40Tôi
là một giảng viên trường Luật, năm nay đã hơn 35 tuổi
đời nhưng chưa lập gia đình. Thời gian qua cảm nhận giáo
lý Đức Phật sâu sắc, có sức chuyển hóa cuộc đời mình
nhanh chóng nên muốn dấn thân theo giáo lý giác ngộ này một
cách trọn vẹn. Ngoại duyên may mắn không có nhiều vướng
bận, chỉ còn lo ngại việc xuất gia trễ nãi như vậy có
phải gặp nhiều khó khăn lắm không? Tôi muốn chuẩn bị
tư tưởng trước khi xuất gia như thế nào cho khỏi bỡ ngỡ.
TRẢ
LỜI: Xuất gia là một con đường lớn vì nó là chặng
đường dài với tất cả mọi nỗ lực không ngừng nghỉ
để chiến thắng chính mình, mang lại hạnh phúc cho tự thân
và người khác. Một chặng đường dài với rất nhiều thử
thách mà đòi hỏi người đi phải có một lý tưởng khá
vững chãi thì mới có thể tiến tới đích được. Nếu bạn
đã xác định được giá trị lợi ích của việc xuất gia
và bạn đã quyết định dấn thân vào con đường đó thì
còn chần chờ gì nữa, hãy thong thả bước vào cuộc. Vâng,
đó là một cuộc hành trình ra đi và phải chiến thắng mà
không thể thất bại hay dừng lại. Nếu dừng lại giữa đường
mà có bạn đồng hành yểm trợ thì may mắn cho bạn, bằng
không bạn sẽ dễ dàng mất định hướng rồi sa lầy khi
năng lượng Bồ đề tâm không còn nữa. Còn nếu thất bại
thì coi như bạn phải chấp nhận trọn kiếp này vay món nợ
trường cửu đối với đàn na thí chủ và phải đợi kiếp
sau mới có thể hoàn trả nổi. Lỡ thất bại mà có sức
quay lại thì ít ra bạn đã không làm tử thi hoen ố biển
Phật pháp, còn hy vọng tích lũy chút phước hữu lậu trong
đời sống tại gia; nhưng nếu đã thất bại đối với sự
nghiệp trí tuệ, hư hạnh thanh tịnh mà vẫn đắp đổi ngày
tháng trong chốn thiền môn, nhận lãnh cơm áo của đàn na
tín thí, hòa lẫn vào tập thể Tăng thanh tịnh để "mượn
danh đạo tạo danh đời” thì tội báo sâu dày quả thật
không lường hết được.
Chúng
tôi không có ý làm bạn thối tâm. Đó là kinh nghiệm cần
cảnh báo trước cho bạn. Ngày xưa, lúc từ biệt đi xuất
gia mẹ tôi đã dặn dò kỹ: “Đã quyết định đi tu
thì nhất định phải đi cho trọn, chứ còn mang thân về đây
hoàn tục thì mẹ sẽ không bao giờ chấp nhận, việc đó
xấu hổ hơn con gái có chửa hoang". Lời nhắc nhở
đó là nguồn trợ lực lớn cho tâm Bồ đề thêm kiên cố
để vượt qua cuộc hành trình đầy phong ba bão táp của tôi
sau này. Bạn cũng nên tâm niệm như vậy để mình cảm thấy
con đường đã chọn thật rõ ràng, không có gì là mơ hồ
cả. Nó là con đường đem đến sự giải thoát và giác ngộ
thực sự nhưng cũng đầy dẫy chông gai ghềnh thác. Bạn lý
tưởng vấn đề xuất gia qua kinh sách là một việc khác,
còn cạo tóc vào chùa là một việc khác. Bạn đừng quá
thần tượng bất kỳ một vị thầy nào hay ngôi chùa nào
bởi vì họ luôn không hoàn hảo. Họ chưa phải là thánh
nhân hay bậc giác ngộ nhưng ít ra họ là những người tu
tập lâu dài, có sức chuyển hóa và trị liệu cao, có nhiều
kinh nghiệm để dẫn dắt bạn đi không sai lạc đường tiến
tới mục đích giải thoát. Bạn phải chấp nhận ở họ vài
khuyết điểm vì đó là thứ phiền não lâu đời mà họ chưa
đủ sức công phá. Bạn phải hằng nghĩ rằng dù mình có
thật nhiều kiến thức ngoài đời lẫn trong đạo nhưng khi
xuất gia cầu học hạnh giải thoát thì mình phải là một
học trò, một đệ tử, một người vừa mới sinh ra trong
biển Phật pháp nên không được dị ứng với những động
tác thô kệch thiếu thánh thiện của những người chung quanh,
phải giữ tinh thần khiêm hạ và cầu học với vị thầy
xuất gia cho mình. Vị thầy đó gọi là thầy bổn sư, thầy
đầu tiên nâng đỡ mình từ chốn phàm tục bước vào lộ
trình giải thoát, cho nên bạn phải “nâng khăn sửa túi”
theo sát vị thầy này để tiến thân.
Xuất
gia ở tuổi bạn cũng chưa có gì trễ nãi lắm, bởi vẫn
có nhiều vị trung niên đã có vợ con vẫn xuất gia và thành
công rực rỡ trong công cuộc tìm đến chân lý giác ngộ.
Xuất gia lúc ấu niên có lợi thế là tâm hồn còn trong trắng,
chưa hoen nhiễm mùi tục lụy, chưa có nhiều ràng buộc
tình cảm. Song cũng khó khẳng định người như thế sẽ đi
hết con đường vì giai đoạn thành niên, tức “giao thời”
rất
khó kềm chế dục vọng, cứ ngoái cổ ra nhìn thế tục đầy
màu sắc với lòng thắc mắc bâng quơ. Hoặc khi tiếp cận
với ngũ dục lạc thì họ dễ sinh tâm tham đắm bởi trước
đây chưa từng có ý niệm nhàm chán xa lìa thật sự. Ngược
lại, người từng trải thì cương quyết hơn trong vấn đề
này, danh lợi tài sắc có thể đã quá mệt mỏi đối với
họ. Họ đủ kinh nghiệm để kiểm thúc mình khi phải đối
diện với ma lực quyến rũ. Song ở những người đó lại
rất vất vả khi bước vào thiền định. Tâm thức họ huân
nhiễm thế tình nhiều quá, trong tàng thức đầy dẫy những
hạt giống phân biệt hơn thua, yêu ghét, tốt xấu... Phải
tốn rất nhiều công sức và phải luôn luôn tinh tiến công
phu mới gạn lọc hết những cặn bã nằm trong ký ức, sau
đó mới có thể chứa những pháp thiện hay pháp môn tu. Một
trở ngại nữa, như bạn là người từng có danh vị trong
xã hội, bạn từng là một giảng viên trong trường đại
học, bạn từng là người được mọi người kính nể và
chưa từng có ai khiển trách bao giờ, những ưu thế đó có
thể gây bất lợi cho bạn khi vào đạo. Bạn có thể trở
thành một người đứng sau những chú sa di nhỏ xíu, phải
học hỏi với những sư huynh đáng tuổi em cháu mình, phải
cúi đầu xá chào hay đảnh lễ dưới chân vị thầy trẻ
ngang mình hoặc có kiến thức thế gian kém hơn mình rất nhiều.
Bỏ hết những gì bạn đã gầy dựng suốt thời gian qua để
bắt đầu với con đường giải thoát là một vấn đề hết
sức khó đấy. Vì sao? Đức Phật đã từng cảnh báo người
thông minh tài trí, ý thức phân biệt quá nhạy bén, vẫn chưa
phân định giữa kiến thức khoa học vào giáo lý siêu diệu
của Phật Đà thì sẽ gặp trở ngại khi muốn đào luyện
tâm linh xa hơn; nhất là đối với tư tưởng Đại thừa họ
dễ dàng lấy chỗ hiểu biết của mình để phủ nhận hay
nghi ngờ.
Ban
Tư Vấn TC. Giác Ngộ
Xem
Thêm:
Bài
Giảng của Hoà Thượng Tịnh Không:
Người
phát tâm xuất gia nói chung cũng đã giác ngộ chút ít rồi.
Giác ngộ việc gì? Giác ngộ việc sanh tử luân hồi
rất đáng sợ, lập chí muốn liễu sanh tử xuất tam giới
ngay trong đời này, đây là như người xưa nói: ‘Thiệt vì
sanh tử mà xuất gia’. Một người có giác ngộ như
thế sẽ có thái độ chẳng giống như người thường, khi
đối xử với người, với sự, với vật, họ sẽ chẳng
tranh danh đoạt lợi, sẽ chẳng ganh ghét chống đối.
Tại sao vậy? Họ biết đó là nghiệp nhân luân hồi.
Hết lòng muốn liễu sanh tử, xuất tam giới chẳng phải là
làm không được, nếu ‘chắc thật niệm Phật’ thì sẽ
làm được, chúng ta phản tỉnh tự hỏi mình có ‘chắc thật’
hay không?
Chân
chánh xuất gia phải nói đến nguyện vọng hoằng pháp lợi
sanh, việc này sẽ bị chướng ngại hay chăng? Chướng
ngại rất nhiều. Huynh đệ đại chúng ở chung trong một
đạo tràng, nếu bạn là người muốn xuất sắc hơn kẻ khác,
người ta sẽ đố kỵ, gây chướng ngại để dìm bạn xuống.
Mức độ nghiêm trọng của sự đố kỵ, chướng ngại này
đã bắt đầu từ thời đức Phật Thích Ca, nhóm sáu tỳ
kheo kết bè kết đảng [1] (Lục Quần Tỳ Kheo) là thí dụ
cho sự đố kỵ chướng ngại này. Trong ‘Lục Tổ Ðàn
Kinh’ [có nói] Lục Tổ Huệ Năng đại sư phải trà trộn
trong nhóm thợ săn hết mười lăm năm, tại sao vậy?
Vì để tránh sự đố kỵ chướng ngại của những kẻ khác.
Họ chẳng thể thành tựu nên cũng không muốn ngài được
thành tựu.
Tại
sao người xuất gia còn những tâm niệm như vậy? Ðây
là con cháu của Ma Ba Tuần. Lúc Phật còn tại thế không
phải trong kinh đã ghi lại rõ ràng hay sao: ‘Trong thời Mạt
pháp, Ma Vương Ba Tuần kêu ma con, ma cháu đều xuất gia, đắp
ca sa lên mình để phá hoại Phật pháp’, chắc họ là những
người này. Nếu chúng ta có tâm niệm rằng: ‘Người
khác giỏi hơn mình, họ làm sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh,
mình ganh ghét họ, mình phải kiếm cách phá đám, cản trở
họ’. Vậy thì mình đã là con cháu của Ma Vương, chuyên
làm việc phá hoại Phật pháp. Nếu có người chân chánh
phát tâm làm việc hoằng pháp lợi sanh, chúng ta sanh tâm hoan
hỷ, dốc toàn tâm toàn lực để giúp đỡ họ, lo lắng cho
họ, như vậy mới thực sự là Phật tử. Thế nên ngày
nay chúng ta đã xuất gia, rốt cuộc chúng ta là con cháu của
Ma hay là con cháu của Phật? Tự mình phản tỉnh, kiểm
điểm thì sẽ biết liền. Con cháu của Ma Vương xuất
gia quả báo tương lai nhất định sẽ ở trong ba đường ác,
vì họ gây chướng ngại cho đạo pháp chứ chẳng hoằng pháp
gì hết.
Thế
nên chân chánh phát tâm hoằng pháp lợi sanh thì nhất định
phải có thiện xảo phương tiện, đó tức là lúc tự mình
dụng công, tư thế phải đặt ở những chỗ thấp nhất,
tốt nhất là dụng công đừng để cho người khác biết.
Ở những chỗ người ta không thấy thì mình dụng công; những
chỗ người ta có thể thấy thì mình hòa đồng với đại
chúng, hòa mình với mọi người, hằng thuận chúng sanh tùy
hỷ công đức. Ở những chỗ người ta không thấy thì
tự mình nỗ lực gắng sức. Buông bỏ hết thảy danh
văn lợi dưỡng, tham - sân - si - mạn, đố kỵ chướng ngại.
Buông bỏ những thứ này tức là buông bỏ lục đạo luân
hồi, một lòng một dạ niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, khuyên
người niệm Phật, đây là con đường vãng sanh thành Phật.
Hôm
nay nhìn người này chẳng ưa, ngày mai thấy người nọ chướng
mắt, chúng ta phải biết như vậy là tạo nghiệp luân hồi.
Hết thảy những gì trên thế gian đều tùy hỷ, tự mình
làm tròn bổn phận của mình, như vậy mới đúng, ngay cả
Khổng lão phu tử cũng dạy tông chỉ này – ‘phải làm tròn
bổn phận của mình’. Bổn phận tu học của chúng ta
là y theo kinh Vô Lượng Thọ, tu tập Thanh Tịnh, Bình Ðẳng,
Chánh Giác, Từ Bi; trong đời sống hằng ngày phải thực hiện
được Nhìn Thấu, Buông Xuống, Tự Tại, Tùy Duyên. Thiện
Ðạo đại sư dạy: ‘Hết thảy phải làm từ tâm chân thật’,
như vậy mới đúng.
Chương
Gia đại sư dạy tôi, ở đây tôi cũng biếu tặng lại cho
quý vị: ‘Người học Phật cả đời này bất cứ việc
gì đều giao cho Phật, Bồ Tát, thần hộ pháp an bài’.
Bản thân mình không cần lo lắng gì cả, được như vậy
thì tâm mới thanh tịnh, bình đẳng. Gặp cảnh thuận
là do Phật, Bồ Tát an bài; gặp cảnh nghịch thì cũng do Phật,
Bồ Tát an bài. Do vậy trong cảnh thuận chẳng sanh tâm
ưa thích, trong cảnh nghịch cũng chẳng sanh phiền não.
Hết thảy đều do Phật, Bồ Tát xếp đặt một cách ổn
thỏa nhất, dùng công việc để luyện tâm, thành tựu đạo
nghiệp, vậy thì đâu có chuyện oán trời trách người.
[1]
Lục Quần Tỳ Kheo: Chữ Phạn là sad-vargīka-bhiksu, chỉ sáu
tỳ kheo ác tâm kết bè kết đảng vào thời Phật còn tại
thế; họ chẳng giữ giới luật và làm nhiều chuyện ác,
đức Phật chế giới luật phần nhiều cũng vì sáu người
này. Tên của họ ghi trong các bộ luật chẳng giống
nhau, thí dụ như Tứ Phần Luật quyển 22 ghi sáu tỳ kheo gồm:
Nan Ðà (Nanda), Uất Nan Ðà (Upananda), Ca Lưu Ðà Di (Kalodayin),
Chan Ðà (Chanda), A Thuyết Ca (Asvaka, hay còn gọi là Mã Túc,
Mã Sư), Phất Na Bạt (Punarvasu, dịch là Mãn Túc). (Lược
trích từ Phật Quang Sơn Từ Ðiển)
http://www.thuvienhoasen.org/thkh-hocvinhansu.htm
Trở
Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp