Ngày
xưa khi Phật thị hiện tại thế gian, các tỳ kheo thường
dùng tiếng Ðại Ðức, bậc thầy đáng tôn kính, phước huệ
toàn mãn, để xưng hô với Ngài mỗi khi có việc cần thưa
thỉnh. Các vị đệ tử lớn của Phật cũng được gọi
là Ðại Ðức như Ðại Ðức Mục Kiền Liên, Ðại Ðức
A Nan v..v.. Khi đạo Phật được truyền sang Trung Hoa và Việt
Nam việc xưng hô với các vị Tỳ kheo xuất gia có phần phức
tạp hơn. Ngoài từ Ðại Ðức, còn có thêm từ Thượng
Tọa và Hòa Thượng. Ngày nay xuất hiện thêm danh xưng
Lão Hòa Thượng và Ðại Lão Hòa Thượng.
Thượng
Tọa là người xuất gia tu hành lớn tuổi có tác phong đạo
đức đáng được mọi người trong và ngoài đạo Phật kính
trọng. Theo Tứ Phần Luật, Tỳ kheo được phân chia làm
4 cấp theo tuổi hạ được tính, cứ mỗi năm ba tháng âm
lịch từ ngày trăng tròn tháng 4 đến ngày trăng tròn tháng
7, cùng nhau tu tập tại một nơi nào đó để an tâm tu học,
tinh chuyên giữ giới, sau ba tháng ấy, được kể là một
hạ. Hạ Tọa (0 đến 9 hạ), Trung Tọa (10 đến 19 hạ),
Thượng Tọa (20 đến 49 hạ) và Trưởng Lão (50 hạ trở lên).
Hòa
Thượng, tiếng Phạn là Upadhayaya, dịch nghĩa là sanh lực,
tức là vị tu hành lâu năm có đời sống phẩm hạnh thanh
tịnh và do đó khiến cho đạo lực của đệ tử được phát
sinh. Theo Tứ Phần Luật, Hòa Thượng là nhà sư
đỡ đầu cho Sa Di và Tỳ Kheo. Theo kinh Phạm Võng, Hòa
Thượng là một trong hai vị sư truyền giới trong hội đồng
truyền giới Tỳ kheo Bồ Tát: Hòa Thượng (thầy đỡ đầu)
và A Xà Lê (thầy giáo thọ). Ở Việt nam xưa kia, Hòa
Thượng được dùng để gọi một vị sư trụ trì một ngôi
chùa hoặc là do sự kính trọng những vị tu hành có tuổi
cao, có cốt cách đạo hạnh.
Ở
Việt Nam, trước năm 1963, danh xưng thường gọi những người
mới xuất gia, nếu nhỏ tuổi ở miền Bắc gọi là Chú Tiểu,
miền Trung gọi là Chú Ðiệu, miền Nam gọi là Ông Ðạo.
Những vị đã thọ Tỳ Kheo Giới từ 20 tuổi đến 60 tuổi
đời đều gọi là Thầy và nếu trên 60 tuổi đời gọi là
Sư Ông hay Sư Cụ ở miền Bắc và gọi là Ôn ở miền Trung.
Ngược lại các vị được gọi thì tự xưng mình là “bần
tăng” hay “bần ni” mà không tự xưng mình là Thầỵ
Ở miền Bắc còn có danh từ “sư bác” để gọi những
vị lớn tuổi mới xuất gia, đã thọ sa di thay vì gọi là
Thầy.
Theo
Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (trước
năm 1975) qui định thì nhửng Tăng sĩ đã thọ giới Tỳ Kheo
có tuổi đời từ 20 đến 40 tuổi là Ðại Ðức, từ 40 đến
60 tuổi đời là Thượng Tọa và từ 60 tuổi đời trở lên
là Hòa Thượng. Hòa Thượng là các vị có 60 tuổi đời
sắp lên, trong đó có 30 tuổi hạ, Tthượng toạ là những
vị có 50 tuổi đời, trong đó có 20 tuổi hạ. Hai chức vị
Thượng Tọa và Hòa Thượng phải qua một tiến trình đề
cử và suy tôn của một đại hội toàn quốc hay do giáo lệnh
của Ðức Tăng Thống phê chuẩn. Thông thường muốn
được đề cử Thượng Tọa các vị Ðại đức đã
thọ Tỳ Kheo giới, theo thầy hoặc tăng chúng an cư kết hạ
liên tục trong suốt 20 năm và muốn được đề cử chức
vị Hòa thượng phải là người đã thọ Tỳ Kheo giới và
có an cư kết hạ 30 năm trở lên. Những Tăng sĩ tuy đã
thọ Tỳ Kheo Giới nhưng không sống theo tăng đoàn tu học
mỗi năm 3 tháng vào mùa mưa, tức từ ngày trăng tròn tháng
4 âm lịch đến ngày trăng tròn tháng 7 âm lịch, nhằm tinh
chuyên giới hạnh thì không đủ điều kiện và tư cách để
thụ phong chức vị Thượng Tọa hay Hòa Thượng.
Theo
Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (sau năm 1975):
(1)
Được tấn phong Hoà thượng những Thượng toạ từ 60
tuổi đời, 40 tuổi đạo trở lên, có đạo hạnh, có
công đức với Đạo pháp và dân tộc, do Ban Trị sự Tỉnh
hội, Thành hội đề nghị lên Ban Thường trực Hội đồng
Trị sự để xét duyệt, đệ trình Thường trực Hội đồng
Chứng minh phê chuẩn, được Hội nghị Trung ương thông qua
hay Đại hội Phật giáo toàn quốc tấn phong với một Nghị
quyết và một giáo chỉ do Đức pháp chủ ban hành.(chương
3 điều 37)
(2)
Được tấn phong Thượng toạ những Tăng sĩ từ 45 tuổi
đời, 25 tuổi đạo trở lên có đạo hạnh, công đức
với đạo pháp và dân tộc do Ban Trị sự Tỉnh hội, Thành
hội đề nghị lên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo
hội xét duyệt đệ trình Thường trực Hội đồng Chứng
minh phê chuẩn và tấn phong tại Hội nghị Trung ương Giáo
hội và Đại hội Phật giáo toàn quốc, với một Nghị quyết
và một Giáo chỉ do Đức Pháp chủ ban hành.(chương 3 điều
38)
(3)
Cấp bậc Giáo phẩm của Ni giáo là Ni trưởng và Ni sư. Tiêu
chuẩn và điều kiện để tấn phong giáo phẩm của ni giới
như quy định của hàng Tăng giới ở Điều 37 và 38.
Đối
với người nữ xuất gia, sau khi lãnh thọ 10 giới sa di được
gọi là Sa Di ni hay Ni cô. Những nữ tu sĩ
Phật giáo khi đến tuổi 18, dù đã thọ giới sa di hay chưa
cũng phải thọ giới thức Xoa ma Na trong hai năm trước khi
được thọ giới tỳ kheo ni. Ngoài ra, những người trước
kia đã từng lập gia đình nay sống độc thân (vì thôi chồng
hay chồng chết), nếu muốn thọ giới thức Xoa ma na phải
đợi 10 năm sau ngày ly hôn hay ngày chồng chết mới được
thọ giới Thức Xoa Ma Na. Khi đã được thọ giới
Tỳ Kheo ni, nữ tu sĩ Phật Giáo được gọi là Tỳ Kheo
ni hay là Sư cô. Theo tổ chức Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam, chức vị Ni Sư ngang hàng với chức
vị Thượng toạ, là những vị Sư cô trên 45 tuổi đời,
đã thọ giới Tỳ kheo ni và có trên 25 tuổi đạo. Ngoài
ra, còn có chức vị Ni Trưởng ngang hàng với chức vị
Hoà thượng là các vị Ni sư có trên 60 tuổi đời và trên
40 tuổi đạo. Chúng tôi không thấy có danh xưng Hoà Thượng
Ni trong tổ chức Phật Giáo Việt Nam trước năm 1975 cũng như
sau năm 1975.
Các
chức vị Thượng Tọa, Ni sư, Ni Trưởng và Hòa Thượng hiện
nay tại Việt Nam phải qua một tiến trình đề cử của giáo
hội địa phương và các ban ngành chuyên môn liên hệ và được
giáo hội trung ương xét duyệt tấn phong.
Trong
đạo Phật, việc xưng hô không mang tính cách chức vị quyền
thế như các phẩm tước ngoài đời. Tăng đoàn xuất
gia tỳ kheo tự tôn trọng và kính nể nhau về tuổi đạo
chứ không phải tuổi đờị Người lớn tuổi hơn nhưng
thọ Tỳ kheo sau người nhỏ tuổi cũng phải kính trọng vị
nhỏ tuổi đời, xem như người đi trước, như bậc đàn anh
trong đạo.
Khi
giao tiếp với chư tăng ni, Phật tử tại gia, bao gồm cả
thân nhân của chư tăng ni, thường đơn giản gọi bằng Thầy,
hay Cô, và thường xưng là con (trong tinh thần Phật pháp,
người thọ ít giới bổn tôn kính người thọ nhiều giới
bổn hơn, chứ không phải tính theo tuổi tác người con theo
nghĩa thế gian) để tỏ lòng khiêm cung. Cũng có thể xưng
tên hay pháp danh của mình khi nói chuyện. Riêng với những
Phật tử tại gia cao tuổi có thể xưng tôi hay chúng tôi với
những vị tăng ni trẻ hơn mình. Sau khi qui y Tam bảo và thọ
5 giới, mỗi vị cư sĩ Phật Tử tại gia có một vị Thầy
(người đại diện Tam Bảo) truyền giới cho mình. Vị
ấy được gọi là Thầy Bổn sư. Cả gia đình có thể
cùng chung một vị Thầy Bổn sư, tất cả các thế hệ cùng
gọi vị ấy bằng Thầy. Theo giáo phái khất sĩ, nam tu
sĩ được gọi chung là Sư và nữ tu sĩ được gọi chung là
Ni. Còn Nam tông chỉ có Sư, không có hay chưa có Ni.
Khi
chư Tăng ni tiếp xúc với quí vị Phật tử tại gia, chư Tăng
ni thường xưng là tôi hay chúng tôi, hay xưng pháp danh, pháp
hiệu, hoặc bần tăng, bần ni; cũng có khi chư tăng ni xưng
là Thầy, hay Cô, và gọi Phật tử là đạo hữu, hay quí đạo
hữu, hay pháp danh, hay tên ngoài đời. Việc một vị
tăng hay ni trẻ tuổi xưng Thầy hay Cô gọi một Phật tử
tại gia nhiều tuổi bằng “con” thực là không thích đáng.
Không nên gọi như vậy. Theo truyền thống đông phương, tuổi
tác rất được kính trọng trong xã hội, dù tại gia hay xuất
gia.
Ðối
với Phật tử tại gia, khi xưng hô với các vị xuất gia,
chúng ta nên thận trọng, tuy giữ thái độ khiêm cung, nhưng
không hạ mình và đừng tạo cho mình và người đối tượng
một bức tường ngăn cách giữa hai tầng lớp: hàng tăng lữ
xuất gia và hàng tín đồ tại gia. Việc một số Phật
tử xưng hô với một vị Ni sư tại một ngôi chùa ni tại
quận Cam là “Hòa Thượng Ni” có thể là do sự cung kính
thái quá của họ đối với vị Ni sư đó nhưng cũng có thể
do sự thiếu hiểu biết về các danh xưng trong đạo Phật.
Ban
Biên Tập TVHS
Trở
Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp