06
Từ lâu nay tôi nghiên cứu sách Phật học nên cũng am tường
đôi chút về tinh thần thoát khổ của Đạo Phật, nhưng trong
thực tế tôi vẫn chưa áp dụng được gì để cải thiện
đời sống của chính mình. Có phải chăng vì tôi chưa có
Thầy để hướng dẫn? Vậy có nên tìm một vị Thầy thay
vì chỉ nên nương tựa vào “pháp” như đức Phật đã nói
không? Giả sử cần phải có một vị Thầy để hướng dẫn
thì tôi nên tìm vị Thầy ấy với tiêu chuẩn như thế nào?
CHỌN
MINH SƯ
Trên
con đường tu học của người theo đạo Phật, chúng ta có
nên tìm cầu vị minh sư hay không?
Ngày
xưa muốn học đạo phải lặn lội đi tìm thầy, vì thầy
là người không những có đức hạnh mà còn có đầy đủ
kinh nghiệm tu trì và có khả năng truyền dạy lại cho người
sau. Thời ấy muốn học đạo phải đến chùa vì chỉ
nơi đây mới có đầy đủ kinh sách. Ngày nay, việc tìm
kinh sách không khó, ngoài chùa ra, còn có trong các thư viện
trường đại học, các nhà sách lớn và ở trên Internet, ai
cũng có thể tìm đọc và tự nghiên cứu học hỏi. Do
đó có người nói việc tìm thầy học đạo thời nay không
cần thiết lắm. Tuy nhiên, quý bạn cần lưu ý,
ngay chuyện học ngoài đời, chúng ta vẫn phải có thầy dạy.
Việc nghiên cứu trong sách vở là điều cần thiết nhưng
vẫn cần phải có thầy hướng dẫn. Đó chỉ là học
về kiến thức mà còn cần đến thầy dạy, huống chi cầu
học đạo giác ngộ giải thoát?
Trong
đạo Phật không phải chỉ học giáo lý suông mà còn phải
tu trì nữa. Một vị thầy dạy chúng ta giáo lý không những
qua việc thuyết giáo mà còn dạy chúng ta về giới đức qua
hành động và cử chỉ hàng ngày của ông thầy mà thuật
ngữ nhà Phật gọi là thân giáo. Chính thân giáo, tức hành
động, nhân cách, giới phẩm và đức hạnh của vị thầy
mới quan trọng, nó làm gương cho ta noi theo. Một trăm lần
nghe không bằng một lần thấy. Một trăm lần tụng đọc
về kinh Từ Bi không bằng một lần thấy hành động từ bi
nơi vị thầy của mình.
Hiện
nay có một số người tự xưng mình là Minh Sư, Đạo Sư,
Vô Thượng Sư, Đại Sư, Thiền Sư, vân vân… thường dùng
một số giáo lý Phật giáo, lợi dụng uy tín của đức Phật
để thuyết giảng hầu lôi cuốn quần chúng, nhưng thực chất
bên trong những điều giảng đó lại chứa đựng những tư
tưởng đối nghịch với tư tưởng nhà Phật. Cho nên,
nếu chúng ta là những Phật tử quyết tâm tu hành theo giáo
lý giải thoát, mà không hiểu rõ giáo lý căn bản của nhà
Phật thì rất dễ bị đi lạc đường
Trong
chương trình phát thanh hôm nay chúng tôi muốn trình bày với
quý thính giả về việc lựa chọn minh sư như thế nào.
Trước
hết chúng ta nên lưu ý đặc biệt đối với những vị Thầy
hay bất cứ một ai khi đến khuyên bảo chúng ta tu mà luôn
luôn khoe khoang pháp môn của mình là hay nhất và ra sức chê
bai hay chỉ trích pháp tu khác là sai đường, cho là không đúng,
thì chúng ta phải xem xét lại những lời nói và hành động
của họ, tức là tìm hiểu về thân giáo, tức hành
động, nhân cách, giới phẩm và đức hạnh của vị ấy và
động lực nào thúc đẩy ông ấy giảng dạy.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã dạy rằng: “Động lực
giảng dạy của một vị Thầy phải trong sạch – không bao
giờ vì một ước muốn danh tiếng hay lợi lạc vật chất…
Trong thế giới, nếu không có một nhà lãnh đạo chân chính
thì chúng ta không thể cải thiện xã hội được. Cũng
vậy, trừ phi vị thầy có phẩm chất đúng đắn, thì mặc
dù đức tin của bạn có mạnh mẽ đến đâu, việc theo học
vị thầy có thể làm hại bạn nếu bạn được dẫn dắt
theo một đường hướng sai lầm. Vì thế, trước khi
thực sự coi ai là thầy, điều quan trọng là phải khảo xét
họ…”
Nếu
như vị đạo sư của bạn buộc bạn phải làm việc vô đạo
đức hay nếu giáo lý của vị ấy mâu thuẫn với Phật Pháp
thì hành xữ như thế nào? Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói tiếp:
“Bạn nên trung thành với điều đạo đức và xa rời
những gì không phù hợp với Pháp…”
Ở
Ấn Độ, một lần kia, một vị thầy có nhiều đệ tử yêu
cầu họ đi ra ngoài ăn trộm. Vị thầy thuộc đẳng
cấp Bà La Môn và rất nghèo. Ông dạy rằng khi những
người Bà la Môn trở nên nghèo khó thì có quyền được ăn
cắp. Ông nói, “là những người được Trời Brahma
tức đấng sáng tạo của thế giới, đối với một người
Bà la môn, việc ăn cắp không xấu xa”. Trong số những
đệ tử sắp đi ăn cắp thì vị thầy người Bà la môn nhận
thấy một đệ tử đứng im lặng cúi đầu xuống. Ông
hỏi anh tại sao không đi. Người học trò nói: “Điều
thầy dạy chúng con bây giờ trái nghịch với Pháp, vì vậy
con không nghĩ rằng con có thể làm được điều đó. “
Lời nói này làm vui lòng vị thầy người Bà la môn, ông nói:
“Ta đã trắc nghiệm các con. Mặc dù các con đều là
đệ tử của ta và trung thành với ta, nhưng sự khác biệt
giữa các con là sự phán đoán. Ta là thầy của các con,
nhưng các con phải xem xét lời chỉ dạy của ta, và bất kỳ
lúc nào lời chỉ dạy chống trái với Pháp thì các con chớ
nên theo.” …”
Đó
là lời giảng dạy của Ngài Đạt Lai Lạt Ma về việc
chọn Thầy.
Với
Hoà
Thượng Thích Thánh Nghiêm, trong bài giảng Lựa chọn
minh sư như thế nào ?
Hoà
thượng nói:
"Nghề
học phải chuyên nhất." Do đó học tập pháp môn nào đều
phải lựa chọn các bậc minh sư có chuyên môn giỏi, độc
đáo, tinh thông về các mặt học vấn nghệ thuật và giáo
lý Phật học. Mặc dù minh sư không nhất thiết phải từ
cửa minh sư mà trưởng thành ra, trong số đệ tử của minh
sư không nhất thiết xuất hiện những đệ tử xuất chúng.
Nhưng khi đi tìm minh sư thì tối thiểu họ cũng không được
nhầm phương hướng, dạy sai yếu lĩnh, phải đảm bảo an
toàn, chắc chắn chứ không thể như "người mù chỉ lối
cho người mù".
Vậy
ai là minh sư ? Thường thường thì không có cách nào mà biết
được điều đó. Đặc biệt là theo kinh nghiệm của tôn
giáo và khi khổ công tu thiền, khi bản thân chưa nhập môn
thì không có cách nào phán đoán được ai là minh sư và ai
không phải là minh sư. Thế nhưng minh sư không nhất thiết
phải nổi tiếng, nhưng người minh sư được quần chúng
công nhận thì đáng tin cậy hơn so với người tự xưng là
minh sư mà chưa được đông đảo quần chúng công nhận. Hoặc
các bậc thầy tuy chưa nổi tiếng nhưng được các bậc thầy
đã nổi tiếng giới thiệu là minh sư cho mình thì đó là
điều đáng tin cậy.
Như
kinh "Hoa Nghiêm" có nói : "Phương thức thiện tài đồng tử
tham gia về việc chất vấn 53 vị thiện tri thức thông qua
một vị giới thiệu một vị đã hình thành mối quan hệ
liên tục đối với 53 vị sư. Vì vậy, các thiện tài đồng
tử tuyệt nhiên không phải công nhận các bậc thầy một
cách mù quáng".
Bất
kỳ thời đại nào trên thế gian này đều có những nhân
vật tự xưng là tôn sư của thời đại. Họ dùng những lời
yêu quái để mê hoặc quần chúng, lẫn lộn trắng đen, nghe
thấy lung tung, thu nạp đông đảo các đệ tử phô trương
thanh thế. Nếu không phân biệt rõ thì rất có khả năng lấy
tà sư khét tiếng làm minh sư. Vì vậy, Mạnh Tử cũng nói:
Tai họa lớn nhất của con người là "thích làm thầy
người ta".
Bởi
vì những tà sư này có tác hại hướng dẫn lệch lạc lương
tâm xã hội, khiến cho con người nẩy sinh nhiều sự quấy
nhiễu không bình thường, nghi hoặc bất an. Do vậy, mà theo
họ, học tập những tà pháp, tà thuyết và tà thuật thì
chẳng những không mở mang được cảnh giới nhân sinh mà
ngược lại còn mang tác hại cho thân tâm mình, gia đình mình
bất hòa. Chỉ đáng tiếc là những người bình thường rất
khó mà phân biệt được cái thật, cái giả, cái tà, cái
chính của những người này.
Xét
theo lập trường của Phật Pháp thì tiêu chuẩn về cái tà,
cái chính, cái tối, cái sáng đều phải được khảo sát,
thí nghiệm ở trung tâm cái tôi của mình. Nếu con người
còn mang nặng tham, sân, si thì nhất định không phải là minh
sư. Lại có người tuy bề ngoài thì biểu hiện nhân từ,
vẻ mặt phúc hậu, tươi tắn, đạo mạo trịnh trọng nhưng
lại là kiêu căng, ngạo mạn thì cũng nhất định không phải
là minh sư. Về việc tìm minh sư, "Đại trí độ luận"
cuốn 4 đã nêu lên 4 điều trọng yếu gọi là tứ y pháp
"4 chỗ nương tựa".
1)
Dựa
vào pháp không dựa vào người :
Minh
sư không tự cho mình là trung tâm, cũng không lấy cá nhân
nào đặc biệt làm quyền lực mà lấy nguyên tắc, quy luật
chung là tiêu chuẩn Pháp của Phật giáo là pháp nhân duyên,
pháp nhân quả. Nếu đạo lý và những điều khêu gợi của
vị thầy nào trái ngược với phép tắc nhân quả và nhân
duyên thì không phải là minhh sư. Bởi vì, nhân quả đòi hỏi
chúng ta phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Nhân
duyên là dạy chúng ta không được khởi tâm chấp trước
tham, sân. Không thì tuy được đông đảo mọi người tôn
là Thánh cũng không khác gì tà sư.
2)
Dựa
vào nghĩa không dựa vào lời :
Phàm
là phép tắc chân chính thì nhất định tung ra bốn biển đều
đúng, từ xưa tới nay đều giống như nhau, không phải vì
bối cảnh dân tộc, khu vực, văn hóa khác nhau mà sai biệt
khác nhau. Nếu cho rằng do sự cấm kỵ về tôn giáo hoặc
có sự bí mật trên ngôn ngữ mà không phải chính pháp là
không đúng. Chính pháp nên chú trọng đến sự cảm thông
về nghĩa lý chứ không được câu nệ trên sự dị biệt
trên ngôn ngữ. Tỉ dụ, nếu nói người theo đạo Hồi chú
trọng đến chữ Ả rập, người Do Thái chú trọng đến chữ
Hêbơrơ thì xét về chuẩn tắc là khác nhau. Người theo đạo
Phật chú trọng đến chữ Phạn, Pàli là để nghiên cứu
những kinh điển nguyên thủy, để truy tìm nguyên nghĩa chứ
không phải nói chữ Phạn và chữ Pàli có thần lực và thần
thánh gì đặc biệt. Tất nhiên Ấn Độ giáo chú trọng đến
tiếng Phạn, âm Phạn khác với Phật giáo.
3)
Dựa
vào trí, không dựa vào thức:
Trí
là trí tuệ của thánh nhân, là sản sinh ra đại trí của
vô ngã, từ đại bi đến đồng thể. Do đó, hể có tự ngã
làm trung tâm, dù là vì mình, vì người, thậm chí vì tất
cả chúng sinh hoặc vì cầu cho Phật Đạo vô thượng, dù
là đại ngã, phạm ngã và thần ngã, cái ngã cá biệt và
cái ngã toàn thể đều không thể sản sinh ra trí tuệ chân
chính được. Vì vậy, điều đó vẫn thuộc vào phạm vi trí
thức và trí tuệ. Trí thức là từ trong kinh nghiệm học tập
của bản thân mình mà sản sinh ra tác dụng phân biệt, ghi
nhớ và suy lý. Còn trí tuệ chỉ có hiện tượng của khách
quan không có trung tâm chủ quan. Chỉ có công năng chuyển vận,
không có trung tâm chủ thế, nếu trái ngược như thế thì
không phải minh sư.
4)
Dựa
vào ý nghĩa rốt ráo, không dựa vào ý nghĩa không rốt ráo:
Nghĩa
rốt ráo là không nói ra được, không có pháp nào có thể
chấp, không có pháp nào có thể tu, cũng không có pháp nào
có thể chứng được. Đúng như vô niệm vô tướng, vô trụ,
mà "Đàn kinh" nói : "Không vì cái gì, cũng không có cái gì,
chỉ việc ăn cơm, mặc quần áo, sinh sống, lợi mình, lợi
người, tinh tiến không ngừng".
Căn
cứ vào 4 điều chuẩn trên, chúng ta có thể phân biệt dễ
dàng ai là minh sư, ai không phải là minh sư, rồi dựa vào
4 tiêu chuẩn đó mà quan sát thẩm tra minh sư mà mình mong gần
gũi thì nói chung không thể có sự nhầm lẫn, rồi ngày qua
tháng lại dù không gặp được minh sư thì bản thân anh cũng
trở thành minh sư…”
Thưa
quý thính giả,
Đức
Đạt Lai Lạt Ma và Hoà Thượng Thích Thánh Nghiêm đã chỉ
cho chúng ta một số nguyên tắc trong đó có bốn tiêu chuẩn
để chọn minh sư. Y pháp bất y nhân là một
trong bốn tiêu chuẩn hướng dẫn chúng ta trên đường đi
tìm thầy tìm học đạo. Câu này có nghĩa là nương
theo giáo pháp chứ không nương vào thầy. Lẽ
dĩ nhiên, y pháp bất y nhân không có nghĩa là được pháp
rồi thì không cần biết gì đến thầy. Học đạo không giống
như học các ngành học ở ngoài thế gian, học đạo phải
có lòng tri ân tôn kính thầy nhưng không bám víu và thần
tượng hóa thầy.
Ngày
nay một số trong chúng ta theo thầy không phải vì thực sự
cầu pháp gỉai thoát mà vì tình cảm hay biên kiến, hay vì
thầy là người nổi tiếng trên thế giới, đông đệ tử
xuất gia lẫn tại gia có học vị cử nhân, thạc sĩ, tiến
sĩ, có chùa to đất rộng, vân vân...đáng tiếc thay cho đạo
giác ngộ giải thoát, đạo phá trừ chấp ngã, phá trừ tham
sân si.
Có
nhiều Phật tử đặt câu hỏi: Sau khi quy y và tu học theo
thầy một thời gian dài, cảm thấy không tiến bộ, tham sân
si vẫn như cũ, chấp ngã gia tăng nhiều hơn, muốn đi chùa
khác tìm thầy khác nhưng làm như thế có phải là phản thầy
không. Chúng tôi xin thưa ngay là không có mang tội phản
thầy. Khi làm lễ qui y là chúng ta quy y với ba ngôi
Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, chứ không phải quy y với thầy.
Thầy chỉ là vị đại diện làm lễ quy y cho chúng ta quay
về nương tựa với Tam Bảo. Trong buổi lễ chưa bao giờ
chúng ta nói: Con xin quy y với thầy Thích Tâm A hay thầy Thích
Tâm B. Hơn nữa, ở ngoài đời, học xong bậc tiểu học,
chúng ta phải lên trung học rồi lên đại học chứ đâu có
thể học mãi một lớp hay một trường được.
Xưa
kia lúc còn tìm đạo, thái tử Tât Đạt Đa đến học với
đạo sĩ Alara Kalama, sau khi chứng được thiền "Vô sở hữu
xứ" và không học được gì thêm nữa thì ngài từ giã thầy.
Kế tiếp ngài đến học đạo với Uddaka Ramaputta, sau khi chứng
được thiền "Phi tưởng phi phi tưởng xứ" và không học
được gì hơn thì ngài cũng kiếu từ ra đi. Nếu thái tử
trung thành ở lại với đạo sĩ Kalama hay đạo sĩ Ramaputta
thì chắc ngày nay chúng ta không có Đức Phật và Phật Pháp.
Là
Phật tử, muốn có được đời sống an lạc, hạnh phúc,
tiến bộ, chóng thành đạo quả giác ngộ thì phải hết sức
cẩn trọng trong việc chọn thầy, chọn bạn, chọn pháp môn
tu, chớ để tánh hiếu kỳ dẫn dắt, thì mới khỏi oan uổng
công phu tu tập suốt cả một đời.
Ban
Biên Tập TVHS
CHỌN
MINH SƯ (Phần 2)
Thưa
quý thính giả,
Trong
lần phát thanh kỳ trước, chúng tôi đã trình bày với quý
thính giả về việc chọn minh sư. Một vị minh sư dạy
chúng ta giáo lý không chỉ qua việc thuyết giáo mà còn dạy
chúng ta về giới đức, qua hành động và cử chỉ hàng ngày
của ông thầy mà thuật ngữ nhà Phật gọi là thân giáo.
Đức Đạt Lai Lạt Ma và Hoà Thượng Thích Thánh Nghiêm đã
chỉ cho chúng ta một số nguyên tắc trong đó có bốn tiêu
chuẩn để chọn minh sư. Trong phần phát thanh hôm nay
chúng tôi lược trích một bài pháp ngắn của Tỳ Kheo Thích
Trí Siêu cũng nói về việc Tầm Sư học Đạo như là để
trả lời thư của một thính giả hỏi rằng ngoài tiêu chuẩn
Thân Giáo của vị minh sư, vị minh sư đó có cần phải có
học vị Tiến sĩ Phật học hay bất cứ học vị Tiến sĩ
thế gian nào không. Tỳ Kheo Thích Trí Siêu nói:
"Đi
tìm Đạo tức là đi tìm Thầy. Do đó có câu: "Tầm Sư học
Đạo". Vì thế chữ Đạo không thể rời chữ Sư. Đức Phật
là một Đạo Sư, người chỉ đường đến Niết Bàn và con
đường này được gọi là Đạo Phật. Chúa Giê-Su cũng là
một Đạo Sư, người chỉ đường về nước Trời (Thiên
Đàng) và con đường này được gọi là Đạo Chúa. Ngày nay
hai vị Đạo Sư này không còn nhưng có các đệ tử đại
diện cho hai ngài, đó là quý Thầy, Hòa Thượng, Thượng Tọa,
Đại Đức, hoặc các cha Linh Mục, Giám Mục, Hồng Y, v.v...
Người
tu hành ban đầu rất cần sự hướng dẫn của một vị Thầy.
Nếu theo một Thầy lành, ta sẽ trở nên lành; nếu theo một
Thầy ác, ta sẽ trở nên ác. Do đó người tu hành phải sáng
suốt lựa chọn cho mình một vị Thầy xứng đáng tin tưởng.
Nếu lựa chọn đúng thì sự tu hành gặp nhiều thiện duyên
tiến triển. Nếu lựa chọn sai thì có thể thối thất đạo
tâm, không muốn tu hành, nhiều khi đâm ra hận và chán ghét
luôn tất cả Thầy khác.
Ở
đây tôi sẽ không giới thiệu bạn một Thầy mẫu lý tưởng
mà chỉ nói lên sự nhận xét của tôi về chuyện tìm Thầy.
Tìm
Thầy cũng giống như tìm bác sĩ vậy. Khi bị bệnh muốn khỏi
thì phải đi tìm bác sĩ. Thí dụ trong tỉnh bạn ở có 10
ông bác sĩ. Sự đi tìm bác sĩ có thể được chia ra làm ba
giai đoạn:
1.
Tìm bác sĩ gần nhà nhất.
2.
Tìm bác sĩ nổi tiếng hoặc do người quen giới thiệu.
3.
Chính mình đi hết 10 ông bác sĩ.
Khi
mới bị bệnh, bạn sẽ tìm đến một ông bác sĩ gần nhà
nhất. Nếu bệnh của bạn không nặng lắm và ông ta cho thuốc
chữa khỏi thì bạn không cần tìm một ông bác sĩ khác nữa.
Nhưng
nếu bệnh của bạn thuộc loại nan y và ông ta không chữa
khỏi, hoặc bạn đi chữa nhiều lần mà không thấy khá thì
lúc đó bạn sẽ cảm thấy cần phải tìm một ông bác sĩ
khác khá hơn. Bạn có thể tìm đến một ông bác sĩ nổi
tiếng trong vùng hoặc nhờ người quen giới thiệu. Nếu ông
bác sĩ này chữa bạn hết bệnh hoặc bạn cảm thấy bệnh
tình thuyên giảm thì bạn sẽ tiếp tục đến với ông ta
và không cần đi tìm một bác sĩ khác nữa. Nhưng nếu ngay
cả ông bác sĩ nổi tiếng này cũng không chữa bạn hết bệnh
được thì giải pháp thứ ba là bạn phải tự mình chịu
khó đi khám hết 10 ông bác sĩ trong vùng, may ra sẽ tìm được
một ông chữa cho bạn khỏi bệnh.
Trong
trường hợp cả 10 ông bác sĩ trong tỉnh cũng không chữa
hết bệnh thì có lẽ bạn phải chịu khó lặn lội sang tỉnh
lân cận để tìm bác sĩ khác. Và đây là một giải pháp
thứ tư. Ta có thể tiếp tục đưa ra nhiều giả thuyết và
sẽ có nhiều giải pháp khác nhau. Nhưng tôi tạm ngưng ở
ba giai đoạn đầu.
Đi
tìm Thầy học Đạo cũng tương tự như vậy. Bình thường
chúng ta không bao giờ nghĩ chuyện tới chùa. Đến khi trong
nhà có ai bệnh, ai chết cần phải cầu an, cầu siêu thì lúc
đó ta đến đại một chùa nào gần nhà có Thầy cầu an,
cầu siêu. Nếu bệnh của ta chỉ là bệnh cần tín ngưỡng,
cần cầu xin ơn trên gia hộ thì tất cả chùa nào có đầy
đủ tượng Phật trang nghiêm, có quý Thầy tụng niệm nhịp
nhàng hợp nhĩ là có thể cứu khổ cho ta được rồi.
Nhưng
có những người sau thời gian cầu an, cầu siêu bỗng nhiên
nghe lòng chán ngán cuộc đời vô thường, muốn tìm hiểu
nhiều hơn và bắt đầu thỉnh kinh sách về đọc. Càng đọc
càng thấm thía, muốn tìm hiểu hơn, muốn đi nghe thuyết pháp,
muốn tu thiệt, muốn ngồi thiền, trì chú, vân vân... Nếu
vị Thầy trụ trì ở đó ngoài việc ứng phó, tụng kinh làm
đám, còn biết giảng Đạo thuyết pháp thì quá tốt, ta sẽ
không cần phải đi tìm Thầy khác học Đạo. Nhưng nếu sau
một thời gian học Đạo với Thầy, ta cảm thấy mình thông
minh quá, học đâu hiểu đó và hình như Thầy cứ giảng đi
giảng lại hoài những đề tài cũ rích. Đến đây ta sẽ
nảy lên ý niệm muốn đi tìm Thầy khác giỏi hơn. Đây chính
là giai đoạn hai: đi tìm Thầy nổi tiếng hoặc nghe đồn
về Thầy nào giỏi. Nhiều người ở Pháp, Mỹ mua vé về
Việt Nam xin làm đệ tử Thầy này, hoặc ở Việt Nam thì
muốn sang Pháp tu học với Thầy kia, hoặc gần đây có một
số người muốn sang Ấn Độ, Dharamsala, làm đệ tử của
đức Dalai Lama, hoặc các Lạt Ma Tây Tạng vì cho rằng các
Lạt Ma tu cao hơn, nhiều thần thông. Họ đâu biết rằng Phật
Giáo Tây Tạng cũng có những lủng củng nội bộ, chia rẽ
tông phái, vân vân. . .
Anh
A thích tu theo Thầy này thì cứ để anh theo. Cô B thích theo
Thầy kia thì cứ để cô theo. Chúng ta là những người đang
đi trong sa mạc nắng chói, cần tìm bóng mát. Các vị Thầy
là những bóng cây che mát. Sao ta lại dại dột chia rẽ, níu
kéo nhau, muốn mọi người phải theo về ông Thầy của mình,
Thầy mình là giỏi nhất, là bậc chân tu đắc đạo.
Song
le, có những người theo học với Thầy nổi tiếng trong một
thời gian mà vẫn không thỏa mãn, còn nhiều nội kết đau
khổ trong lòng chưa giải tỏa được. Đến đây ta bước
sang giai đoạn ba là lên đường tham vấn tất cả các Thầy
khác. Điều này xưa kia các thiền sư Trung Hoa đã có làm,
gọi là hành cước.
Thông
thường giai đoạn ba ít có người đến vì đa số dừng lại
ở giai đoạn hai. Khi được làm đệ tử của một Thầy nổi
tiếng, có ai dại gì mà lại bỏ đi. Nếu có bỏ đi thì chắc
phải tìm Thầy nổi tiếng hơn nữa, hơi đâu mà đi tìm một
Thầy vô danh. Được làm đệ tử của một Thầy nổi tiếng,
dù không đắc đạo đi nữa, cái Ta (Ngã) của mình không nhiều
thì ít cũng được hưởng lây cái danh của Thầy.
Trên
đây là ba giai đoạn thông thường của sự tìm Thầy. Trong
mỗi giai đoạn chúng ta đều mang theo một cái khung về ông
Thầy. Đó là những khái niệm cứng ngắc sẵn có của ta
về một ông Thầy lý tưởng. Thí dụ theo tôi thì một ông
Thầy lý tưởng phải như sau:
- Hiền
như Bụt.
-
Khờ khạo không biết gì về chuyện đời.
-
Sống kham khổ, ăn mặc thô sơ.
-
Suốt ngày chỉ biết gõ mõ, tụng kinh, niệm Phật.
Nếu
tôi thích ứng phó thì tôi sẽ thêm vào:
- Thầy
phải biết tán tụng đúng điệu, tán rơi, tán xắp, tán trạo,
v.v...
-
Thầy phải biết làm sớ làm điệp ...
Hoặc
nếu tôi biết đôi chút về giáo lý thì thêm:
- Thầy
phải biết tất cả giáo lý căn bản.
-
Thầy phải biết giảng kinh Pháp Hoa, Niết Bàn, Kim Cang, v.v...
Nếu
tôi thích tu Thiền thì sẽ thêm:
- Thầy
phải có định lực này nọ...
-
Thầy phải ngồi thiền suốt ngày hay ít nhất là bốn tiếng
một ngày...
Hoặc
nếu thích Mật Tông thì:
- Thầy
phải biết làm bùa vẽ chú, trừ ma yếm quỷ, v.v...
Cứ
thế, cái danh sách tiêu chuẩn về Thầy lý tưởng của tôi
dài hay ngắn tùy theo sự hiểu biết nhiều hay ít về Đạo.
Sau đó tôi đóng khung cái danh sách này rồi mang nó đi tìm
Thầy. Nếu thấy Thầy nào hợp với những tiêu chuẩn ấn
định trong khung thì tôi cho Thầy đó xứng đáng làm Thầy
của tôi, là một Thầy tu chân chính.
Trước
khi đi tu, tôi đã học đến cử nhân vật lý (licence de physique)
ở Đại Học Orsay. Khi đi tu, tôi nghĩ rằng bằng cấp thế
gian không có ích lợi gì và cũng không có gì đáng để phô
trương, vì Đạo Phật há chẳng dạy buông xả hết sao! Thế
nhưng sau khi vào chùa tôi thấy quý Thầy hay trưng bằng tiến
sĩ (Ph.D) ra, và nhiều Thầy khuyên tôi nên trở lại Đại
Học để lấy bằng tiến sĩ, vì thời nay nếu có bằng cấp
cao thì dễ làm Đạo, nói người ta mới nghe, mới nể. Nghe
nói hợp lý nên tôi cũng tính đi học lại để lấy bằng
Ph.D, nhưng một hôm ngồi nói chuyện với chú Minh Lâm, chú
nói một câu làm tôi tỉnh ngộ: "Sao quý Thầy cứ tốn thì
giờ theo đuổi bằng cấp ngoài đời làm chi! Xá lợi Phất,
Mục kiền Liên đâu có bằng Ph.D mà vẫn đắc đạo". Cuối
cùng tôi đã nghe lời chú nên tới nay tôi vẫn không có bằng
Ph.D. Nói vậy bạn đừng hiểu lầm cho tôi chống báng bằng
cấp. Bằng cấp chỉ là bằng cấp, tự nó vô hại, chỉ có
những khái niệm về bằng cấp mới là nguy hiểm mà thôi.
Bằng cấp dùng để chứng minh trình độ kiến thức. Ngày
nay với sự tiến bộ của khoa học, bạn có thể tham khảo
tất cả Tam Tạng Kinh Điển Anh ngữ trên hệ thống Internet
ngay nơi phòng ngủ của mình nếu bạn có máy vi tính. Với
Internet bạn có thể mở mang kiến thức của mình 24 tiếng
trong ngày nếu bạn muốn mà không cần phải vào Đại Học
hay Thư Viện.
Thưa
quý thính gỉa,
Qua
hai lần phát thanh về chủ đề đi tìm minh sư học đạo,
thì thân giáo, thể hiện qua hành động, nhân cách, giới phẩm
và đức hạnh của vị thầy vẫn là yếu tố nền tảng để
chúng ta chọn ông thầy. Một yếu tố khác không kém
quan trọng là động lực giảng dạy của ông thầy phải
trong sạch, không bao giờ vì ước muốn danh tiếng hay lợi
lạc vật chất. Việc ông thầy có học vị hay không có
học vị Tiến sĩ, không là yếu tố cần thiết. Đức
Phật cũng như các đại đệ tử của Ngài không có bằng
cao học, không có học vị Tiến sĩ. Ngài là một bậc
Vô Thượng Sư, Đại Đạo Sư, ngài đã giác ngộ và dạy
cho chúng ta nhận biết cái Chân Tâm Phật Tánh có sẵn nơi
mình để mình tu hành và sẽ được giác ngộ như ngài.
Ngài đã để lại cho chúng ta không biết bao nhiêu là kinh
sách mà mỗi ý tưởng là một ánh sáng chói ngời, mỗi lời
nói là một bài học quý báu, và cứ đọc trong các sách nói
về cuộc đời của Ngài thì chúng ta cũng thấy những lời
ngài dạy đều biểu hiện đời sống của chính ngài. Trước
khi chấm dứt chương trình phát thanh hôm nay chúng tôi xin mời
quý thính giả nghe câu chuyện về "Thân Giáo" với lời
bàn của Sư cô Như Thuỷ:
Thuở
xưa có một nhà sư sống ẩn dật tại một triền núi, được
mọi người xem là đạo cao đức trọng.
Một
hôm nhà sư tiếp một bà lão cùng cậu con trai của bà.
Bà
lão thưa:
-
Bạch sư thằng bé này mắc phải cái tật là ưa sưu tầm
hoa kiểng. Nó đã làm cho tôi tốn hao không biết bao nhiêu
là tiền của trong cái thời củi quế gạo châu này... Xin
sư làm ơn chữa trị hoặc răn dạy giùm kẻo tội nghiệp
cho tôi cùng vợ con nó.
Nhà
sư ngẫm nghĩ giây lâu nói:
-
Bà hãy dắt nó về khoảng nửa tháng sau trở lại tôi sẽ
giúp cho.
Bà
lão y lời. Đến ngày hạn nhà sư chỉ thốt một câu
đơn giản:
-
Đó là một thú vui hao tài tốn của con hãy bỏ đi, để tiền
mà thờ mẹ nuôi con.
Bà
lão bất bình:
-
Tưởng thầy có phương cách gì té ra chỉ có bao nhiêu lời
đó. Thế sao thầy không làm ơn nói giùm ngay bữa trước
mà còn hẹn đến hôm nay? Đường xá xa xôi biết là
bao!
Nhà
sư mỉm cười:
-
Chẳng giấu gì bà... tôi cũng mắc phải cái tật sưu tầm
hoa kiểng như cậu nhà đây. Nửa tháng gia hạn là thời
gian để tôi bỏ cái cố tật đó. Nay mọi việc đã
xong tôi mới dám mở miệng khuyên can cậu em này.
Chàng
trai từ đó ăn ở rất vừa lòng mẹ.
Lời
bàn của Sư cô Như Thuỷ:
Trong
một quyển kinh A Hàm, Đức Phật đã giải thích vì sao Ngài
được gọi là Như Lai. "Như Lai là làm sao thì nói vậy,
lời nói và việc làm đi đôi với nhau nên gọi là Như Lai."
Và chúng ta có thể gọi vị sư này là Như Lai theo nghĩa ấy.
Người
xưa có thể chỉ với một câu nói giản dị mà cảm hóa được
lòng người là do thân giáo. Còn chúng ta, nói ra rả suốt
ngày mà chẳng ai chịu nghe là vì miệng nói một đàng mà
hành động một nẻo, chứ không phải tại chúng sanh đời
mạt pháp cang cường khó dạy đâu nghe!
Thưa
quý thính giả,
Đối
với những người có nhân duyên tốt, biết được Phật pháp,
nhất là những nhà tu hành đã đem cả cuộc đời cống hiến
cho công cuộc tu chứng, thì hẳn là hiểu rõ giá trị của
thời giờ. Các bậc Thầy trong đạo Phật luôn luôn nhắc
nhở đệ tử câu:
Ngày
nay đã qua
Mạng
sống giảm dần
Như
cá cạn nước
Nào
có vui gì !
Nên
siêng tinh tấn
Như
lửa cháy đầu
Chỉ
nhớ vô thường
Chớ
nên buông thả ”
Ngoài
sự lãng phí thời giờ và tiền bạc, sưu tầm cái gì thì
cũng đi xa với đạo Phật, không riêng sưu tầm cây cảnh,
vì người tu sĩ phải xả bỏ từ tình cảm yêu ghét cho tới
của cải vật chất, đến khi nào không còn dính mắc vào
bất cứ cái gì ở thế gian nữa thì mới không hư tiêu tín
thí, mới hoàn toàn giải thoát, đắc đạo được.
Ban
Biên Tập TVHS
Trở
Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp