65
Xin cho biết quan điểm của Phật giáo
về hình phạt án tử hình
TRẢ
LỜI: Đạo Phật, đạo của từ bi và trí tuệ, luôn luôn
tôn trọng và đề cao cuộc sống của tất cả chúng hữu
tình. Đức Phật xuất hiện trên thế gian này vì muốn mang
hoà bình và hạnh phúc đến cho chư thiên và loài người.
Thực vậy, từ xưa đến nay, Đạo Phật đã không bao giờ
đem khổ đau cho bất cứ ai. Đạo Phật chỉ đưa ra con đường
chuyển hoá đau khổ cho những ai có tâm tìm hiểu và mong muốn
để đạt đến con đường đó. Đó là lời mở đầu của
Sư cô Thích nữ Giới Hương trong buổi hội thảo về Quan
điểm của Phật giáo về án tử hình tại chùa Phước Hậu
Milwaukee ngày 28-10-2006. Mời quý độc giả xem tiếp bài thuyết
trình của Sư cô:
CÁC
LỜI DẠY CĂN BẢN CỦA ĐỨC PHẬT
VỀ
HÀNH PHẠT TỬ HÌNH
Sư
cô Thích Nữ Giới Hương, Ph.D.
Đạo
Phật, đạo của từ bi và trí tuệ, luôn luôn tôn trọng và
đề cao cuộc sống của tất cả chúng hữu tình. Đức Phật
xuất hiện trên thế gian này vì muốn mang hoà bình và hạnh
phúc đến cho chư thiên và loài người.
Thực
vậy, từ xưa đến nay, Đạo Phật đã không bao giờ đem khổ
đau cho bất cứ ai. Đạo Phật chỉ đưa ra con đường chuyển
hoá đau khổ cho những ai có tâm tìm hiểu và mong muốn để
đạt đến con đường đó.
Hôm
nay, nhân dịp Hội Ái hữu thành phố Milwaukee tổ chức cuộc
nói chuyện với chủ đề Quan điểm của Phật giáo về án
tử hình, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ đề tài này với những
ý tưởng như sau:
I.
Năm giới
Các
giới luật quan trọng và căn bản hướng dẫn phát triển
tâm linh rất quen thuộc với giới Phật tử là thọ trì ngũ
giới (Panca Sila)[1]:
1.
Con phát nguyện vâng giữ giới không sát hại sanh vật.
2.
Con phát nguyện vâng giữ giới không lấy của không cho.
3.
Con phát nguyện vâng giữ giới không tà dâm.
4.
Con phát nguyện vâng giữ giới không nói dối.
5.
Con phát nguyện vâng giữ giới không uống rượu say.
Trong
ý nghĩa tiêu cực, năm giới này là những điều răn cấm,
nghĩa là không được phạm vào bất kỳ tội lỗi hoặc tội
ác nào. Bản chất của sự răn cấm này được thể hiện
ở hai phương diện:
(a)
để ngăn chặn và phòng ngừa tội lỗi hoặc tội ác, chẳng
hạn như cấm uống rượu say vì nó có thể dẫn tới tạo
tội lỗi hoặc tội ác;
(b)
để chấm dứt và không tái phạm những tội ác đã làm,
như giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối, v.v… chính
bản chất chúng là bất thiện.
Trong
ý nghĩa tích cực, giới đầu tiên giúp chúng ta tăng trưởng
lòng từ bi. Giới thứ hai có thể giúp nuôi dưỡng đức tính
thành thật, tâm bao dung, không chấp thủ và chánh mạng. Giới
thứ ba giúp vun bồi khả năng tự kềm chế, bảo hộ các
căn và những cảm xúc, chế ngự lòng ham muốn trần tục.
Giới thứ tư làm cho phát triển niềm tin yêu, tâm chân thật,
và đạo đức chính trực. Và giới cuối cùng giúp chúng ta
quay về chánh niệm, tỉnh thức, và tuệ giác.
Bởi
vậy, thực hành thuần thục những giới luật Phật giáo sẽ
giúp chúng ta sống một cuộc sống đạo đức, thăng tiến
đời sống tâm linh trong từng cá nhân đồng thời giúp thúc
đẩy việc chung sống hòa bình trên tinh thần hợp tác, tin
cậy lẫn nhau trong cộng đồng và đẩy mạnh tiến trình xã
hội ngày càng phát triển.
II.
Giới đầu tiên
Giới
đầu tiên ủng hộ xu hướng phản đối việc phá hủy sự
sống. Điều này dựa vào nguyên lý của thiện tâm và tôn
trọng quyền sống của tất cả mọi loài.
Trong
kinh Phạm Võng[2],
Đức Phật chỉ dạy cặn kẽ Giới Bồ tát đầu tiên là:
“Đệ tử Phật không được tự mình giết, hoặc bảo người
giết, phương tiện giết, khen tặng sự giết, thấy giết
mà tùy hỷ, nhẫn đến dùng bùa chú để giết, nhân giết,
duyên giết, cách thức giết, nghiệp giết.
Có
năm điều kiện[3] kết thành hành động giết hại là:
(1)
Có hiện hữu một chúng sanh, con người hoặc loài vật;
(2)
Nhận biết rằng chúng sanh đó đang còn sống;
(3)
Dự định hoặc quyết định để giết;
(4)
Dùng phương tiện thích đáng để thực hiện hành động giết
hại;
(5)
Và có hậu quả đưa đến sự chết.
Thiếu
bất kỳ một trong các điều kiện này, hành động giết sẽ
không cấu thành, mặc dù sự chết có xảy ra. Điều đó chỉ
được xem như sự cố tai nạn và không gây ra hiệu ứng tội
lỗi nào cho người làm hành động này.
Có
sáu cách giết[4]: (1) giết bằng chính bàn tay của mình, (2)
ra lệnh cho kẻ khác giết, (3) giết bằng cách bắn, ném đá,
đánh gậy, v.v…, (4) giết bởi việc đào những hầm hố,
v.v... để đánh bẫy chúng sanh, (5) giết bởi dùng thần lực,
hoặc các phương cách bí ẩn, và ( 6) giết bằng mật chú,
hoặc khoa học huyền bí nào đó.
Dù
sử dụng công cụ nào để giết hoặc phá hủy đời sống
tâm linh của chúng sanh đi nữa thì kẻ đó đã phạm vào sát
sanh nghiệp đạo rồi.
Bởi
vậy, một Phật tử chân chánh không thể làm hoặc ủng hộ
án tử hình bởi vì án tử hình đồng nghĩa với việc tước
đoạt hay chấm dứt đời sống con người với năm điều
kiện và bất kỳ một trong sáu cách giết nói trên.
III.
Tâm từ bi
Ở
giới đầu tiên trong Kinh Phạm Võng[5], Đức Phật dạy rằng
“là Phật tử lẽ ra phải luôn có lòng từ bi, lòng hiếu
thuận, lập thế cứu giúp tất cả chúng sanh. Mà trái lại,
tự phóng tâm nỡ lòng sát sanh, Phật tử này phạm Bồ Tát
Ba La Di tội”.
Do
tuân thủ giới này chúng ta biết cách vun bồi tâm từ và
tâm bi. Nên thương yêu những người khác như chính mình vậy.
Cảm nhận được đau khổ của người khác như của chính
mình thì chúng ta sẽ sẳn sàng làm cách nào đó để có thể
giúp họ vơi bớt khổ đau.
Như
vậy, chúng ta trau giồi tâm từ bi và tăng trưởng tinh thần
vị tha chính vì phúc lợi của người khác, ý thức tôn trọng
và bảo vệ cho tất cả chúng sanh.
Trong
Kinh
Từ bi, Đức Phật cũng dạy:
Mong
rằng không có ai,
Lường
gạt, lừa dối ai,
Không
có ai khinh mạn,
Tại
bất cứ chỗ nào.
Không
vì giận hờn nhau,
Không
vì tưởng chống đối.
Lại
có người mong muốn,
Làm
đau khổ cho nhau.
Như
tấm lòng người mẹ,
Ðối
với con của mình,
Trọn
đời lo che chở,
Con
độc nhất, mình sanh.
Cũng
vậy, đối tất cả
Các
hữu tình chúng sanh,
Hãy
tu tập tâm ý,
Không
hạn lượng rộng lớn[6].
IV.
Phật tánh
Một
nguyên do khác mà giới Phật giáo không ủng hộ án tử hình
là vì Đức Phật có dạy rằng bản chất của mỗi chúng
sanh (người hoặc vật) là thanh tịnh; tinh tế hơn nữa là
tâm thanh tịnh, mà cứu cánh bản tâm đó chính là sự giác
ngộ hay tính giác ngộ cũng gọi là Phật tính (Buddhata), hoặc
Tri kiến Phật.
Như
Đức Phật xác nhận trong Kinh
Pháp hoa[7] “…Và Ta thấy hàng Phật tử, có đầy
đủ giới đức, uy nghi không thiếu sót, bản chất trong sạch
như bửu châu để trở về tuệ giác”. Vì vậy, nếu nay
con người trở nên bạo lực có thể vì nhiều lý do, nhưng
nhất định một trong những lý do chủ yếu là do ác tư duy
khởi lên, như hậu quả từ môi trường và hoàn cảnh của
họ. Tuy nhiên, tất cả đều có tiềm năng để cải thiện
cũng như có khả năng quay về với bản tính chân thật hằng
có của chính mình.
V.
Không sát sanh
Như
đề cập, tất cả chúng sanh đều có Phật tính. Vì vậy,
chúng ta không những không nên giết người mà còn không nên
làm hại cả loài vật nữa. Vả lại, trong vài trường hợp
tùy theo nghiệp lực, con người có thể tái sinh làm người
và loài vật cũng có thể được sinh lại làm người.
Có
một nguyên tắc chỉ đạo rất căn bản trong Đạo Phật để
tu tập đạo hạnh đó là bất hại (ahimsa) - tức ngăn cấm
việc gây tổn thương hoặc chết chóc đối với mọi chúng
sanh.
Vì
chúng ta ước muốn sống, chúng ta không nên giết người hoặc
ngay cả chúng sanh khác. Hơn nữa, nghiệp sát sanh phải được
hiểu như cội rễ của tất cả khổ đau và nguyên nhân căn
bản của bệnh tật và chiến tranh, và những thế lực giết
hại này rõ ràng đồng nhất với ma quân.
Lý
tưởng tối thượng và phổ quát nhất của Đạo Phật là
phụng sự không ngừng nghỉ cho đến khi nào chấm dứt hoàn
toàn vĩnh viễn khổ đau của tất cả chúng sanh, chứ không
chỉ riêng cho loài người.
Như
trong kinh Phạm Võng[8], Đức Phật nói: ‘Mỗi khi một Bồ
tát[9] thấy có người chuẩn bị giết một con vật, vị ấy
thường dùng phương tiện thiện xảo để cứu chuộc và bảo
vệ nó, giải phóng nó vượt thoát khỏi tình trạng khó khăn
và đau khổ đó...’
VI.
Ăn chay
Tâm
từ bi bao la đối với tất cả cũng có nghĩa rằng chúng ta
không những không giết hại con người và loài vật mà còn
cần phải tuân thủ quy tắc tự gìn giữ chính mình chẳng
hạn như thực hành ăn chay. Đây là những lời dạy tích cực
và xác thực từ Đức Phật liên quan đến sự phát triển
hoàn hảo nhân cách của con người.
Tất
cả các chúng sanh –
Loài
người hoặc thú vật,
Rất
tham sống sợ chết.
Đều
sợ hãi con dao đồ tể,
Chặt
thái chúng thành từng miếng.
Thay
vì tàn bạo và hèn hạ,
Tại
sao không dừng giết hại và thương yêu cuộc sống?[10]
Đức
Phật khuyến khích việc ăn chay hoàn toàn là một yêu cầu
tự nhiên và hợp lý tương xứng với giới không sát sanh.
Giới Bồ tát cũng rõ ràng cấm hẳn việc ăn mặn.
Tôn
giả Đại Ca Diếp hỏi Đức Phật, “Tại sao Như lai không
cho phép ăn thịt?” Đức Phật đáp “chính vì việc ăn thịt
sẽ cắt đứt hạt giống đại từ bi”[11].
Chúng
ta không nên giới hạn lòng từ bi của mình đối với loài
vật hoặc những vật yêu thích, mà hãy mở rộng đến toàn
thể chúng sanh, ngay cả trong số đó có kẻ sai phạm. Lòng
từ bi làm nền tảng cho tất cả mọi quan hệ tương tác của
chúng ta với người khác, mà không cần lưu tâm đến quan
điểm và hoạt động của họ là gì.
VII.
Báo thù
Vì
những lý do và mục đích nào đó mà hệ thống pháp luật
của xã hội đặt ra án tử hình. Án này chính là dùng để
trừng phạt các phạm nhân, ngăn chặn họ không lặp lại
hành động xấu ác đã làm và để răn đe những người khác.
Tuy
nhiên, rõ ràng nó cũng là một hình thức báo thù trong một
ý nghĩa tinh tế hơn.
Chúng
ta cần phải giảm bớt sự sợ hãi, lòng thù ghét, và ý muốn
báo thù bằng cách tra tấn và sát hại.
Khái
niệm báo thù hoàn toàn xa lạ với giới Phật giáo. Án tử
hình là một hình thức trừng phạt khắc khe nhất với mục
đích nhằm kết thúc vĩnh viễn một đời sống đang sống.
Khi phạm nhân bị xử tử hình thì người đó không còn có
cơ hội nào nữa để thay đổi, phục hồi hoặc bồi thường
thiệt hại đã gây ra.
Liệu
việc thực hiện án tử hình đối với một kẻ giết người
đã bị tuyên án sẽ khiến nạn nhân sống lại được không?
Tất
nhiên là không. Như vậy, án tử hình đâu có lợi ích gì.
Đức
Phật dạy rằng:
“Với
hận diệt hận thù,
Ðời
này không có được.
Không
hận diệt hận thù,
Là
định luật ngàn thu”[12].
VIII.
Tâm lý học
Theo
Đạo Phật, những điều kiện cho đời sống kế tiếp (tái
sanh) phụ thuộc vào những tư tưởng sau cùng, tức trạng
thái tâm thức cuối cùng của con người trước khi chết.
Tâm thức hay tâm lý của tội phạm chắc chắn không thể
có được trạng thái an bình. Buộc người đó nhận lãnh
thi hành án tử sẽ càng làm cho trạng thái tâm trí của người
đó thậm chí còn trầm trọng hơn, chứa đầy lòng giận dữ
và sợ hãi. Kết quả là, người đó nếu được tái sinh
làm người, họ có thể còn bạo lực hơn lúc bây giờ. Khi
lớn lên, kẻ đó tiếp tục phạm tội có thể còn tồi tệ
hơn những tội ác đã làm ở đời trước.
Trong
Tiểu kinh Nghiệp phân biệt (Kinh
Trung Bộ, số 135)[13], Đức Phật nói điều này:
“Ở
đây, này các tỳ kheo, có người đàn bà hay đàn ông, phẫn
nộ, nhiều phật ý, bị nói động đến một chút thời liền
bất bình, phẫn nộ, sân hận, chống đối, và tỏ lộ phẫn
nộ, sân hận, bất mãn. Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy,
thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy
được sanh vào cõi dữ... Nếu sanh trở lại làm người thì
phải chịu hình hài xấu xí. Con đường ấy đưa đến xấu
sắc, tức là phẫn nộ, sân hận, bất mãn.
Bởi
vậy, chúng ta cần nên tránh dẫn đến trạng thái tâm lý
bất an cho phạm nhân vì người đó sẽ phải buộc giáp mặt
cái chết một cách không sẵn lòng và miễn cưỡng.
IX.
Luật Nghiệp Báo
Nghiệp
hay hành động là năng lực được phát sinh bởi tư duy, lời
nói và những hành vi của con người. Nó có thể là thiện,
bất thiện hoặc quán tưởng, và có thể có hiệu ứng sâu
đậm lên sự tái sanh của mọi loài hữu tình chúng sanh.
Nghiệp
bất thiện dẫn đến sự tái sinh vào một trong ba ác đạo
(là địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh); nghiệp thiện dẫn
đến tái sinh trong loài người, loài thần hoặc chư thiên
cõi dục; còn nghiệp quán tưởng thiền định sẽ tái sinh
vào cảnh giới sắc và vô sắc[14].
Trong
kệ Telakatahagatha nói rõ: “Ai phá hủy đời sống của bất
kỳ chúng sanh nào, trong lần tái sinh kế tiếp người đó
có thể bị đột tử trong lúc đang sung mãn nhất, dù vị
đó đang có cuộc sống tiện nghi, giàu sang và đẹp đẽ,
...”[15].
Đức
Phật đã dạy[16]:
Ở
đây, này các tỳ kheo, có người đàn bà hay đàn ông, sát
sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương,
tâm không từ bi đối với các loại chúng sanh. Do nghiệp ấy,
thành đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại
mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh vào
cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, nếu được đi đến
loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy phải
đoản mạng. Con đường ấy đưa đến đoản mạng, này các
tỳ kheo, tức là sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên
sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loài
hữu tình.
Nhưng
ở đây, này các tỳ kheo, có người đàn bà hay đàn ông,
từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm,
biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc
tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Do nghiệp ấy, thành
đạt như vậy, thành tựu như vậy, sau khi thân hoại mạng
chung, người ấy được sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở
đời. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, người ấy không sanh
vào thiện thú, Thiên giới, ở đời, nếu người ấy đi đến
loài Người, chỗ nào người ấy sanh ra, người ấy được
trường thọ. Con đường ấy đưa đến trường thọ, này
các tỳ kheo, tức là từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ
trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương
xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Như
vậy với lý lẽ đã trình bày ở đây, rõ ràng là việc giết
hại kể cả tội bạo hành sẽ tạo ra ác nghiệp cho kẻ đó,
và giảm bớt khả năng có được một cái chết an bình cho
họ.
X.
Kinh tạng Phật Giáo
Bác
bỏ án tử hình là một chủ đề thường được nhắc đến
trong Đạo Phật mà chúng ta sẽ nhìn thấy các ngụ ý này
ngang qua phạm âm của Đức Phật trình bày trong kinh tạng
và luận tạng của cả hai hệ thống Phật giáo Nguyên thuỷ
và Đại thừa (ở đây tôi đề cập chỉ vài trường hợp
tiêu biểu) như sau:
A.
Kinh Nguyên thuỷ
1.
Pháp cú:
“Mọi
người sợ hình phạt,
Mọi
người sợ tử vong.
Lấy
mình làm ví dụ
Không
giết, không bảo giết.”[17]
“Mọi
người sợ hình phạt,
Mọi
người thích sống còn;
Lấy
mình làm ví dụ,
Không
giết, không bảo giết.”[18]
“Bỏ
trượng, đối chúng sanh,
Yếu
kém hay kiên cường,
Không
giết, không bảo giết,
Ta
gọi Bà-la-môn.”[19]
2.
Kinh Bổn sanh:
i.
Tiền thân Nai Banian
Trong
Kinh Bổn sanh[20] có kể rằng vào một tiền kiếp nọ, Đức
Phật sinh ra làm Nai chúa tên là Nyagrodha. Ngài đã sẳn lòng
thế mạng của chính mình cho một con nai đang có thai sắp
sinh phải đi nạp mạng cho nhà vua. Lại trong một tiền kiếp
khác, Đức Phật hy sinh mạng sống của mình để làm thức
ăn cho một con cọp đói và hai con của nó đang bị mắc kẹt
trong tuyết.
Ngài
cho rằng cứu được mạng sống có ý nghĩa hơn là chỉ bảo
hộ cho bản thân cá nhân mình. Thà mất mạng của chính mình
còn tốt hơn là giết hại chúng sanh khác.
Có
nhiều câu chuyện kiếp trước của Đức Phật khi còn làm
bồ tát, ngài thực hành hạnh giữ gìn giới không sát sanh,
hy sinh chính mạng mình để giữ tròn giới thể và tăng trưởng
lòng từ bi.
Đức
Phật đã nói rằng:
Hơn
nữa, Ta quán sát như vầy: “Từ quá khứ cho đến ngày nay,
Ta đã bỏ thân mạng không biết bao nhiêu lần. Đã có lần
Ta sanh ra làm kẻ cướp ác tâm, làm chim muông, hoặc làm súc
vật mà nơi đó Ta đã sống đơn thuần cho mục đích làm
giàu hoặc theo đuổi những lợi ích dục vọng thấp hèn.
Nhưng bây giờ Ta đã sắp bỏ mình để giữ tròn giới thể.
Ta không lẫn tiếc thân thể và xả thân mạng của ta để
giữ giới thì sẽ có muôn vạn lần ích lợi hơn việc bảo
hộ thân mình mà phải vi phạm những điều cấm. Trong cách
suy nghĩ này, Ta quyết định là Ta cần phải hy sinh thân thể
để bảo vệ vẹn toàn các tịnh giới.
ii.
Tiền thân Con trai của người hàng thịt
Câu
chuyện này kể rằng: có một lần nọ, một vị đã chứng
quả Dự lưu[21] sinh vào trong một gia đình hàng thịt. Khi
đến tuổi thành niên, mặc dầu mong muốn theo nghề quản
gia, nhưng Ngài không muốn giết hại súc vật. Cha mẹ của
Ngài một hôm đưa cho Ngài một con dao và một con cừu và
bảo Ngài “Nếu con không giết con cừu này, cha mẹ sẽ không
cho con thấy mặt trời mặt trăng và thức ăn nước uống
để sinh sống”.
Ngài
liền suy nghĩ, “Nếu mình giết con cừu này thì mình sẽ
bị tạo nghiệp ác này đến trọn đời. Làm sao mình có thể
phạm tội ác lớn này đơn giản chỉ vì lợi ích của bản
thân?” Rồi ngài liền cầm dao tự sát. Khi cha mẹ mở cửa
nhìn vào thì thấy con cừu vẫn đang đứng một bên, trong
khi người con trai nằm đó đã tắt thở.
Ngay
sau khi chết, Ngài được sinh lên cõi trời do hoan hỷ buông
xả, không lẫn tiếc mạng sống chính mình để giữ gìn vẹn
toàn các tịnh giới.
Hạnh
phóng sanh là một phương pháp tu tập trong Phật giáo nhằm
cứu thoát các loài vật, chim cá v.v… đã được trù định
để giết thịt hoặc bị giam cầm thường xuyên. Chúng được
phóng thích như được ban cho một đời sống mới. Việc tu
tập này minh họa giáo lý căn bản của Phật giáo về lòng
từ bi đối với tất cả chúng sanh.
iii.
Tiền thân Janasandha
Câu
chuyện này[22] do Đức Phật kể cho Vua xứ Kosala. Chuyện nói
về hoàng tử Janasandha, con trai của vua Brahmadatta xứ Ba la
nại:
Khi
hoàng tử Janasandha đến tuổi trưởng thành, và sau khi hoàn
tất việc rèn luyện tài năng ở Takkasila trở về, vua đã
đại xá cho tất cả các tù nhân, và phong cho hoàng tử làm
phó vương. Về sau khi vua băng hà, hoàng tử lên nối ngôi,
liền cho xây dựng sáu trại chẩn bần... Ở đó, ngày lại
ngày, vua thường hay phân phát sáu trăm đồng tiền và khuyến
khích toàn dân thực hành bố thí; cửa nhà tù mở vĩnh viễn
và không còn những nơi hành hình tội nhân...
iv.
Tiền thân Muga Pakkha
Chuyện
này[23] do Đức Phật kể cho chúng Tỳ kheo, giải thích rõ
rằng việc trừng phạt có thể tác động đến cả người
thừa hành lẫn người trực tiếp bị phạt. Câu chuyện kể
về một hoàng tử duy nhất của vua xứ Kasi tên là Temiya-kumaro
(nói gọn là Temiya).
Khi
hoàng tử đầy tháng, ngài được ăn mặc thật đẹp và bồng
vào yết kiến vua. Nhìn đứa con yêu, vua liền ôm vào lòng
chơi đùa với con. Cùng lúc ấy, có bốn tên cướp được
đưa đến trước mặt vua; một trong bốn tên đó bị ngài
xử phạt một ngàn roi quấn gai nhọn, một tên khác phải
bị gông cùm xiềng xích, một tên nữa phải bị đâm bằng
giáo, và tên cuối cùng bị đâm cọc xuyên suốt toàn thân.
Bồ-tát (hoàng tử đầy tháng) nghe vua cha nói, kinh hãi nghĩ
thầm: “Ôi cha ta vì làm vua mà mang lấy những ác nghiệp
khiến cho người phải đọa địa ngục”.
Nhận
thức rõ những hậu quả của vua cha và sợ hãi điều đó
sẽ xảy đến cho Ngài nếu sau khi lên nối ngôi Ngài cũng
làm tương tự như thế, cho nên Temiya quyết tâm giả bộ câm
điếc và què quặt suốt mười sáu năm (vì Ngài không muốn
thừa kế ngai vàng).
Cuối
cùng, Temiya đã mãn nguyện khi Ngài trở thành một vị ẩn
sĩ khổ hạnh lìa bỏ kinh đô và sau đó ngài trở về giáo
hoá tất cả hoàng tộc và rất nhiều người khác tu tập
theo Ngài.
Câu
chuyện này tương tự câu chuyện đời sống của Đức Phật
Thích Ca lớn lên trong hoàng cung, nhưng rồi từ bỏ thế gian
để tìm cầu chân lý.
3.
Kinh Trung Bộ
Kinh
Angulimala (kinh Trung bộ, số 152)[24] là một bản kinh nổi tiếng
về năng lực phục thiện.
Có
một kẻ cướp, sát nhân cực ác tên là Angulimala (nghĩa là
“Xâu chuổi ngón tay.” Xâu chuổi này làm bằng ngón tay của
những nạn nhân của y). Tất cả dân làng đều rất sợ Angulimala
là điều dễ hiểu. Vào lúc đó, Đức Phật cũng đang ở
lại trong làng này, nhất định đi một mình xuống con đường
nơi tên sát nhân Angulimala nghe nói đang trú ẩn ở đó. Với
nhân cách tuyệt vời, Đức Phật đã khéo léo cảm hoá Angulimala
và thu nhận anh ta làm đệ tử.
Lúc
đó, do vì dân chúng thỉnh cầu, Nhà Vua đang chỉ huy binh lính
để truy bắt Angulimala. Vua tình cờ gặp Đức Phật và giải
thích sự tình của mình. Liền đó, Đức Phật chỉ cho nhà
Vua thấy Angulimala đã hoàn lương và đang sống đời an lạc
của một tăng sĩ. Vua hoàn toàn sửng sốt bởi chứng kiến
điều này. Ngài rất kinh ngạc làm thế nào mà Đức Phật
có thể giáo hoá được Angulimala như thế.
Điều
này cho thấy ý niệm phục thiện của Phật giáo. Dĩ nhiên,
phục thiện và án tử hình là hai khái niệm loại trừ lẫn
nhau.
Dù
sao, về phương diện nghiệp báo, Angulimala vẫn còn có nghiệp
ác lớn do trước đó đã giết nhiều người, nên chắc chắn
Angulimala cũng phải bị chết một cách đột ngột, đau đớn
bởi ác nghiệp này. Tuy thế, ý nghĩa phục thiện rõ ràng
là nội dung chính của bản kinh này.
Phục
thiện có năng lực giúp cho người tội phạm nhận thức được
tội lỗi của mình và cố gắng tránh tái phạm trong tương
lai. Theo Phật giáo, một người tội phạm đã phục thiện,
thậm chí một kẻ sát nhân, sẽ vẫn nhớ được Phật tính
của mình. Đối với xã hội, cải tạo người phạm pháp
có nghĩa là thu nhận lại một thành viên hữu ích mà người
này có thể đóng góp bằng cách nào đó cho phúc lợi công
cộng.
B.
Kinh điển Đại thừa
1.
Kinh Hoa Nghiêm
(cũng gọi là Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa nghiêm)
Nghiên
cứu về án tử hình trong kinh Hoa nghiêm có tính chất biểu
trưng và triết lý cao hơn.
Kinh
kể rằng có một Bồ tát tên là Thiện tài đồng tử (Sudhana
Sresthidaraka) đang đi tầm sư học đạo. Một trong những Đạo
sư của ngài là vua Anala.
Vua
Anala sống trong một lâu đài đẹp tuyệt vời và rất xa.
Để giữ cương mực trật tự trong xã hội, vua thường dùng
phù phép hóa hiện những tội nhân bị hành hình đau đớn
khốc liệt, để ngăn chặn dân chúng không phạm tội.
Thật
ra, Vua không có làm hại bất cứ ai, bởi vì những tù nhân
cũng như hình phạt đều chỉ là những thần thông biến hoá.
Vua giải thích với Thiện tài đồng tử rằng những ảo thuật
này là phương tiện của tâm từ bi cho dân chúng sợ hãi mà
từ bỏ tội lỗi hay không dám phạm.
ii.
Kinh
Phạm Võng
Trong
Kinh Phạm Võng[25], Đức Phật nói: “Bất cứ khi nào Bồ
tát thấy có người chuẩn bị giết hại sinh vật, thì vị
ấy nên dùng phương tiện thiện xảo để cứu chuộc, giải
thoát cho nó thoát khỏi tình trạng khốn khó và đau khổ...”
Và
ngài cũng dạy thêm ở giới Bồ tát thứ 20 rằng: “Nếu
là Phật tử nên vì tâm từ bi mà làm việc phóng sanh. Hãy
quán rằng tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ
là mẹ ta. Từ nhiều đời ta đều thác sanh nơi đó. Vì lẽ
ấy nên chúng sanh trong lục đạo đều là cha mẹ ta. Nếu
giết chúng để ăn thịt thời chính là giết cha mẹ ta, mà
cũng chính là giết những thân cũ của ta. Tất cả thân tứ
đại đều là bổn thân, bổn thể của ta, cho nên thường
phải làm việc phóng sanh và khuyên bảo người khác làm. Nếu
thấy người đi sát sanh nên tìm cách cứu hộ cho chúng được
thoát khỏi nạn khổ.
C.
Luận Đại thừa
Rajaparikatha
- ratnamala[26]:
Ngài
Long Thọ (thế kỷ 2 hoặc 3 sau TL)[27], một triết gia Phật
giáo nổi tiếng miền Nam Ấn và cũng là tác giả của bộ
luận Rajaparikatha - ratnamala (Những lời khuyên quý giá dành
cho Vua). Nội dung luận phẩm này trình bày về nghệ thuật
lãnh đạo theo tinh thần Phật giáo. Ngài Long Thọ khuyên nhủ
Vua Udayi (Triều đại Satavahana) về rất nhiều vấn đề[28].
Trong đó, Ngài Long Thọ có đề cập về án tử hình như sau:
“Này
Đại vương, vì lòng từ bi Ngài cần nên luôn luôn
Phát
khởi thiện tâm cứu giúp tất cả chúng sanh,
Ngay
cả những ai đã phạm tội trọng.
Lại
cần quan tâm thật nhiều,
Đối
với những kẻ giết người, tạo tội ác lớn;
Quên
mất bản tâm là nơi chứa đựng lòng từ bi vô lượng
Sau
khi thẩm sát sự hung tàn của kẻ sát nhân và thấy rõ căn
nguyên,
Chỉ
nên đày ải, chớ giết hoặc dùng đại hình”[29].
XI.
Những vị vua Phật tử Ấn Độ.
i.
Vua Phật tử (Bắc Ấn)
a)
Vua A Dục[30], một trong những nhà cai trị đầu tiên
của Ấn Độ cổ đại, từ chối dùng quân lực thay vì vậy
là truyền bá triết lý bất bạo động và lòng tôn trọng
đối với mọi người.
Những
sắc lệnh của Vua A Dục được khắc trên các trụ đá, cho
thấy Ngài là một vị vua có tư tưởng khác thường đi trước
thời đại.
Dưới
đây sẽ tóm tắt một số những sắc lệnh của Vua A Dục
như sau:
Những
điều răn cấm:
- Không
được dùng súc vật để tế lễ tôn giáo.
-
Ngăn cấm mọi việc giết mổ súc vật và cầm thú.
-
Vua sẽ không còn tổ chức các cuộc săn bắn nữa.
-
Vua từ bỏ vinh quang các cuộc chiến xâm lược.
-
Chiến thắng thiện pháp là chiến công oanh liệt nhất.
Những
công trình công cộng:
- Xây
dựng bệnh viện cho người và thú vật.
-
Thành lập nhiều vườn tược dược thảo.
-
Đào giếng, trồng cây xanh, và cất nhà nghỉ dọc theo những
đường lộ để tạo tiện nghi cho khách hành hương và thú
vật.
Mối
Quan hệ giữa Con người:
- Dân
chúng cần phải vâng lời cha mẹ và các bậc sư trưởng,
thầy tổ tinh thần của họ.
-
Người chủ không được ngược đãi những người hầu và
tôi tớ của họ
-
Mọi người phải nên rộng lượng với các bậc xuất gia,
họ hàng, và bè bạn.
Tôn
giáo:
- Các
giáo phái tôn giáo “có thể trú ngụ khắp nơi”.
-
Những người khác tín ngưỡng không được công kích lẫn
nhau khi “tìm hiểu các tôn giáo bạn”.
Phúc
lợi cho người dân:
-
Các quan chức triều đình phải quan tâm tới lợi ích của
người già, người nghèo, và các tù nhân.
-
Các quan chức báo cáo công tác công cộng có thể yết kiến
trực tiếp với nhà vua mọi lúc, mọi nơi.
-
Các quan chức phải đảm bảo việc điều hành quản lý mang
hữu hiệu lợi ích và hạnh phúc cho người dân.
Công
lý:
- Các
phán quan phải độc lập và hành xử nhất quán trong thủ
tục và xử phạt.
- Phạm
nhân nên được khoan hồng càng nhiều càng tốt.
- Bản
án tử hình nên được hạn chế áp dụng và việc kết tội
cần phải có ba ngày để tuyên án.
-
“không sát sanh là thiện nghiệp”
Trong
sắc lệnh cuối cùng, có lẽ được viết khắc vào năm 242
trước Tây lịch, Vua A Dục đã viết: “Trong thế gian, có
hai phương cách đạt được thiện pháp là pháp luật và đức
tin.
Nhưng
trong hai điều này, hình như pháp luật tỏ ra ít có hiệu
quả hơn đức tin. “Những quan chức được huấn luyện đặc
biệt, gọi là dhamma-mahamattas (Đại quan chuyên trách truyền
giáo) thường đi kinh lý để tìm hiểu quan điểm của dân
chúng và hướng dẫn họ về thiện pháp.
Điều
này dễ dàng cho chúng ta nhận ra rằng Vua A Dục ủng hộ tinh
thần bất hại (ahimsa) và không thích áp dụng án tử
hình.
Ngài
là một Phật tử thuần thành siêng tu thiện pháp và vì thế
Ngài không thể cho phép việc hành hình này xảy ra.
b)
Vào thế kỷ thứ sáu, có hai nhà sư chiêm bái người Trung
hoa là Sung Yun và Hui Sheng đã hành hương đến đất Ấn và
viết như sau:
Chúng
tôi vào nước Ouchang (Oudyana). Phía bắc của nước này tiếp
giáp núi Thông Lĩnh; phía nam tiếp giáp với Ấn độ… Vua
nước này rất sùng đạo và thực hành hạnh ăn chay … Sau
bữa trưa vua đích thân thân chăm lo công việc triều chính.
Giả
sử có người phạm tội sát nhân, người này không bị xử
tử mà chỉ bị đày tới những hoang đảo, được chu cấp
thức ăn đủ để duy trì mạng sống. Sau thẩm định, hình
phạt được điều chỉnh tuỳ theo tính chất nặng nhẹ từng
hoàn cảnh[31].
ii.
Vua Phật tử (vùng Trung Ấn)
Pháp
Hiền (337-422), một nhà sư chiêm bái người Trung hoa tới Ấn
rất sớm, có nhắc đến vị vua Phật giáo vùng Trung Ấn như
sau:
Vua
của vùng Trung Ấn cầm quyền mà không có hành phạt chém
đầu (tức án tử hình nói chung) hoặc những hình phạt
hành hình thân thể. Những tội phạm đơn giản chỉ bị phạt
tiền, nhẹ hoặc nặng tùy theo hoàn cảnh của mỗi trường
hợp. Thậm chí trong những trường hợp bạo loạn ngoan cố,
họ chỉ bị chặt bàn tay phải mà thôi. Khắp cả nước những
người không sát sanh, không uống rượu say, cũng giữ cả
giới không ăn các loại hành tỏi nồng cay[32].
iii.
Vua Phật giáo (vùng Trung tâm Ấn)
Vào
thế kỷ thứ tám, có sư Hye Ch'o người Triều-tiên đến chiêm
bái Ấn Độ tương tự như sư Pháp Hiền, nhưng cách khoảng
ba thế kỷ về sau.
Sư
cũng có mô tả những vị vua Phật giáo vùng Trung tâm Ấn
cai trị không có sử dụng tới án tử hình: “Pháp luật
quốc gia trong năm vùng của Ấn quy định không có gông cùm,
đánh đập hoặc nhốt tù tuỳ theo mức độ tội phạm. Không
có bản án tử hình”[33].
iv.
Vua Phật giáo (vùng Tây Ấn)
Sư
Hye Ch'o nhận thấy một tình trạng gần như đồng nhất trong
vùng Tây Ấn: “Ở đây không có gông cùm, đánh đập, bỏ
tù, tử hình, hay những hình phạt tương tự”[34].
Vua
của Nhật bản
Năm
724 sau Tây lịch, Nhật Hoàng Shomu (724-749), một Phật tử thuần
thành theo tông Kegon, xây dựng chùa Todai-ji rất nổi tiếng
đến nay vẫn còn ở thành phố Nara, đã cấm áp dụng án
tử hình. Điều này diễn ra vào cuối thời kỳ Nara (715-794).
Tương tự, suốt thời kỳ Heian (794-1185) rất ít thi hành án
tử hình[35].
Đức
Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng
Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ XIII của Tây Tạng là Ngài Thubten Gyatso
(1876-1933), tiền thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ
XIV hiện thời là Ngài Tenzin Gyatso (sinh năm 1935). Đức Đạt
Lai Lạt Ma thứ mười ba tranh đấu để hiện đại hóa Tây
Tạng và duy trì chủ quyền quốc gia chống lại Anh quốc và
sau đó là Trung quốc. Ngài cũng cải cách hệ thống pháp luật
phong kiến của Tây Tạng. Một trong những sự thay đổi đó
là sự huỷ bỏ án tử hình vào khoảng năm 1920. Trước thời
điểm ấy, Đức Đạt Lai Lạt Ma thường tránh can thiệp trực
tiếp trong các trường hợp kết án tử hình bởi vì vai trò
tôn giáo của Ngài[36].
XII.
Ứng dụng Thực tế
Một
điều hiển nhiên rằng con người ai cũng có một khả năng
tiềm tàng nào đó, cho nên vấn đề huấn luyện để khơi
dậy tiềm năng ấy. Chúng ta không nên là nạn nhân của những
xúc cảm bất thiện hoặc bạo lực. Những giải pháp nhằm
chuyển hoá tư duy của người dường như thiết thực hơn
là việc tạo ra đối đầu và va chạm.
Án
tử hình không phải là giải pháp tốt nhất để ngăn chặn
những người làm điều ác. Nó chỉ là một giải pháp có
tính tạm thời để răn đe tội ác.
Tuy
nhiên, nếu chúng ta sử dụng giải pháp tử hình khắc nghiệt
này để thực thi, thì đây chưa phải là một hành động
có ý nghĩa và thích hợp.
Việc
này làm mất hết ý nghĩa của tâm từ bi và lòng nhân ái
trong chúng ta.
Hành
động đầy ý nghĩa và thích hợp phải nên làm là: khi một
người phạm tội, hoặc bị bỏ tù hoặc bị quản thúc tại
gia, và đặt ra một thời hạn nào đó để cho đương sự
sửa sai. Người đó có khả năng nhận ra hành động sai trái
đã làm và từ đó sanh tâm ăn năn hối cải. Vì con người
là sinh vật có ý thức, cho nên người ác cũng biết xấu
hổ về hành động sai trái của mình. Muốn kẻ đó cải thiện
hành vi sai trái, chúng ta phải đặt nặng vào việc giáo dục,
phát huy các giá trị con người xuyên qua đạo đức tôn giáo
hoặc những chương trình xã hội lành mạnh để trợ giúp
người đó. Chúng ta cần phải hỗ trợ nhiều hơn nữa cho
giáo dục và động viên ý thức trách nhiệm chung của mọi
người. Chúng ta cũng cần giải thích tầm quan trọng của
việc thực hành tâm từ bi, lòng nhân ái vì lợi ích của
chính mình và cố gắng giảm thiểu tối đa những yếu tố
nuôi dưỡng mầm móng giết chóc, chẳng hạn như sự tăng
cường chế tạo vũ khí trong những xã hội chúng ta… Để
trợ duyên cho người đó thực tập, chúng ta nên đề nghị
vài phương pháp cụ thể như dưới đây:
1/
Đương sự cần phải sống riêng một mình trong thời gian
khoảng một hoặc hai tháng, một hoặc hai năm để nhận thức
và hối hận về hành động sai trái của mình.
2/
Khuyến khích đương sự cần phải làm một việc tốt giúp
đỡ người khác.
3/
Đương sự cần phải thực tập thiền quán hàng ngày để
thay đổi hành vi bất thiện trở thành thiện.
4/
Đương sự phải tự xem xét hành vi sai trái của mình bắt
nguồn từ đâu.
5/
Hành vi sai trái có thể bắt nguồn từ việc giết người,
cướp của, tà dâm, dối gạt, sử dụng rượu, ma tuý …
6/
Phương pháp để xử lý những hành động sai trái là thực
hành tám con đường chân chánh: chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm
và chánh định.
7/
Đương sự sẽ có thể trở thành là một người tốt như
trước đây.
Đạo
Phật là con đường chuyển hoá khổ đau. Tất cả chúng ta
có thể bị chi phối bởi các cảm xúc tiêu cực và những
tâm bất thiện quấy nhiễu hoặc không bị chi phối, có tội
hoặc không tội, nhưng nếu biết ứng dụng những phương
pháp giáo dục nói trên vào đời sống hàng ngày, chúng ta
có thể thu hoạch được hoa quả của an lạc và hạnh phúc
ở ngay đây và bây giờ trong cuộc sống hiện tại. Giải
pháp tốt nhất vẫn là ngăn ngừa hơn là can thiệp. Và việc
giáo dục cần nên thực hiện trước khi đã bị trừng phạt.
Bởi lẽ một nguyên nhân tốt thường sẽ tạo ra một quả
trái lành.
Đó
là một sự thật xuyên suốt khắp trong kinh điển Phật giáo.
Đạo Phật có lập trường mạnh mẽ chống lại việc giết
hại nói chung, và trong vài trường hợp chống lại án tử
hình.
Như
vậy, Đức Phật hoàn toàn không chấp nhận hành án tử hình.
Không có người Phật tử thuần thành nào ủng hộ án tử
hình cả. Nhưng chúng ta nên hiểu rằng những lời dạy trong
Phật giáo không phải là giáo điều, mà chính là hoa quả
của trí tuệ. Đơn giản đó là những lời khuyên bảo từ
Đức Phật với những giải thích rõ ràng tại sao chúng ta
không nên sát sanh …, phần lớn đặt trên nền tảng đạo
đức và liên quan đến luật nghiệp báo.
Lập
trường Phật giáo chống lại án tử hình dựa vào nền tảng
triết lý Phật giáo và đồng thời tương ứng với thực
tế của xã hội.
Trước
hết, có khả năng rằng án tử hình trong hệ thống luật
pháp các quốc gia ban hành có thể dẫn đến sự thực hiện
oan đối với người vô tội, và điều này hay xảy ra ở
nhiều nước tiên tiến, chẳng hạn như Hoa kỳ… Án tử hình,
một khi đã thi hành rồi thì không thể đảo ngược và cũng
không thể sửa chữa được nếu bị cáo về sau được chứng
minh là vô tội.
Thứ
hai, Đạo Phật cảm nhận rằng tất cả mọi người về căn
bản là chân thiện, và mục đích chính của Phật giáo là
giáo dục, chuyển hoá và cải cách chứ không hủy diệt. Nếu
có người bệnh, Đạo Phật cố gắng cứu chữa người đó
khỏi căn bệnh hơn là tiêu diệt người mang bệnh. Đạo Phật
xem những tội phạm là những người đang có vấn đề tâm
thần kết hợp với sự không hiểu biết (vô minh).
Như
thế, mục đích chính của Đạo Phật là tận trừ gốc rễ
sự không hiểu biết hơn là tiêu diệt người ngu dốt. Điều
này có thể được thực hiện thông qua hệ thống giáo dục,
chuyển hoá, cải cách đương sự, nói cách khác, giúp đỡ
đương sự thấy đúng như thật sự việc đang là.
Trong
Đạo Phật, có một câu nói: “Dẫu xây chín bậc phù đồ,
chẳng bằng làm phước cứu cho một người”.
Tóm
lại, dựa vào những lời dạy cơ bản của Đức Phật từ
kinh điển Phật giáo và tâm tư bao dung sáng suốt của những
vị vua Phật giáo trong lịch sử Châu á cổ đại như được
đề cập ở trên, chúng ta hoàn toàn đồng tâm ủng hộ lời
kêu gọi tới những nhà lãnh đạo các nước trên thế giới
đang áp dụng án tử hình hãy bãi bỏ hình phạt này trong
tinh thần từ bi vô lượng vô biên của Đạo Phật.
[1]
http://quangduc.com/English/canon/vinaya/05.bikkhu-rules-guide.html#5precepts;
http://www.unfetteredmind.org/articles/precept1.php;
[2]
The Brahma Net Sutra, trans. by the Buddhist Text Translation Society in
USA, xem http://www.purifymind.com/BrahmaNetSutra.htm
[3]
Dhammasaṇganī Aṭṭhakathā (Atthasālinī), ed. E. Müller, 1897,
PTS, p. 129; Saddhammo pāyana, ed. Richard Morris, V, PTS, 1887,
p. 58; Kaṇkhāvitaranī, ed. D. A. L. Maskell (néc stede), 1957, PTS,
p. 50.
[4]
Dhammasaṇganī Aṭṭhakathā (Atthasālinī), ed. E. Müller, 1897,
PTS, p. 129; Kaṇkhāvitaranī, ed. D. A. L. Maskell (néc stede), 1957,
PTS, p. 30.
[5]
The Brahma Net Sutra, trans. by the Buddhist Text Translation Society in
USA, xem http://www.purifymind.com/BrahmaNetSutra.htm
[6]
Khuddhaka Nikaya (belong to the Sutta Nipata), tr. By Thanissaro Bhikkhu,
I.8, Karanaiya Metta Sutta.
[7]
The Lotus sutra, tr. By Burton Watson, Colombia Univeristy Press, New York,
1993, pp 10-11.
[8]
Brahma Net Sutra, I, 162.
[9]
Bồ tát nguyện giữ giới “Không sát hại người và súc
vật”.
[10]
Cherishing Life, I, 83.
[11]
Cherishing Life, II, 5.
[12]
Dhammapada, tran. by Thanissaro Bhikkhu, Verse 5 of Chapter 1, MA 01005,
USA, 1997.
[13]
http://www.vipassana.com/canon/majjhima/mn135.php
[14]
Mullin, Glenn H., Death and Dying: The Tibtant Tradition, Boston: Arkana
Penguin, 1986, p. 17.
[15]
Telakaṭāhagāthā, v, 78.
[16]
http://www.vipassana.com/canon/majjhima/mn135.php
[17]
Dhammapada, tran. by Thanissaro Bhikkhu, verses no 129 of Chapter
10, MA 01005, USA, 1997.
[18]
Nt, verses no 130 of Chapter 10.
[19]
Nt, verses no 405 of Chapter 26.
[20]
Jataka, ed. V. Fausboll, London: PTS, 1962; ed. E.B. Cowell, tr. By Robert
Chalmers, Stories of the Buddha’s Former Births, I, Story Banian, Low
Price Publications, Delhi-52, p. 149.
[21]
Thánh Dự lưu còn gọi Nhập Lưu hoặc bảy lần tái sanh ở
đời nữa.
[22]
The Jataka or Stories of the Buddha's Former Births, Vol. 4, Bk.
12 (E.B. Cowell, ed.; W.H.D. Rouse, trans. 1957) pp.
109-11.
[23]
The Jataka or Stories of the Buddha's Former Births, Vol. 6, Bk.
22, pp.1-19.
[24]
The Collection of the Middle Length
Sayings (Majjhima-Nikaya), Isaline B. Horner, trans. 1957, pp. 284-92.
See also, Hellmuth Hecker, Angulimala: A Murder's Road to Sainthood
(The Wheel Publication No. 312, 1984).
[25]
Brahma Net Sutra, I, 162. See http://www.ymba.org/bns/bnsframe.htm.
[26]
Nagarjuna and Kaysang Gyatso [Dalai Lama VII], The Precious
Garland and The Song of the Four Mindfulnesses (Jeffrey Hopkins et al,
trans., 1975).
[27]
The Encyclopedia of Eastern Philosophy and Religion, pp. 237-38.
[28]
For an interpretation of the text and some background
on King Udayi, see Robert A.F. Thurman,
"Nagarjuna's Guidelines for Buddhist Social Action," in The
Path of Compassion: Writings on Socially Engaged
Buddhism (Fred Eppsteiner, ed. 1988); Robert
A.F. Thurman, "Social and Cultural
Rights in Buddhism," in Human Rights and the World's
Religions (Leroy S. Rouner, ed. 1988), p. 148.
A brief overview of the Satavahana Dynasty can be found
in Rama Shankar Tripathi, History of Ancient
India (1942), pp.191-201; Etienne Lamotte, History of Indian
Buddhism: From the Origins to the Saka Era (Sara
Webb Boin and Jean Dantinne, trans. 1988),
pp. 474-81.
[29]
The Precious Garland and the Song of the Four Mindfulnessess,
pp. 66-67.
[30]
Asoka Rock and Pillar Edicts, the translation by Ven. S. Dhammika, Kandy,
Sri Lanka; Buddhist Publication Society, 1993. See http://www.thenagain.info/Classes/Sources/Asoka.html
[31]
Travels of Fah-Hian and Sung Yun, Buddhist Pilgrims from
China to India (400 A.D. and 518 A.D.), pp. 188-89.
[32]
A Record of Buddhist Kingdoms: Being an Account
by the Chinese Monk Fa-Hieh of His Travels in India and Ceylon, p.
43.
[33]
Hye Ch'o, The Hye Ch'o Diary: Memoir of the Pilgrimage to the
Five Regions of India (Yang Han-Sung et al, trans.
and ed. 1980) pp. 40-41. Also see, Damien P. Horigan, A Buddhist Perspective
on the Death Penalty of Compassion and Capital Punishment, The American
Journal of Jurisprudence, Volume 41(1996), p. 271-288
[34]
Như trên
[35]
Damien P. Horigan, A Buddhist Perspective on the Death Penalty of Compassion
and Capital Punishment, The American Journal of Jurisprudence, Volume 41
(1996), p. 286.
[36]
Franz Michael, Rule by Incarnation: Tibetan Buddhism and Its Role
in Society and State (1982), pp. 70, 109. For a
glimpse of the traditional Tibetan criminal justice system,
see Rebecca Redwood French, The Golden Yoke: The Legal
Cosmology of Buddhist Tibet (1995), pp. 315-25.
(Người
gửi bài: Nguyên Tâm ngày 1-11-06)
Trở
Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp