64
Trong
buổi ra mắt sách Lịch Sử Thiền Học tại TP. Little Saigon
miền Nam California, Thượng Toạ Tiến sĩ Thích Nguyên Tâm đã
cho biết nội dung sách đặt một số vấn đề về vai trò
của Lục Tổ Thiền, và nói đến các ngụy kinh được dùng
trong Thiền tông thời kỳ đầu. Thầy nói: "sách nói Kinh Lăng
Nghiêm là ngụy kinh, thể hiện tư tưởng bá quyền Trung Quốc
thời xưa. Xin hỏi ban biên tập thế nào là nguỵ kinh và có
phải Kinh Lăng Nghiêm là kinh giả không?
TRẢ
LỜI:
"Các
học giả Tây phương quan niệm hệ thống giáo lý Phật
giáo từ các bản Pali, Sanskrit là kinh “gốc” và kinh
sau thời đức Phật là kinh phát triển để dễ dàng cho việc
trích dẫn trong công tác so sách, nghiên cứu…đó là công
việc bắt buộc cho những ai khi bước vào con đường học
vấn. Đối với ngôn ngữ của Anh hay Mỹ thì thường dùng
từ “Apocrypha” để chỉ cho các văn bản không
phải là bản gốc, nên chúng ta phải hiểu là: kinh
sau thời đức Phật, kinh phát triển, hay Tân kinh…chứ
(họ) không hề áp đặt nghĩa xấu...Rất tiếc khi được
chuyển tải qua tiếng Việt tác giả các tự điển Anh-Việt
diễn thành chữ kinh ngụy tạo, hay kinh ngụy tác,
mang tính chất xấu...
Chúng
ta hãy nghe tiếp Thầy Thích Lệ Thọ, tiến sĩ Phật
học hiện là giảng sư tại Phật Học Viện Phật Giáo
Việt Nam TP. HCM nói về vấn đề này như sau:
"...Giả
sử, các học giả Tây phương có dụng ý đi chăng nữa, thì
các Học giả Phật giáo và các Giảng sư cũng phải lưu tâm
sửa chữa lại nhưng khiếm khuyết của các học giả Tây
phương chứ không nên vị nể họ có nhiều văn bằng và tầm
ảnh hưởng của họ quá “nặng ký” trong lĩnh vực nghiên
cứu, mà phải nói theo họ. Trong khi các Học giả phật giáo,
các giảng sư cũng là người nghiên cứu lĩnh vực hệ thống
giáo lý của chính mình, như thế chúng ta mới là người có
đủ thẩm quyền hơn các học giả Tây phương chứ, vì chúng
ta không những là nhà nghiên cứu mà còn là các Hành giả
đang tu tập từ 10, 20 năm trở lên thì lẽ nào chúng ta lại
không tường tận hơn các học giả Tây phương!
Chúng
ta thử đặt lại vấn đề, hiện nay các học giả Tây phương
và trong giới Phật giáo đều căn cứ theo theo hai ngôn ngữ
cổ của Ấn Độ Pali và Sanskrit làm “gốc”
để có cơ sở nghiên cứu và giảng dạy cho Phật tử. Nhưng
trong tương lai biết đâu các nhà khảo cổ lại phát hiện
ra một văn bản Magadha cổ hơn thì lúc đó chúng ta lại
phán
những bản kinh được viết bằng Pali và Sanskrit là kinh điển
trước
tác hoặc kinh điển ngụy tạo
hay sao? ..."
...Cho
nên, đây chỉ là sự ngộ nhận và hạn chế giữa ngôn
ngữ với ngôn ngữ mà thôi, chứ không thể phủ nhận hệ
thống kinh điển Đại Thừa là ngụy tạo. "
...Vả
lại, những gì được “kiết tập” và phát triển giáo
lý cho phù hợp với ngôn ngữ của xã hội đương thời là
do các vị Thánh đệ tử bậc A-la-hán làm nên. Chắc chắn
Trí tuệ của các Ngài hơn hẳn chúng ta đến hàng ngàn tỷ
lần, nên chúng ta không thể đem “trí tuệ” của chúng ta
đánh
đồng với các Ngài và chạy theo các học giả Tây phương
mà cho các bản kinh Đại Thừa là “kinh ngụy tạo”!
Kinh điển thuộc về lý tưởng, tùy bệnh mà cho thuốc
thì làm sao chúng ta có thể đo lường bằng khảo cổ, lịch
sử, ngôn ngữ học…"
http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-kinhdiennguytao.htm
Riêng
về Kinh Lăng Nghiêm, chúng ta hãy nghe Hoà Thượng Tuyên Hoá
nói như sau:
Kinh
Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng?
"Ðại
sư Hám Sơn từng nói hai câu như sau: "Chẳng đọc Pháp Hoa
thì chẳng hiểu khổ tâm cứu đời của Như Lai; chẳng đọc
Lăng Nghiêm thì không nắm được then chốt về mê hay ngộ
của tu tâm". Ðích xác là như vậy, bởi Kinh Lăng Nghiêm
bao gồm hết thảy các pháp, nhiếp thọ hết mọi căn cơ,
là pháp môn tinh tủy của các đời, là ấn chứng chính đề
thành Phật và làm Tổ. Vì lẽ đó, người tu thiền bắt buộc
phải nghiên cứu kỹ lưỡng bộ Kinh này, và hiểu thấu cảnh
giới "năm mươi loại ấm ma" đặng tránh khỏi
sa vào vòng của Ma vương. Nếu không vậy, không có sự nhận
thức cho rõ ràng, thì bạ cảnh giới nào gặp phải cũng sanh
tâm chấp trước, hành giả sẽ dễ nhập vào ma cảnh, thành
kẻ quyến thuộc của ma vương. Ðó là một điều cực kỳ
nguy hiểm!
Chẳng
riêng Chú Lăng Nghiêm phải thuộc lòng, mà Kinh Lăng Nghiêm
thiền giả cũng phải thuộc nữa. Người ta nói "thuộc
sẽ nẩy cái hay", thời cơ tới sẽ có nhiều lợi ích,
sẽ có sự cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Hễ người nào
nghiên cứu văn học Trung quốc, tất phải đọc Kinh Lăng Nghiêm,
văn từ thì ưu mỹ, nghĩa lý phong phú, tóm lại là một bộ
Kinh lý tưởng.
Có
một số tự cho mình là học giả có hạng, chưa hề nghiên
cứu sâu rộng về Ðạo Phật, đã tự nhận mình là chuyên
gia Phật học, tự nhận mình có đủ uy tín mà sự thực không
hiểu Phật giáo cho đến ngành ngọn, khinh xuất cho rằng Kinh
Lăng Nghiêm là một kinh ngụy tạo. Từ đó lại có một
số, có dụng ý khác, ùa theo phụ họa. Ðúng là kẻ mù dắt
kẻ mù, thật đáng thương xót!
Tại
sao người ta bảo Kinh Lăng Nghiêm chẳng phải do đức Phật
Thích Ca thuyết giảng? Chẳng qua vì nghĩa lý trong bộ Kinh
rất ư chân thật. Kinh đã nêu ra cho kỳ hết các căn bệnh
của thế gian, bởi đó mà các loài yêu ma quỷ quái, các loài
quỷ trâu, quỷ rắn, không còn cách nào hoành hành, phải hiện
rõ nguyên hình của chúng. Từ đó chúng tìm mọi cách để
phá, chúng phải tuyên truyền Kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy,
thì chúng mới có cơ để sinh tồn. Nếu như thừa nhận đây
là lời Phật thuyết pháp thì đối với chúng là không xong.
Trước hết chúng không giữ được "Lời dạy về bốn
loại thanh tịnh", thứ hai chúng không tu tập được
các "Pháp viên thông của hai mươi lăm bậc thánh",
thứ ba chúng không dám đối diện với các cảnh giới của
"Năm chục loại ấm ma".
Nếu
như ai ai cũng đọc Kinh Lăng Nghiêm, cũng hiểu rõ Kinh Lăng
Nghiêm, thần thông của hàng ngoại đạo sẽ hết linh ứng,
thành ra vô dụng khiến cho không ai còn tin vào thần thông
của họ nữa. Ðó là lý do bọn thiên ma ngoại đạo chỉ
còn tìm cách dèm pha, tuyên truyền, bảo Kinh Lăng Nghiêm là
kinh ngụy.
Chẳng
cứ chỉ những người tại gia phỉ báng Lăng Nghiêm là Kinh
giả, ngay cả những kẻ xuất gia cũng bắt chước nói theo.
Tại sao vậy? Bởi vì có một số xuất gia ít học, có khi
không thông chữ nghĩa, không xem được Kinh điển, trong khi
đó văn Kinh Lăng Nghiêm lại thâm thúy, ý nghĩa huyền diệu,
khiến họ không hiểu được nên không làm sao phân biệt được
chân giả. Ðến khi nghe người ta bảo Kinh này là giả,
Kinh kia là ngụy, thì họ đâu có suy xét gì, người ta nói
sao thì nhắc lại y hệt. Tự nhiên Kinh Lăng Nghiêm bị
lãnh tiếng oan là vì lẽ đó.
Lúc
xưa tại Ấn Ðộ, Kinh Lăng Nghiêm được liệt vào hàng quốc
bảo và có lệnh cấm không cho mang những thứ quý ra ngoại
quốc. Những ai xuất cảnh đều bị khám xét gắt gao và,
để phòng Kinh lọt ra ngoài, các nhân viên hải quan thường
đặc biệt chú ý đối với các Tăng xuất cảnh.
Hồi
đó tại Ấn độ - bên Trung quốc lúc đó là đời Ðường
- một vị cao tăng pháp danh là Ban Thích Mật Ðế (Paramiti)
đã khổ công tìm mọi cách để mang Kinh Lăng Nghiêm qua Trung
quốc. Sợ bị phát hiện tại trạm kiểm soát, ông phải nghĩ
ra cách giấu giếm, nhét Kinh vào sâu trong cánh tay và sau cùng
ông đã đổ lên bộ tại địa phận Quảng Châu. Lúc đó
là thời gian Tể tướng Phòng Dung bị Võ Tắc Thiên giáng
chức xuống làm Thái Thú Quảng Châu. Ban Thích Mật Ðế được
Phòng Dung mời tới để phiên dịch bộ Kinh này và chính Phòng
Dung là người nhuận sắc cho bản dịch. Bởi vậy Kinh Lăng
Nghiêm biến thành một tác phẩm văn học có giá trị, rồi
sau đó trình lên cho Võ Tắc Thiên. Thời bấy giờ đương
có tin đồn Kinh Ðại Vân là kinh ngụy tạo nên Hoàng Ðế
Võ Tắc Thiên không cho Kinh này được lưu hành.
Ðến
khi Thiền sư Thần Tú được phong làm Quốc sư rồi được
cúng dường ở trong hoàng cung, một hôm Thiền sư thấy được
bộ Kinh này, thấy Kinh rất có lợi cho những hành giả tu
thiền, mới cho Kinh này được phổ biến. Từ đó Kinh Lăng
Nghiêm mới được lưu hành ở Trung quốc. Căn cứ theo truyền
thuyết, Kinh Lăng Nghiêm là Kinh tối hậu truyền đến Trung
quốc, nhưng cũng là Kinh bị hủy diệt đầu tiên vào thời
Mạt Pháp, sau mới đến các Kinh khác, sau rốt còn lại một
Kinh A-Di Ðà.
Ghi
chú: Thượng nhân Tuyên công chủ trương dứt
khoát rằng Kinh Lăng Nghiệm chính là tâm ấn của chư Phật,
điều này ngàn vạn lần đích xác.
Bởi vậy ngay sau khi đặt chân tới Mỹ, Tuyên công liền giảng
Kinh Lăng Nghiêm. Tại sao vậy? Phật Pháp truyền bá tới đất
Mỹ, thì Mạt Pháp sẽ biến thành Chánh Pháp, và đó là tâm
cơ của Thượng nhân trong sứ mạng nối tiếp huệ mạng Phật.
Bài "Lăng Nghiêm Kinh Thiển Giảng" sẽ được đưa đăng từng
kỳ trong tạp chí Vạn Phật Thành Kim Cương Bồ Ðề Hải,
bằng tiếng Hoa và tiếng Anh. Nay xin thông báo cùng quý bạn
độc giả. (http://www.dharmasite.net/vekinhvachuTLN.htm#5)
http://www.thuvienhoasen.org/vekinhvachuTLN.htm
Tiếp
theo đây chúng tôi mời quý vị xem Thầy Giác Hoàng trả
lời cho một Phật tử về vấn đề này. Nguyên văn như
sau:
Vấn
đề Kinh điển ngụy tạo
Nam-mô
Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật!
Con
có câu hỏi về nguồn gốc của một số Kinh như Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, bộ ba Kinh
A Di-Di-Đà, Kinh Dược Sư và Kinh Địa Tạng.
Quý Hoà Thượng như HT. Nhất Hạnh, HT. Thanh Từ khi giảng
về các Kinh này thường mở đầu đại khái như: “Kinh
này xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ sáu, v.v…” có
ý nói Kinh được soạn ra nhiều thế kỷ sau khi Đức Phật
nhập diệt. Thầy Nhật Từ trong bài mở đầu quyển Kinh Nhật
Tụng, cũng viết đại khái: “Các Kinh như Kinh Địa Tạng
có tính chất van xin ân huệ, không hợp với tinh thần giác
ngộ giải thoát của Phật giáo…” Thầy Chơn Quang ở
trong nước thì không kiêng nể gì, tuyên bố “Kinh A-Di-Đà
và Kinh Địa Tạng đều là những Kinh ngụy tạo.” (Trong
khi đó Phật tử đều biết được nguồn gốc của Kinh Pháp
Bảo Đàn, Kinh Thuỷ Sám và Lương Hoàng Sám). Thái độ úp
mở hoặc ý kiến riêng của chư vị Tăng Ni làm cho Phật tử
hoang mang một cách vô ích. Con xin quý Thầy giảng về việc
này.
Kính:
Pháp Tịnh.
******
Xin
chào Phật tử Pháp Tịnh,
Xét
về phương diện lịch sử, các Kinh mà Phật tử vừa đề
cập trên quả là ra đời rất muộn. Vẫn biết rằng tất
cả Kinh điển là do các bậc đại đệ tử của Đức Phật
nhớ và biên tập lại, nhưng dựa vào ngôn ngữ và nội dung
của các Kinh đó, các nhà nghiên cứu Phật học uyên bác,
đặc biệt là chư Tăng Ni cũng như các giới nghiên cứu,
học giả đều thừa nhận có những bộ kinh ra đời hơi muộn
hoặc rất muộn và tư tưởng có đôi phần không tương
hợp với tinh thần Phật giáo thuở ban đầu. Theo như Thầy
hiểu, các bộ Kinh ra đời sau được những vị có chức
năng truyền bá giáo pháp thời ấy phương tiện, quyền biến
trước tác, rồi ghi là Kinh do đức Phật thuyết.
Dưới
ánh sáng của những nhà nghiên cứu có phương pháp, dựa vào
văn bản học hoặc khảo cổ học, chúng ta không thể phủ
nhận giá trị công trình khám phá của họ. Mặc dầu các
công trình khám phá đó chưa hẳn là có lợi đối với những
người có niềm tin mãnh liệt đối với Kinh điển lâu nay
mà các vị ấy đã thọ trì. Quý Thầy đã từng gặp các
Phật tử đâm hoảng khi nghe các Thầy trình bày sự thật
này. Nhiều vị còn cố chấp cho rằng, không lấy gì làm bằng
chứng để chúng ta tin rằng Kinh nào do Phật
thuyết hay không? Nếu đã như vậy thì chúng ta nên áp dụng
bài Kinh đức Phật dạy cho dân chúng Kàlàma trong Tăng Chi
Bộ (Tập I, Phẩm Lớn, 65, ĐTKVN, tr.338) thì hay hơn hết.
Theo tinh thần bài Kinh này thì đức Phật cho phép quý Phật
tử trắc nghiệm lại lời của quý Thầy, vì lời dạy cao
quý của đức Phật mà đức Phật còn cho phép chúng ta nghi
ngờ huống gì là lời của quý Thầy! Điều quan trọng là
đến với giáo pháp có học hỏi được điều tốt hay
không và vận dụng như thế nào cho hành trình vạn
dặm của mình.
Như
Phật tử đã đề cập một đoạn trong Phụ Lục III: Về
Một Bộ Kinh Thánh Phật Giáo trong Kinh Tụng Hằng Ngày (Kinh
Nhật Tụng) do Thầy Nhật Từ biên soạn và tái bản
năm 2002, trong phần Đối với tuyển tập Kinh thánh Đại thừa,
có đoạn viết “Không nên giới thiệu các Kinh Dược Sư,
Địa Tạng và các kinh thần chú, vì tính chất van xin và cầu
nguyện trong các Kinh này đã đi ngược lại với tinh thần
lời dạy nguyên thủy của đức Phật.” Như Phật tử thấy,
thực trạng của Phật giáo hiện nay, nhiều Phật tử chỉ
đi chùa cầu nguyện và làm các khoá lễ cầu siêu, khi có
thân nhân mất liền thỉnh quý Thầy, Phật tử hoặc thầy
cúng tụng mười bộ hoặc vài chục bộ Địa Tạng để gọi
là “cầu siêu” cho người quá vãng. Theo tinh thần Phật
Pháp mà nói, nếu một người còn sống không lo tu hành, giả
như biết đọc tụng tôn kinh, nhưng không tu hành thì
khi chết dù có tụng nhiều biến kinh đi nữa cũng không hiệu
quả. Đạo Phật rất tôn trọng nhân quả. Đạo Phật không
chấp nhận sự ban phước của một bậc tối cao hoặc
thần linh nào.
Nói
như vậy, không có nghĩa là quý Thầy phản bác việc tụng
Kinh Địa Tạng, mà chỉ muốn nói rằng người Phật
tử không nên xem Kinh Địa Tạng hoặc Kinh Dược Sư như
là bùa hộ mạng, là chiếc phao cho người qua biển. Người
Phật tử cần nên thọ trì các bộ Kinh khác như Pháp Hoa,
Niết-bàn, Bảo Tích, Hoa Nghêm, Lăng Nghiêm, Kim Cang, v.v…cũng
như các bộ Kinh điển hệ Nam truyền để từ đó hiểu được
Phật Pháp sâu rộng hơn, vận dụng giáo lý vào đời sống
thực tiễn hơn.
Ngày
nay Phật tử các chùa đều biết đến bộ Kinh Địa
Tạng, Pháp Hoa, hoặc Dược Sư, chứ ít Phật tử biết được
các bộ Kinh Đại Thừa uyên áo khác như Lăng Nghiêm, Kim Cang,
v.v... Điều này lỗi là do các Thầy trụ trì hoặc các vị
pháp sư hướng dẫn. Rất nhiều vị còn tin rằng tụng Kinh
như Dược Sư, Địa Tạng mới có thể cầu siêu cho cha mẹ
hoặc thân nhân, còn tụng các bộ Kinh khác chỉ khiến cho
bản thân bị nghiệp đổ, nóng nảy, v.v.. Lại nữa, Kinh Dược
Sư dường như là phương tiện để tạo mối liên hệ giữa
đức Phật Dược Sư với người bệnh, nên khi có người
bệnh thì đem Kinh Dược Sư ra trì tụng cùng với các nghi
thức như đốt 49 ngọn đèn để cầu nguyện, thì quả rõ
ràng là không hợp với tinh thần “hãy tự thắp đuốc lên
mà đi” của Phật giáo. Các Kinh đó làm cho một số người
chưa hiểu biết nhiều về đạo Phật, họ phải thốt lên
sao đạo Phật giống thần quyền quá vậy? Người nào biết
lịch sử các tôn giáo khác thì nói Phật giáo sao mà giống
các tôn giáo thời bán khai quá vậy? Các ông thần chi phối
con người nhiều quá? Rồi họ hỏi đạo Phật có phải
là đạo đa thần giáo không? Nói như vậy không phải là
quý Thầy đồng ý việc bác bỏ hết mọi khía cạnh tích
cực khác của Kinh như dạy về đạo hiếu thảo của người
làm con, đạo lý nhân quả,v.v…trong các bài Kinh đó, mà chỉ
muốn nói lên rằng người có chức năng truyền bá chánh pháp
cần phải giới thiệu các Kinh khác để Phật tử đọc có
thể hiểu và tu đúng như lời Phật dạy.
Ngẫm
nghĩ lại, thời Phật còn tại thế, Ngài không bảo chư Tăng
tụng đám hoặc bảo chư Phật tử đem Kinh ra để cầu
siêu cho người quá cố như chúng ta ngày nay. Chư Tỳ-kheo
chỉ tụng đọc lại lời Phật dạy để nhớ mà tu tập là
chủ yếu, chứ không có tụng Kinh để cầu nguyện cho vong
hồn ai cả. Nói như vậy không có nghĩa là quý Thầy bác bỏ
tụng kinh, niệm Phật hoặc các thời khoá của chùa, mà chỉ
muốn thưa rằng tụng Kinh không nhất thiết phải tụng một
bộ Kinh nào, vì Kinh nào nếu chuyển tải được diệu lý
của lời Phật dạy đều đáng được trì tụng. Do đó, đọc
càng nhiều bộ Kinh khác nhau để thấy được bao quát lời
dạy của Phật, chúng ta ít mắc kẹt vào các pháp. Xin
giới thiệu đến quý Phật tử bài Ý Nghĩa của Tụng Kinh
trong cuốn Kinh Tụng Hằng Ngày do Thầy Nhật Từ biên soạn.
Còn
vấn đề khác cũng khá quan trọng mà vấn đề Phật tử đã
đưa ra, đó là khái niệm “Kinh điển nguỵ tạo”
(Apocrypha). Khái niệm này được các học giả phương Tây
sử dụng rộng rãi trong sách cũng như trong từ điển. Không
phải một mình Thầy Chơn Quang dùng khái niệm này để chỉ
cho các Kinh ra đời rất muộn. Điều này người viết cũng
đã trình bày một hai lần trong các bài viết cho một số
Phật tử khác. Có lẽ khái niệm “ngụy tạo” này
nên được thay đổi cũng nên, vì từ “ngụy tạo” (apocryphal)
làm cho người ta có cảm tưởng một điều gì đó lường
gạt, giả dối, không tốt, nhưng thực chất nội dung của
các Kinh đó nhằm đáp ứng cho một nền văn hoá
nào đó mà thời Phật vấn đề đó chưa được đặt
ra. Theo cách nghĩ của bản thân người viết, chúng ta
có thể tạm sử dụng một từ khác thay cho từ nguỵ tạo,
đó là từ “Kinh văn hoá” hoặc là “Kinh bản địa
Trung Hoa”, hoặc chúng ta có thể sử dụng từ “sáng
tạo” thay cho từ “nguỵ tạo”, vì các từ này
nhã hơn và ít gây cho người đọc cảm tưởng một điều
gì gian xảo, dối trá trong Kinh điển !
Cho
nên, nếu chư tôn đức Tăng Ni nào sử dụng khái niệm “nguỵ
tạo” cho một số Kinh điển như Phật tử đã nêu, hoặc
một số Kinh khác, như Kinh Vu Lan Bồn, Kinh Phạm Võng thì chúng
ta cũng nên tạm chấp nhận, vì đó là một khái niệm cũ
được các học giả sử dụng nhiều lần thành quen.
Nhân tiện, xin giới thiệu đến quý Phật tử nào biết
tiếng Anh tìm đọc cuốn: Chinese Buddhist Apocrypha (Các
Kinh Điển Phật Giáo Nguỵ Tạo ở Trung Hoa). Đây là một
tuyển tập gồm 9 bài viết và dịch của nhiều học giả
có uy tín, cộng với lời giới thiệu của người biên tập
Robert E. Buswell, Jr, được nhà xuất bản Sri Satguru
Publication tại Delhi ấn hành.
Như
Phật tử đã trình bày, “thái độ úp mở hoặc
ý kiến riêng của chư vị Tăng Ni làm cho Phật tử hoang mang
một cách vô ích.” Thật ra, có những vấn đề đôi
lúc buộc phải đáp ứng tính khế lý hơn tính khế cơ,
buộc người trả lời không có con đường chọn lựa thứ
hai. Ví dụ, một số Kinh điển Đại Thừa hoặc một số
Kinh điển thuộc Thượng Toạ Bộ, nếu có ai hỏi Kinh đó
ra đời lúc nào, có phải do chính Đức Phật tuyên thuyết
hay không ? Bản thân Thầy đôi lúc không thể áp dụng phương
pháp trả lời rất dứt khoát, nhưng thiếu linh động
“Yes hay No” (Có hay không) của một số người (người Mỹ
thường có thói quen này), mà chỉ áp dụng tinh thần của
Á Đông hơn, nghĩa là cần thì có một câu trả
lời thoả đáng và đưa ra một đáp án cụ thể, minh bạch,
có thể chứng minh một cách đàng hoàng, ngược lại thì cũng
trả lời như thế nào đó cho phù hợp với tính khế cơ hơn
là khế lý.
Như
quý Phật tử thấy, khi đề cập đến Kinh điển thuộc một
tông phái hoặc niềm tin của một pháp môn là đụng đến
bao triệu con tim, điều đó không còn là vấn đề cá nhân
nữa. Quý Thầy rất ý thức được việc này, nhưng thỉnh
thoảng phải thực hành hạnh “trực ngôn là đạo tràng”
trong Kinh Duy Ma, đành phải như thế.
Chúc
Phật tử thân tâm thường an lạc và vững niềm tin đối
với chánh pháp, nỗ lực tu tập để mình và người được
nhiều hạnh phúc, an vui.
(http://www.buddhismtoday.com/viet/hopthu/kinhnguytao.htm)
Trở
Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp