hương hoa thỉnh
Nhất
tâm triệu thỉnh:
Hình hài chỉ như mộng
Kiếp sống mãi vô thường
Nương sức Từ Tam Bảo
Mở được lối thanh lương.
Ba nén danh hương
Ba phen triệu thỉnh...
Phụng
vị:
Các
bậc tổ tiên ông bà cha mẹ quá cố trong bảy đời qua
cùng
với thân nhân quyến thuộc
hàng
trăm ngàn chiến sĩ trận vong trên mọi nẻo đường đất
nước
hài
cốt chôn vùi chưa biết phải tìm đâu
hàng
triệu đồng bào nạn nhân của đạn bom
hoặc
không may đã bỏ mình trên bước đường chiến tranh lánh
nạn
tất
cả những ai đã phải chết dần mòn trong các nơi giam hãm
tất
cả những thuyền nhân thiệt mạng làm mồi cho rồng cá
hoặc
trở thành nạn nhân của hải tặc sau khi đã lênh đênh
trên
biển cả lâu ngày
cùng
tất cả các oan hồn uổng tử khắp nơi
không
phân biệt già trẻ, gái trai, bắc nam, chủng tộc,
tôn
giáo và chánh kiến.
Nguyện nhờ ơn đức Bụt, Pháp và Tăng,
nương tựa chân ngôn
giờ phút này đây
trở về phó hội
tham dự đàn chay Bình Đẳng Giải Oan
nghe kinh chuyển hóa
hưởng nguồn Cam lộ.
7.
Tuyên
đọc chân ngôn xin triệu thỉnh
Hương
linh đã tỉnh và đã nghe
Sức
thiêng Tam Bảo nguyện gia trì
Tất
cả giờ đây về phó hội
Hương
linh nghe triệu, nghe triệu thỉnh đến ngay đây...
8.
Triệu
thỉnh, hương linh đã đến đây
Tiếp
nhận hương hoa phẩm cúng dường
Hãy
xin ngồi lại lắng nghe kinh
Lắng
nghe kinh, bồ tát ma ha tát.
Cung
hiến trà
Lễ
nhị bái...
Bình
thân quỳ
9.
Tổ
chức đàn trai
Thầy
A Nan khởi xướng
Đại
sĩ Quan Âm
Tiêu
Diện mang hình tướng
Niệm
Bụt nhất tâm
Đọc
chân ngôn cứu khổ
Vạn
loại cô hồn
Đều
được cùng siêu độ.
10.
Chẩn
tế đàn khai
Mọi
loài xin mời tới
Uổng
tử vong thân
Hồn
về đây đủ loại
Tám
nạn ba đường
Hiểm
nguy đều thoát khỏi
Nương
bóng Từ Bi
Ngồi
yên nghe pháp thoại.
11.
Bụt
A Di Đà
Không
quên lời thề cũ
Sinh
chúng mê lầm
Đắm
chìm trong biển khổ
Duỗi
cánh tay vàng
Giong
thuyền Từ cứu độ
Vớt
hết muôn loài
Đưa
về nơi tịnh thổ.
Nam
mô Bụt và Bồ Tát trên hội Liên Trì. (3 lần)
12.
Nam
mô Bụt và Bồ Tát trên hội Hoa Nghiêm (3 lần)
Nam
mô Bồ Tát Diện Nhiên Vương. (3 lần)
Lửa
dữ bừng bừng cháy bốn bên
Cô
hồn nóng bức khổ triền miên
Cô
hồn nếu muốn sinh Tịnh Độ
Hãy
lắng nghe đây kệ Bụt truyền:
"Nếu
ai muốn thấy và muốn hiểu
Chư
Bụt có mặt trong ba đời
Người
ấy phải quán chiếu pháp giới
Tất
cả đều do tâm mà thôi." (C)
(Chân
Ngôn Phá Địa Ngục)
Án,
dà ra đế da ta bà ha. (3 lần) (C)
(Chân
Ngôn Triệu Thỉnh)
Nam
mô bộ bộ đế rị dà rị đa ri đát tha nga đa da. (3 lần)
(C)
(Chân
Ngôn Mở Oan Kết)
Án,
tam đà ra dà đà ta bà ha. (3 lần) (C)
Nam
mô Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm (3 lần) (C)
Nam
mô Bụt thường trú mười phương (C)
Nam
mô Pháp thường trú mười phương (C)
Nam
mô Tăng thường trú mười phương (C)
Nam
mô đức Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)
Nam
mô đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)
Nam
mô đức Bồ Tát Cứu Khổ Minh Dương Địa Tạng Vương (C)
Nam
mô đức Tôn Giả Khải Giáo A Nan Đà. (C)
(Quay
Về Nương Tựa)
Con
về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con
trong cuộc đời.
Con
về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu
biết.
Con
về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện
sống cuộc đời tỉnh thức. (C)
Đã
về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong
cuộc đời.
Đã
về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các
pháp môn chuyển hóa.
Đã
về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng,
dìu
dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)
Về
nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người,
thể
nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề.
Về
nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người,
nắm
vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.
Về
nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người,
xây
dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (CC)
(Bốn
Lời Nguyện)
Phật
tử đã tạo ra nghiệp xấu
Cũng
vì tâm niệm tham sân si
Do
thân, miệng, ý phát sinh ra
Tất
cả Phật tử đều sám hối. (C)
Mọi
loài đã tạo ra nghiệp xấu
Cũng
vì tâm niệm tham sân si
Do
thân, miệng, ý phát sinh ra
Tất
cả mọi loài đều sám hối. (C)
Cô
hồn đã tạo ra nghiệp xấu
Cũng
vì tâm niệm tham sân si
Do
thân, miệng, ý phát sinh ra
Tất
cả cô hồn đều sám hối. (C)
Chúng
sanh vô biên thề nguyện độ
Phiền
não vô tận thề nguyện đoạn
Pháp
môn vô lượng thề nguyện học
Phật
đạo vô thượng thề nguyện thành. (C)
Tự
tánh chúng sanh thề nguyện độ
Tự
tánh phiền não thề nguyện đoạn
Tự
tánh pháp môn thề nguyện học
Tự
tánh Phật đạo thề nguyện thành. (CC)
(Chân
Ngôn Diệt Định Nghiệp)
Án,
bát ra mạt lân đà nảnh ta bà ha. (3 lần) (C)
(Chân
Ngôn Diệt Nghiệp Chướng)
Án,
a lỗ lặc kế ta bà ha. (3 lần) (C)
(Chân
Ngôn Mở Rộng Yết Hầu)
Án,
bộ bộ đế rị dà rị đa rị đát tha nga đa da. (3 lần)
(C)
(Chân
Ngôn Diệt Tam Muội Gia Giới)
Án,
tam muội da tát đỏa phạn. (3 lần) (C)
(Chân
Ngôn Biến Thực)
Nam
mô tát phạ đát tha nga đa phạ rô chỉ đế.
Án,
tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần) (C)
(Chân
Ngôn Biến Thủy)
Nam
mô tô rô bà gia, đá tha nga đá gia, đát điệt tha, án, tô
rô, tô rô,
bạt
ra tô rô bạt ra tô rô, ta bà ha. (3 lần) (C)
(Chân
Ngôn Nhất Tự Thủy Luân)
Án
noan noan noan noan noan. (3 lần) (C)
(Chân
Ngôn Biển Sữa)
Nam
mô tam mãn đa một đà nẫm, án noan. (3 lần) (CC)
(Cúng
Dường)
Nam
mô Đa Bảo Như Lai
Nam
mô Bảo Thắng Như Lai
Nam
mô Diệu Sắc Thân Như Lai
Nam
mô Quảng Bác Thân Như Lai
Nam
mô Ly Bố Úy Như Lai
Nam
mô Cam Lộ Vương Như Lai
Nam
mô A Di Đà Như Lai. (C)
Thần
chú gia trì thức ăn tịnh
Cúng
khắp mười phương chúng Phật tử
Nguyện
đều no đủ bỏ xan tham
Mau
thoát u minh sinh Tịnh Độ
Quy
y Tam Bảo phát Bồ Đề
Rồi
sẽ đạt thành đạo vô thượng
Công
đức đi về cõi vị lai
Tất
cả Phật tử cùng tiếp nhận. (C)
Thần
chú gia trì thức ăn tịnh
Cúng
khắp mười phương cả mọi loài
Nguyện
đều no đủ bỏ xan tham
Mau
thoát u minh sinh Tịnh Độ
Quy
y Tam Bảo phát Bồ Đề
Rồi
sẽ đạt thành đạo vô thượng
Công
đức đi về cõi vị lai
Tất
cả mọi loài cùng tiếp nhận.(C)
Thần
chú gia trì thức ăn tịnh
Cúng
khắp mười phương chúng cô hồn
Nguyện
đều no đủ bỏ xan tham
Mau
thoát u minh sinh Tịnh Độ
Quy
y Tam Bảo phát Bồ Đề
Rồi
sẽ đạt thành đạo vô thượng
Công
đức đi về cõi vị lai
Tất
cả cô hồn cùng tiếp nhận. (C)
Này
các vị Phật tử
Tôi
nay xin dâng cúng
Thức
ăn biến mười phương
Phật
tử đều tiếp nhận
Nguyện
đem công đức này
Hồi
hướng về tất cả
Phật
tử và chúng tôi
Đều
cùng thành Phật đạo. (C)
Này
tất cả mọi loài
Tôi
nay xin dâng cúng
Thức
ăn biến mười phương
Mọi
loài đều tiếp nhận
Nguyện
đem công đức này
Hồi
hướng về tất cả
Mọi
loài và chúng tôi
Đều
cùng thành Phật đạo. (C)
Này
các chúng cô hồn
Tôi
nay xin dâng cúng
Thức
ăn biến mười phương
Cô
hồn đều tiếp nhận
Nguyện
đem công đức này
Hồi
hướng về tất cả
Cô
hồn và chúng tôi
Đều
cùng thành Phật đạo. (C)
(Chân
Ngôn Thí Vô Già Thực)
Án
mục lực lăng ta bà ha. (3 lần) (C)
(Chân
Ngôn Phổ Cúng Dường)
Án
nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhật ra hộc. (3 lần) (C)
(Kệ
Cúng Dường)
Phụng
hiến cam lồ vị
Phân
lượng như thái hư
Xin
mọi loài đạt nguyện
Về
nương bóng Đại Từ. (C)
Nam
mô Bồ tát Phổ Cúng Dường (3 lần)
Cúng
hiến trà
Lễ
nhị bái...
Bình
thân quỳ
Sông
ái dài muôn dặm
Biển
mê sóng vạn tầm
Cõi
luân hồi muốn thoát
Niệm
Bụt hãy nhất tâm.
Tịnh
Độ vốn sẵn nơi chân tâm
Di
Đà hiện ra từ tự tánh
Chiếu
sáng ba đời khắp mười phương
Mà
vẫn không rời nơi hiện cảnh
Con
xin hướng về Bụt A Di Đà
Giáo
chủ cõi Tịnh Độ
Nguồn
ánh sáng vô lượng
Gốc
thọ mạng vô cùng
Một
lòng xin quán tưởng
Và
trì niệm hồng danh.
Nam
mô Đức Bụt A Di Đà (3 lần)
Nam
mô Đức Bồ Tát Đại Trí văn Thù Sư Lợi (3 lần)
Nam
mô Đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (3 lần)
Nam
mô Đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (3 lần)
Nam
mô Đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương. (3 lần) (C)
13a.
Phát
Nguyện
Nương
tựa A Di Đà
Nơi
bản môn mầu nhiệm
Con
dốc lòng quay về
Duy
trì nguồn chánh niệm
Con
đã nguyền trở lại
Nương
tựa A Di Đà
Cúi
xin Bụt nhiếp thọ
Cõi
Tịnh Độ bày ra
Xin
lấy đuốc ánh sáng
Soi
vào tâm tư con
Xin
lấy thuyền thọ mạng
Chuyên
chở hình hài con
Cho
sự sống an lạc
Cho
lý tưởng vẹn toàn
Xin
Bụt luôn bảo hộ
Để
tâm không buông lơi
Cho
con phá tà kiến
Làm
phiền não rụng rơi
Trong
giây phút hiện tại
Có
Bụt trong cuộc đời
Tịnh
Độ đi từng bước
Vững
chãi và thảnh thơi
Hiện
tại sống chánh niệm
Tịnh
Độ đã thật rồi
Sau
này đổi thân khác
Thế
nào cũng an vui.
Niệm
Bụt A Di Đà
Được
nhất tâm bất loạn
Chín
phẩm sen hiện tiền
Tự
tha đều thọ dụng
Biết
trước giờ mạng chung
Tâm
con không nao núng
Thân
con không bệnh khổ
Ý
con không ngại ngùng
Di
Đà cùng thánh chúng
Tay
nâng đóa sen vàng
Có
mặt trong giây lát
Cùng
lên đường thong dong
Sen
nở là thấy Bụt
Tịnh
Độ là quê hương
Cúi
xin Bụt chứng giám
Hành
trì không buông lung. (CC)
13b.
Phòng
Hộ chuyển Hóa
Đệ
tử chúng con từ vô thỉ
Gây
bao nghiệp chướng bởi lầm mê
Vào
ra sinh tử biết bao lần
Nay
đến trước đài Vô Thượng Giác.
Biển
trần khổ lâu đời trôi giạt
Hôm
nay trông thấy Đạo huy hoàng
Con
hướng về theo ánh từ quang
Lạy
Phật Tổ soi đường dẫn bước. (C)
Bao
tội khổ trong đời ác trược
Vì
tham, sân, si, mạn gây nên
Hôm
nay đây khẩn thiết thệ nguyền
Xin
sám hối để lòng thanh thoát
Trí
tuệ quang minh như nhật nguyệt
Từ
bi vô lượng cứu quần sanh
Con
nhất tâm nguyện sống đời lành
Đem
thân mạng nương nhờ Tam Bảo
Lên
thuyền Từ vượt qua biển Khổ
Cầm
đuốc thiêng ra khỏi rừng Mê
Văn,
Tư, Tu xin quyết hành trì
Thân,
Miệng, Ý noi về chánh kiến
Đi
đứng nằm ngồi trong chánh niệm
Vào
ra cười nói tướng đoan nghiêm
Mỗi
khi tâm buồn giận lo phiền
Nguyện
nhiếp niệm trở về hơi thở
Mỗi
bước chân đi vào Tịnh Độ
Mỗi
cái nhìn thấy được Pháp thân
Khi
sáu căn tiếp xúc sáu trần
Đem
ý thức tinh chuyên phòng hộ
Tập
khí năm xưa rồi chuyển hóa
Vườn
tâm tuệ giác nở trăm hoa
Niềm
an vui đem khắp mọi nhà
Hạt
giống tốt gieo về muôn lối
Cùng
tăng thân xin nguyền ở lại
Nơi
cõi đời làm việc độ sanh
Giờ
phút này sông núi chứng minh
Cúi
xin đức Từ Bi nhiếp thọ. (CC)
Cúng
hiến trà
Lễ
nhị bái...
Bình
thân quỳ
14.
Kinh
Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa
Bồ
Tát Quán Tự Tại
Khi
quán chiếu thâm sâu
Bát
Nhã Ba La Mật
Tức
diệu pháp Trí Độ
Bỗng
soi thấy năm uẩn
Đều
không có tự tánh.
Thực
chứng điều ấy xong
Ngài
vượt thoát tất cả
Mọi
khổ đau ách nạn.
Nghe
đây, Xá Lợi Tử :
Sắc
chẳng khác gì không
Không
chẳng khác gì sắc
Sắc
chính thực là không
Không
chính thực là sắc
Còn
lại bốn uẩn kia
Cũng
đều như vậy cả.
Xá
Lợi Tử, nghe đây:
Thể
mọi pháp đều không
Không
sanh cũng không diệt
Không
nhơ cũng không sạch
Không
thêm cũng không bớt.
Cho
nên trong tánh không
Không
có sắc, thọ, tưởng
Cũng
không có hành thức
Không
có nhãn, nhĩ, tỷ
Thiệt,
thân, ý - sáu căn
Không
có sắc, thanh, hương
Vị,
xúc, pháp - sáu trần
Không
có mười tám giới
Từ
nhãn đến ý thức
Không
hề có vô minh
Không
có hết vô minh
Cho
đến không lão tử
Cũng
không hết lão tử
Không
khổ, tập, diệt, đạo
Không
trí cũng không đắc.
Vì
không có sở đắc
Nên
khi vị Bồ Tát
Nương
diệu pháp Trí Độ
Bát
Nhã Ba La Mật
Thì
tâm không chướng ngại
Vì
tâm không chướng ngại
Nên
không có sợ hãi
Xa
lìa mọi mộng tưởng
Xa
lìa mọi điên đảo
Đạt
Niết Bàn tuyệt đối.
Chư
Bụt trong ba đời
Y
diệu pháp Trí Độ
Bát
Nhã Ba La Mật
Nên
đắc vô thượng giác.
Vậy
nên phải biết rằng
Bát
Nhã Ba La Mật
Là
linh chú đại thần
Là
linh chú đại minh
Là
linh chú vô thượng
Là
linh chú tuyệt đỉnh
Là
chân lý bất vọng
Có
năng lực tiêu trừ
Tất
cả mọi khổ nạn
Cho
nên tôi muốn thuyết
Câu
thần chú trí độ
Bát
Nhã Ba La Mật.
Nói
xong đức Bồ Tát
Liền
đọc thần chú rằng:
Gate
Gate
Paragate
Parasamgate
Bodhi
Svaha.
(3 lần)
(Chơn
Ngôn Quyết Định Vãng Sanh)
Nam
mô a di đa bà giạ, đá tha già đá giạ, đa địa dạ tha,
a
di lỵ đô bà tỳ, a di lỵ đa tất đam bà tỳ, a di lỵ ca
tỳ ca lan đế,
a
di lỵ đa tỳ ca lan đa, dà di nị dà dà na, chỉ đa ca lệ,
ta bà ha. (CC)
Lễ
tứ bái...
15.
Hồi
Hướng
Thí
thực pháp thâm diệu
Tạo
công đức vô biên
Đệ
tử xin hồi hướng
Cho
chúng sinh mọi miền. (C)
Pháp
môn xin nguyện học
Ân
nghĩa xin nguyện đền
Phiền
não xin nguyện đoạn
Quả
Bụt xin chứng nên. (C)
Nguyện
sinh về Tịnh Độ
Sen
nở thấy vô sinh
Chư
Bụt và Bồ Tát
Là
những bạn đồng hành. (C)
Nguyện
dứt hết phiền não
Cho
trí tuệ phát sinh
Cho
tội chướng tiêu tán
Quả
giác ngộ viên thành. (CCC)
Trở
Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp