Thiên
Thứ Hai
Chương
Tám
Pháp
Giới Tổng Luận
Tiết
Mục:
-
1. Luận
về bốn pháp giới
-
II. Luận
về y chánh
-
III. Luận
về đồng biệt dị kiến
-
IV. Luận
về cộng bất cộng biến
Kinh sách
tham khảo: Kinh Hoa Nghiêm, Thập Lục QuánKinh Sớ, Kinh Pháp
Hoa, Kinh Duy Ma Cật, Kinh Anh Lạc Bản Nghiệp, Kinh Nhân Vương,
Thành Duy Thức Luận, Kinh A Hàm, Tổng Cảnh Lục.
Đề
yếu: Thật ra, khi nói: Luận về pháp giới, trong ấy tất
phải có nhiều vấn đề. Nhưng ở đây, bút giả đã gom góp
những điểm chính yếu chia thành bốn tiết để trình bày,
nên xin tạm gọi là tổng luận.
Hai
tiết đầu thuyết minh chung về tánh tướng của pháp giới.
Tánh tướng này nếu tế phân thì vô cùng, nhưng gom lại không
ngoài bốn pháp giới và hai phần y chánh. Hai tiết sau tuy không
minh luận duyên khởi của pháp giới, song kỳ thật trong ấy
đã ẩn thuyết về lý này. Như tiết Đồng biệt dị kiến
tuy nói về Tương vi thức tướng của hữu tình, nhưng nội
dung đã ẩn lý Nghiệp cảm duyên khởi. Và đoạn Cộng bất
cộng biến thì ẩn lý A lại da duyên khởi.
Xem
qua bản chương, đọc giả nên chú ý: thuyết duy tâm của
Phật giáo không phải cực đoan như duy tâm hay duy vật của
các môn triết học khác. Theo quan niệm Phật giáo, tâm tức
vật, vật tức tâm, tâm vật chỉ là bản thể duy nhất, mà
tánh tông gọi đó là duy tâm và tướng tông lại gọi đó
là duy thức.
Pháp
giới duy tâm hay duy thức chính là lý này.
Tiết
I: Luận Về Bốn Pháp Giới
Nếu
so sánh phạm vi lớn nhỏ, thì một Tiểu thế giới không bằng
một Tiểu thiên thế giới, một Tiểu thiên thế giới không
bằng một Trung thiên thế giới, một Trung thiên thế giới
không bằng một Đại thiên thế giới. Đại thiên thế giới
tức là một Phật độ; nhưng chư Phật có vị lấy một cõi
Đại thiên làm một Phật độ. Đem một Phật độ so sánh
với một Thế giới chủng thì thật cách biệt vô cùng! Một
thế giới chủng gồm hai mươi tầng từ thấp đến cao, mỗi
tầng có từ một Phật sát vi trần Phật độ, cho đến hai
mươi Phật sát vi trần Phật độ. Thế giới chủng sánh với
Thế giới hải lại còn kém xa. Như riêng về Thế giới hải
Liên Hoa Tạng Trang Nghiêm, có đến mười bất khả thuyết
Phật sát vi trần thế giới chủng.
Bàn
đến Thế giới hải, thì thật là cảnh giới tuyệt rộng
rải mênh mang, không lường không nằn, tợ hồ thế giới
đến đây là cùng cực. Nhưng mà chưa bao quát Thế giới hải
còn có pháp giới an lập hải. Theo kinh, một An lập hải đại
khái gồm có những Thế giới hải nhiều bằng số bụi nhỏ
của tám bất khả thuyết cõi Phật. Như trong kinh Hoa Nghiêm,
bậc đại thiện tri thức hiện thân làm Chủ dạ thần, tên
là Tịch Tịnh Âm Hải nói: "Khi đức Tỳ lô Giá Na Như Lai
ở nơi đạo tràng này thành quả chánh giác, mỗi niệm thị
hiện sức đại thần thông bấy giờ tôi được thân cận,
liền chứng vào môn tam muội Niệm Niệm Xuất Sanh Quảng Đại
Hỉ Trang Nghiêm Giải Thoát. Lúc chứng được môn giải thoát
này rồi, tôi có thể hiện thân vào những Pháp giới an lập
hải nhiều bằng số bụi nhỏ của mười bất khả thuyết
bất khả thuyết cõi Phật. Trong vô lượng vô biên Phật sát
vi trần số cõi Phật của tất cả An lập hải, tôi thấy
mỗi mỗi Phật độ đều có đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai trong
mỗi niệm thành chánh giác và hiện các phép thần biến. Và
cũng lại thấy mình ở nơi chỗ các dức Như Lai ấy thừa
sự cúng dường, nghe nói diệu pháp" (Lược thuật).
Theo
đoạn kinh trên, ta thấy cảnh giới của chư Phật rộng rãi
vô biên, nếu không vào môn đại giải thoát, không chứng
đuợc đại tam muội, thì không thể nào thấy hiểu nổi.
Đạt đến cảnh này thì quên tình tuyệt lự, tâm địa rỗng
rang không còn sự suy nghĩ nữa. Nhìn lại chúng ta, chút thân
trần mạt, một điểm thức linh, sánh với pháp hải bao la,
còn nhỏ hơn hạt cát nơi bãi sa mạc, bóng bọt giữa trùng
duơng, hoảng hốt như huyễn như hóa, dường mộng dường
mê, thật không đáng chi cả!
Trên
đây, sở dĩ gọi Pháp giới an lập hải, bởi pháp giới là
danh mục của chân tâm; thể dụng chân tâm rất sâu rộng,
tánh và tướng vô ngại, lấy tâm làm pháp, lấy tâm làm giới,
nên xưng là "Pháp giới". Trong pháp giới có những diệu tướng
sai biệt trang nghiêm, tập hợp thành từng khu vực riêng không
lẫn lộn nhau, nên gọi là "An lập". Mỗi cõi An lập bao trùm
vô lượng vô biên Phật sát, Thế giới chủng, Thế giới
hải; vì nó có tánh cách rộng rải mênh mang như biển cả
bao hàm muôn tượng, nên gọi là "hải". Sánh với An lập hải,
Thế giới hải tuy cũng gọi là biển thế giới, nhưng chỉ
là vùng biển nhỏ, thua kém hẳn trùng dương rộng rải bao
la. Chân tâm đã có vô biên An lập hải, nên tánh và tướng
giao nhiếp, sự cùng lý viên dung, gọi là Nhứt chơn pháp giới.
Từ Nhứt chơn pháp giới phân xuất ra bốn pháp giới như
sau:
1.
Lý pháp giới: Đây là chỉ cho phần chân như môn của Như
lai tạng. Thể chân như này linh hư vắng lặng, sáng suốt
một mầu, đủ bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh.
2.
Sự pháp giới: Đây là phần sanh diệt môn của Như Lai tạng,
gồm vô lượng sự tướng sai biệt. Sự tướng này sanh diệt
thay đổi, như sóng bọt nổi tan ngoài biển cả, ráng mây
biến huyễn nơi trời cao, tùy hạnh nghiệp thiện ác mà hóa
hiện.
3.
Lý sự vô ngại pháp giới: Vì muôn pháp như huyển, không
có tự tánh và thật thể, nên toàn sự là lý. Bởi chân như
cũng không tự tánh và thật thể tùy duyên mà biến hiện,
nên toàn lý và sự. Lý và sự đây ví như nước với sóng,
ngõa khí cùng vi trần; sóng tan thành nước, nước nổi thành
sóng, vi trần kết hợp thành ngõa khí, ngõa khí tiêu hoại
thành vi trần, không thể phân biệt ngoài sóng có nước, ngoài
ngõa khí có vi trần. Cho nên chân không chẳng ngoài diệu hữu,
chân lý không ngoài huyễn sự, vì lý tức sự, sắc tức không,
nên gọi là vô ngại.
4.
Sự sự vô ngại pháp giới: Lý đã tức là sự, nên lý không
ngại sự, sự không ngại lý, lý không ngại lý, sự không
ngại sự, mỗi trần không ngại, mỗi pháp dung thông. Vì lẽ
sự sự vô ngại, nên bậc Bồ tát chứng vào cảnh giới Bất
tư nghì giải thoát, có thể xem tường vách núi non hư không,
lại qua tự tại; có thể kéo dài sát na thành muôn kiếp,
thâu gọn muôn kiếp trong sát na; lại có thể để núi Tu Di
vào hạt cải, dùng hạt cải bao chứa núi Tu Di, mà cảnh giới
và loài hữu tình trong ấy không bị tăng tổn.
Về
ý chí "pháp giới" trên đây, thì "pháp" lấy quỷ tắc làm
nghĩa, "giới" lấy tánh phần làm nghĩa. Quỷ tắc và tánh
phần này, ở nơi lý là Lý pháp giới ở nơi sự là Sự pháp
giới; cho đến Lý sự và Sự sự cũng như vậy. Bởi lý không
chừng hạn, sự có muôn sai, nên cổ đức đã bảo: "Hòa ấm
hơi xuân đồng một tiết. Thấp cao hoa cỏ khác muôn màu".
Tóm
lại, trong tánh tạng, thế giới trùng trùng, tịch quang lặng
lặng, không và sắc bao la, nhưng phải ngoài lý cùng sự. Lý,
sự này diễn ra thành bốn pháp giới, thâu lại về cõi Nhất
chơn.
Tiết
II: Luận Về Y Chánh
Khắp
mười phương thế giới đã vô lượng vô biên, mà loài hàm
linh cũng vô cùng vô tận. Nhưng tóm lại, tất cả không ngoài
y báo và chánh báo.
Y,
Chánh là gì? Kinh Anh Lạc Bản Nghiệp nói: "Sắc thân của
tất cả hữu tình thuộc về phần chủ thể của nghiệp quả,
nên gọi là chánh báo. Cảnh giới của loài hữu tình nương
tựa và thọ dụng như y phục, thức uống ăn, vật dụng,
phòng nhà, ruộng vườn, cho đến núi, rừng, sông, biển, đất
đai, gọi là y báo". Với lập nghĩa bao quát hơn, Hạnh Nguyện
Phẩm Sớ Sao nói: "Quốc độ sở y hoặc tịnh hoặc uế của
phàm thánh là y báo. Thân năng y của trời, người, nam, nữ,
tại gia, ngoại đạo, chư thần cho đến Bồ tát, Phật gọi
là chánh báo". Thế thì nói cho đủ, y báo gồm có bốn độ,
chánh báo gồm có mười giới.
1.
Chánh báo: Mười giới của chánh báo là gì? Ấy là thân thể
của sáu phàm, bốn thánh. Sáu phàm là Địa ngục, Bàng sanh,
Quỉ thần, A tu la, Người và Trời. Bốn thánh là Thanh văn,
Duyên giác, Bồ tát và Phật. Thân thể của lục phàm tùy
nghiệp nhân thiện ác mà có xấu đẹp. Bậc Thanh văn, Duyên
giác về phần tâm thì Thanh tịnh, nhưng phần thân vì còn
chịu ảnh hưởng của nghiệp nhân nên cũng có hơn kém khác
nhau. Chư Bồ tát và Phật do phước huệ đều thắng, nên
cả thân tâm đều trang nghiêm thanh tịnh. Chư Thanh văn, Duyên
giác ngoài thật tâm có biến hóa thân, và báo thân. Chư Phật
có đủ ba thân là biến hóa thân,
báo
thân và pháp thân. Về nghĩa tam thân của Phật, vì xưa
nay các kinh luận hoặc nói riêng về một phương diện, nên
những nhà học Phật kém công phu nghiên cứu dễ bị mê mờ.
Tam thân theo Tiểu thừa và Đại thừa có chỗ sai biệt; riêng
về Đại thừa lại có thông nghĩa và biệt nghĩa. Về biệt
nghĩa chẳng hạn như Thiên Thai tông và Mật tông, mỗi bên
có lập thuyết riêng về tam thân. Nay xin y theo nghĩa Tiểu
thừa và thông nghĩa Đại thừa mà giải thích về ba thân
của Phật.
Theo
Tiểu thừa, Phật có ba thân: Pháp thân là thật thể trong
sạch, gồm có năm công đức: giới, định, huệ, giải thoát,
giải thoát tri kiến. Báo thân là thân cao một trượng sáu
có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của Phật,
do những phước nghiệp kết thành. Hóa thân là Phật do lòng
từ bi hóa ra thân các dị loại như sư tử, nai, chim hóa độ
các loài ấy.
Theo
Đại thừa, nghĩa tam thân có phần rộng rãi và phiền toái
hơn. Kể từ thấp đến cao, trước tiên Biến hóa thân cũng
gọi Ứng hóa thân nghĩa là chư Phật do lòng Từ bi muốn hóa
độ chúng sanh nên hiện ra nhiều thân. Ứng hóa thân có hai;
thắng ứng thân và liệt ứng thân. Liệt ứng thân thuộc
chín giới. Có chỗ gọi là kim thân một trượng sáu là Ứng
thân, còn các dị loại do Phật hóa hiện là Hóa thân. Thắng
ứng thân là thân Phật nơi tịnh độ như kinh Quán Vô Lượng
Thọ nói: "Đức Phật A Di Đà thân cao sáu mươi muôn ức na
do tha hằng hà sa do tuần, viên quang như trăm ức cõi đại
thiên. Phật có tám muôn bốn ngàn tướng, mỗi tướng có
tám muôn bốn ngàn vẻ đẹp".
Báo
thân của Phật cũng có hai: Tự thọ dụng và Tha thọ dụng
thân. Tha thọ dụng thân là như đức Thích Ca Mâu Ni hiện
ra thân Lô Xá Na cao một ngàn trượng, có vô lượng tướng
hão, ngồi trên hoa sen ngàn cánh, vì hàng Thập địa Bồ tát
mà thuyết pháp. Bởi Phật hiện ra thân này với mục đích
làm lợi lạc cho các bậc đại sĩ, nên gọi là Tha thọ dụng.
Có chỗ nói Tha thọ dụng thân và Thắng ứng thân danh khác
nhưng thể đồng, vì hai thân này có vi trần tướng hảo và
đó mới chính thật là thân quả báo của Phật do vô lượng
phước lành kết hợp. Tự thọ dụng thân chính là cõi Thật
báo trang nghiêm rộng rãi vô biên bao hàm vi trần quốc độ.
Chư Phật chứng được cảnh giới này, tự mình thọ dụng
pháp lạc nhiệm mầu, nên gọi là Tự thọ dụng. Đây là
lấy độ làm thân; và vì Báo thân có hai nghĩa thọ dụng
ấy, nên cũng gọi là Thọ dụng thân.
Pháp
thân chính là cõi Thường tịch quang. Đây là thể Nhứt chơn
pháp giới bao hàm tánh tướng rộng rãi vô biên; vì Phật
lấy pháp tánh pháp tướng làm thân, nên gọi là Pháp thân.
Pháp thân với Tự thọ dụng thân cũng danh khác thể đồng;
Tự thọ dụng tánh hiển phần tướng ẩn phần tánh. Pháp
thân hiển phần tánh ẩn phần tướng. Pháp thân đây vì lấy
chân như bản tánh làm thân, nên cũng gọi là Tự tánh thân
hay Pháp tánh thân.
Vì
nghĩa Thắng ứng thân thông với Tha thọ dụng thân, Pháp thân
thông với Tự thọ dụng thân; nên trong kinh luận có chỗ
gọi Thắng ứng thân là Báo thân hoặc Tự thọ dụng thân
là Pháp thân, làm cho người học Phật dễ bị mê mờ lầm
lạc. Nơi đây xin nói rõ hơn, đối với ba thân của Phật,
các hàng phàm phu nhị thừa chỉ thấy được Ứng hóa thân;
chư Bồ tát thấy được Báo thân, Báo thân này về sắc thân
có vô lượng trang nghiêm; còn Pháp thân duy chư Phật mới
chứng kiến một cách viên mãn. Mỗi vị Phật đều có đủ
ba thân, riêng về đấng giáo chủ cõi Ta Bà, thì Pháp thân
Như Lai là đức Tỳ Lô Giá Na, Báo thân Như Lai là đức Lô
Xá Na, Ứng thân Như Lai là đức Thích Ca Mâu Ni. Ba Đấng Như
Lai này một có đủ ba, ba chính là một, chỉ vì tùy thuận
thế gian mà luận đoạn trước tuy nói hàng Nhị thừa có
Biến hóa thân, Chư Bồ tát có Biến Hóa thân và Báo thân
nhưng thân của Nhị thừa, Bồ tát chưa được tự tại viên
mãn bằng Phật.
2.
Y báo: Bốn bộ của y báo là gì? Ấy là Phàm thánh đồng
cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thật báo vô chướng ngại
độ và Thường tịch quang độ.
Phàm
thánh đồng cư độ là cõi có bậc tam thừa thánh nhơn và
phàm phu ở chung. Cõi này chia ra làm hai loại: Phàm thánh đồng
cư tịnh độ và Phàm thánh đồng cư uế độ. Uế độ như
cõi Ta Bà dẩy đầy non cao vực thẳm, các tướng nhơ ác,
ngoài tam thừa thánh nhơn ở còn có vô lượng chúng sanh thuộc
sáu đạo cư trú. Tịnh độ như cõi Cực Lạc thanh tịnh trang
nghiêm, nơi đây duy có các bậc đại thừa thánh nhơn và những
người niệm Phật vãng sanh ở.
Phương
tiện hữu dư độ tâm độ của bậc Thanh văn, Duyên giác.
Nói "Phương tiện" là bởi các vị này do tu phương tiện đạo
như Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, phá kiến tư hoặc, chứng
quả nhơn không. Gọi "hữu dư", vì hàng Thanh văn, Duyên giác
còn chưa phá được trần sa và vô minh hoặc. Trí chứng của
hàng nhị thừa trên đây, thuộc về Nhứt thế trí.
Thật
báo vô chướng ngại độ là báo độ của hàng đại thừa
Bồ tát. Nói "Thật báo" là bởi các bậc này do viên tu tam
quán, phá hết trần sa hoặc và một phần chân thật vô minh
hoặc, chứng vào báo độ chân thật của cảnh giới nhị
không. Gọi "vô chướng ngại", vì trong cảnh giới này không
tức sắc, sắc tức không, tâm và sắc không ngăn ngại lẫn
nhau. Trí chứng của hàng Bồ tát trên đây thuộc về Đạo
chủng trí.
Thường
tịch quang độ là tịnh độ của chư Phật. "Thường" tức
là đức Pháp thân, "Tịch" tức là đức Giải thoát, "Quang"
tức là đức Bát Nhã. Đây là cảnh giới nhứt nhơn, dung
thông cả tánh tướng bao la. Ba cõi trên nếu có gọi tịnh
độ là chỉ căn cứ ở ít nhiều phần thanh tịnh, riêng cõi
Thường tịnh quang mới thật là tịnh độ viên mãn cứu cánh.
Cho nên kinh Nhân Vương nói: "Tam hiền thập thánh ở quả báo
duy Phật mới trụ nơi tịnh độ". Và trí chứng này thuộc
về Nhứt thế chủng trí.
Về
chánh báo và y báo trên đây, hàng phàm phu vì mê mờ, bậc
nhị thừa còn pháp chấp, nên thấy có y, chánh riêng biệt,
thân, độ khác nhau. Chư Phật và Bồ tát đã chứng lý nhị
không, nên thấy y báo tức là chánh báo, quốc độ nguyên
chính tự thân. Đây là những sở kiến biệt và đồng về
y chánh.
Tiết
III: Luận Về Đồng Biệt Di Kiến
Đồng
biệt dị kiến tức là đồng nghiệp kiến; và biệt nghiệp
kiến vì chỗ thấy thuộc về đồng nghiệp và biệt nghiệp
khác nhau nên gọi là dị kiến. Đồng nghiệp kiến là ví
như trong một đám tiệc, những người không uống rượu,
tâm trí tươi tỉnh, đồng thấy nhà cửa vẫn bình tịnh yên
lặng. Biệt nghiệp kiến là như cũng chính cảnh đó, mà người
say rượu riêng thấy nhà cửa bàn ghế đảo lộn, đất đai
nghiêng đổ gập ghềnh. Lại như cũng đồng một thời khắc,
mà người say mê công việc thấy giờ phút trôi qua rất mau,
kẻ khoắc khoải trông chờ lại cảm thấy ngày dài vô tận.
Và như cũng đồng một cảnh mà người có hỉ sự thấy cây
cỏ vui tươi, chim hót như chào, hoa cười như đón; còn kẻ
mang nặng mối sầu, lại thấy trời mây áo não, cây cỏ ưu
tư, vật chi cũng đượm một vẻ u buồn. Đây cũng chỉ tạm
mượn việc người để giải thích, thật ra sở kiến của
các loài còn có rất nhiều sai biệt. Cảnh đồng biệt dị
kiến này đối với chúng sanh toàn là vọng, với chư Phật
thuần là chơn.
Luận
về vọng kiến sai biệt của chúng sanh, như lửa của ngạ
quỉ, loài người thấy là nước; nước của người, ngạ
quỉ thấy là lửa hay một dòng sông máu mủ. Như một con
sông, loài người thấy là sông, chư thiên thấy là lưu ly
hay bảo địa, loài thủy tộc thấy đó là nhà cửa của chúng.
Như một khúc gỗ, loài người thấy là gỗ, mọt mối thấy
đó là thức ăn. Lại như phẫn uế loài người thấy là chất
hôi nhơ, bàng sanh thấy là thức ăn thơm ngon; một cổ tiệc
đầy đủ các món nấu nướng chiên xào, người thấy đó
là trân hào mỹ vị, chư thiên thấy là chất nhơ nhớp. Và
như cung điện của người cùng quỉ thần đồng ở một chỗ,
song người không thấy cung điện của quỉ, quỉ không thấy
cung điện của người; quỉ đối với tường vách của người
thì không ngại, với tường vách của mình thấy bị ngăn
cách, trái lại với người cũng vậy. Nói chung, chúng sanh
vì tùy nơi nghiệp duyên, nên đều ở trong vòng vọng kiến,
đồng nghiệp thì thấy đồng, biệt nghiệp lại thấy khác.
Còn
chư Phật thì vọng nghiệp tiêu trừ nên không còn sở kiến
sai biệt như chúng sanh, chỉ thấy muôn cảnh đều hư huyễn
toàn là một màu vắng lặng, không thật, không hư, không đồng,
không khác (Phi thật phi hư, phi như phi dị, bất như tam giới
kiến ư tam giới chi tướng. (Kinh Pháp Hoa). Cho nên cõi Phật
cùng cõi chúng sanh đồng ở một chỗ, nhưng kiếp lửa chỉ
làm hoại cảnh thế gian. Phật độ vẫn là bất hoại. Vì
thế, kinh Hoa Nghiêm nói: " Trong mỗi mỗi sát chủng. Kiếp
lửa không nghĩ bàn. Hiện cảnh tuy đại ác. Nơi ấy thường
kiên cố". Kinh Pháp Hoa cũng nói: "Chúng sanh thấy kiếp hết.
Lửa lớn đốt tiêu tan. Cõi ta đây yên ổn. Thiên nhơn hằng
đông luôn". Về điểm nầy, các nhà chú sớ cho cõi hư hoại
thuộc về biến hóa độ, cõi không hư hoại chẳng phải chỉ
riêng cho pháp tánh độ, mà chỉ cho tha thọ dụng độ; vì
pháp tánh độ cố nhiên vẫn là như như bất hoại. Cho nên
kiếp lửa chỉ thiêu hoại cảnh thế gian, không thể làm hoại
báo độ của chư Phật, dù rằng hai cõi này đồng ở một
nơi. Hai cõi tuy đồng, một trụ xứ mà chúng ta không thấy
được Phật độ, là bởi nghiệp báo không đồng.
Như
trong kinh Duy Ma, ngài Xá Lỵ Phất thấy cảnh Ta Bà này đầy
dẫy núi rừng hầm hố và các tướng uế ác, liền nghĩ rằng:
"Đức Thế Tôn đã nói nếu tâm Bồ tát tịnh thì cõi Phật
thanh tịnh, mà cõi này đầy dẫy sự nhơ ác như thế, chẳng
hóa ra tâm của ngài chưa được thanh tịnh hay sao? Loa Kế
Phạm vương biết ý niệm ấy liền bảo Xá Lỵ Phất: "Ngài
chớ nên nghĩ như thế. Chính tôi thấy quốc độ của Phật
Thích Ca thanh tịnh như Tự Tại thiên cung". Khi ấy, Phật bảo:
"Thế nào, Xá Lỵ Phất! Nhật nguyệt trong sáng mà người
mù chẳng thấy, đó là lỗi tại họ hay lỗi bởi đôi vầng
nhật nguyệt?". Liền đó, Phật bấm ngón chân xuống đất,
tức thời ba ngàn thế giới của cõi Ta bà biến thành thanh
tịnh, có đủ trăm ngàn thứ kỳ trân dị bảo trang nghiêm,
ví như cõi Vô Lượng Công Đức Bảo Trang Nghiêm Như Lai. Đại
chúng thấy thế đều than thở khen ngợi cho là việc chưa
từng có. Đức Thế Tôn lại bảo Xá Lỵ Phất: "Phật độ
của ta thường nghiêm tịnh như thế, nhưng vì muốn độ chúng
sanh hạ liệt, nên thị hiện ra cõi bất tịnh uế này. Ví
như chư thiên ăn chung trong một bảo khí, tùy nơi phước đức
hơn kém mà mỗi kẻ thấy màu sắc thức ăn khác nhau. Nếu
người nào thanh tịnh, sẽ thấy cõi này có đủ công đức
trang nghiêm.
Về
đoạn kinh trên, Ngài Cưu Ma La Thập đã giải thích: "Chư Phật
vì muốn xứng hợp với tâm chúng sanh, nên hiện ra quốc độ
không đồng. Chỗ thấy của Loa Kế Phạm vương là chỉ tùy
sở kiến riêng, thật ra ông cũng chưa thấy hết sự nghiêm
tịnh của Phật độ đức Thích Ca. Đoạn sau so sánh Phật
quốc của Đức Bổn sư như cõi Vô Lượng Công Đức Bảo
Trang Nghiêm, thế thì biết báo độ của đức Mâu Ni Thế
Tôn thật rất nghiêm tịnh và ở ngay cõi này. Đây là cảnh
tịnh và uế đồng một trụ xứ song không chướng ngại và
lẫn lộn nhau; ví như đồng trong một bảo khí mà hai vị
thiên tử vì phước đức hơn kém, nên thấy có hai thức ăn
sai biệt".
Tóm
lại, pháp thân nguyên vô tướng, ứng vật mà hiện hình;
chân độ vẫn vô phương, tùy cơ mà hiển lộ. Đây là do
nghiệp thiện ác của chúng sanh và bản nguyện của chư Phật,
nên trong đồng có biệt, trong biệt có đồng, trong tịnh có
uế, trong uế có tịnh vậy.
Tiết
IV: Luận Về Cộng, Bất Cộng Biến
Tất
cả thế giới do đâu mà có, và ai là tác giả? Đó đều
do tâm mà có, và duy tâm tạo ra. Từ vô thỉ đến nay, tất
cả chúng sanh bởi mê chân hợp vọng, nên cấu thành a lại
da thức; do thức này mà biến ra các loại căn thân và khí
thế giới. A lại da tức là thức thứ tám, thức này chia
làm hai phần: Kiến và Tướng. Kiến phần biến thành bảy
thức trước, Tướng phần biến thành căn thân và khí giới;
nội lục căn vì có chấp thọ nên thuộc về thân tướng
phần, ngoại khí giới vì không chấp thọ nên thuộc về sơ
tướng phần. Hai món tướng phần này đều do tứ đại hợp
thành, tứ đại là năng tạo, y chánh là sở tạo, và tám
thức là chủ thể của năng biến. Tám thức này chia thành
tam năng biến, mà a lại da thức lại là động lực căn bản.
Vì thế, Duy thức nói: "Từ vô thỉ làm nhân. Và sở y các
pháp. Do đây có các nẽo. Cùng sự chứng niết bàn". Lại
nói: "Ba cõi không có pháp chi khác, chỉ là một tâm tạo ra.
Tất cả nhân quả, thế giới, vi trần đều nhân tâm mà thành
thể".
Theo
như trên, nếu thức biến tợ ra thế giới, là mỗi thức
riêng biến, hay là các thức chung biến?
Lý
này rất uẩn khúc, xin chia làm bốn nghĩa để giải thích:
1.
Cộng trung cộng biến: Đây là do sức thành thục của bát
thức cộng tướng chủng, biến ra các tướng thế gian. Trong
đây, tuy sở biến của các hữu tình đều riêng, mà tướng
tương tợ không khác. Ví như một vùng đèn đuốc sáng tuy
sự sáng ấy do từ cá biệt của các ngọn đèn hợp lại,
nhưng tánh cách sáng của mỗi ngọn đèn đại để đều giống
nhau, nên chúng mới tương hợp được. Như núi non do sức
nghiệp Kiến chấp của những cá biệt chúng sanh hợp lại
biến thành, sông ngòi do sức nghiệp Tham ái của những cá
biệt chúng sanh họp lại mà huyễn hiện. Đây gọi là cộng
biến (cộng trung). Trong tướng non sông vô chủ tất cả cảnh
giới đều tiêu tan, lẽ ấy không còn nghi ngờ chi nữa!
Biểu
đồ Mười Thế Giới Chủng
Thế
Giới Hải Liên Hoa Tạng Trang Nghiêm
2.
Cộng trung bất cộng biến: Đây là cảnh tự biến và riêng
mình được thọ dụng trong tướng cộng biến. Như một dãy
núi non hay một vùng ruộng nương rộng rãi, tuy do nghiệp thức
của nhiều chúng sanh biến hiện; nhưng có một khoảnh núi
hay ruộng do tự thức mình biến tạo và riêng mình được
thọ dụng. Lại như một khu đô thị do nhiều lầu đài nhà
cửa của nhiều người hợp lại mà thành, nhưng trong ấy
có một ngôi nhà do mình kiến tạo và chỉ riêng mình được
làm chủ; cảnh tự biến trong cộng biến là như vậy.
3.
Bất cộng trung cộng biến: Đây là cảnh sở hữu của một
người mà kẻ khác có thể tạo tác và thọ dụng. Như một
khu vườn đất rộng, trước tiên do một người khai khẩn
và làm chủ. Sau người này lại cho nhiều kẻ khác mướn;
những kẻ ấy có thể cất nhà cửa, trồng cây cối nơi những
vuông đất mình mướn, và đều có thể thọ dụng phần tạo
tác của mình. Vì cảnh tướng trong khu đất rộng tuy do một
người tạo lập và làm chủ, nhưng thật ra cũng do nhiều
kẻ khác kiến thiết và được thọ dụng, nên gọi là cảnh
bất cộng trung cộng biến.
4.
Bất cộng trung bất cộng biến: Đây là cảnh riêng mình tạo
lập và riêng mình làm chủ. Như anh thợ mộc cất một ngôi
nhà, đóng những giường tủ bàn ghế tùy tự ý để cho mình
thọ dụng. Những thứ này do anh tạo ra và chính anh
làm chủ, nên thuộc về cảnh bất cộng trung bất cộng biến.
Bốn
nghĩa thế gian tướng trên đây tuy có uẩn khúc, nhưng đều
không ngoài những điểm: tự biến, cộng biến, tự thọ dụng,
cộng thọ dụng.
Đến
đây có một điểm nghi cần giải thích. Theo như trên đã
nói thì sắc do thức biến, nhưng tại sao chư thiên ở cõi
Tứ không còn tâm thức, mà cõi ấy lại gọi là Vô Sắc?
Vô Sắc giới chẳng phải không có hình tướng, nhưng vì sắc
chất ấy quá vi tế con mắt tầm thường không thể thấy
được, nên gọi là Vô Sắc. Như Kinh Hoa Nghiêm nói: "Tỷ căn
của Bồ Tát ngửi biết được mùi thơm nơi cung điện của
cõi Vô Sắc". Kinh A Hàm cũng nói: "Khi Tôn giả Xá Lỵ Phất
nhập niết bàn, chư thiên ở cung trời Vô Sắc rơi nước
mắt như mưa!". Cho nên chỗ thấy của chúng sanh ở hạ giới
thuộc về nghiệp quả sắc, hiện cảnh của Vô sắc giới
về thuộc định quả sắc.
Kinh
Hoa Nghiêm nói: "Nếu người muốn biết rõ. Chư Phật trong
ba đời. Nên quán tánh pháp giới. Tất cả do tâm tạo". Trong
lý tâm tạo này lại có nghĩa Tự tại biến và Bất tự tại
biến. Bất tự tại biến là chúng sanh do biệt nghiệp mà
có những cảnh tướng biến hiện riêng, và bị cảnh giới
ấy chi phối nên không được tự tại. Như loài ngạ quỉ
do nghiệp tham lam bỏn sẻn, nên thấy đâu cũng là cảnh sông
máu, biển lửa hay sa mạc khô khan, rồi bị khổ trong đó
không được tự do. Bởi chúng sanh do biệt nghiệp khiến mỗi
loài có những cảnh tướng riêng như thế, nên cảnh ấy cũng
gọi là Tương vi thức tướng. Tự tại biến là bậc đắc
đạo, đã phá tan hoặc hiện cảnh tướng một cách tự tại,
như chỉ cõi đất hoá vàng ròng, khuấy sông dài thành tô
lạc. Đây là cảnh tùy theo chân trí mà biến chuyển, cảnh
này gọi là Sắc tự tại tướng.
Tóm
lại, trong pháp giới tất cả đều do tâm tạo, mà tâm là
vật, vật là tâm, nên đức Phật đã bảo: "Ba cõi duy tâm,
muôn pháp duy thức". Đáng lẽ trong đây nên minh luận về
các lý duyên khởi của Pháp giới, nhưng vì chương này có
hạn, và bản ý của bút giả cũng muốn lưu lại mục ấy
để phân biệt giữa thuyết Duy tâm và Duy thần trên phương
diện tìm đường giải thoát, nên xin hẹn lại ở thiên sau.