THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Phật Học Cơ Bản
Phật Học Phổ Thông
Phật Học
Tâm Lý Học Phật Giáo
Triết Học Tánh Không

 
Trở Về Trang Mục Lục
Phật Học Vấn Đáp
.
40Tôi là một giảng viên trường Luật, năm nay đã hơn 35 tuổi đời nhưng chưa lập gia đình. Thời gian qua cảm nhận giáo lý Đức Phật sâu sắc, có sức chuyển hóa cuộc đời mình nhanh chóng nên muốn dấn thân theo giáo lý giác ngộ này một cách  trọn vẹn. Ngoại duyên may mắn không có nhiều vướng bận, chỉ còn lo ngại việc xuất gia trễ nãi như vậy có phải gặp nhiều khó khăn lắm không? Tôi muốn chuẩn bị tư tưởng trước khi xuất gia như thế nào cho khỏi bỡ ngỡ.
 

TRẢ LỜI: Xuất gia là một con đường lớn vì nó là chặng đường dài với tất cả mọi nỗ lực không ngừng nghỉ để chiến thắng chính mình, mang lại hạnh phúc cho tự thân và người khác. Một chặng đường dài với rất nhiều thử thách mà đòi hỏi người đi phải có một lý tưởng khá vững chãi thì mới có thể tiến tới đích được. Nếu bạn đã xác định được giá trị lợi ích của việc xuất gia và bạn đã quyết định dấn thân vào con đường đó thì còn chần chờ gì nữa, hãy thong thả bước vào cuộc. Vâng, đó là một cuộc hành trình ra đi và phải chiến thắng mà không thể thất bại hay dừng lại. Nếu dừng lại giữa đường mà có bạn đồng hành yểm trợ thì may mắn cho bạn, bằng không bạn sẽ dễ dàng mất định hướng rồi sa lầy khi năng lượng Bồ đề tâm không còn nữa. Còn nếu thất bại thì coi như bạn phải chấp nhận trọn kiếp này vay món nợ trường cửu đối với đàn na thí chủ và phải đợi kiếp sau mới có thể hoàn trả nổi. Lỡ thất bại mà có sức quay lại thì ít ra bạn đã không làm tử thi hoen ố biển Phật pháp, còn hy vọng tích lũy chút phước hữu lậu trong đời sống tại gia; nhưng nếu đã thất bại đối với sự nghiệp trí tuệ, hư hạnh thanh tịnh mà vẫn đắp đổi ngày tháng trong chốn thiền môn, nhận lãnh cơm áo của đàn na tín thí, hòa lẫn vào tập thể Tăng thanh tịnh để "mượn danh đạo tạo danh đời” thì tội báo sâu dày quả thật không lường hết được.

Chúng tôi không có ý làm bạn thối tâm. Đó là kinh nghiệm cần cảnh báo trước cho bạn. Ngày xưa, lúc từ biệt đi xuất gia mẹ tôi đã dặn dò kỹ: “Đã quyết định đi tu thì nhất định phải đi cho trọn, chứ còn mang thân về đây hoàn tục thì mẹ sẽ không bao giờ chấp nhận, việc đó xấu hổ hơn con gái có chửa hoang". Lời nhắc nhở đó là nguồn trợ lực lớn cho tâm Bồ đề thêm kiên cố để vượt qua cuộc hành trình đầy phong ba bão táp của tôi sau này. Bạn cũng nên tâm niệm như vậy để mình cảm thấy con đường đã chọn thật rõ ràng, không có gì là mơ hồ cả. Nó là con đường đem đến sự giải thoát và giác ngộ thực sự nhưng cũng đầy dẫy chông gai ghềnh thác. Bạn lý tưởng vấn đề xuất gia qua kinh sách là một việc khác, còn cạo tóc vào chùa là một việc khác. Bạn đừng quá thần tượng bất kỳ một vị thầy nào hay ngôi chùa nào bởi vì họ luôn không hoàn hảo. Họ chưa phải là thánh nhân hay bậc giác ngộ nhưng ít ra họ là những người tu tập lâu dài, có sức chuyển hóa và trị liệu cao, có nhiều kinh nghiệm để dẫn dắt bạn đi không sai lạc đường tiến tới mục đích giải thoát. Bạn phải chấp nhận ở họ vài khuyết điểm vì đó là thứ phiền não lâu đời mà họ chưa đủ sức công phá. Bạn phải hằng nghĩ rằng dù mình có thật nhiều kiến thức ngoài đời lẫn trong đạo nhưng khi xuất gia cầu học hạnh giải thoát thì mình phải là một học trò, một đệ tử, một người vừa mới sinh ra trong biển Phật pháp nên không được dị ứng với những động tác thô kệch thiếu thánh thiện của những người chung quanh, phải giữ tinh thần khiêm hạ và cầu học với vị thầy xuất gia cho mình. Vị thầy đó gọi là thầy bổn sư, thầy đầu tiên nâng đỡ mình từ chốn phàm tục bước vào lộ trình giải thoát, cho nên bạn phải “nâng khăn sửa túi” theo sát vị thầy này để tiến thân.

Xuất gia ở tuổi bạn cũng chưa có gì trễ nãi lắm, bởi vẫn có nhiều vị trung niên đã có vợ con vẫn xuất gia và thành công rực rỡ trong công cuộc tìm đến chân lý giác ngộ. Xuất gia lúc ấu niên có lợi thế là tâm hồn còn trong trắng, chưa hoen nhiễm mùi  tục lụy, chưa có nhiều ràng buộc tình cảm. Song cũng khó khẳng định người như thế sẽ đi hết con đường vì giai đoạn thành niên, tức “giao thời” rất khó kềm chế dục vọng, cứ ngoái cổ ra nhìn thế tục đầy màu sắc với lòng thắc mắc bâng quơ. Hoặc khi tiếp cận với ngũ dục lạc thì họ dễ sinh tâm tham đắm bởi trước đây chưa từng có ý niệm nhàm chán xa lìa thật sự. Ngược lại, người từng trải thì cương quyết hơn trong vấn đề này, danh lợi tài sắc có thể đã quá mệt mỏi đối với họ. Họ đủ kinh nghiệm để kiểm thúc mình khi phải đối diện với ma lực quyến rũ. Song ở những người đó lại rất vất vả khi bước vào thiền định. Tâm thức họ huân nhiễm thế tình nhiều quá, trong tàng thức đầy dẫy những hạt giống phân biệt hơn thua, yêu ghét, tốt xấu... Phải tốn rất nhiều công sức và phải luôn luôn tinh tiến công phu mới gạn lọc hết những cặn bã nằm trong ký ức, sau đó mới có thể chứa những pháp thiện hay pháp môn tu. Một trở ngại nữa, như bạn là người từng có danh vị trong xã hội, bạn từng là một giảng viên trong trường đại học, bạn từng là người được mọi người kính nể và chưa từng có ai khiển trách bao giờ, những ưu thế đó có thể gây bất lợi cho bạn khi vào đạo. Bạn có thể trở thành một người đứng sau những chú sa di nhỏ xíu, phải học hỏi với những sư huynh đáng tuổi em cháu mình, phải cúi đầu xá chào hay đảnh lễ dưới chân vị thầy trẻ ngang mình hoặc có kiến thức thế gian kém hơn mình rất nhiều. Bỏ hết những gì bạn đã gầy dựng suốt thời gian qua để bắt đầu với con đường giải thoát là một vấn đề hết sức khó đấy. Vì sao? Đức Phật đã từng cảnh báo người thông minh tài trí, ý thức phân biệt quá nhạy bén, vẫn chưa phân định giữa kiến thức khoa học vào giáo lý siêu diệu của Phật Đà thì sẽ gặp trở ngại khi muốn đào luyện tâm linh xa hơn; nhất là đối với tư tưởng Đại thừa họ dễ dàng lấy chỗ hiểu biết của mình để phủ nhận hay nghi ngờ.
Ban Tư Vấn TC. Giác Ngộ

Xem Thêm: 

Bài Giảng của Hoà Thượng Tịnh Không:

Người phát tâm xuất gia nói chung cũng đã giác ngộ chút ít rồi.  Giác ngộ việc gì?  Giác ngộ việc sanh tử luân hồi rất đáng sợ, lập chí muốn liễu sanh tử xuất tam giới ngay trong đời này, đây là như người xưa nói: ‘Thiệt vì sanh tử mà xuất gia’.  Một người có giác ngộ như thế sẽ có thái độ chẳng giống như người thường, khi đối xử với người, với sự, với vật, họ sẽ chẳng tranh danh đoạt lợi, sẽ chẳng ganh ghét chống đối.  Tại sao vậy?  Họ biết đó là nghiệp nhân luân hồi.  Hết lòng muốn liễu sanh tử, xuất tam giới chẳng phải là làm không được, nếu ‘chắc thật niệm Phật’ thì sẽ làm được, chúng ta phản tỉnh tự hỏi mình có ‘chắc thật’ hay không? 

Chân chánh xuất gia phải nói đến nguyện vọng hoằng pháp lợi sanh, việc này sẽ bị chướng ngại hay chăng?  Chướng ngại rất nhiều.  Huynh đệ đại chúng ở chung trong một đạo tràng, nếu bạn là người muốn xuất sắc hơn kẻ khác, người ta sẽ đố kỵ, gây chướng ngại để dìm bạn xuống.  Mức độ nghiêm trọng của sự đố kỵ, chướng ngại này đã bắt đầu từ thời đức Phật Thích Ca, nhóm sáu tỳ kheo kết bè kết đảng [1] (Lục Quần Tỳ Kheo) là thí dụ cho sự đố kỵ chướng ngại này.  Trong ‘Lục Tổ Ðàn Kinh’ [có nói] Lục Tổ Huệ Năng đại sư phải trà trộn trong nhóm thợ săn hết mười lăm năm, tại sao vậy?  Vì để tránh sự đố kỵ chướng ngại của những kẻ khác.  Họ chẳng thể thành tựu nên cũng không muốn ngài được thành tựu. 

Tại sao người xuất gia còn những tâm niệm như vậy?  Ðây là con cháu của Ma Ba Tuần.  Lúc Phật còn tại thế không phải trong kinh đã ghi lại rõ ràng hay sao: ‘Trong thời Mạt pháp, Ma Vương Ba Tuần kêu ma con, ma cháu đều xuất gia, đắp ca sa lên mình để phá hoại Phật pháp’, chắc họ là những người này.  Nếu chúng ta có tâm niệm rằng: ‘Người khác giỏi hơn mình, họ làm sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, mình ganh ghét họ, mình phải kiếm cách phá đám, cản trở họ’.  Vậy thì mình đã là con cháu của Ma Vương, chuyên làm việc phá hoại Phật pháp.  Nếu có người chân chánh phát tâm làm việc hoằng pháp lợi sanh, chúng ta sanh tâm hoan hỷ, dốc toàn tâm toàn lực để giúp đỡ họ, lo lắng cho họ, như vậy mới thực sự là Phật tử.  Thế nên ngày nay chúng ta đã xuất gia, rốt cuộc chúng ta là con cháu của Ma hay là con cháu của Phật?  Tự mình phản tỉnh, kiểm điểm thì sẽ biết liền.  Con cháu của Ma Vương xuất gia quả báo tương lai nhất định sẽ ở trong ba đường ác, vì họ gây chướng ngại cho đạo pháp chứ chẳng hoằng pháp gì hết. 

Thế nên chân chánh phát tâm hoằng pháp lợi sanh thì nhất định phải có thiện xảo phương tiện, đó tức là lúc tự mình dụng công, tư thế phải đặt ở những chỗ thấp nhất, tốt nhất là dụng công đừng để cho người khác biết.  Ở những chỗ người ta không thấy thì mình dụng công; những chỗ người ta có thể thấy thì mình hòa đồng với đại chúng, hòa mình với mọi người, hằng thuận chúng sanh tùy hỷ công đức.  Ở những chỗ người ta không thấy thì tự mình nỗ lực gắng sức.  Buông bỏ hết thảy danh văn lợi dưỡng, tham - sân - si - mạn, đố kỵ chướng ngại.  Buông bỏ những thứ này tức là buông bỏ lục đạo luân hồi, một lòng một dạ niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, khuyên người niệm Phật, đây là con đường vãng sanh thành Phật. 

Hôm nay nhìn người này chẳng ưa, ngày mai thấy người nọ chướng mắt, chúng ta phải biết như vậy là tạo nghiệp luân hồi.  Hết thảy những gì trên thế gian đều tùy hỷ, tự mình làm tròn bổn phận của mình, như vậy mới đúng, ngay cả Khổng lão phu tử cũng dạy tông chỉ này – ‘phải làm tròn bổn phận của mình’.  Bổn phận tu học của chúng ta là y theo kinh Vô Lượng Thọ, tu tập Thanh Tịnh, Bình Ðẳng, Chánh Giác, Từ Bi; trong đời sống hằng ngày phải thực hiện được Nhìn Thấu, Buông Xuống, Tự Tại, Tùy Duyên.  Thiện Ðạo đại sư dạy: ‘Hết thảy phải làm từ tâm chân thật’, như vậy mới đúng. 

Chương Gia đại sư dạy tôi, ở đây tôi cũng biếu tặng lại cho quý vị: ‘Người học Phật cả đời này bất cứ việc gì đều giao cho Phật, Bồ Tát, thần hộ pháp an bài’.  Bản thân mình không cần lo lắng gì cả, được như vậy thì tâm mới thanh tịnh, bình đẳng.  Gặp cảnh thuận là do Phật, Bồ Tát an bài; gặp cảnh nghịch thì cũng do Phật, Bồ Tát an bài.  Do vậy trong cảnh thuận chẳng sanh tâm ưa thích, trong cảnh nghịch cũng chẳng sanh phiền não.  Hết thảy đều do Phật, Bồ Tát xếp đặt một cách ổn thỏa nhất, dùng công việc để luyện tâm, thành tựu đạo nghiệp, vậy thì đâu có chuyện oán trời trách người. 

[1] Lục Quần Tỳ Kheo: Chữ Phạn là sad-vargīka-bhiksu, chỉ sáu tỳ kheo ác tâm kết bè kết đảng vào thời Phật còn tại thế; họ chẳng giữ giới luật và làm nhiều chuyện ác, đức Phật chế giới luật phần nhiều cũng vì sáu người này.  Tên của họ ghi trong các bộ luật chẳng giống nhau, thí dụ như Tứ Phần Luật quyển 22 ghi sáu tỳ kheo gồm: Nan Ðà (Nanda), Uất Nan Ðà (Upananda), Ca Lưu Ðà Di (Kalodayin), Chan Ðà (Chanda), A Thuyết Ca (Asvaka, hay còn gọi là Mã Túc, Mã Sư), Phất Na Bạt (Punarvasu, dịch là Mãn Túc).  (Lược trích từ Phật Quang Sơn Từ Ðiển) 

http://www.thuvienhoasen.org/thkh-hocvinhansu.htm
 

Trở Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap

Xx