11Trong
một dịp về thăm quê nhà gần đây, tôi thấy có một vị
Sư đứng khất thực tại trước cửa Đông chợ Bến Thành
và vào một dịp khác ghé thăm khu Little Saigon, miền Nam California,
tôi cũng thấy có một vị Sư áo vàng đứng khất thực trước
cổng sau thương xá Phước Lộc Thọ. Tôi không biết
đường lối khất thực của nhà Phật như thế nào?
Khất thực có phải là đi xin ăn hay đi xin tiền vì tôi thấy
có người bỏ tiền vào bình bát? Xin vui lòng giảng giải
cho tôi biết về pháp khất thực của nhà Phật như thế nào.
Thưa
quý thính giả,
Việc
đầu tiên của đức Phật sau khi giác ngộ là thành lập Tăng
đoàn gồm những đệ tử xuất gia theo Ngài, những hiền nhân
nay đây mai đó, những người từ bỏ tất cả để học Phật
pháp và hoằng dương giáo lý giải thoát. Họ sống bằng cách
đi khất thực từ nhà này đến nhà khác, và sở hữu của
họ không có gì ngoài ba chiếc áo và một cái bình bát. Danh
từ khất sĩ có từ đó. Khất Sĩ có nghĩa là khất
thực và khất pháp, tức là xin vật thực của người đời
để nuôi thân và xin Pháp của Phật để tu hành nuôi tâm.
Từ ban đầu, họ không phải là những nhà tu khổ hạnh tự
hành xác để sám hối và không xem lối sống đơn giản tự
nó là cứu cánh mà chỉ là phương tiện để giải thoát những
phiền toái hàng ngày hầu có thể tập trung toàn lực vào
công việc quan trọng duy nhất là đạt giác ngộ cho mình và
giúp ích cho người.
Khất
thực có nghĩa là xin ăn. Cách nuôi thân một cách chân
chính do Phật dạy cho những đệ tử xuất gia. Đó là
thực hành chính mạng thanh tịnh. Tưởng cũng nên nói
thêm ở đây là tu sĩ của một số tôn giáo khác ở xã hội
Ấn Ðộ thời đức Phật còn tại thế, thường dùng những
phương tiện không chính đáng để mưu sinh, bởi lẽ những
công việc ấy nhẹ nhàng, dễ làm, không khó nhọc như các
nghề coi bói toán, xem tinh tú, bùa chú, xem ngày xấu, giờ
tốt, xem phong thổ, địa lý, xây nhà, đào ao, v…v... Ðức
Phật nhận thấy đây là điều không thể chấp nhận và không
phải là việc làm của người tu sĩ Phật giáo, không phải
là hành chánh mệnh thanh tịnh.
Đi
khất thực còn gọi là đi bình bát hay trì bát.
Chữ Bát có nghĩa là đồ dùng để chứa đựng các thực
phẩm chỉ đủ vừa sức ăn cho một người. Bình bát là loại
bình được làm bằng đá, bằng sành, bằng đất sét nung
thật chín rồi tráng men bên trong cho khỏi rỉ nước, chứ
không
được làm bằng vàng bạc hay tất cả những kim khí quý,
... Nếu dùng bằng kim khí quý thì không đúng phẩm hạnh của
người xuất gia. Các vị đã phát tâm xuất gia tức là
tập hạnh xả bỏ tất cả, kể cả thân mạng nếu cần và
đúng với chánh pháp, nghĩa là xả phú cầu bần, xả thân
cầu đạo. Ở các nước theo Nam Tông Phật giáo, chư
Tăng đi khất thực nên thường dùng bình bát. Các nước
theo Bắc Tông Phật giáo thì không đi khất thực nên chỉ
dùng bình bát trong ba tháng an cư kiết hạ, có nơi còn
ba tháng kiết đông nữa; đồng thời, thỉnh thoảng có quý
thí chủ phát tâm cúng dường trai tăng thì cũng dùng bình
bát để cúng Phật trước khi thọ trai.
Chuyến
đi khất thực bao giờ cũng diễn ra vào buổi sáng và chấm
dứt trước giờ ngọ tức trước lúc mặt trời đứng bóng.
Các Tỳ-kheo đi một mình hay từng nhóm, không đứng trước
cửa chợ mà đi theo thứ tự, từ nhà này sang nhà khác, không
phân biệt, mắt nhìn xuống và yên lặng đứng đợi trước
mỗi cửa nhà để xem thức ăn có được đặt vào bình bát
không. Các thí chủ chỉ cúng dường những thức ăn đã được
nấu sẵn, không cúng dường các vật liệu chưa làm thành
món ăn, như cúng cơm chứ không cúng gạo, cúng món rau xào
chứ không cúng bó rau chưa nấu chín. Nếu chưa đủ dùng,
chư vị tiếp tục đi theo hàng dọc đến nhà bên cạnh nhưng
không
được quá bảy nhà. Chư vị không được phép bỏ
sót nhà nào, hoặc dành ưu tiên cho phố xá ở các thị trấn
phồn thịnh, các gia chủ giàu hay nghèo đều phải được
tạo cơ hội đồng đều để gieo trồng phước duyên, cũng
không muốn gây cảm tưởng là chư vị ham thích những khu
phố giàu có vì thức ăn ngon hơn.
Khất
thực xong, các vị trở về tịnh xá để ăn trước khi mặt
trời đứng bóng. Đây là bữa ăn duy nhất trong ngày.
Thông thường thức ăn được phân ra làm bốn phần: một
phần nhường lại cho các bạn đồng tu nếu thấy họ không
có hay có ít, một phần san sẻ cho người nghèo, một phần
dành cho loại chúng sinh không phải là người nhưng sống chung
với người và cuối cùng còn lại là phần mình dùng.
Khi thọ dụng thức ăn các vị Tỷ kheo xem như là việc uống
thuốc để duy trì sự sống mà tu hành, ngon không ham, dở
không bỏ. Thọ dụng cúng phẩm của người đời vừa khỏi
đói khát thì thôi, không được ham cầu cho nhiều, phá vỡ
thiện niệm của họ. Sau bữa ăn, các vị rửa bát, xếp gọn
các y, ngơi nghỉ trong chốc lát, liền lại đến một gốc
cây hay căn nhà trống, hay tịnh thất ngồi thiền định như
hành Tứ niệm xứ hay niệm hơi thở vào, hơi thở ra.
Hằng
năm, chư Tăng ni an cư vào ba tháng mùa mưa. Tất cả trở về
sống chung trong các tịnh xá lớn. Trong thời gian này, chư
Tăng không đi khất thực, đã có thiện nam, tín nữ, đến
tịnh xá "để bát" và lo tứ sự cúng dường. Cứ đến
ngày lễ Bố-tát vào ngày trăng tròn và ngày đầu trăng, chúng
Tỳ kheo cùng sống trong một vùng phải tập họp lại một
chỗ gọi là giới trường để tụng đọc Giới bổn Ba La
Đề Mộc Xoa. Chư Ni thì có đại diện đến xin lãnh giới
ở chư Tăng và trở về tịnh xá riêng của Ni để tụng đọc
Giới bổn Ni. Ngoài ba tháng an cư, chư Tăng được tung
ra khắp các phương hướng, đi đến các trú xứ khác nhau,
trong các quốc độ, vừa khất thực để độ nhật, vừa
thuyết pháp độ sinh, và vừa nỗ lực tinh cần tiếp tục
hành Thiền để đoạn trừ tham sân si.
Thưa
quý thính giả,
Pháp
Khất thực do Phật truyền cho các đệ tử xuất gia phù hợp
với nguyên lý Trung đạo, tức là tránh xa hai cực đoan:
Thứ nhất là tránh xa sự sung sướng thái quá qua việc ăn
thực phẩm do người đời cúng dường để vào trong bình
bát mà không dùng đũa ngọc, chén ngà, bàn cao, ghế đẹp
với thức ăn mỹ vị, và thứ hai là tránh xa sự khổ hạnh
thái quá qua chiếc bát đựng đồ ăn vừa đủ dùng, không
giống như phái tu khổ hạnh lượm trái cây, lượm đồ ăn
dư thừa mà ăn.
Theo
Kinh Phật, sự xin ăn của tu sĩ đem lại lợi ích cho mình
và cho chúng sinh:
Đối
với vị Tỳ kheo khất thực thì có năm điều lợi ích:
(1)
tâm trí được rảnh rang, ít phiền não,
(2)
không bận rộn tâm và thân để kiếm kế sinh nhai,
(3)
đoạn trừ tâm kiêu căng ngã mạn,
(4)
đoạn trừ lòng tham, không thể tham ăn ngon và ăn nhiều vì
ai cho gì ăn nấy, không thể chọn lựa, thức ăn chỉ đầy
bát chớ không nhiều hơn nữa, tránh khỏi sự thâu trữ vật
thực tiền của và
(5)
có nhiều thì giờ tu hành.
Ngoài
lợi ích cho riêng mình, vị Tỳ kheo khất thực còn mang lại
ba điều lợi ích cho chúng sinh như:
(1)
tạo cơ duyên cho người bố thí đoạn trừ lòng tham, tức
là tạo phước duyên cho họ,
(2)
tạo cơ duyên giáo hoá chúng sinh, và
(3)
Nêu gương sống giản dị làm cho người đời bớt tham đắm
của cải.
Theo
Kinh Phật, trước khi lên đường khất thực vị khất sĩ
nguyện rằng: “Nguyện cho các vị Khất gỉa thảy đều được
no đủ và nguyện cho các thí chủ thảy đều được phước
báu vô lượng. Như nay tôi được món ăn là dùng để
điều trị cái thân độc hại này, để tu tập thiện pháp,
lợi ích cho thí chủ.”
Trong
khi đi khất thực, vị khất sĩ giữ tâm bình đẳng:
theo thứ tự nhà của dân chúng mà xin ăn, không chỉ đến
xin nơi nhà giầu, cũng không chỉ xin nơi nhà nghèo. Có
lần đức Phật quở Tôn gỉa Ca Diếp bỏ nhà giầu mà xin
nhà nghèo, quở Tôn gỉa Tu Bồ Đề bỏ nhà nghèo mà xin nhà
giầu. Vì trước đó Tôn Giả Ca Diếp nghĩ rằng "người
nghèo thật đáng thương, ít phước, nếu không gieo trồng
phước lành cho họ thì đời sau lại càng khổ hơn, nên đến
đó xin để nhờ đó họ bố thí cúng dường mà được phước
về sau". Trái lại, Tôn giả Tu-Bồ-đề lại cho rằng:
"Người giàu, nếu đời nay không gieo trồng phước lành thì
đời sau lại nghèo khổ." Mỗi vị đều trình bày lý do của
mình, Đức Phật mới quở trách các vị ấy là bậc A-la-hán
có tâm phân biệt, không bình đẳng.
Khi
đi vị Khất sĩ không ngó qua ngó lại, không được mở
miệng nói chuyện, đi hết bảy nhà nếu không ai cúng dường
cũng phải trở về với bát không và không ăn ngày hôm đó.
Khi đi khất thực, vị khất sĩ cũng không được để ý xem
mình được cái gì, và cũng không được thỏa mãn cũng như
bất mãn. Nếu một người đàn bà cúng dường đồ ăn,
vị Khất sĩ không được nói, nhìn hay quan sát người
ấy đẹp hay xấu. Đồ ăn cúng dường cho Khất sĩ không
phải luôn luôn nhiều hay ngon lành, hay tinh khiết. Các
chuyến đi khất thực đôi lúc cũng có thể gây nên những
xáo trộn tình cảm cho các Tỳ-kheo trẻ vì đa số thí chủ
là đàn bà con gái. Do đó, việc tự điều phục thân tâm
phải được tăng cường là điều rất cần thiết trong lúc
khất thực, như đức Phật đã nhấn mạnh: “chỉ khi
nào thân tâm được điều phục, thực hành chánh niệm và
phòng hộ các căn thì mới đi vào làng khất thực".
Thưa
quý thính giả,
Ngày
nay, tại một số quốc gia theo truyền thống Phật giáo
Nam Tông như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào và
một phần của miền Nam Việt Nam chư Tăng vẫn tiếp tục
theo truyền thống khất thực này. Ở Trung Hoa, Triều
Tiên và Tây Tạng truyền thống khất thực dường như đã
hoàn toàn biến mất. Dưới Triều nhà Đường ở Trung
Hoa, một tông phái đặc biệt, Luật Tông, được thành lập
với mục đích làm sống lại truyền thống khất thực xưa,
và đem ra thực hành những giới luật nghiêm ngặt của Luật
Tạng. Dưới triều đại nhà Tống, các Thiền Sư thực
hành khất thực và sự thực hành này còn tồn tại nơi những
Thiền Sư Nhật Bản. Tuy nhiên ở Nhật Bản, khất thực
không phải là nguồn sinh sống chính mà chỉ là một sự tập
luyện kỷ luật cho những vị sơ tu hay là một cách lạc quyên
vào những dịp đặc biệt và cho những mục đích từ thiện.
Đối với Phật giáo phương Tây, vì hoàn cảnh xã hội không
giống như hoàn cảnh các quốc gia phương Đông, nên pháp Khất
thực khó thực hiện. Đa số các Tăng ni không đi khất
thực nên các nhu cầu ăn uống đều do các Phật tử tại
gia cúng dường.
Riêng
tại Việt Nam hình ảnh các vị tăng áo vàng đi khất thực
không còn nhiều nữa bởi nhiều lý do không hay cho lắm, trong
đó có những vị Sư giả đi khất thực! Thật là buồn khi
chính Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam phải ra thông tư giới
hạn nghiêm ngặt việc khất thực để bảo vệ danh dự của
tăng đoàn nhất là tăng đoàn của hệ phái Khất sĩ và Phật
giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam. Ðối với hệ phái Khất sĩ
và Nam tông, sau ngày 1.5.2001, nếu vị nào vẫn muốn giữ hạnh
khất thực thì phải xin phép với giáo hội và sẽ được
giáo hội cấp gấy chứng nhận cùng với phù hiệu đàng hoàng.
Các vị này phải hành trì đúng chánh pháp, đúng luật qui
định của giới khất sĩ, tức là chỉ đi khất thực từ
8 giờ đến 10 giờ sáng. Sau 10 giờ sáng là phải
trở về trú xứ. Chỉ được thọ nhận vật thực, không
được nhận tiền bạc. Về hành trang chỉ gồm có
một
chiếc bình bát duy nhất, không được mang theo túi hay đãy.
Ðối với Ni giới, khi đi khất thực, phải đi từ hai vị
trở lên, không được đi một mình riêng lẻ.
Nói
tóm lại, vì nhu cầu tu học, nên vấn đề ăn uống cần phải
được giản dị, thực phẩm phải được xem như là dược
thực, vì thế Tăng đoàn thời Đức Phật phải đi khất thực.
Khất thực là chính sách thực hành giáo pháp, là truyền thống
của chư Phật. Các thầy Tỳ kheo phải giữ tâm bình đẳng
mà đi khất thực từng nhà, không phân biệt giầu nghèo sang
hèn để tạo cho đủ mọi tầng lớp dân chúng đều có cơ
duyên thực hành hạnh bố thí cầu phước, nhân dịp đó
quý thầy nói pháp khuyên dạy mọi người tu hành. Khi
đi không ngó qua ngó lại, không được mở miệng nói chuyện,
luôn điều phục thân tâm trong chánh niệm, đi theo thứ lớp:
Nếu hàng Phật tử thỉnh thọ trai thì không cần theo thứ
lớp, cứ đi thẳng đến nhà thí chủ thỉnh mình. Còn khất
thực phải theo thứ lớp. Ai cho gì ăn nấy, không được
phân biệt thức ăn tốt xấu, ngon dở, chay mặn, không được
qui định người thí chủ phải cúng dường như thế nào,
mà là tùy điều kiện khả năng và phát tâm của thí chủ.
Đó mới gọi là trí không phân biệt. Cũng vậy khi ăn
thì phải trộn các món ăn với nhau để không còn phân biệt
món này với món khác, món ngon món dở và không phân biệt
mùi vị. Mục đích để không còn luyến ái mùi vị thơm ngon,
mà chỉ cần ăn để nuôi sống xác thân mà tu hành giải thoát.
Ban
Biên Tập TVHS
Trở
Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp