Thiên
Thứ Ba
Chương
3
Phật
Giáo Với Xã Hội
Tiết
Mục:
I.
Ðạo trị nước
II.
Ðạo thầy trò
III.
Ðạo bằng hữu
IV.
Ðạo mưu sanh
Kinh
sách trích dẫn : - Các kinh : Kinh Phật Thuyết Vương Pháp Chánh
Luận, Kinh Phật Vị Thắng Quang Thiên Tử Thuyết Vương Pháp,
Kinh Thiện Sanh, Kinh Trường A Hàm, Căn Bản Tỳ Nại Gia, Kinh
Phật Thuyết A Nan Vấn Sự Phật Kiết Hung, Bột Kinh, Tứ Phần
Luật, Kinh Phật Bản Hạnh, Kinh Ưu Bà Tắc Giới, Kinh Ðại
Phương Tiện Phật Báo Ân.
Ðề
Yếu: Ðức Phật ra đời thuyết pháp lợi sanh, ví như những
đám mưa to thắm nhuần muôn vật, cây cỏ đều tùy phần
mà tốt tươi tăng trưởng. Về Nhơn thừa, chẳng những đức
Thế Tôn chỉ dạy bổn phận trong gia đình mà còn khuyên bảo
cách đối xử ngoài xã hội, đại lược như mấy tiết ở
bản chương. Thế thì quan niệm thông thường cho rằng tu là
phải dứt khoát việc đời? Không đúng với chân nghĩa của
đạo Phật. Kinh Pháp Hoa nói: "Nếu học tập các sách thế
gian, và làm những nghề mưu sanh, đều thuận với chánh pháp".
Cho nên, theo nghĩa viên dung của Phật giáo, thì tất cả pháp
đều là Phật pháp, người chánh ứng dụng thành chánh, kẻ
tà khu xử ra tà. Vậy chúng ta học Phật pháp là để biết
cách sử dụng hoặc tà hoặc chánh thế thôi.
"Tam
giáo xưa nay đồng một thể. Chánh đạo đâu từng có lệch
thiên !" Xin mượn hai câu của người xưa để nói về đại
thể đạo Phật, còn phần chi tiết thì như nội dung đã lượt
thuật trong đây.
Tiết
I -Ðạo Trị Nước
Trong
Nhơn thừa, Phật giáo đã đề cập đến cách đối xử ở
gia đình, lại giảng luận về việc thành, bại, đắc, thất
giữa xã hội. Như những đoạn kinh sau đây :
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo vua Ưu Ðiền rằng: Nay đại vương
nên biết rõ những việc : thất bại, công đức, suy tôn,
đáng ưa và nhân duyên phát khởi pháp đáng ưa của nhà vua.
-
Thế nào là việc thất bại của nhà vua? - Ðại vương! Việc
thất bại của nhà vua lược có mười điều, nếu bậc quốc
vương vấp phải những thất bại như thế, tuy có kho tàng
đầy dẫy, tôi giỏi phụ tá, và quân đội hùng mạnh cũng
không được dân chúng quy ngưỡng. Mười điều ấy là gì
?
1-
Chủng tộc không cao sang: - Nhà vua do bậc thứ thần, hay gia
cấp hạ tiện sanh ra, không thuộc dòng dõi sang quý.
2-
Không được tự tại: - Nhà vua bị quan phụ tướng đại
thần khống chế, việc làm không được tuỳ ý, thường gặp
sự can ngăn, cho nên những thú vui riêng cũng không được
tự do.
3-
Tánh tình hung bạo: - Nhà vua có tánh bạo ác đối diện và
bối diện. Tánh bạo ác đối diện là khi bầy tôi hay kẻ
khác có chút lỗi nhỏ, liền giận dữ la hét, dùng lời thô
tháo quở mắng ngay trước mặt, thêm xử phạt, biếm truất.
Tánh bạo ác bối diện là dù kẻ ấy không có mặt tại đó,
cũng vẫn quở mắng, gia đình, hoặc hằng đem lòng giận ngầm
không quên.
4-
Nóng giận quá đáng: - Vị quốc vương tánh quá nóng, khi thấy
bầy tôi phạm lỗi nhỏ, hơi vượt kỷ luật, liền tước
hết bổng lộc, đoạt mất thê thiếp, đem trọng pháp mà
gia hình.
5-
Ân huệ hẹp hòi: - Mặc dù kẻ thần thuộc, hầu cận hết
sức trung kiên thanh bạch hợp với tâm mình, nhưng vua chỉ
dùng lời nhu nhuyễn an ủi, nếu có ban thưởng cũng là phần
chút ít không xứng đáng với công lao. Hoặc có khi vua lưu
dụng lâu, hay để cho phục dịch nhiều rồi mới thi ân huệ.
6-
Nghe lời tà nịnh: - Vị quốc vương không minh mẫn và nghe
tiếng ngọt ngào, lời luận bàn a dua nịnh bợ của một nhóm
thần thuộc. Những kẻ này thật ra chẳng phải hạng trung
lương, không hiểu rành quốc pháp, không có tài trị nước,
hay ganh ghét bậc hiền thần, chỉ xu phụ theo vua để gây
thế lực bè đảng riêng. Do bởi quốc vương ưa nghe lời
của bọn tà nịnh ấy, mà kho tàng hao thiếu, công vụ ngưng
trệ, thiện chánh không lưu hành, cho đến quốc thể bị ô
nhục và tiếng tốt của vua cũng tiêu tan.
7-
Không gìn giữ được pháp chế của tiên vương: - Vị quốc
vương không biết xem xét lựa chọn đức tánh, khả năng của
bầy tôi. Vì thế, trong việc nước, kẻ không kham ủy nhiệm,
người có thể ủy nhiệm lại không ủy nhiệm, việc đáng
phong thưởng mà hình phạt, việc đáng hình phạt lại phong
thưởng. Trong triều nội cuộc luận bàn chưa xong, có kẻ
đứng lên to tiếng cắt đứt, hay phát khởi sự tranh đua,
mà nhà vua chẳng thể y theo pháp xử trị tội không biết
cung kính nể sợ ấy. Ðây gọi là không duy trì nổi luật
pháp, không gìn giữ được giáo mạng của tiên vương.
8-
Chẳng nghĩ đến pháp lành: - Nhà vua không tin nhân quả, không
hiểu nghiệp báo lành dữ ở tương lai, từ nơi thân, miệng,
ý tùy tình tạo những ác pháp. Ðã thế mà vua lại không
huệ thí, tu phước, trì trai, học giới, thọ phép đà la ni
quán đảnh, cùng thật hành tứ vô lượng tâm.
9-
Không đoái đến việc phải quấy hơn kém: - Vị quốc vương
dụng tâm điên đảo, không nhận biết rõ những sự trung
tín, tài năng, trí huệ của bầy tôi. Vì thế đối với kẻ
không trung tín tưởng là trung tín, kẻ bất tài tưởng là
tài năng, kẻ nông cạn sai lầm tưởng là trí huệ. Lại đối
với hạng thần thuộc có công phụ tá hầu hạ gần gũi mình
lâu năm, thấy họ suy già không còn thế lực, cố ý lơ lãng
không sanh tâm mến trọng, không cấp cho bổng lộc để đền
đáp, biết họ bị kẻ khác lăng miệt cũng bỏ qua không thăm
hỏi.
10-
Buông lung tự chuyên: - Nhà vua say đắm theo thú vui ngũ dục,
không tự dè dặt giới hạn, không làm những việc đáng làm,
không ủy lạo phong thưởng kẻ có công.
Nếu
nhà vua vướng phải mười điều thất bại như trên, tuy có
kho tàng đầy dẫy, tôi giỏi phụ tá, quân đội hùng mạnh,
dân chúng cũng không quy ngưỡng, chẳng bao lâu trong nước
sẽ sanh tai hoạ biến loạn. Ðại vương nên biết, trong mười
điều này, điều thứ nhứt là sự thất bại về chủng tộc,
chín điều sau là những lỗi lầm về tự tánh.
-
Thế nào là việc công đức của nhà vua ? - Việc công đức
của nhà vua đại khái có mười thứ: 1- Chủng tộc cao sang.
2- Ðược đại tự tại. 3- Tánh không hung bạo. 4- Sự nóng
giận nhẹ ít. 5- Ân huệ rộng rãi. 6- Nghe lời chánh trực.7-
Việc làm suy nghĩ kỷ, giữ được pháp chế của tiên vương.
8- Mến tưởng pháp lành. 9- Biết phân biệt việc phải quấy
hơn kém. 10- Không buông lung tự chuyên.
Tóm
lại, mười việc công đức này trái hẳn với mười điều
thất bại trên. Nếu nhà vua thành tựu mười việc công đức
như thế, tuy kho tàng trống thiếu, không có người giỏi phụ
tá, không có quân đội hùng mạnh, nhưng dân chúng lần lần
quy ngưỡng, chẳng bao lâu quốc gia sẽ được hưng thạnh,
phong nhiêu. Này đại vương ! Trong mười việc công đức ấy,
điều thứ nhứt là chủng tánh công đức, chín điều kia
là tự tánh công đức.
-
Thế nào là việc suy tổn của nhà vua ? - Ðại vương nên
biết, việc suy tổn của nhà vua lược có năm điều :1- Không
khéo quan sát để thu dụng, nhiếp phục bầy tôi. 2- Tuy khéo
xem xét, biết dùng người mà không ban ân huệ, hay dù có thi
ân cũng tr muộn không kịp thời. 3- Tự chuyên, buông lung,
không nghĩ đến việc nước. 4- Phóng dật vui chơi, không giữ
gìn quốc khố. 5- Không biết tu các công đức.
Nếu
nhà vua thành tựu năm việc suy tổn trên, tất sẽ mất phước
báo trong hiện thế, cũng mất cả phước nhơn thiên ở tương
lai. Trong năm việc suy tổn này, bốn điều trước làm mất
phước trong hiện kiếp, một điều sau làm mất phước ở
lai sanh.
-
Thế nào là việc đáng ưa của nhà vua? - Ðại vương nên
biết nhà vua có năm pháp đáng ưa, đáng mến, và thích ý.
Ðó là: 1- Mọi người yêu kính. 2- Oai đức tự tại. 3- Hay
dẹp trừ oán địch. 4- Khéo nhiếp dưỡng thân mình. 5- Biết
tu các công đức.
Năm
việc trên đây là những pháp đáng ưa, đáng mến và thích
ý của nhà vua.
-
Thế nào là nhân duyên phát khởi pháp đáng ưa của nhà vua?
- Ðại vương nên biết có năm điều lành hay phát khởi pháp
đáng ưa của nhà vua. Năm điều ấy là gì?
1-
Ân dưỡng thương sanh: - Có vị quốc vương tánh vừa biết
đủ, hay cẩn thận không tham lam, thành tựu được hạnh trong
sạch. Kho tàng có bao nhiêu, vua đều tuỳ phận đem ra cấp
thí cho những kẻ nghèo khổ côi cút, lại thường nhẫn nhục
nhu hoà, đem lời êm dịu mà hiểu dụ trong dân chúng. Các
bầy tôi nếu ai phạm pháp, vua lường công tội mà tha thứ,
dù phải trách phạt cũng hợp thời, hợp lý, và có bằng
chứng rõ ràng. Do nhà vua dùng ân đức, chánh đạo mà trị
hóa thương sanh như thế, nên được dân gian yêu kính.
2-
Ðầy đủ anh dõng: - Có vị quốc vương mưu lược và võ
bị đều đầy đủ, kẻ chưa hàng phục có thể hàng phục,
người đã hàng phục lại hay nhiếp hộ.
3-
Phương tiện khéo léo: - Có vị quốc vương biết rành rẽ
việc trị nước, khéo dùng phương tiện mà điều hòa nhiếp
phục các cường đảng, nên hay dẹp yên được tất cả oán
địch.
4-
Giỏi về việc điều nhiếp: - Có vị quốc vương khéo suy
tính sự tăng giảm của kho tàng, nên việc chi dụng được
đầy đủ. Vua không xa hoa hoặc bỏn sẻn, biết tùy thời
mà chu cấp cho trong thân quyến, bầy tôi, và tất cả kẻ
thuộc hạ. Khi những người này hay chính mình đau yếu, lại
khéo lo việc thuốc thang, biết lựa chọn các thức ăn hay
không đáng ăn. Lúc có muốn ăn ngon thì đem phân chia đồng
nhau, khiến cho những người tùy thuộc đều hoan hỷ.
5-
Siêng tu pháp lành: - Có vị quốc vương lòng tin trong sạch,
nhận chắc có đời sau và những quả báo lành dữ. Trong ngày
lục trai mỗi tháng và ba tháng trường trai mỗi năm, vua đều
thọ trì và giữ các tịnh giới như: không sát sanh, không
trộm cắp, không tà hạnh, không nói vọng, không uống rượu
và buông lung theo các việc vui chơi. Vua lại ưa nghe học về
lý nhân quả, pháp Bát nhã và các diệu môn của thánh đạo,
siêng năng nghiên cứu cho thông đạt cùng tiến tu đức nghiệp.
Ðối với những kẻ quan, quả, cô, độc, nghèo khổ, tật
bệnh, vua thường huệ thí không có chút tâm bỏn sẻn, hối
tiếc. Với những bậc sa môn học rộng, có giới hạnh, vua
thường gần gũi hỏi han, và xa lánh các giáo phái tà ác.
Chẳng những thế vua còn đốc suất quyến thuộc, quần thần
cùng trì trai giữ giới, bố thí làm lành, thường tu phép
hộ ma trừ tai, hoặc lập mạn trà la, thọ quán đảnh. Trên
đây là những điều: chánh tín, giữ giới, cầu học, bố
thí, tịnh huệ của nhà vua biết siêng tu pháp lành.
Này
đại vương! Như lai đã nói vượt qua những việc thất bại,
công đức suy tổn, đáng ưa và nhân duyên phát khởi pháp
đáng ưa của nhà vua. Nếu mỗi buổi sớm mai, đại vương
đọc tụng những điều vương giáo bí mật này, rồi y theo
đó mà thật hành, tất sẽ thành một bậc thánh vương hay
pháp vương. Như thế đại vương, sẽ được chư Phật, chư
Bồ Tát, Thiên long bát bộ ngày đêm thường gia trì ủng hộ,
có thể cảm được mưa gió thuận hòa, chiến tranh lặng dứt,
các tiểu quốc đều triều cống, trong nước bình yên. Riêng
phần đại vương cũng được ngôi vị bền vững, thọ số
lâu dài, hiện đời an vui, và thu hoạch những điều lợi
ích. ( Kinh Phật Thuyết Vương Pháp Chánh Luận ).
Bấy
giờ Thắng Quang Vương từ chổ ngồi đứng lên, chấp tay
hướng về Phật làm lễ và thưa rằng: "Kính bạch đấng
Ðạo sư ! Xin ngài từ mẫn chỉ dạy đạo làm vua, khiến
cho tôi và các vị quốc vương hiện đời được an vui, khi
mạng chung sanh lên cõi trời, tâm lành bồ đề hằng được
tương tục". Ðức Phật khen ngợi và bảo:" Này đại vương!
Bậc quốc chủ phải thực hành đúng theo chánh pháp và trừ
bỏ tất cả việc ác. Nếu vua hay đại thần bỏ pháp lành,
làm điều ác, thì hiện đời bị người khinh bỉ, nghi ngờ,
không dám gần gủi, ban đêm thường thấy ác mộng, kẻ oan
gia theo rình rập, trong lòng lo sợ hối não; sau khi mạng chung
sẽ sa đọa vào địa ngục. Như vua hay đại thần bỏ việc
ác, tu pháp lành, thì hiện đời được người kính mến,
tất cả đều ưa gần gủi không có tâm nghi ngờ, ban đêm
thường mộng thấy điềm lành, hay tiêu trừ oán địch, lòng
thư thái an vui; sau khi mạng chung được sanh lên thiên giới,
cho đến chứng đạo vô thượng Bồ đề, hưởng cảnh Niết
bàn thường lạc. Ví như cha mẹ thương các con, thường muốn
cho chúng được yên ổn không não hại, ngăn những hạnh ác,
khuyên tu nghiệp lành. Cũng như thế bậc quốc vương đối
với thần thuộc và nhân dân trong nước, đều dùng thứ nhiếp
pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, mà bủa ân
hàm dục. Nếu người trên đối với kẽ dưới như cha mẹ
thương con, thì kẻ dưới cũng xem người trên như cha mẹ
hết lòng trung hiếu.
Lại
nữa, đại vương đã là bậc quốc chủ, nên có lòng xót
thương khoan thứ, nhẹ phần xâu thuế, bớt những quan chức
phiền phức, truất phạt kẻ ác, phong thưởng người hiền,
gần hạng trung lương, xa phường tà nịnh, mà lấy đức cảm
hóa, chớ chuyên theo việc hình phạt. Tại sao thế? Vì những
loài hữu tình được sanh nơi cõi người là do thắng nhân
chiêu cảm, nếu giết nhiều nhân mạng, nhất định sẽ bị
ác báo. Ðại vương nên một lòng cung kính Tam Bảo, chớ sanh
tà kiến. Sau khi Như Lai vào Niết bàn, chánh pháp sẽ phú chúc
lại cho bậc quốc vương, đại thần, nên ủng hộ chớ làm
suy tổn. Nếu các bậc vương thần có thể đốt cao ngọn
đuốc chánh đạo và xoay chuyển pháp luân khiến cho không
đoạn tuyệt, thì thiên long đều vui đẹp, ủng hộ trong nước
được tiêu tai yên ổn, mưa thuận gió hòa, thái bình phong
lạc. Các hàng vương thần ấy ngôi vị sẽ được bền vững,
phước thọ sẽ tăng thêm, hiện đời danh tốt bay xa, khi mạng
chung hóa sanh lên cõi trời, hưởng sự vui thú thắng diệu
cho đến khi thành Phật. (Kinh Phật Vị Thắng Quang Thiên Tử
Thuyết Vương Pháp ).
Tiết
II. - Ðạo Thầy Trò
Cách
trị nước đã như thế, đến như đạo thầy trò, đức Phật
cũng khuyên dạy : Ðệ tử có năm việc kính dưỡng thầy:
1- Siêng năng chăm chỉ trong sự học tập. 2- Suy gẫm tìm hiểu
thêm những điều đã nghe. 3- Thầy sai làm việc, phải cần
mẫn. 4- Biết vâng lời và giữ tánh hạnh đừng để lầm
lỗi cho thầy phải trách phạt. 5- Cúng dường sư trưởng.
Thầy
cũng có năm điều đối xử đệ tử: 1- Ðem hết sở học
truyền dạy. 2- Nhiệt thành trong sự giáo huấn. 4- Ðể ý
khuyến tấn đệ tử trong việc học. 4- Dắt dìu môn đệ
trên đường an lành và đi đến thành công. 5- Chỉ bảo cho
đệ tử gần gũi bạn hiền, người tốt.
Trong
kinh khác cũng có một đoạn dạy về việc này:
Thầy
có năm việc đối với đệ tử: 1- Biết điều nhiếp hoặc
chiết phục đệ tử đúng pháp. 2- Siêng năng trong sự dạy
dỗ. 3- Khéo về cách giáo huấn khiến cho đệ tử được
lãnh hội. 4- Chỉ bảo cho đệ tử gần gũi bạn tốt, bậc
hiền tài. 5- Ðem chỗ hiểu biết truyền dạy, không bỏn sẻn
dấu diếm.
Ðệ
tử có năm việc kính thờ sư trưởng: 1- Cung cấp cho thầy
những thức ăn và đồ cần dùng. 2- Săn sóc giúp đỡ thầy.
3- Kính trọng nhớ ân sư trưởng. 4- Biết vâng lời và thực
hành theo điều hay thầy đã dạy. 5- Những điều thầy dạy
ghi nhớ không quên. (Kinh Trường A Hàm).
Nếu
đệ tử có phạm một trong năm việc, thầy mới nên trách
phạt.
Năm
việc ấy là: 1- không tin tưởng vâng lời. 2- Trễ nải biếng
nhác. 3- Nói lời thô ác. 4- Tùy tình làm quấy không biết
hổ thẹn. 5- Gần gũi người tà, kẻ xấu ác.
Các
tỳ khưu hỏi: "Phép tránh phạt như thế nào?"
Ðức
Phật bảo: - Có năm cách: 1- Không cùng nói chuyện. 2- Không
giáo huấn. 3- Không đồng thọ dụng. 4- Không sai khiến và
bảo cho những điều hay. 5- Không ở đồng nhà. ( Căn Bản
Tỳ Nại Gia ).
Ngài
A Nan hỏi Phật: "Bạch Thế Tôn! Nếu người ngoài đời hoặc
đệ tử của Phật khinh dễ thầy đem ác ý đối với thầy
và bậc đạo đức, tội ấy như thế nào? " Ðức Phật bảo:
"Này A Nan ! Mọi người giữa đời khi thấy bậc có đức
hạnh phải kính trọng, thấy ai làm điều lành phải tùy hỉ
mến ưa, không nên đem lòng ganh ghét. Nếu kẻ nào đem ác
ý đối với bậc đạo đức, thì chẳng khác đem ác ý đối
với Phật. A Nan! Giả sử có người dùng cung cứng mạnh muôn
thạch bắn lại chính mình, người ấy có bị đau đớn không?
- Bạch Thế Tôn! Kẻ đó bị đau đớn rất nhiều! Ðức Phật
bảo: - Nếu chúng sanh nào đem ác ý đối với bậc đạo đức
hoặc thầy của mình, sẽ bị thống khổ còn hơn thế nữa!
Cho nên đệ tử chớ khinh mạn sư trưởng, hoặc ganh ghét
phỉ báng bậc đạo đức, mà phải kính trọng như kính Phật.
Bởi bậc có giới đức thiên long quỉ thần cảm mến tôn
trọng. Thà gieo mình vào trong lửa đỏ dao bén, chớ ganh ghét
khinh báng người hiền lành, vì tội ấy không nhỏ. Phải
nên ghi nhớ dè dặt !
Tôn
giả A Nan lại thưa: - Bạch Thế Tôn! Ðệ tử có lỗi mọn,
Thầy có nên mặc tình la trách quở phạt chăng?
Ðức
Phật bảo: - Không nên đâu! Ðạo thầy trò nên cảm thông
và tín cẩn nhau. Thầy phải thương đệ tử như mình, việc
gì mình không làm được hay không thích, đừng nên trách bảo
kẻ khác. Bậc sư trưởng nên chính mình giữ đúng luật nghi,
lễ độ, đem điều phải dạy bảo đệ tử; hàng môn đệ
phải kính thuận trung thành đối với sư tôn. Thầy nên tuỳ
nghi khuyên dạy đệ tử chớ để cho lỗi nhỏ thành tội
lớn, oán ít hóa hận sâu, rồi phỉ báng ghét hờn nhau, khác
nào đem lửa tự đốt lấy mình! Cho nên thầy phải giữ đúng
tư cách thầy, đệ tử phải giữ tròn bổ phận đệ tử.
Nếu
ngoài đời có hạng sư đệ xấu ác, trong Phật pháp cũng
có hạng tỳ khưu ma, thầy không ra thầy, trò chẳng ra trò,
cùng nhau làm quấy, tham luyến sự nghiệp thế gian, chứa để
nhiều của cải, không nghĩ đến sự vô thường, chẳng lo
tu tập, khiến cho pháp lành tiêu hoại. Những kẻ đó sau khi
chết sẽ bị đọa vào ác đạo, chịu khổ vô cùng! Cho nên
người tu, kinh không thể không học, đạo không thể không
hành, phải bố đức làm lành, độ mình và người thoát khỏi
vòng sanh tử. Chớ đem lỗi nhỏ chứng thành tội to, đừng
khinh báng người hiền đức. Việc tội phước đều có báo
ứng phân minh, đáng nên răn dè và kiêng sợ (Kinh Phật Thuyết
A Nan Vấn Sự Phất Kiết Hung).
Tiết
III - Ðạo Bằng Hữu
Về
sự đối xử với nhau trong đạo bằng hữu đức Phật đã
dạy: Có năm việc cư xử trong tình đồng bạn: 1- Thấy bạn
làm điều lỗi lầm tội ác, nên ở chỗ vắng thẳng thắn
khuyên trách can ngăn nhau. 2- Khi có việc cấp nạn, phải đến
giúp đở nhau. 3- Có việc cẩn mật riêng, phải che dấu cho
nhau. 4- Ðối xử với nhau, phải cung kính có lễ độ. 5-
Có vật tốt, phải chia nhường cho bạn phần hơn. (Kinh Thiện
sanh).
Bạn
tác có bốn hạn, cần nên biết: 1- Có bạn như hoa, khi tươi
đẹp giắt lên đầu, lúc héo tàn vứt xuống đất. Người
bạn này cũng thế, khi giàu sang thì nương tựa, lúc nghèo
khó lại bỏ đi. 2- Có bạn cũng như cán cân, vật nặng thì
nghiêng xuống, vật nhẹ thì nhấc lên. Người bạn này cũng
thế, khi đắc thời thì cúi luồn chiều chuộng, lúc thất
thế lại khinh rẽ lãng quên. 3- Có bạn dường núi báu, ví
như núi vàng khi các loài chim đậu xuống thì lông cánh đều
được ánh kim quang chiếu rực rỡ. Người bạn này cũng thế,
khi giàu sang thì làm cho bằng hữu được vinh dự thơm lây.
4- Có bạn dường đất đai, ví như đất hay sản xuất thảo
mộc ngũ cốc và bao hàm tất cả tài bảo. Người bạn này
cũng thế, thường ân hậu không khinh bạc, khi có tiền của
thì hay giúp đở cấp dưỡng cho những bằng hữu trong cảnh
tai biến nghèo nàn (Bột Kinh).
Nếu
có đủ bảy điều sau đây, mới thật là bạn thiết: 1- Làm
giúp việc khó làm. 2- Cho vật khó cho. 3- Nhẫn việc khó nhẫn.
4- Cho biết những điều cẩn mật. 5- Che dấu những điều
nguy hại. 6- Gặp cảnh khổ không bỏ nhau. 7- Nghèo nàn không
khinh nhau. (Tứ Phần Luật).
Phật
cùng Nan Ðà đi vào thành Ca Tỳ La Vệ. Ðến một tiệm bán
cá, Phật Bảo: "Nan Ðà! Ông vào tiệm lấy một nắm tranh
khô của người ta lót cá đem ra đây". Tỳ kheo nan Ðà vâng
lời. Ðức Phật lại bảo:" Bỏ nắm tranh trả lại, ngửi
tay ông xem có mùi gì chăng?" Nan Ðà làm y theo lời rồi thưa:
" Bạch Thế Tôn! Chỉ có mùi tanh khó chịu thôi!" .
Sau
khi bảo Nan Ðà rửa tay, hai thầy trò đi đến một tiệm bán
các thứ hương liệu. Ðức Phật bảo:" Ông thử đi vào tiệm
đưa tay nắm túi đựng bột hương liệu trong giây phút rồi
ra đây". Tỳ khưu Nan Ðà lại vâng lời. Phật bảo: " Ngửi
tay ông xem có mùi gì chăng?" Nan Ðà cũng làm y lời rồi thưa:"
Bạch Thế Tôn! Có mùi thanh thoát rất thích ý".
Bấy
giờ đức Phật mới bảo: "Này Nan Ðà! Nếu kẻ nào gần
gũi những ác trí thức, cùng nhau làm bạn không bao lâu tất
nhiễm theo các thói ác, tiếng xấu sẽ lan truyên xa, ví như
khi ông cầm lấy nắm tranh lót cá hồi nãy. Và kẻ nào gần
gũi những Thiện tri thức, cùng nhau làm bạn, tự sẽ tùy
tập theo các đức tốt, không bao lâu danh làm tất được
thành tựu, ví như lúc ông nắm túi hương bột bấy giờ".
(Kinh Phật Bản Hạnh).
Ác
tri thức có bốn hạng: 1- Trong có lòng oán hờn ganh ghét,
ngoài giả dạng thân thiện vui cười. 2- Trước mặt khen ngợi
nói toàn là việc tốt, sau lưng chê bai nói toàn là việc xấu.
3- Nếu có sự cấp nạn, trước mặt giả vờ hiện vẻ sầu
khổ, vắng mặt lại tỏ ra thái độ vui mừng. 4- Bên ngoài
như tuồng thân hậu, bên trong sắp đạt mưu kế hại ngầm.
Thiện
tri thức có bốn bậc: 1- Bên ngoài như oan gia, bên trong có
ý ân hậu. 2- Ðối diện thì thẳng thắng chê trách khuyên
can, với người khác lại khen ngợi nói những điều tốt.
3- Khi bạn có việc thưa kiện hay đau yếu, hết lòng tìm cách
cứu giải, an ủi. 4- Thấy bạn nghèo khổ, thất thế, tìm
phương tiện giúp đỡ, không lơ lãng bỏ rơi.
Ác
tri thức lại có bốn hạng: 1- Không thành thật khuyên can,
bảo người làm lành, nhưng lại xúi cho làm những việc không
tốt. 2- Bảo người đừng theo tửu sắc, bài bạc, nhưng lại
xúi gần gũi kẻ tửu sắc, bài bạc. 3- Bảo người nên thủ
phận, bớt việc, nhưng lại gây thêm cho nhiều việc. 4- Bảo
người làm bạn với người hiền, nhưng lại giới thiệu
cho kết thân với kẻ xấu ác.
Thiện
tri thức lại có bốn bậc: 1- Thấy bạn nghèo khổ thiếu
hụt, khuyên bảo cho cách mưu sanh. 2- Cùng đồng sự hoặc
chia tài vật, không tranh đua, so đo hơn kém. 3- Thường hay
săn sóc, hỏi han. 4- Thường nghĩ nhớ giúp đỡ.
Lại
nữa, ác tri thức có bốn hạng: 1- Hơi xâm phạm một chút
liền nổi giận.
2-
Có việc gấp, cầu mượn không chịu làm. 3- Thấy bạn có
cấp nạn liền tránh bỏ đi. 4- Bạn qua đời, lơ là không
ngó ngàng thăm viếng.
Thiện
tri thức cũng có bốn bậc: 1- Bạn bị kẻ quyền thế tri
nã, đem về cho ẩn náo, đợi sau sẽ tìm cách giải quyết.
2- Bạn đau yếu không nơi nương tựa, đem về nuôi dưỡng.
3- Bạn qua đời trong cảnh nghèo thiếu. Lo quan quách tẩm liệm
chôn cất. 4- Bạn đã chết, chu cấp giúp đỡ cho gia đình
người quá vãng trong cảnh nghèo nàn cô quả.
Ðức
Phật bảo: - Thế nên, phải chọn người hiền lành mà thân
cận, và xa lìa kẻ ác xấu. Nhiều kiếp về trước, do ta
hay gần gũi thiện tri thức, nên mới được thành chánh giác
hôm nay. ( Kinh Lục Phương Lễ).
Có
sáu biến tướng để biết kẻ đó là bạn ác. Ấy là, đắm
dục lạc, thường hỗn loạn, ưa buông lung, lân la nơi quán
rượu, gần gũi kẻ tiểu nhơn, tập nói lời thô lổ.
Làm
thế nào để biết kẻ đó là bạn tham lam? Nên nhận xet qua
bốn điều: ưa xin tài vật của người, cho ít mong thêm nhiều,
vì lợi mà làm.
Làm
thế nào để biết kẻ đó là bạn tà nịnh? Nên nhận xét
qua bốn điều: nói việc dở của người, dấu điều dở
của mình, trước mặt ngợi khen, sau lưng phỉ báng.
Làm
thế nào để biết kẻ đó là bạn diện ái ( chỉ thường
ngoài mặt )? Nên nhận xét qua bốn điều: nói việc xấu đã
qua, bịa việc xấu sẽ đến, không quý trọng của cho, muốn
thấy người có nạn.
Làm
thế nào để biết kẻ đó là bạn tà giáo? Nên nhận xét
qua bốn điều: khuyên dạy việc sát sanh, khuyên dạy việc
trộm cấp , khuyên dạy việc tà dâm, khuyên dạy việc dối
gạt.
Làm
thế nào để biết kẻ đó là bạn đồng chung vui khổ? Nên
nhận xét qua bốn điều: đem cho vật quý của mình, làm lợi
ích cho gia đình bạn, có của giúp cho bạn không tiếc, nói
lời trung thực chân chánh.
Làm
thế nào để biết kẻ đó là bạn lợi ích? Nên nhận xét
qua bốn điều: che giấu việc dở của người, tỏ bày điều
dở của mình, khuyên bảo nhau điều lành, ngăn ngừa kẻ sau
lưng phỉ báng.
Làm
thế nào để biết kẻ đó là bạn làm hưng gia nghiệp? Nên
nhận xét qua bốn điều: đã chỉ bảo kế sanh nhai lại đem
tiền của giúp ích, đem công khó giúp đỡ, can ngăn những
điều buông lung, khuyến tấn lúc nản chí.
Làm
thế nào để biết kẻ đó là bạn làm từ ái? Nên nhận
xét qua bốn điều: khuyên cho thành tựu lòng chánh tín, khuyên
cho thành tựu sự học hiểu chánh pháp, khuyên cho thành tựu
sự giữ giới hạnh, khuyên cho thành tựu pháp bố thí.
Ðức
Phật bảo: - Người trí phải suy xét những điều trên đây,
để lánh xa bạn ác như thoát ly con đường hiểm trở chông
gai, và gần gũi bạn lành như tìm đến con đường an vui bằng
phẳng. (Kinh Phật thuyết Thiện Sanh Tử).
Tiết
IV - Ðạo Mưu Sanh
Kế
tiếp, xin lược thuật thêm một ít sự kiện về cách sanh
sống của người Phật tử. Hàng Phật tử tại gia phải trị
sanh thế nào cho hợp với chánh pháp? Như đức Thế Tôn đã
dạy:
-
Này thiện nam tử! Người đã thọ giới Ưu bà tắc, trước
phải học thông thế sự, rồi cầu tài cho đúng pháp. Khi
đã được tiền của, nên chia làm bốn phần:
một
phàn để nuôi dưỡng cha mẹ gia đình, hai phần để gầy
vốn sanh nhai, còn một phàn lưu trữ đề phòng khi có việc
cần dùng, như lo thuốc men lúc đau yếu bất thường, hoặc
cúng dường Tam Bảo, hay làm các việc từ thiện.
Lại
tài vật không nên giao gởi cho bốn chỗ là: người già yếu,
nơi xa xôi, kẻ hiểm ác, và người có thế lực. Những điều
như thế, phải nên ghi nhớ (Kinh Ưu Bà Tắc Giới).
Khi
ấy, ông Ưu Ba Ly thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Hàng Ưu Bà Tắc
đã thọ năm giới có được mua bán chăng? Ðức Phật bảo:
- Ðược! Nhưng phải tránh năm nghề: 1 - Không được làm
nghề buôn súc sanh. Nếu trong nhà đã có nuôi súc vật, đem
bán thẳng ra thì được, song đừng bán cho người hàng thịt.
2
- Không được làm nghề mua bán đao, trượng, cung, tên, các
đồ binh khí. Nếu tự mình đã có, đem bán ngay thì được.
3 - Không được làm nghề bán rượu. Nếu mình đã lở có
cũng cho trực mãi. 4 - Không được làm nghề ép dâu, vì làm
chết vô số sanh trùng. (Thuở xưa ở xứ Thiên trúc, khi làm
dầu thơm, người ta thường ủ các thứ hoa với mè, rồi
đem ép ra. Trong khi ủ hoa, các loài tế trùng sanh ra rất nhiều).
5 - Không được làm nghề nhuộm năm đại sắc, vì cũng giết
nhiều sanh trùng. (Cách thức nhuộm màu khi xưa, giết nhiều
sanh trùng. Nếu như thời nay, nhuộm mà không phạm nghiệp
sát thì vô hại ( Kinh Ðại Phương Tiện Phật Báo Âm ).