Thiên
Thứ Ba
Chương
5
Khái
Yếu Về Ngũ Giới
Tiết
mục:
I.
Những điểm thiết yếu về ngũ giới
II.
Nghi thọ năm giới và tánh tướng
III.
Lược thuyết về việc đắc giới
IV.
Tướng phá giới
Kinh
sách trích dẫn: Kinh Ưu Bà Tắc Giới, Thập Tụng Yết Ma Tỷ
Khưu Yếu Dụng, Kinh Ðại Phương Tiện Phật báo Ân, Tát Bà
Ða Tỳ Ni Bà Sa.
Ðề
yếu: - Ðạo nho có tam cang ngũ thường, đạo Phật c ó tam
quy ngũ giới. Về năm giới, nếu so sánh đôi bên, thì không
sát sanh là nhân, không trộm cướp là nghĩa, không tà dâm
là lễ, không nói dối là tín, không uống rượu là trí.
Kẻ nho sĩ nếu cang thường chẳng vẹn, thì không đủ thành
nhân; hàng Phật tử như quy giới chẳng tròn, không những
đã hư phẩm cách, mà kiếp sau còn mất thân người. (Ngũ
giới bất toàn, nhân thiên lộ tuyệt).
Ðức
Phật chế ra giới vốn y cứ trên tâm từ bi, trí huệ, bình
đẳng, mục đích đem lạ ian vui trật tự có cá nhân, gia
đình, xã hội, và làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Ngài
chỉ đưa ra lẽ phải cùng sự lợi hại, để mỗi người
tự chọn lựa lấy, chứ không bắt buộc ai phải triệt để
tuân theo. Chỗ đặc điểm của Phật giáo, chính ở nơi đức
Phật không phải là một đấng uy quyền độc tôn, tự ý
giữ phần thưởng phạt. Bởi theo đạo Phật, một hành động,
lời nói hoặc ý nghĩ tốt xấu, tự nó đã mang theo ảnh hưởng
vui khổ, hay phần thưởng phạt rồi. Vậy đức Thích Ca chỉ
là một vị hướng dẫn sáng suốt, còn kết qủa vui khổ
chính ở nơi người biết chọn đường.
Năm
giới sau đây tuy dường đơn sơ, nhưng nó lại là căn bản
của các giới. Nếu giữ trọn Ngũ giới, hành giả sẽ duy
trì được thiện căn, không mất thân trời, người và đã
có nền tảng để bước lên các nấc thang cao như Thập giới,
cụ túc giới, Bồ Tát giới, cho đến qủa Vô thượng bồ
đề.
Bốn
tiết trong bản chương, hai tiết đầu lược thuyết về sự
lợi hại cùng nghi thức thuộc ngũ giới, có lẽ phần đồng
Phật tử đã khái niệm được. Ðến như hai tiết kế nói
về sự đắc giới, pháp giới thì người học Phật cần
nên lưu tâm, vì đây là phần thật hành, thuộc về điểm
tối quan trọng.
Tiết
I- Những Ðiểm Thiết Yếu Về Ngũ Giới
Khi
còn là chúng sanh, ai cũng có sự mê mờ lầm lỗi. Ðể cho
hàng Phật tử tránh sự mê lầm ấy, đức Thế tôn tuỳ mỗi
trình độ mà chế ra các giới. "Giới" là những điều răn
cấm, mục địch ngăn ác hạnh, đưa chúng sanh đến chỗ an
lành. Giới luật của hàng Phật tử tại gia có Ngũ giới,
Bát quan trai giới, Bồ tát giới, nếu thọ được thì phẩm
lành tăng tiến, phước huệ lớn thêm, không thọ cũng chẳng
đến nỗi mất nhân thân. Riêng về ngũ giới, sau khi quy y
tam Bảo, mỗi người phật tử tại gia đều phải thọ; nếu
chẳng vâng giữ thì nhân phẩm không toàn vẹn, kiếp sau phải
mất thân người.
Ngũ
giới là năm điều răn cấm gồm có: không giết hại, không
trộm cướp, không tà dâm, không nói vọng, không không uống
rượu.
1.
Không giết hại: - Trong điều răn cấm thứ nhất, đức Phật
khuyên chúng ta không được giết hại sanh mạng, từ loài
người cho đến loài vật. Phật giáo cấm sát sanh bởi những
lý do:
A-
Tôn trọng Phật tánh bình đẳng: - Ðức Thế Tôn đã bảo:
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có khả năng
thành Phật. Chân tánh đã bình đẳng thì chúng ta không nên
cho rằng Phật tánh ở người có giá trị hơn ở vật, ở
màu da kia, giai cấp kia. Cho nên giết hại một sanh mạng là
giết hại một đức Phật ở tương lai.
B-
Tôn trọng sự công bình: - Mọi loài đều biết ham sống sợ
chết, trừ gặp cảnh cùng quẩn hay lý do quan trọng khác,
nên mới phải quyên sinh. Chúng ta đã xem sanh mạng mình là
qúy, nếu ai mưu hại thì dùng đủ cách để tự bảo vệ,
tại sao lại ỷ khôn mạnh mà giết loài ngu yếu để thoả
lòng căm tức hoặc cầu miếng thơm ngon? Việc mình không muonn
lại đem ra dối sử với kẻ khác, loài khác, ấy là mất
sự công bình. Vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, cho
đến loài vật, chớ giết, chớ bảo giết.
C-
Nuôi dưỡng lòng từ bi: - Ðó là chúng sanh có tình thức thì
loài nào cũng biết đau đớn, vui buồn. Một chuyện nhỏ nhặt
như khi chúng ta đi lỡ vấp, tự có cảm giác đau đớn và
trong cảnh tử biệt sanh ly ai cũng thương buồn! Thế thì tại
sao ta lại nhẫn tâm làm cho kẻ khác hoặc vật khác, trước
khi tắt hơi thở phải rên siết trong lệ nóng, quần quại
trong máu đào, và chịu nỗi thương tiếc đau buồn trong cảnh
sanh ly tử biệt? Một chút đau đớn chính mình còn khó kham
chịu, lại gây cho chúng sanh nỗi thống khổ vô hạn, tức
không có lòng từ bi, không xứng đáng là con của Phật.
D-
Tránh nhân qủa xấu ác: - Khi ta giết một người, tất đã
gây mối oán hờn với gia đình quyến thuộc họ. Trong lúc
thế cô sức yếu, thân thích nạn nhân chỉ đành ôm hận,
nhưng họ vẫn rình rập chờ cơ hội báo thù. Loài vật cũng
vậy, nếu có thể báo oán nó không dung tha kẻ giết. Theo
kinh Phật, kẻ diệt hại lâu ngày thì nghiệp sát càng nặng,
sau khi chết phải đọa vào địa ngục, ngạ qủy, súc sanh,
chịu vô lượng sự khổ. Ðến khi được thân người lại
bị nhiều bịnh hoặc chết non. Cho nên càng sát hại, càng
tăng thêm nghiệp khổ, mãi xoay vần trong nẻo luân hồi, không
biết ngày nào được ra khỏi.
Trái
lại, nếu người giữ giới không sát hoại hoặc phóng sanh,
thì sẽ được những qủa báo như sau: sắc lực đầy đủ,
ít hay đau bịnh, thân tâm an ổn, mọi người yêu kính, thọ
số lâu dài, thường hưởng phước vui ở cõi trời hoặc
cõi người.
2-
Không trộm cướp: Giới thứ hai, đức Phật khuyên chúng ta
không nên trộm cướp từ vật trọng như châu báu vàng bạc,
đến vật mọn như cọng rau, trái ớt, mũi kim. Ðại khái
những vật gì người ta không cho mà mình cố lấy, đều thuộc
về trộm cướp.
Nếu
phân biệt rộng ra, thì trộm cướp có nhiều hình thức như:
lén lút mà lấy, ỷ bè đảng mạnh giựt ngang, cậy quyền
thế làm tiền kẻ yếu, nhân lúc người túng ngặt cho vay
nặng lời hoặc cầm mua với giá rẻ mạt, tích trữ đầu
cơ để bán chợ đen, cân nong đong thiếu, trốn thuế lậu
đò, mưu mô lường gạt để lấy của... Tắt một lời, bất
cứ hình thức nào, nếu do lòng gian tham lấy của tư hay công
trong trường hợp bất chính, đều thuộc về trộm cướp.
Vì
sao đức Phật cấm trộm cướp? Bởi đối với tài vật sở
hữu ta biết tôn trọng giữ gìn, mà trở lại cố chiếm đoạt
của người, đó là trái lẽ công bình. Khi ta mất hay vô ý
đánh mất một số tiền hoặc vật chi, ta lo buồn an ngủ
không yên; tai sao lại đang tâm lấy của người để cho họ
phải khóc than, đau khổ. Ðó chính là thiếu lòng từ bi. Trộm
cướp gây cho phạm nhân bị tù tội, bị khinh chê cha mẹ
gia đi đình cũng buồn rầu xấu hổ. Hơn nữa, nếu trộm
cướp làm cho người lâm cảnh nghèo khổ hoặc thất chí quyên
sinh, thì kẻ gây nhân phải chịu nghiệp báo không nhỏ. Theo
kinh Phật, kẻ trộm cướp sẽ bị những ác qủa, nhẹ thì
vất vả nghèo hèn, nặng phải làm súc sanh để trả nợ,
hoặc bị đọa vào địa ngục. Cho nên vì lẽ công bình, vì
lòng từ bi, vì giữ nhân cách, vì tránh ác báo, đức Thế
Tôn khuyên răn không nên trộm cướp.
Nếu
giữ giới không trộm cướp, mà lại có lòng xót thương giúp
đỡ bố thí, thì sẽ được mọi người kính yêu, lòng từ
bi và các phẩm lành tăng tiến, tài vật đầy đủ khỏi cảnh
nghèo nàn, thường được sanh lên cõi trời cõi người hưởng
phước an vui.
3-
Không tà dâm: - Tà dâm chẳng phải cấm hẳn việc nam nữ,
mà chỉ ngăn không được ngoại tình. Theo giới điều thứ
ba này, khi vợ chồng cưới hỏi có đủ lễ gọi là chánh,
ngoài ra lén lút lang chạ làm điều phi hạnh gọi là tà. Nói
vi tế hơn, dù vợ chồng chánh thức mà ăn nằm không phải
chỗ, gần gũi không chừng mực, cũng thuộc về tà dâm. Ðức
Phật sở dĩ cấm tà dâm, vì mỗi người ai cũng muốn gia
đi đình mình đầm ấm yên vui, vợ con trinh chánh, nếu lại
đi phá hoại làm nhục nhã cho gia đình kẻ khác, đó là trái
lẽ công bình. Kẻ làm tà hạnh chơi bời lả lơi, tất bị
mọi người khinh rẻ chê bai, đó là mất phẩm cách. Khi trong
nhà chồng hoặc vợ có dạ tà tư thì gia đình ấy không còn
hạnh phúc, bởi chồng vợ không tin nhau, con cái bị xấu hổ,
thân thuộc không đoái hoài, sự nghiệp sẽ suy vi. Kẻ đắm
mê sắc dục cũng như người cầm đuốc đi ngược gió, tại
họa trở lại chính mình, nếu không hại nước tan nhà thì
cũng hư thân mất mạng. Như chúng ta đã thấy trên báo chí
hằng ngày, những án mạng và kết qủa thảm khốc do sắc
dục gây ra, nếu tính lại, không biết bao nhiêu mà kể! Theo
trong kinh, những ác qủa do tà dục gây ra , nhẹ thì nhiều
kiếp vợ con không trinh chánh, gia đình tan rã, nặng tất sẽ
bị đọa tam đồ. Tóm lại, vì trọng lẽ công bình, vì tránh
ác báo đời này và đời sau, đức Phật đã răn dạy không
nên tà dâm.
Nếu
giữ giới không tà dâm, thì hiện đời gia đìnhh được hòa
thuận an vui, mọi người nể trọng, đời sau sáu căn đoan
nghiêm toàn vẹn, vợ con trinh chánh, được người kính mến,
khỏi sự phiền lụy ưu sầu, như kinh Thập thiện đã nói.
4-
Không nói vọng: - Tướng trạng về điều giới thứ tư này
có bốn cách: nói dối, nói thêu dệt nói đôi chiều, nói
thô ác.
Nói
dối là như chuyện không nói có, có nói không; việc quấy
nói phải, phải nói quấy, điều nghe nói không nghe, không
nghe nói nghe; hoặc trước mặt khen rồi, sau lưng chê mạt.
Tóm lại, những lời trước sau mâu thuẫn, chân giả khác
nhau, trong ngoài bất nhất, đều thuộc về nói dối cả.
Nói
thêu dệt là việc ít xích ra nhiều làm cho người sân hận,
trau chuốt lời nói nói để chữa lỗi mình, hoặc dùng lời
ngọt ngào êm tai để cám dỗ khiến cho người say mê đắm
nhiêm, cũng có khi là nói châm biếm làm cho kẻ nghe phải
khổ tâm. Ðại khái những lời nói thêm bớt không đúng nghĩa
chơn thật, cho đến văn chương bóng bảy phù phiếm, làm cho
người mê loạn, tâm ý phóng đáng theo việc tà, hoặc sanh
niệm vơ vẩn thương buồn, đều thuộc về nói thêu dệt.
Nói
đôi chiều là đem chuyện đây học kia, đem chuyện kia học
đây, đến chỗ này nghiêng theo bên này đi chỗ nọ phụ theo
bên nọ, làm cho đôi bên sanh ra giận hờn thù oán nhau, khiến
bạn bè đang thân trở thành nghi ngờ chống đối.
Nói
thô ác là mắng chửi la hét, dùng nhiều lời lẽ nặng nề
không thanh bai, làm cho người nghe phải khổ đau hoặc buồn
rầu sợ hãi.
Bốn
điều trên đều gọi là nói vọng, tức những lời trái với
lẽ chân thật. Bởi Phật giáo là đạo như thật, nếu người
Phật tử mãi theo ngọn trào hư vọng không thiết tìm sự
thật thì khó trở lại nguồn chân. Ta đã sống trong vòng
mê vọng mà còn chồng chất thêm sự giả dối nữa, thì làm
sao đi đến chỗ giải thoát? Cho nên muốn học Phật, tất
phải tôn trọng sự thật. Lại, động lực của sự dối
trá là lòng tham sân ích kỷ, muốn hại người để thoả
ý niệm đen tối của mình. Kẻ bị phỉnh gạt phải sanh phiền
não, đau khổ, có khi chuốc oán vương thù hoặc tán gia bại
sản. Người tu hành mà làm như thế thì lương tri đã mất,
đâu còn tình thương? Kẻ dối trá không những làm mất lòng
tin tưởng của mọi người đối với mình, mà lại gây cho
bao nhiêu kẻ khác nỗi hoang mang nghi ngại. Sự an hòa trong
xã hội do đó mà bị xáo trộn. Cho nên lời nói tuy không
phải đao kiếm, nhưng còn nguy hiểm hơn, vì nó có tác dụng
của hai mũi nhọn,một mũi đâm vào người khác, và một mũi
trả lại đâm chính người sử dụng. Ðức Như Lai thường
phát ra phạm âm thanh triệt, tướng lưỡi rộng dài có thể
chấm đến mé tóc nơi chán, do vì nhiều kiếp tu hành chân
thật, không nói vọng. Theo kinh Phật, nghiệp vọng ngữ nếu
nhẹ thì mang qủa báo bị mọi người mất tin tưởng, chán
nản lánhx a, việc làm thất bại; như nói vọng có tánh cách
hại nhân hoặc hoại Tam bảo, kẻ ấy sẽ đọa vào ba đường
ác, khi được làm người phải bị câm ngọng, chịu sự khinh
rẻ chê bai. Cho nên, vì tôn trọng sự thật, vì lòng từ bi,
vì bảo tồn sự trung tín đối với mình và trong xã hội,
vì tránh qủa báo xấu ác, đức Phật khuyên dạy không nên
nói vọng.
Nếu
giữ giới không vọng ngữ, sẽ được mọi người mến trọng
tin cậy, thường ưa gần gũi, việc làm thuận lợi; và bởi
lời chân thật phát từ tâm chân thật, nên các phẩm lành
tăng tiến, thường hưởng phước nhân thiên.
5-
Không uống rượu: - Về giới thứ năm, đức Phật khuyên
không nên tự mình uống rượu, hoạc ép bảo người khác
uống.
Sở
dĩ, đức Phật cấm uống rượu vì rượu càng uống càng
đi vào chỗ thâm nhiễm, các chứng bịnh như đau gan, đau
mắt, phong tê, bại liệt, ung độc do đó mà sanh, không những
đã hại thân mình, mà còn đi lụy đến con cháu. Người uống
rượu khi say sưa thì cử chỉ lời nói đều thô tháo, bỏ
bê công việc, bị người cười cợt chê bai. Một chén thuốc
độc nếu ta uống vào, chỉ chết một thân hiện tại, chứ
uống rượu thì tâm thần hôn muội, trí huệ lần lần mất,
giết chết pháp thân, bị đọa vào vòng sanh tử trong vô số
kiếp. Lại uống rượu tuy không phải là phạm sát, đạo
dâm, vọng, nhưng nó là nguyên nhân sanh ra bốn thứ ấy vô
số tội lỗi khác. Theo trong kinh, uống rượu gây ra mười
điều tai hại như sau: của tiền rơi mất, thân hay đau bịnh,
tăng trưởng lòng giết hại, thêm việc sanh hận tranh cãi,
trí huệ lần lần kém, phước đức tiêu mòn, sự nghiệp
không thành, tuổi thọ giảm bới, thân tâm nhiều khổ, khi
chết đọa vào địa ngục.
Nói
đại khái, vì tránh đau bịnh, vì giữ phẩm cách, vì bảo
tồn hạt giống trí huệ, vì ngăn ngừa tội lỗi, đức Phật
răn dạy không nên uống rượu.
Nếu
giữ giới không uống rượu, về phương diện cá nhân, sẽ
tránh được mưòi điều tai hại trên. Về phương diện đoàn
thể thì gia đình được yên vui, con cai ít tật bịnh, xã
hội được hòa mục, nòi giống thêm hùng cường.
Trên
đây chỉ kể lược qua về điều lợi hại của sự giữ
và phạm năm giới. Ðứng về chiều sâu, tức là phương diện
chủng tử mà nói, thì như chư Tổ đã dạy: nếu sát sanh,
sẽ mất hết hạt giống từ bi; nếu trộm cướp, sẽ mất
hết hạt giống phước đức, nếu tà dâm, sẽ mât hết hạt
giống thanh tịnh; nếu nói vọng, sẽ mất hết hạnt giống
chân thật; nếu uống rượu, sẽ mất hết hạt giống trí
huệ. Ðể nói thêm về mối nguy hại của sự khuyết phạm
năm giới, xin trần thuật một đọan kinh sau đây cho người
học Phật thêm cẩn ý.
Có
năm việc mà trong hiện tại, mọi người không thể làm cho
của cải và sanh mạng được tăng trưởng. Năm điều ấy
là: sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói vọng và uống rượu.
Tất
cả chúng sanh vì ưa giết hại, nên trong hiện đời bị ác
sắc, ác lực, ác danh, chết yểu, tài vật hao giảm, quyết
thuộc chia lìa, hiện thánh quở trách, người không tin dùng,
kẻ khác làm tội mà mình mang họa. Ðó là nghiệp qủa trong
đời hiện tại. Lúc bỏ báo thân lại đoạ vào tam đồ,
bị ác sắc, ác lực, ác danh, đói khát, chịu nhiều nỗi
khổ sở, mạng sống không lâu dài. Ðây là nghiệp qủa ở
đời sau đến khi được làm thân người, lại chịu thân
bần tiện, cùng khổ, xấu xa, suy bịnh, đoản thọ. Do sức
nghiệp ác của đương nhơn, khiến cho ngũ cốc hoa màu bên
ngoài bị hao kém, gây ương lụy cho mọi người.
Nếu
kẻ nào ưa trộm cướp, thì hiện đời bị ác sác, ác lực,
ác danh, tiền của hao giảm, quyến thuộc chia lìa, mạng sống
ngắn ngủi, người khác mất đồ mình bị nghi ngờ, dù muốn
kết thân cũng không ai tin cậy, thường bị hiền thánh quở
trách. Ðó là nghiệp qủa trong đời hiện tại. Lúc bỏ báo
thân lại đọa vào tam đồ, bị ác sắc, ác lực, ác danh,
đói khát, chịun hiều nỗ khổ sở, mạng sống không lâu
dài. Ðây là nghiệp qủa ở đời sau. Ðến khi sanh làm người
lại nghèo hèn, tuy được tài vật liền bị hao mất, cha mẹ
anh em vợ con đều không thương mến, tâm thường khổ nhọc,
tâm hằng buồn lo. Do sức nghiệp ác của đương nhân, khiến
cho mọi người khi ăn món chi vào, phần sắc lực cũng kém,
gây ương lụy cho vạn dân.
Nếu
kẻ nào ưa tà dâm thì khó giữ gìn thân mình cho đến kẻ
khác, mọi người trông thấy đều sanh lòng nghi kỵ, khi làm
việc chi trước hay nói dối, tâm thường rối loạn chịu
sự khổ não, tài vật hao mất khó tu pháp lành, vợ con khinh
buồn không còn thương mến, thân thể suy kém mạng sống ngắn
ngủi. Ðó là qủa báo hiện tại của nghiệp tà dâm. Lúc
bỏ báo thân, lại đọa vào tam đồ, bị ác sắc, ắc lực,
đói khát, chịu nhiều nỗi khổ sở, mạng sống không lâu
dài. Ðây là nghiệp qủa ở đời sau. Ðến khi được làm
người thì hình tướng xấu thô, hay ác khẩu, không ai thích
thân thiện, không thể giữ gìn thê thiếp, con trai, con gái.
Do sức ác nghiệp của đương nhơn, khiến cho mình và người
không được tự tại.
Nếu
kẻ nào ưa nói vọng, thì hiện đời bị ác sắc, ác khẩu,
dù có nói thật cũng không ai tin, mọi người khinh ghét chẳng
muốn thấy gặp. Ðó là nghiệp qủa đời hiện tại. Lúc
bỏ báo thân lại đọa vào tam đồ, chịu sự đói khát, nhiệt
não, khổ sở vô cùng. Ðây là nghiệp của đời sau. Ðến
khi được làm người thì tướng miệng và âm thanh không đầy
đủ, dù nói thật cũng không ai tin, kẻ khác cũng không ưa
gặp mặt, tuy nói chánh pháp người không thích nghe. Do sức
ác nghiệp của đương nhơn chiêu cảm, khiến cho sản vật
bên ngoài thường bị hao kém.
Nếu
kẻ nào thích uống rượu thì trong hiện tại hay hao mất tài
vật, thân tâm nhiều bịnh, thường ưa đấu tranh, tiếng xấu
đồn xa, trí huệ lần kém, tâm không hổ thẹn, sắc lực
hao mòn, không thể tu pháp lành, thường bị nhiều tiếng chê
trách, mọi người không muốn gần gũi. Ðó là nghiệp qủa
hiện tại của sự uống rượu. Lúc bỏ báo thân rồi lại
bị đọa vào tam đồ, thường chịu đói khát và vô lượng
sự khổ não. Ðây là ác qủa đời sau. Ðến khi được làm
người, tâm thường cuồng loạn, không thể nghĩ nhớ pháp
lành. Do nghiệp ác của người này chiêu cảm, khiến cho sản
vật bên ngoài thường bị hư hao thối nát.
Này
thiện nam tử! Năm ác pháp như trên, nay ngươi có thể chân
thật xa lìa chăng? (Kinh Ưu Bà Tắc Giới).
Tiết
II. Nghi Thọ Năm Giới Và Tánh Tướng
Nghi
thức thọ năm giới, về phần khái yếu, như trong luật đã
nói:
Con
là ... từ nay cho đến suốt đời, xin quy y Phật lưỡng túc
tôn, quy y Pháp ly dục tôn, quy y Tăng chúng trung tôn. (Nói ba
lần). Con là .... đã quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi, quy y
Tăng rồi. Nay con ở trong giáo pháp của đức Thich Ca Mâu Ni
Như Lai, nguyện thọ năm giới làm ưu Bà Tắc (hay Ưu bà di),
xin đại đức chứng tri. (Nói ba lần. Giới sư bảo):
Thiện
nam tử! Ðức Thích Ca Mâu Ni, Ða đà a dà độ, A la ha, Tam
miệu tam Phật đà, đã vì hàng Ưu bà tắc nói ra năm giới.
Phàm là kẻ Ưu bà tắc (hay Ưu bà di), suốt đời phải giữ
gìn năm điều giới này:
Ðiều
thứ nhất, suốt đời lìa sự sát sanh, là giới của hàng
Phật tử tại gia, con có thể giữ được không? (Nên đáp:
- Dạ giữ được. Các giới sau cũng thế).
Ðiều
thứ hai, suốt đời lìa sự trộm cướp, là giới của hàng
Phật tử tại gia, con có thể giữ được không?
Ðiều
thứ ba, suốt đời lìa sự tà dâm, là giới của hàng Phật
tử tại gia, con có thể giữ được không?
Ðiều
thứ tư, suốt đời lài sự nói vọng, là giới của hàng
Phật tử tại gia, con có thể giữ được không?
Ðiều
thứ năm, suốt đời lìa sự uống rượu nếp, rượu nho,
tất cả các thứ rượu đều không được uống, là gớI
của hàng Phật tử tại gia, con có thể giữ được không?
(Thập Tụng Yết Ma Tỳ Khưu Yếu Dụng).
Trong
năm giớI trên, bốn điều trước thuộc về tánh giới, một
điều uống rượu sau thuộc về tướng giới. Nói tánh giới,
vì những giới này có liên quan đến tâm tánh, như người
phạm tà dâm tức nhiên trong tâm nặng về ái dục, người
phạm vọng ngữ tất nơi tâm có sự gian dối. Cho nên về
tánh giới thì dù người có thọ giới haykhông, nếu phạm
cũng đều bị sa đọa. Còn tướng giới là giới thuộc về
hình thức phát thệ để ngăn ngừa sự phạm lỗi; nếu có
thọ mà phạm thì đắc tội, không thọ thì không đắc tội.
Tuy nhiên, đây là nói người không thọ tửu giới chỉ uống
rượu chút ít nên không mang tội pháp giới; nếu không thọ
giới rượu song uống nhhiều cũng gây nghiệp và bị sa đọa.
Sự
trì giới còn có trường hợp khai, giá, nghĩa là mở và khép.
Ví như người tuy đã thọ giới không vọng ngữ, nhưng vì
lòng từ bi muốn cứu mạng loài vật, hay muốn tránh sự buồn
khổ vô ích cho kẻ khác mà phương tiện nói dối, thì không
phạm. Hoặc như đã thọ giới rượu, nhưng vì bệnh tê bại
phải dùng thuốc rượi điều trị mới lành, thì có thể
dối trước bàn Phật hay chư vị tăng xin phương tiện dùng
rượu để trị bệnh trong một thời gian. Ðây là nghĩa "khai",
tức là tạm mở ra, hay tạm cho. Như trường hợp không cần
phải phương tiện, hay khi tạm dùng phương tiện để lợi
mình lợi người đã xong rồi, phải chính chắn giữ giới
không đước trái phạm. Ðây là nghĩa "giá", tức là khép,
hayngăn đóng. Cho nên thọ giới không phải là mãi hạn chế
hành giả trong một khuôn khổ, và cách giữ giới của người
trí không phải cứ mãi theo một đường lối cố định. Như
theo kinh Vị tằng Hữu, trong ngày thọ bát quan trai, bà Mạt
Ly phu nhân vì cúu viên ngự trù mà phải uống rượu, nói
dối, bày trò ca nhạc và trang điểm nơi thân. Sau khi viên
ngự trù thoát nạn, phu nhân đem việc ấy thưa hỏi, thì đức
Phật bảo rằng là bà đã không phạm giới mà còn có phước,
và lại khen là một hành giả có trí phương tiện. Vậy người
thọ giới nên suy gẫm điều này, đừng qúa lo sợ.
Ngoài
nghĩa khai, giá, còn có nghĩa "trì, phạm". Như sau khi thọ giới,
trong trường hợp bình thường không cần phương tiện, hành
giả chín chánh giữ giới gọi là "trì". Nếu đã thọ giới
mà không giữ, hoặc trường hợp không đáng phương tiện
mà phương tiện gọi là "phạm". Người đã thọ giới, phải
ý thức bốn nghĩa khai, giá, trì, phạm trên đây.
Ðể
học giả hiểu rọng thêm trong việc thọ giới, xin dẫn một
đoạn kinh thuyết minh về giá tội và thật tội (tực là
tánh tội):
-
Trong năm giới Ưu bà tắc, những gì thuộc về thật tội
và giá tội?
Bốn
giới trước thuộc về thật tội, một giới rượu sau thuộc
về giá tội. Sở dĩ uống rượu được cùng bốn điều trên
kết thành năm giới, vì nó là nguồn gốc của sự phóng đãng,
hay gây ra việc phá phạm bốn giới kia. Như vào thời đức
Phật Ca Diếp, có một vị Ưu bà tắc do xem thường giới
thứ năm, nên phóng tâm uống rượu rồi sanh ra thèm thịt,
bắt trộm gà của kẻ khác đem giết. Người phụ nữ hàng
xóm qua tìm gà, lại bị ông hãm hiếp. Ðến khi kẻ khác hỏi,
ông chối rằng mình không có làm việc ấy. Kết cuộc vì
nhất thời bị rượu làm loạn tâm, nên ông đã phạm luon
cả bốn giới kia. Có người do uống rượu mà phạm bốn
tội nghịch, chỉ trừ không thể phá Tăng. Vì thế, người
uống rượi tuy không phải túc nghiệp mà mắc qủa báo cuồng
loạn, bởi rượu hay gây sự mê hoặc điên đảo, khiến cho
chúng sanh như dại như ngây. Lại khi đã bị loạn tâm vì
rượu, tất hành giả phải bỏ mất chánh nghiệp như ngồi
thiền, tụng kinh và làm việc chúng. Cho nên uống rượu tuy
không phải là thật tội, nhưng do các nhân duyên trên, dễ
đồng với thật tội.( Kinh Ðại Phương Tiện Phật Báo Ân).
Tiết
III. Lược Thuyết Về Việc Ðắc Giới
Người
thọ ngũ giới cần nên biết thế nào là đắc giới. Ðể
chứng minh và khái thuyết về việc này, xin dẫn mấy đoạn
kinh như sau:
-
Khi ấy, ngài Ưu Ba Ly thưa: - Bạch Thế Tôn! Người thọ giới
Ưu bà tắc, trong trường hợp thấy mình khó giữ đủ năm
điều, nếu thọ một hoặc hai cho đến bốn giới, có thể
gọi là đắc giới chăng? Ðức Phật đáp: "- Kẻ ấy không
đắc giới. Bạch Thế Tôn! Nếu không đắc giới thì tại
sao trong kinh có chỗ nói thiểu phần, đa phần, cho đến mãn
phần Ưu Bà Tắc? Vậy ý nghĩa ấy như thế nào? - Này Ưu
Ba Ly! Sở dĩ ta nói lời ấy, vì muốn thuyết minh công đức
trì giới nhiều hoặc ít, chớ không phải nói có cách thọ
giới như vậy.
Ưu
Ba Ly lại thưa: - Bạch Thế Tôn! Có thể được thọ năm giới
từ một, hai, cho đến mười ngày chăng? Ðức Phật bảo:
- Không thể được! Như Lai chế ra các giới đều có chừng
hạn của mỗi thứ. Nếu thọ Ngũ giới tất phải suốt đời,
như thọ Bát quan trai giới, thì chỉ một ngày một đêm. Phép
Bạch tứ yết ma truyền giới cũng có thượng, trung, hạ.
Ngũ giới là hạ phẩm giới, thập giới là trung phẩm giới,
Cụ giới là thượng phẩm giới. Riêng về ngũ giới cũng
có ba phẩm: Nếu dùng tâm bậc hạ mà thọ, thì đắc giới
thuộc phẩm hạ; nếu dùng tâm bậc trung mà thọ, thì đắc
giới thuộc phẩm trung; nếu dùng tâm bậc thượng mà thọ
thì đắc giới thuộc phẩm thượng. Thập giới và Cụ giới
cũng đều có ba phẩm như thế.
Ngũ
giới là nền tảng của các giới, vì trong Bát giới, Thập
giới, Cụ Giới, Bồ tát giới cũng có năm giới căn bản
ấy. Nếu có người trước dùng tâm hạ phẩm đắc Ngũ giới,
rồi sau dùng tâm trung phẩm hay thượng phẩm thọ Thập giới
hoặc Cụ giói, thì các giới khác mới thuộc về trung phẩm
hay thượng phẩm, còn năm giới căn bản vẫn thuộc về hạ
phẩm. Tại sao thế? Vì giới là Ba la đề mộc xoa không có
đắc hai lần.
Lại
nữa, nếu lấy theo thứ lớp mà nói, thì Ngũ giới thuộc
về hạ phẩm, Thập gới thuộc về trung phẩm, Cụ giới thuộc
về thượng phẩm. Nhưng nếu cứ theo tâm mà luận, thì lại
khác. Như có người dùng tâm bậc thượng mà đắc Ngũ giới,
đó thuộc về thượng phẩm giới. Nếu dùng tâm bậc trung
mà đắc Thập giới, đó thuộc về trung phẩm giới. Nếu
dùng tâm bậc hạ mà đắc Cụ giới, đó thuộc về hạ phẩm
giới. Vì bởi, nghĩa này, nên giới phẩm tùy tâm mà có thuộc
về thượng phẩm, hay đắc Ngũ giới là thuộc về hạ phẩm.
(Kinh Ðại Phương Tiện Phật Báo Ân).
Về
Ba la đề mộc xoa, trong ngũ đạo duy có nhơn đạo đắc giới,
còn bốn nẻo kia rất khó. Tại sao thế? Vì chư thiên nơi
cõi trời tâm nhiễm lạc sâu nặng, nên khó đắc giới.
Như thuở trước, Tôn giả Mục Kiền Liên vì người đệ
tử đau bịnh, lên cõi trời hỏi cách điều trị nơi ông
Kỳ Bà (ông đã sanh lên thiên quốc). Khi ngày đến nơi vừa
lúc chư thiên đang vào vườn Hoan Hỷ vui chơi. Lúc ấy tất
cả thiên chúng đi ngang qua thấy Tôn giả đứng bên lề đường,
nhưng không vị nào đoái hoài đến. Ông Kỳ Bà đi sau rốt,
trông thấy Tôn giả, liền đưa một tay lên chào, rồi dong
xe đi thẳng. Ngài Mục Kiền Liên tự nghĩ: Kẻ này khi còn
ở nhân gian, là đệ tử tại gia của mình; nay vừa được
hưởng phước trời, đã vội say đắm quên mất tánh cũ.
Nghĩ xong, ngài liền dùng thần lực bắt cỗ xe như ý đứng
lại. Bất đắc dĩ, Kỳ Bà phải xuống xe đảnh lễ nơi
chân. Tôn giả liền nói nhiều nhân duyên để quở trách.
Kỳ Bà thưa: Bạch Ðại Ðức! Vì khi còn ở nhân gian tôi
là đệ tử của ngài, nên mới có đưọc cử chí như thế,
còn chư thiên khác vị nào cũng đi suốt qua cả, đâu có ai
thưa hỏi đón chào? Ấy do bởi sự vui nơi đây rất vi diệu,
nên thiên chúng đắm nhiễm, tâm không được tự tại. Xin
đại đức thể tình mà khoan thứ cho. Tôn giả hỏi: Ðệ
tử của ta bịnh như thế, phải điều trị cách nào? Kỳ
Bà thưa: Chỉ cấm thực ít hôm là khỏi.
Có
một độ, ngài Mục Kiền Liên khuyên Thích Ðế Hoàn Nhân
rằng: Ðức Như Lai ra đời là một thắng duyên khó gặp,
sao ông chẳng thường gần gũi Phật để thưa hỏi chánh pháp?
Ðế Thích muốn tỏ cho ngài biết sự khó được như ý đó,
liền bảo gọi một vị thiên tử đến. Vị thiên tử này
có một thiên nữ mà một kỷ nhạc, tuy biết mạng lịnh của
thiên đế là oai trọng, nhưng vì đắm nhiễm qúa sâu, nên
đợi gọi đến lần thứ tư bất đắc dĩ mợi tạm dẹp
sự vui qua một bên, gắng gượng đến trình diện. Thiên đế
hỏi lý do đến trễ, ông hổ thẹn đem sự thật tâu lên.
Khi ấy, Ðế Thích mới thưa: Bạch đại đức! Vị Thiên tử
này duy có một thiên nữ, một kỷ nhạc, mà còn khó nỗi
cắt bỏ sự vui. Huống chi tôi là thiên vương có nhiều cung
điện rực rỡ nguy nga, vô số ngọc nữ phi tần hầu hạ,
trăm ngàn thứ kỷ nhạc nhiệm mầu, nhìn bên đông quên bên
tây, nỗi ái lạc buộc ràng, sự cắt lìa còn khó hơn muôn
phần! Vì thế, tuy nhận hiểu Như Lai khó gặp, chánh pháp
khó nghe, cũng không biết làm sao để thường gần gũi được!
Phàm
thọ giới phải dùng tâm mạnh mẽ qủa quyết tự thệ, mới
có thể đắc giới. Chư thiên sở dĩ khó đắc giới, vì ý
niệm say đắm theo thú vui ngũ dục nặng nhiều, sức thiện
tâm lại kém yếu. Hằng ngạ qủy bị khổ vì đói khát, thân
tâm nóng bức; chúng địa ngục chịu vô lượng nỗi khổ
độc, tâm ý duy nhớ biệt sự khổ đâu, nên không do đây
mà đắc giới. Còn chúng bàng sanh phần nhiều vì nghiệp chượng
nặng, không hiểu biết chi, chẳng thọ pháp giới, nên cũng
khó đắc giới. Tuy trong kinh có nhiều chỗ nó rồng cầu trai
pháp, nhưng long vương do thiện tâm thhọ bát quan trai nên chỉ
được công đức lành chớ khó đắc trai, vì bởi còn nhiều
nghiệp chướng.
Về
nhơn đạo, trong tứ thiên hạ, duy loài người ở ba châu:
Diêm phù đề, Cù da ni, và Phất bà đề là có thể đắc
giới. Lại trong ba châu, riêng người ở châu Diêm phù đề
dễ đắc giới hơn cả. Về châu Cù da ni, thuở trước đức
Thế Tôn sai tôn giả Tân Ðầu Lư qua bên ấy làm Phật sự,
nên nơi đó có bốn bộ chúng. Châu Phất bà đề nhờ nhiều
vị Tỷ khưu đắc đạo sang hoằng hóa, nên ở đó cũng có
bốn bộ chúng. Duy người nơi châu Uất đan việt vì phước
báo ngăn che, lại căn trí si mê không thọ thánh pháp, chánh
giáo không thể lưu hành, nên không có nhân duyên đắc giới.
Loài
người có bốn hạng: nam, nữ, huỳnh môn và hai căn. Trong
bốn hạng này, duy có nam nữ đắc giới, còn huỳnh môn và
hai căn không đắc giới. Trong hai hạng nam, nữ, những kẻ
giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật ra huyết,
phá hòa hợp Tăng, làm hoen ố Tỷ khưu ni , tặc trụ, độ
người vượt pháp, đọa căn lành, đều không đắc giới.
(Tát Bà Ða Tỳ Ni Tỳ Bà Sa).
Tiết
IV- Tướng Phá Giới
Ðã
biết qua việc đắc giới, hàng Phật tử lại cần nên hiểu
thế nào là tướng phá giới. Như đoạn kinh sau:
...Ðã
truyền giới xong, lại nên bảo: Có sáu trọng pháp mà bậc
Ưu bà tắc, Ưu Bà di cần phải giữ gìn nghiêm nhặt:
Này
thiện nam tử! Hàng Phật tử tại gia đã thọ giới rồi,
trên từ thánh nhân dưới cho đến loài trùng kiến, đều
không được cố tâm giết. Nếu tự mình giết hoặc bảo
người giết, kẻ ấy liền bị mất giới Ưu bà tắc, hãy
còn không được Noãn pháp, huống chi qủa Tu đà hoàn cho đến
qủa A na hàm! Phạm lỗi này, tức là hạng Ưu bà tắc pháp
giới, xấu xa, đê tiện, nhơ bẩn, kiết nghiệp. Ðây là trọng
pháp thứ nhất, cần phải giữ!.
Hàng
Phật tử tại gia đã thọ giới rồi, dù gặp nhân duyên mất
mạng, cũng không được trộm cướp trên từ vàng bạc châu
báu dưới cho đên một đồng tiền. Nếu trộm cướp, kẻ
ấy liền bị mất giới Ưu bà tắc, hãy còn không được
Noãn pháp, huống chi qủa Tu đà hoàn cho đến qủa A na hàm!
Phạm lỗi này, tức là hạng Ưu bà tắc phá giới, xấu xa,
đê tiện, nhơ bẩn, kiết nghiệp. Ðây là trọng pháp thứ
hai, cần phải giữ.
Hàng
Phật tử tại gia thọ giới rồi, dù gặp nhân duyên mất
mạng, cũng không được lời hư dối, như bảo: tôi đã được
Bất tịnh quán, cho đến qủa A na hàm. Nếu gây tội đại
vọng ngữ, kẻ ấy liền bị mất giới Ư bà tăc, hãy còn
không được noãn pháp, huống chi qủa Tu đà hoàn cho đến
qủa A na hàm! Phạm lỗi này, tức là hạng Ưu bà tắc phá
giới, xấu xa đê tiện, nhơ bẩn, kiết nghiệp. Ðây là trọng
pháp thứ ba, cần phải giữ!
Hàng
Phật tử tại gia đã thọ giới rồi, dù gặp nhân duyên mất
mạng, cũng không được tà dâm. Nếu tà dâm, kẻ ấy liền
bị mất giới Ưu bà tắc, hãy còn không được Noãn pháp,
huống chi qủa Tu đà hoàn cho đến qủa A na hàm! Phạm lỗi
này, tức là hạng Ưu bà tắc phá giới, xấu xa đê tiện,
nhơ bẩn, kiết nghiệp. Ðây là trọng pháp thứ tư, cần phải
giữ!
Hàng
Phật tử tại gia thọ giới rồi, dù gặp nhân duyên mất
mạng, cũng không được rao nói những lỗi lầm của Tỷ Khưu,
Tỷ Khưu Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di. Nếu rao nói tội lỗi của
tứ chúng, kẻ ấy liền bị mất giới Ưu bà tắc, hãy còn
không được Noãn pháp, huống chi qủa Tu đà hoàn cho đến
qủa A na hàm! Phạm lỗi này, tức là hạng Ưu bà tắc phá
giới, xấu xa đê tiện, nhơ bẩn, kiết nghiệp. Ðây là trọng
pháp thứ năm, cần phải giữ!
Hàng
Phật tử tại gia đã thọ giới rồi, dù gặp nhân duyên mất
mạng, cũng không được uống rượu hoặc bán rượu. Nếu
uốn rượu bán rượu, kẻ ấy liền bị mất giới Ưu bà
tắc, hãy còn không được Noãn pháp, huống chi qủa Tu đà
hoàn cho đến qủa A na hàm! Phạm lỗi này, tức là hạng Ưu
bà tắc phá giới, xấu xa đê tiện, nhơ bẩn, kiết nghiệp.
Ðây là trọng pháp thứ sáu, cần phải giữ!
Này
thiện nam tử! Nếu người thọ giới Ưu bà tắc có thể chí
tâm giữ gìn những điều mình đã lãnh thọ, không hủy phạm,
tất sẽ được qủa như thế. (Kinh Ưu Bà Tắc Giới).
Như
trên, kinh Ưu Bà Tắc Giới đã thuyết minh rõ ràng về tướng
phá giới của hàng Phật tử tại gia. Có vị bảo: "Về giới
sát, thì ngũ giới, chỉ cuộc hạn trong loài người, Thập
giới và Cụ giới đến loài súc sanh thông thường, Bồ Tát
giới mới đến loài trùng kiến. Nếu giới thứ nhất trong
Ngũ giới mà hạn chế đến loài trùng kiến, thì hàng Phật
tử tại gia không thể giữ được". Lời ấy không đúng,
vì tất cả loài hữu tình đều có sanh mang, nếu giết hại,
quyết định sẽ mang ác báo. Như người chưa ăn chay trường
được, có thể mua những vật đã chết hoặc bị làm thịt
rồi, không nên tự mình giết hay bảo người khác giết. Ðến
như loài ruồi muỗi trùng kiến, duy trừ trường hợp biết
mà cố sát mới phạm giới, còn ngộ sát thì chỉ cần ăn
năm sám hối và từ sau để ý dè dặt thêm hơn, không thuộc
về lỗi hủy phạm.
Có
kẻ nói: Hàng quân nhân Phật tử có thể giữ giới sát chăng?
Xin thưa: Theo nghĩa phương tiện thì có thể được. Như thuở
xưa, Nguyên Khuê thiền sư ở Trung Hoa sau khi đắc đạo, có
thần Ðông nhạc đến xin thọ tam quy ngũ giới. Lúc đại
sư truyền tới thứ nhất, Nhạc thần thưa: "Ðệ tử cầm
quyền cai trị cả một vùng, nếu kẻ thuộc hạ phạm tội
nặng mà không gia hình, thì làm sao duy trì kỷ luật?" Ðại
sư đáp: "Không phải thế đâu! Chỉ đừng nên lạm sát mà
thôi"! Nhạc thần thưa: "Như vậy, đệ tử có thể giữ được".
Thế thì cứ theo nghĩa phương tiện, vì thi hành bổn phận,
vì sự bất đắc dĩ không quyết tâm lạm sát, hàng quân nhân
Phật tử có thể giữ được giới thứ nhất.
Suy
rộng ra, như trong kinh Niết Bàn, khi tiền thân là một vị
quốc vương, đức Thích Ca vì bảo vệ chánh pháp để lợi
ích cho chúng sanh mà giết viên đại thần. Và trong một đoạn
kinh khác, cũng thuở tiền thân làm một vị thuyền chủ tên
Ðại Bi, đức Thích Ca lại vì cứu năm trăm mạng thương
khác mà giết mười sáu tướng cướp biển. Cả hai trường
hợp đó, đức Phật đều bảo rằng nhờ thế mà ngài được
tiêu tội sanh phước, mau đắc qủa A nậu đa la tam miệu tam
bồ đề. Cho nên, đúng theo lẽ thật của trí huệ và bi tâm
lợi tha, có những trường hợp tuy sát sanh nhưng không phá
giới mà chính là trì giới, và còn được tiêu nghiệp thêm
phước. Nhưng đó là trí phương tiện và việc làm của Bồ
tát, ta đừng nên đem tâm thô thiển vội y cứ theo mà phóng
ý sát sanh. Sở dĩ bút giả dẫn việc trên ra, là muốn biểu
dương nghĩa rộng lớn của Phật pháp, để chho người thọ
giới đừng chấp định theo hình thức hay một phương diện
mào của giới pháp, mà sanh tâm băn khoăn nghi ngại, thế thôi.
Như
đứcPhật đã nói: khi còn là chúng sanh thì tất cả đều
có lỗi lầm. Hàng xuất gia nếu chưa đắc đạo, cũng vẫn
còn trong vòng chi phối của phiền não. Nhất là vào thời
mạt pháp này, bật chân tu rất ít, người khuyết phạm lại
nhiều. Vậy tất cả những người con Phật nên gìn lòng trung
thứ từ bi, xét lỗi mình, dung lỗi người, tìm phương tiện
sửa chữa nâng đỡ cho nhau; đừng nên rêu rao nói lỗi của
tứ chúng. Bởi làm như thế, là bên trong đã tự gieo rắc
hạt giống xấu ác của ghét khinh thù hận, bên ngoài lam tổn
nãongười, ngăn trở hảo tâm của kẻ muốn học đạo, tạo
nghiệp phá hủy Phật pháp. Vì vậy, đức Phật đã ghép tội
rao nói lỗi của tứ chúng vào một trong sáu trọng pháp. Thế
mà, có những Phật tử vì thiếu học hiểu suy xét, vì tự
ái cao mạn, hoặc vì bè phái riêng, rêu rao những việc lỗi
lầm chưa biết thật hay hư của chư tăng ni cùng người đồng
đạo; như vậy có xứng đáng là con của đấng Ðiều Ngự
chăng? Xin đem lòng trung thực nêu ra đây lời nhắc nhở chung
cho tất cả người học Phật, để đồng nhơn tránh những
khổ báo ở hiện tại và tương lai.