57Tôi
đọc kinh thấy có đề cập đến Biên Kiến và Sở tri chướng
, tôi có tra tự điển và một số tài liệu nhưng hiểu chưa
rõ vậy, xin giải thích cho tôi biết rõ về hai từ nầy?.
TRẢ
LỜI
1/
- Biên kiến là một trong năm ác kiến, gồm có: Thân kiến,
Biên kiến, Tà kiến, giới cấm thủ kiến, Kiến thủ kiến
.
Theo
như đạo hữu hỏi trong thư, chúng tôi xin trích đoạn
"Những Mộng Đàm về Phật Giáo Thiền Tông" của Quốc sư
Mộng Sơn do Huỳnh Kim Quang dịch, (Viện Triết Lý Việt Nam
và Triết Học Thế Giới ấn hành) nhằm nói rõ biên kiến
như
sau:
"Người
chưa giác ngộ nghĩ rằng những niềm tin mà họ tưởng là
thật, chính là căn nguyên, do đó, một khi họ đặt niềm
tin vào bất cứ giáo nghĩa của trường phái nào, họ đều
bác bỏ tất cả các trường phái khác. Một khi họ đặt
niềm tin vào một người nào đó như là bậc đạo sư của
họ, họ nghĩ rằng giáo nghĩa của mọi người khác đều
là thấp kém, và ngay cả từ chối nghe bất cứ điều gì
khác.
Những
người như vậy là những kẻ khờ dại nhất trong những người
khờ dại .
Cũng
có người ôm giữ mãi do dự và không quyết đoán, bởi vì
những giáo nghĩa của nhiều trường phái và các vị đạo
sư khác biệt nhau .
Thức
ăn có nhiều mùi vị; cái nào có thể được xác định như
là tinh chất? Như thể chất của con người khác nhau, vị
giác của họ cũng vậy . Một số người thì thích ngọt bùi;
một số người khác thì ưa thức ăn cay . Nếu các ngài nói
rằng mùi vị mà các ngài thích là mùi vị tinh chất và phần
còn lại là vô dụng, các ngài chính thật là kẻ khờ dại
.
Như
thế, theo giáo lý đạo Phật thì: bởi vì các ý thú tự nhiên
của con người khác biệt nhau, có thể là, một giáo nghĩa
đặc biệt nào đó, là giá trị đặc thù đối với một
cá nhân nào đó được ban cho, nhưng nó trở thành sai lầm
nếu người ta chấp chặt lấy nó như là điều duy nhất và
chân lý duy nhất, để loại bỏ tất cả những giáo nghĩa
khác ..."... (Trang 152)
Trong
Kinh Tăng Chi (Anguttara Nikaya) có một kinh gọi là Kinh
Kamala. Đức Phật có nói với một Bà La Môn khi
đến hỏi Phật :"Đừng tin tưởng một điều gì vì phong
văn . Đừng tin tưởng điều gì vì nó là tập quán lưu truyền.
Đừng tin tưởng điều gì vì được nhiều người nói đi
nhắc lại . Đừng tin tưởng điều gì vì là bút tích của
thánh nhân. Đừng tin tưởng những thói quen đã có từ lâu
khiến ta cho là đúng. Đừng tin tưởng một điều gì do ta
tưởng tượng nhưng lại nghĩ rằng do một vị thần linh đã
khai thị cho ta . Đừng tin tưởng bất cứ một điều gì do
các thầy có uy tín dạy . Chỉ tin tưởng cái gì mà chính
các người đã từng trải, kinh nghiệm và nhận là đúng,
đồng thời có lợi cho mình và kẻ khác. Chỉ có điều đó
mới làm cho con người và cuộc đời được thăng hoa . "
2/
Sở
Tri Chướng: Sở Tri Crướng (chỗ biết là chướng
ngại), cũng còn gọi là Trí Chướng (Trí khôn là chướng
ngại: Sự chấp nệ chỗ biết, chỗ chứng của mình ngăn
bít cái Tánh Trí Huệ ....) là tất cả những điều hiểu
biết do tâm ý thức, dù được cho là đúng, hoặc sai, đều
thuộc phạm vi nhị biên , tương đối, không phải là bổn
tâm thanh tịnh bất nhị, nếu còn giữ lại một mảy may tri
kiến nào thì đều là còn có sở trụ, tâm còn bị vướng
mắc, chưa giải thoát. Trong kinh Kim Cang ,đức Phật dạy :"...Pháp
còn phải xả bỏ, huống là phi pháp", là nghĩa này vậỵ
Hòa
thượng Thích Hành Trụ giảng rằng:
- "Sở
tri chướng" cũng gọi là Trí chướng, bởi ngu si mê ám, không
hiểu thấu được sự tướng và thực tánh của các pháp,
nên bảo là Trí chướng. Cái chướng này do bệnh "Pháp chấp"
sanh ra ...(A
Di Ðà Sớ Sao, trang 246)
Hòa
thượng Thích Duy Lực giảng rằng:
- "Sở
tri chướng" : Tri kiến do bộ óc nhận thức được đều làm
chướng ngại sự kiến tánh . (Danh
Từ Thiền Học Chú Giải, trang 43)
Chúng
tôi thiết nghĩ , chúng ta đang sống trong thế giới tương
đối, có quy luật, có đúng, có sai, chúng ta cần có "sở
tri" để biết đúng mà làm, biết sai mà tránh. Chỉ khi nào
chúng ta giác ngộ lại bản thể chân tâm tuyệt đối (chư
Tổ dùng chữ "tạm nói" để chỉ cái chuyện "tuyệt đối"
này, vì có nói ra được là có "năng, sở" có đối đãi,
làm sao mà mô tả "tuyệt đối", chư Tổ gọi tình trạng này
là"gãi ngứa qua giầy"), thì lúc đó chúng ta đã" tuyệt kiến
văn", đã bừng tỉnh khỏi cơn mê mụ của "kiến, văn, giác,
tri" này, lúc đó chắc chắn chúng ta hết sở tri chướng,
đạo hữu ạ.
Tất
cả chúng ta đều đang sống trong đời sống tương đối,
đều đang ôm trong tâm đủ loại sở tri, chướng nhiều hay
ít thì tùy người, không ai không bị sở tri chướng ngại
đâu, chỉ có khác nhau ở sự chấp trước, người chấp chặt
vào điều mình biết (sở tri) quá, thì bị cái "sở tri" nó
"chướng" ngại nhiều . Buông xả bớt, thì cuộc đời nhẹ
nhàng, trong đạo, ngoài đời đều nhẹ bớt mà thôi, đạo
hữu ạ .
Chư
Tổ nói rằng còn để trong tâm một chữ "tri", là còn cái
cửa tai họa, không giải thoát , vì còn bị "sở tri" chướng
ngại . Cho nên thôi thì đạo hữu và tôi, chúng ta cứ buông
xả bớt cái " sở tri" nào có thể buông xả được, cho nó
nhẹ bớt được tí nào hay tí ấy, gọi là " kiến dọn lâu
cũng sạch tổ", hy vọng sở tri chướng sẽ giảm dần, cho
đến khi nào tu hành tinh tấn đến bừng tỉnh khỏi cơn mê,
sẽ chấm dứt sở tri chướng. Và ngay cả chấp vào Sở Tri
cũng là chuyện phải xảy ra, chỉ khi nào chấp "chặt" thì
mới trở thành Chướng
Vậy
làm cách nào để bỏ được thói quen chấp "chặt"?
Có
hai vấn đề đặt ra :
1-
Về
tu hành, nếu muốn giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi,
mà trong tâm còn lại một niệm "biết" (tri), thì theo chư Tổ
Thiền Tông, cũng còn là cửa tai họa, còn là " sở tri chướng",
còn lưu lạc, luân hồi trong đời sống nhị biên, tương đối
.
2-
Về
đời sống hàng ngày, tương đối, thì đã gọi là "tương
đối", mọi người cư xử với nhau tuỳ theo " vọng tâm sinh
diệt nhị biên", có người thiện tâm, có người ác tâm,
người muốn chuyển hóa dòng nghiệp lực, hoặc vâng lời
dậy dỗ của gia đình, trường học, tôn giáo, thì "tu tâm",
tự mình cải hóa dần, từ tâm ác chuyển thành tâm thiện,
đó là đời sống tương đối, đời sống đầy ắp sở tri,
đạo hữu ạ .Vấn đề tình yêu khác tôn giáo cũng như khác
chính kiến, khác giai cấp, là những vấn đề muôn thuở .
Nên để đương sự tuỳ theo tâm họ mà giải quyết vấn
đề. Niềm tin chính của chúng ta, những người theo đạo
Phật, là tin sâu nhân quả . Nếu hai người yêu nhau quá, không
thể bỏ nhau, là họ đã có nhân duyên với nhau từ những
kiếp trước.Nếu họ dùng tâm từ bi và tình yêu để xử
với nhau, họ sẽ không làm cho nhau đau khổ đâu . Cổ nhân
có cái thí dụ rằng mỗi người đều có hai tay . Nhưng khi
đứng cạnh nhau, mỗi người phải tự đưa một tay về phía
sau, thì đứng cạnh nhau mới thoải mái . Người Việt Nam
chúng ta có từ ngữ " tế nhị" nếu mọi người đều hành
xử tế nhị thì cuộc đời sẽ bớt nhiều đau khổ, đạo
hữu ạ .Sống chung, mọi người đều phải nhường nhịn
bớt, thì mọi sự sẽ trở nên tương đối ổn định, đời
sống tương đối mà .
Trên
đây là những lý thuyết, nhưng nếu ai đem lý thuyết ứng
dụng được vào đời sống hàng ngày thì người ấy sẽ
tránh được nhiều phiền não và có được hạnh phúc. Có
một câu nói của một tác giả nào đó mà chúng tôi không
nhớ rõ tên. Tác giả viết rằng: "Nếu đời cho ta một trái
chanh, thì ta pha thêm nước và thêm một ít đường vào rồi
hãy uống cho đỡ chua". Đúng như vậy, nếu chúng ta muốn
bớt chấp trước, thì chúng ta nghe theo những lời khuyên này
. Còn nếu chúng ta cứ nhất định phải " ăn quả chanh nguyên
chất", thì cũng đành tùy duyên vậy .
(Ban
Biên Tập TVHS)
Trở
Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp