04
Ba tôi mất tháng 10 này sẽ là một năm. Lúc đầu thì mẹ
tôi đem tro của ba tôi vào chùa ký gởi nhờ thầy tụng kinh.
Sau đó như ý nguyện của ba tôi, mẹ tôi đem tro về chôn
ba tôi gần mộ ông bà nội tôi. Thế là ở nhà tôi chỉ
có tấm hình của ba tôi, chỉ vậy thôi, không có thường
cúng kiếng gì cả. Tôi thấy ở Việt Nam, gia đình có người
thân thì hay tụng kinh cho người đã khuất. Tôi sắp
về Việt Nam. Tôi xin hỏi quý vị rằng tôi có nên nhờ
thầy tụng kinh cho ba tôi không? Tôi nghe nói, nếu mà
mình nhờ thầy nào đắc đạo cao hơn, thì linh hồn người
chết sẽ có hy vọng được siêu thoát. Tôi không biết
điều đó có đúng không thưa quý vị? Và tôi phải làm
như thế nào để linh hồn của ba tôi được siêu thoát?
Xin quý vị chỉ dẫn cho, tôi xin thành tâm cảm ơn quý vị.
Chào
cháu Hương,
Các
chùa Việt Nam và Trung Hoa theo truyền thống Phật Giáo Đại
Thừa thường hay tổ chức các nghi lễ cầu siêu cho thân nhân
quá vãng của người Phật tử sớm được siêu sinh Tịnh
Độ. Cầu siêu có nghĩa là cầu nguyện cho thần thức
người quá vãng được siêu thoát khỏi cảnh khổ để tới
một cảnh giới an lành, cao hơn, thường là cõi Tịnh Độ.
Lễ cầu siêu được tổ chức vào lúc người thân đang hấp
hối, trong suốt thời gian lễ tang và kéo dài tới 49 ngày,
có khi đến 100 ngày sau đó và vào những ngày cúng giỗ. Hàng
năm các chùa cũng tổ chức thiết lễ cầu siêu liên danh tập
thể vào dịp lễ Vu Lan.
Nghi
lễ cầu siêu thường bao gồm việc tụng kinh, lễ sám, cúng
dường, phóng sinh, làm những việc phước thiện như bố thí
và hồi hướng những công đức ấy đến người quá vãng.
Có người thắc mắc không biết cầu siêu như thế có thực
sự đem lại lợi ích cho người mất không? có giúp thần
thức người quá vãng siêu thoát về cảnh giới an lạc không?
Quả
thật khó mà khẳng định. Nếu nói có thì làm sao có
thể chứng minh được với người sống? Vì lẽ chưa
có người chết nào trở về cho chúng ta hay họ đã đi tái
sanh vào cõi nào. Nếu nói không thì hoá ra chấp không,
phủ nhận những lời dạy của Thánh hiền? Có một điều
chắc chắn là chúng ta không biết cha mẹ chúng ta tái sanh
vào cảnh giới nào. Do vì không biết rõ nên chúng ta
cần phải làm với hết sức thành tâm của mình như thiết
lễ cầu siêu, cúng dường, tu phước, bố thí, tránh sát sinh
và phóng sinh. Những việc làm này, xét trên phương diện
thực tế thì chúng ta đã làm những việc tốt, đã gieo những
nhân lành và chắc chắn, theo luật nhân quả thì chúng ta sẽ
gặt hái cho chính chúng ta những quả tốt lành trong tương
lai. Đối với người đã khuất, là bậc làm con, chúng
ta đã thể hiện bằng tất cả tấm lòng tha thiết cầu mong
cha mẹ sớm siêu thoát đến cảnh giới an lành. Điều
này không biết có được như ý nguyện không, nhưng hành động
với tâm thành đã thể hiện thì thế nào cũng có cảm ứng.
Việc cảm ứng nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào nhân duyên
nghiệp quả của cha mẹ với con cái nữa.
Như
thế, sức mạnh chủ yếu của việc cầu siêu vẫn là những
việc làm khi chúng ta đang còn sống. Vì vậy đối
với người Phật tử, nếu muốn cứu độ người quá vãng
thì nên tránh làm các điều ác và làm các việc lành, ấn
tống kinh sách để Phật Giáo được lưu hành, làm các công
tác từ thiện xã hội như bố thí cho những người nghèo
khổ, thăm viếng những cụ gìa sống cô đơn trong các trại
dưỡng lão, chăm sóc các trẻ em mồ côi tật nguyền và điều
quan trọng khác là tự thanh lọc tâm ý mình. Trong các
lễ cầu siêu nếu mời được chư Tăng Ni thì tốt, nếu không
thuận duyên hay vì một lý do nào đó không thể mời được
cũng không sao. Hoà Thượng Thánh Nghiêm cho biết
là “không nhất thiết phải mời Tăng Ni đến tụng
kinh. Tăng Ni khi được cúng dường thì chỉ chú nguyện
cho thí chủ mà thôi. Vì Tăng Ni tụng kinh là công việc
làm hàng ngày của Tăng Ni trong các khoá lễ, tụng kinh là
một phương pháp tu hành, mục đích của việc tụng kinh không
phải là để siêu độ người chết. Thí chủ cúng dường
chư Tăng Ni là để cho chư Tăng Ni có thể tu hành và đạt
được mục đích của tu hành...” [Hoà Thượng Thánh
Nghiêm, Phật Giáo Chính Tín, Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học,
Hà Nội xuất bản 1991].
Việc
cháu hỏi, “nếu mà mình nhờ thầy nào đắc đạo cao
hơn, thì linh hồn người chết sẽ có hy vọng được siêu
thoát chăng?” Điều này đã được trả lời
qua tích truyện Mục Kiền liên. Ngài Mục Kiền Liên đã
đắc quả A La Hán, có thần thông bậc nhất trong các Đại
Đệ Tử của Phật, với sức một mình ngài cũng không cứu
nổi thần thức mẹ đang chịu khổ vì phải trả nghiệp mà
phải nhờ nhiều vị Thánh Tăng đồng tâm chú nguyện mới
được.
Cháu
Hương,
Cháu
đang có dự tính về Việt Nam, nếu cháu khởi niệm muốn
thiết lễ cầu siêu cho ba cháu với ước mong ba cháu được
siêu thoát thì cháu cứ việc thực hiện với tất cà tấm
lòng chân thành và thiết tha. Cháu có thể đến một
ngôi chùa nào đó tác bạch với thầy trụ trì để xin cúng
dường trai tăng làm lễ cầu siêu cho ba cháu. Song song
với việc đó cháu cũng cố gắng thực hiện các công tác
từ thiện xã hội như giúp đỡ các trẻ em mồ côi, tật
nguyền đang lang thang trên các vỉa hè hay đang tập trung tại
các trung tâm xã hội, các lớp học tình thương hay các mái
nhà nhân ái. Ờ quê nhà có rất nhiều cảnh đời khốn
khổ đang cần những bàn tay thoa dịu của cháu. Cháu
có thể vào xem những mảnh đời bất hạnh này cùng những
tấm lòng từ ái trong Thư Viện Hoa Sen tại địa chỉ sau:
http://www.vnet.org/hoasen/index-tuthienxahoi.htm
Cháu
Hương ơi, sự vô thường mong manh của đời người mà tri
ân và báo ân cha mẹ cùng chúng sinh cũng là những lý do để
chúng ta phát khởi tâm từ bi hầu chúng ta có thể làm tất
cả các việc lành cho chúng sinh. Hãy “quyết tâm
thành tựu sự hạnh phúc cao lớn nhất cho tất cả chúng sinh.
Điều này còn hơn cả viên ngọc như ý. Tôi sẽ thường
trực liên tục thương quí mọi chúng sinh.” Đó là
đoạn thi kệ đầu tiên trong tám đoạn thi kệ bất hủ của
một vị Thánh Tăng Tây Tạng mà chúng ta nên nhắc nhở cùng
nhau.
Hy
vọng những lời góp ý trên có thể giúp cháu hiểu thêm và
tìm cho mình một hướng đi, vừa giúp ích cho mình vừa giúp
ích cho người quá vãng và vừa giúp ích cho tất cả hữu
tình chúng sinh.
Cháu
có thể xem thêm bài phát thanh hàng tuần của BBT TVHS liên
quan đến câu hỏi của cháu. Chúc cháu nhiều nghị lực và
an lạc.
Tịnh
Thủy
http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-causieu.htm
Thưa
quý thính giả,
Về
nghi thức cúng kiếng, cầu nguyện cho người qua đời thì
tôn giáo nào cũng có. Không những thế, ngay cả từ thời
kỳ mông muội, chưa có tôn giáo, cũng đã có những sự cầu
nguyện các đấng mà họ nghĩ là linh thiêng, nhiều quyền
phép nào đó, để che chở, cứu vớt người thân đã chết
của họ. Họ làm vậy vì trước những tai họa xảy đến,
con người cảm thấy quá bé nhỏ trước thiên nhiên, nên nảy
sinh nỗi sợ hãi mênh mông đối với bóng tối, sấm chớp,
núi cao, sông sâu, dịch bệnh, vân vân, họ tưởng tượng
ra nhiều loại thần, nhiều loại ma, và khi người thân chết
đi, họ thương xót, thấy là từ nay không còn giúp đỡ, bảo
vệ được người thân nữa, họ bèn nghĩ tới các Thánh Thần,
đến những nhân vật được tưởng tượng ra từ biết bao
nhiêu đời trước mà cho đến nay thì đã được tô đậm
thành những hình ảnh huyền bí, đầy quyền năng nơi cõi
u linh nào đó chưa ai biết tới, nhưng là nơi mà thân nhân
họ có lẽ đang bơ vơ lạc lõng trong đó.
Từ
niềm thương xót người thân mà nay mình đã đành chịu bất
lực, họ cầu cứu đến các đấng được gọi là khuất
mày khuất mặt đầy bí mật, các đấng đã được những
kẻ lợi dụng hình ảnh linh thiêng để hù dọa thân nhân
người đã chết, khiến cho họ phải biện lễ hậu hĩnh đến
xin xỏ Thần Thánh này.
Ðạo
Phật khi tới các vùng đất mới, thường uyển chuyển hội
nhập, gọi là tùy duyên phương tiện, dùng bình của địa
phương đựng nước Cam Lồ của nhà Phật, cho nên bên cạnh
những nguyên tắc sống Từ Bi Hỉ Xả, tham thiền, nhập định,
hành trì tu tập trong khuôn khổ của đạo Giác Ngộ, vẫn
tham dự các nghi lễ vốn có từ ngàn xưa của địa phương,
chỉ chuyển hóa từ từ. Cho nên, trên con đường Bắc truyền,
một số hình thức lễ nghi của những vùng mà đạo Phật
đi qua vẫn cùng với đạo Phật chung vai sát cánh ôn hòa.
Một
số quốc gia trong trường hợp này vốn sẵn có những nền
đạo học rất uyên áo, sâu sắc, thí dụ Khổng giáo, Lão
giáo, vân vân. Cúng kiếng là một lễ nghi quan trọng
của Khổng giáo, coi như là một nguyên tắc sống của con
người. Cúng giỗ là một hình thức báo hiếu. Không có
con trai nối dõi tông đường để thờ cúng tổ tiên bị coi
như là tội đại bất hiếu. Trong niềm tin ấy, đạo Phật
muốn sống hài hòa với đời, tất nhiên là cũng tùy duyên
mà áp dụng các nghi thức cúng bái, miễn sao không trở nên
quá mê tín, vi phạm vào quy luật nhân quả là niềm tin cốt
tủy của Phật tử trong thế giới hiện tượng tương đối
mà
thôi.
Vậy
thì thực ra, đạo Phật quan niệm thế nào về sự cúng
kiếng cho người chết?
Thưa
quý thính giả, muốn trả lời câu hỏi này, chúng ta cần
tìm hiểu coi đạo Phật quan niệm thế nào về sự Sinh
và Tử, và theo đạo Phật thì có một linh hồn trường tồn
sống mãi mãi trong một cõi giới u linh nào đó để hằng
năm trở về nhà con cháu ăn một bữa cơm không. Để
trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính
giả một bài pháp, lược trích trong cuốn Ðức Phật và
Phật Pháp do Hòa Thượng Narada biên soạn theo kinh sách
nhà Phật và do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch:
"Theo
triết học Phật Giáo (Vi Diệu Pháp), ba hiện tượng có thể
xuất hiện cho con người thấy trong giai đoạn hấp hối là:
Nghiệp, Hiện Tượng Của Nghiệp, và Biểu Hiện Lâm Chung.
Nghiệp
là vài hành động tốt hay xấu trong đời sống hoặc ngay
trước phút lâm chung. Nếu người hấp hối đã phạm một
trong năm tội nặng là các tội giết cha, giết mẹ, giết
một vị A La Hán, làm tổn thương Ðức Phật và chia rẽ Tăng
chúng, hoặc người ấy có một thiện nghiệp lớn như đã
đắc một trong các tầng Thiền, thì sẽ chứng nghiệm Hiện
Tượng cùa Nghiệp trước khi chết. Những hành động thiện
hay bất thiện đặc biệt ấy có năng lực thật mạnh, chen
vào, áp đảo tất cả các hành động khác và biểu hiện
thật rõ rệt trước mắt người hấp hối.
Nếu
không có Nghiệp xấu hoặc tốt mạnh mẽ như vậy thì có
thể tiến trình tư tưởng cuối cùng của người ấy sẽ
tùy theo cái Nghiệp vừa tạo liền trước khi chết, gọi là
Cận Tử Nghiệp. Cận Tử Nghiệp là hành vi cuối cùng hoặc
hành vi nào mà luồng tư tưởng cuối cùng sực nhớ ra ngay
lúc lâm chung.
Nếu
không phải Cận Tử Nghiệp thì có thể là Thường Nghiệp
là những việc mà đương sự thường làm hằng ngày, hoặc
thưòng nhớ đến và ưa thích hơn hết. Trong trường hợp
này, nếu người hấp hối là một bác sĩ thì thấy đang săn
sóc bệnh nhân, một nhà tu thì thấy đang thuyết pháp, một
tên trộm thì thấy đang cạy cửa, khoét vách v.v...
Nếu
ba trường hợp trên không xảy ra thì Nghiệp Tích Trữ xuất
hiện. Nghiệp Tích Trữ gồm tất cả những trường hợp không
kể trong ba loại Nghiệp trên, mà là những hành động tốt
hoặc xấu thông thường.
Hiện
Tượng của Nghiệp là những biểu tượng xuất hiện trong
tâm thức của người hấp hối dưới hình thức sắc, thanh,
hương, vị, xúc hay pháp, tức là những hình sắc, âm thanh,
mùi, vị hay tư tưởng mạnh mẽ, quen thuộc trong nếp sinh
hoạt hằng ngày, thí dụ người đồ tể thì thấy con dao
hay con thú chết, bác sĩ thì thấy bệnh nhân, người mộ đạo
thì thấy các món lễ vật vân vân…
Biểu
Hiện Lâm Chung là vài dấu hiệu có liên quan đến cảnh giới
mà người hấp hối sắp được tái sanh vào mà do đó, mặt
người sắp lâm chung lộ vẻ vui sướng hoặc đau khổ. Khi
triệu chứng phát sinh, nếu là xấu thì ta có thể sửa chữa
kịp thời bằng cách giảng kinh hay nói pháp để tạo đối
tượng tốt đẹp trong tư tưởng người sắp chết. Những
Biểu Hiện Lâm Chung thường là lửa, rừng, vùng sơn cước,
bào thai người mẹ, thiên cung v.v...
Dầu
trong trường hợp bất đắc kỳ tử, tiến trình tư tưởng
của người sắp chết vẫn diễn tiến và đối tượng của
chập tư tưởng cuối cùng ấy là một trong ba hiện tượng:
Nghiệp, Hiện Tượng của Nghiệp và Biểu Hiện Lâm Chung .
Thí
dụ một người sắp lâm chung và sẽ tái sanh vào cảnh người
thì đối tượng của chập tư tưởng cuối cùng là một vài
nghiệp tốt.
Cái
chết thật sự đến lúc Tử Tâm tức luồng tâm thức cuối
cùng chấm dứt. Kể từ đó tâm và vật thực không còn tạo
năng lực vật chất nữa. Chỉ còn một loại năng lực vật
chất phát sanh do hơi nóng tiếp tục tồn tại đến khi cơ
thể vật chất tan rã.
Sự
diệt tắt của tâm trong kiếp vừa qua là cơ hội để cho
một tâm mới phát sanh trong kiếp sống kế. Tuy nhiên, không
có cái gì vĩnh cửu, nguyên vẹn đơn thuần, không biến đổi,
được chuyển từ quá khứ sang hiện tại. Cũng như bánh xe
lăn tròn trên đường, mỗi một lúc chỉ có một điểm của
bánh xe chạm với đường. Nói một cánh chính xác, chúng ta
chỉ sống trong từng chập tư tưởng. Ta chỉ sống trong hiện
tại và hiện tại nhất định phải trôi vào dĩ vãng.
Trong
tiến trình luôn luôn biến đổi của đời sống, trong một
khoảnh khắc, mỗi chập tư tưởng đều trải qua sanh, trụ,
rồi diệt, và trong khi diệt, nó chuyển tất cả năng lực
và cảm giác đã ghi nhận cho chập tư tưởng kế. Vậy mỗi
chập tư tưởng mới gồm những năng lực tiềm tàng của
chập trước và thêm vào đó chút gì khác. Ðến lúc chết,
chập tư tưởng cuối cùng chấm dứt, để nhường chỗ cho
chập tư tưởng kế phát sanh trong kiếp sống mới. Vậy, cái
Thức mới gồm chứa tất cả những kinh nghiệm trong quá khứ,
vì tất cả những cảm giác trong quá khứ đều được ghi
nhận trong cái tâm biến đổi, và tất cả tiềm năng đều
được chuyển từ kiếp nầy sang kiếp khác, mặc dầu phần
vật chất tan rã. Vì lẽ ấy, đôi khi có người còn nhớ
được kiếp quá khứ của mình. Nếu trí nhớ chỉ tùy thuộc
vào bộ não, tức nhiên không thể có người nhớ được tiền
kiếp.
"Chúng
sanh mới" là sự biển hiện của luồng nghiệp trong hiện
tại, không giống hệt, không phải là một, nhưng cũng không
hoàn toàn khác với chúng sanh trước kế đó.
"Những
thành phần (ngũ uẩn) tạo nên chúng sanh ấy không giống hệt,
không phải là một với thành phần (ngũ uẩn) đã tạo nên
chúng sanh trước. Tuy nhiên, cũng không phải hoàn toàn là khác
vì cả hai cùng nằm chung trong một luồng nghiệp, mặc dầu
biểu hiện dưới hình thức mới, trong thế gian mà ngũ quan
ta có thể thâu nhận, và ta cho là có một "chúng sanh mới."
Theo
Phật giáo, cái chết là sự chấm dứt của đời sống tâm-vật-lý
của cá nhân. Chết là sự diệt tắt của sinh lực, tức là
đời sống tâm linh và vật lý, cùng với hơi nóng và thức.
Chết
không phải là sự tiêu diệt hoàn toàn của một chúng sanh,
mặc dầu kiếp sống chấm dứt. Cái tiềm lực làm sống chúng
sanh không bị tiêu diệt.
Cũng
như ánh sáng đèn điện là biểu hiện bề ngoài mà ta có
thể thấy của luồng điện vô hình, chúng ta là biểu hiện
bề ngoài của luồng nghiệp vô hình. Bóng đèn có thể vỡ
và ánh sáng có thể tắt, nhưng luồng điện vẫn tồn tại,
và ánh sáng có thể phát hiện trở lại nếu ta đặt vào
đấy một bóng đèn khác. Cũng như thế, sự tan rã của thể
xác không làm xáo trộn luồng nghiệp lực, và sự chấm dứt
của thức hiện tại dẫn đến sự phát sanh mới. Tuy nhiên,
không có gì trường tồn bất biến, như một thực thể đơn
thuần, "chuyển" từ hiện tại sang tương lai.
Trong
trường hợp nêu trên, nếu người chết tái sanh trở lại
vào cảnh người, chập tư tưởng cuối cùng tất nhiên là
một loại tâm thiện. Thức-tái-sanh là từ tâm thiện ấy
phát sanh, tự nhiên chuyển đến cái trứng và tinh trùng tương
xứng trong cảnh người.
Như
thế có nghĩa là cho đến lúc chết, luồng nghiệp lực vẫn
luôn luôn trôi chảy, không có một điểm thời gian gián đoạn.
Ngay lúc chết những chập tư tưởng vẫn liên tục kế tiếp
như trong đời sống.
Hiện
tượng chết và tái sanh diễn ra tức khắc,
dầu ở bất cứ nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra
trong không gian được thâu nhận tức khắc vào bộ máy thâu
thanh. Luồng nghiệp lực trực tiếp chuyển từ cái chết ngay
đến tái sanh, không trải qua một trạng thái chuyển tiếp
nào. Phật giáo thuần túy không chủ trương có linh hồn người
chết tạm trú ở một nơi nào, chờ đến khi tìm được một
nơi thích hợp để đầu thai.
Trên
đây là quan điểm của Phật giáo Nguyên Thủy, hay còn
gọi là Nam Tông.
Về
phía Phật giáo Bắc Tông, hay còn gọi là Ðại Thừa,
thì quan niệm rằng không hẳn là
tất cả mọi người sau khi chết đều tái sinh ngay lập tức.
Trường phái này quan niệm rằng những người có nghiệp cực
thiện thì ngay sau khi chết sẽ sanh vào các cõi Tịnh, thí
dụ cõi Tây Phương Tịnh Ðộ, Ðông Phương Tịnh Ðộ, vân
vân, và những người có nghiệp cực ác thì sau khi chết sẽ
sanh ngay vào các cảnh giới ác, như Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ
hoặc tái sinh thành các loài súc sinh. Trường hợp đó gọi
là chết đây sinh kia. Ngoài các trường hợp đó, sau khi chết,
người ta có thể còn lưu tâm thức lại một thời gian trong
trạng thái gọi là Thân Trung Ấm, và mơ màng trong cảnh giới
này từ 1 lần 7 ngày, cho tới 7 lần 7 ngày,
là 49 ngày. Trong thời gian đó, nhất là 21 ngày đầu, người
đã qua đời vẫn còn có ấn tượng mạnh mẽ về kiếp sống
vừa qua. Và chính từ niềm tin này, người ta coi trọng sự
cầu nguyện để giúp chuyển hóa tâm trạng người chết khiến
cho thần thức của họ hòa nhập được vào các cõi an lành.
Như
vậy thì cả hai truyền thống Phật giáo, Bắc Tông và Nam
Tông đều không nói đến những hình thức cúng kiếng cho
người đã chết từ lâu, hàng năm trời, mà chỉ có thể
giúp cho người mới chết qua những lời kinh tiếng kệ, qua
lòng chí thành thanh tịnh của chư vị chân tu và thân nhân,
hy vọng họ chuyển hóa các tâm niệm xấu mà thôi.
Tuy
nhiên, như trên đã nói, cúng giỗ thân nhân đã qua đời,
nhất là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, đối với người Ðông
Phương, là một hình thức báo hiếu, trước là nói lên
lòng thành kính tưởng nhớ chư vị đã khuất, sau là nhắc
nhở con cháu nên tiếp nối mỹ tục biết cảm ơn các bậc
sinh thành, cũng như mỗi quốc gia đều có những ngày kỷ
niệm Chiến Sĩ Trận Vong, để nói lên lòng nhớ ơn các anh
hùng liệt sĩ có công với đất nước vậy.
Về
việc cúng giỗ này, chúng ta có thể tổ chức tại nhà, hoặc
tại chùa. Nhưng nếu đủ phương tiện để có thể làm lễ
trên chùa thì tốt. Trước nhất, đây là một duyên lành giữa
thân nhân người chết đối với nhà Phật, có dịp cho họ
tiếp cận với các vị Sư, nhân đó, có thể hiểu thêm về
Phật pháp. Thứ nữa là thân nhân người chết có thể tạo
chút phước qua việc cúng dường Tam Bảo, để nhà chùa có
thêm khả năng ấn tống kinh sách, phổ biến Phật pháp rộng
rãi, thêm phương tiện để hoàn thành các Phật sự. Các vị
Sư là những Trưởng Tử Như Lai, có nhiệm vụ hoằng dương
Chánh Pháp song song với việc tu tập bản thân. Phật tử cũng
vậy, cũng cần tu tập bản thân và giúp phương tiện cho các
Sư trong công cuộc hoằng truyền và bảo vệ sự trong sáng
của đạo Phật.
Ban
Biên Tập TVHS
Bài
Đọc Thêm:
BƠ
VÀ NHỮNG VIÊN ÐÁ CUỘI
Một
ngày nọ có chàng trẻ tuổi vừa buồn vừa khóc, tìm đến
Ðức Phật. Ðức Phật hỏi, "Cái gì sai trái đã làm nhà
ngươi khóc?"
"Thưa
ngài, cha con chết ngày hôm qua."
"Thì
nhà ngươi làm gì được? Ông ấy đã chết rồi, buồn khóc
chẳng thể làm ông ấy sống lại."
"Vâng,
thưa ngài, con hiểu điều đó; buồn khóc chẳng thể làm cho
cha con trở về với con. Nhưng con đến đây cầu xin ngài một
điều: xin ngài hoan hỷ làm một điều gì đó cho người cha
quá vãng của con!"
"Vậy
ta có thể làm gì giúp cho cha con?"
"Thưa
ngài, xin ngài làm một cái gì đó. Ngài là đấng toàn năng,
chắc chắn ngài có thể làm được. Ngài hãy xem, các vị
tu sĩ cúng tế, các thầy phát giấy xá tội, đã cử hành
những nghi thức cúng lễ cầu siêu giúp người quá cố.
Và nghi thức cúng tế cầu siêu nếu được tổ chức sớm
ở đây, thì cánh cửa trên thiên giới sẽ được mở ra sớm
và người quá cố sẽ được siêu thăng về nơi đó. Họ
sẽ nhận được giấy nhập cảnh. Thưa ngài, ngài là đấng
toàn năng, ngài có đầy đủ quyền lực! Nếu ngài chủ tế
nghi thức cầu siêu cho cha con, cha con không những nhận được
giấy nhập cảnh nơi thiên quốc mà ông ấy sẽ được ở
thường trú luôn. Thưa ngài, xin ngài hoan hỷ giúp cha con!"
Biết
rằng chàng trai trẻ tràn ngập nỗi đau khổ chắc khó có
thể hiểu được những lý lẽ phải trái trong lúc này, nên
Ðức Phật đã phải dùng một phương tiện khác giúp cho chàng
ta hiểu. Vì thế Phật nói: "Nhà ngươi hãy đi mua hai cái chậu
đất nung." Chàng trẻ tuổi lấy làm sung sướng, nghĩ rằng
Ðức Phật đã nhận lời làm lễ cầu siêu cho cha hắn và
đã tức tốc đi chợ mua hai cái chậu bằng đất nung.
"Ðược
rồi," Phật nói, "đổ vào chậu thứ nhất đầy đá cuội,
chậu thứ hai đầy bơ." Chàng trẻ tuổi làm y như lời Phật
dạy.
"Bây
giờ bịt miệng cả hai chậu lại, xong bỏ xuống hồ nước.
Chàng trai trẻ làm xong, hai chậu chìm xuống dưới đáy hồ.
"Bây giờ" Phật nói, "đem cái gậy ra đây, chọc bể cả hai
chậu." Chàng trẻ tuổi rất lấy làm sung sướng, nghĩ rằng
đức Phật đã cử hành nghi lễ cầu siêu cho cha hắn.
Theo
tập quán cổ truyền cổ Ấn Ðộ, khi người cha chết, người
con làm lễ hỏa táng. Vào khoảng giữa thời gian thiêu, người
con dùng cây gậy thọc và làm vỡ sọ đầu. Cũng theo niềm
tin cổ truyền của họ, cho đến khi sọ đầu được mở
ra nơi trần gian này thì cánh cửa thiên giới cũng được
mở ra. Vì thế chàng trẻ tuổi tự nghĩ là, "Cha ta đã được
thiêu đốt ngày hôm qua. Như là một biểu tượng, đức Phật
muốn mình làm vỡ các chậu ngày hôm nay!" Chàng cảm thấy
sung sướng nhiều với nghi thức này của Ðức Phật.
Chàng
trẻ tuổi đã dùng cây gậy làm bể hai chậu. Lập tức, chậu
đựng bơ bị vỡ, bơ nổi lênh láng trên mặt hồ nước.
Chậu kia đựng những hòn đá cuội vẫn nằm yên dưới đáy
hồ. Rồi Ðức Phật nói, "Chàng trẻ tuổi, đó là những
gì ta đã làm. Bây giờ hãy mời các thầy cúng tế và nói
với họ hãy tụng kinh và cầu nguyện: "Hỡi các viên đá
cuội, hãy nổi lên, hãy nổi lên! Hỡi bơ ơi, hãy chìm xuống,
chìm xuống!" Hãy cho chúng ta xem sự kiện xảy ra."
"thưa
ngài, ngài nói đùa với con! Không thể nào như thế được,
những viên đá cuội nặng hơn nước, chúng chìm xuống đáy.
Chúng chẳng thể bao giờ nổi lên được. Ðây là định luật
tự nhiên! Và thưa ngài, bơ nhẹ hơn nước, chúng nổi lên
mặt nước, chẳng bao giờ có thể chìm xuống được. Ðây
là định luật tự nhiên."
"Chàng
trẻ tuổi, nhà ngươi biết nhiều về định luật tự nhiên,
nhưng nhà ngươi đã không hiểu về định luật tự nhiên
này. Nếu trong suốt cuộc đời của cha nhà ngươi mà ông
ấy đã làm những điều nặng như những viên đá cuội, (3)
cha nhà ngươi sẽ bị đọa, ai có thể giúp cha nhà ngươi
siêu thoát lên trên được? Và nếu tất cả việc làm của
cha ngươi nhẹ như bơ, (4) ông ấy sẽ được siêu thoát; ai
có thể đè ông ta xuống được?"
Nếu
chúng ta hiểu định luật tự nhiên (5) và sống theo luật
tự nhiên này, chúng ta sẽ vượt thoát khỏi những khổ đau
và bất hạnh của cuộc đời.
Tâm
Diệu
http://www.thuvienhoasen.org/tamdieu-bovanhungviendacuoi.htm
Cước
Chú:
(1)
Bản viết này được trích dịch từ quyển "The Art Of Living,
Vipassana Meditation, As Taught By S.N. Goenka" của William Hart do nhà
xuất bản Harper San Francisco phát hành năm 1987 trang 55-56. Cuối
bản viết tác giả có ghi chú là "Based on S. XLII. viii. 6, Asibandhakaputta
Sutta.
(2)
Asibandhakaputta Sutta là một phẩm trong Tương Ưng Bộ Kinh, Tập
IV hệ Pali (Samyutta Nikaya, IV). Chúng tôi không có bản Việt
dịch của HT Minh Châu, nhưng có tham chiếu bản dịch Anh ngữ
của Bhikkhu Bodhi do Dr. Bình Anson (Uc Châu)gửi tặng.
(3)
Những điều nặng như viên đá, được hiểu là trong cuộc
đời đã tạo những nghiệp xấu, nghiệp ác. Theo bản dịch
tiếng Anh của Bhikkhu Bodhi là, "a person here who destroys life,
takes what is not given, engages in sexual misconduct, speaks falsely,
speaks divisively, speaks harshly, chatters idly, one who is covetous,
full of ill will, and holds wrong view".
(4)
Những điều nhẹ như bơ, được hiểu là trong cuộc đời
đã tạo những nghiệp tốt lành. Theo bản dịch Anh ngữ của
Bhikkhu Bodhi là, "there is a person here who abstains from the destruction
of life, from taking what is not given, from sexual misconduct, from false
speech, from divisive speech, from harsh speech, from idle chatter, one
who is not covetous, without ill will, who holds right view."
(5)
Ðịnh luật tự nhiên (the law of nature). Luật nhân quả (kamma)
là một trong năm định luật tự nhiên của vũ trụ vạn vật.
Bốn định luật kia là: utu, bija, dhamma và citta. "Ðịnh luật
nhân quả cho rằng nhơn gieo thì quả trổ. Nhơn lành đem lại
quả tốt. Nhơn ác đem lại quả xấu. Ðó là định luật
tự nhiên, phải trổ sanh như vậy chớ không phải là một
hình thức thưởng hay phạt..." (Ðức Phật và Phật Pháp,
trang 313, HT. Narada Thera, Phạm Kim Khánh Việt dịch)
Trở
Về Trang Mục Lục Phật Học Vấn Đáp