Thiên
Thứ Hai
Chương
Sáu
Các
Chủng Loại Thế Giới
Tiết
Muc:
-
I. Uế
độ và tịnh độ
-
II. Tịnh
độ phương tây
-
III. Tịnh
độ phương đông
-
IV. Cõi
Phật mười phương
-
V. Thế
giới sai biệt
Kinh sách
tham khảo: Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Thất Phật Công Đức, Kinh Lăng
Nghiêm, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Phật
Thuyết A Di Đà, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kinh Duy Ma Cật.
Đề
yếu: Khi nói kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo ở Long cung, đức
Thế Tôn đã chỉ cho chúng hội thấy vô số loài thủy tộc
hình tướng kỳ lạ khác nhau, và bảo đó là do nghiệp ác
sai biệt cảm hiện. Kế tiếp, Phật lại chỉ kim thân rực
rỡ của mình, sắc tướng xinh đẹp trang nghiêm của các vị
Bồ tát trong pháp hội, mà chứng minh rằng đó là kết quả
của mười nghiệp lành. Ngay như nhơn loại cõi này, chúng
ta đã thấy có loài da trắng, da vàng, da đen, da đỏ, kẻ
xinh đẹp, người xấu thô. Có xứ khí hậu mát mẻ, cây cối
tốt tươi, nhiều ao hồ, cảnh đẹp, nhơn dân thường hưởng
phước thanh bình. Lại có các xứ địa thế gần miền sa
mạc, quanh năm nắng cháy, cây cỏ héo khô, con người vất
vả; thổ dân ở những nơi đây phần nhiều hung dữ. Đó
đều là kết quả của những nghiệp nhân thiện hoặc ác.
Trong
Tứ tất đàn của Phật nói, có môn Thế giới tất đàn.
Vì có những hạng chúng sanh nghe pháp tất đàn này mà tỏ
ngộ, hoặc phát tâm hướng đạo, nên trong các kinh, đức
Phật thường chĩ dẫn sự sai biệt về chánh báo và y báo
của các cõi để hóa độ họ. Thể theo ý đó, trong bản
chương đã lược trình bày về các cõi uế, tịnh, cùng sự
sai biệt của thế giới ở mười phương, để cho duyệt giả
thêm rộng tầm nhãn quan, và suy gẫm sâu về những nhân quả
khổ, vui, xấu, đẹp.
Thiết
tưởng đây cũng là một điều cần yếu.
Tiết
I: Uế Độ Và Tịnh Độ
Trong
các thâm kinh như Phạm Võng, Pháp Hoa, đức Thế Tôn đã từng
có lời khuyên phải dè dặt không nên đem pháp đại thừa
nói cho hạng tiểu cơ, hoặc những kẻ kém lòng tin, thiếu
căn lành nghe; vì e họ không liễu giải rồi sanh lòng phỉ
báng mà mang tội. Bởi sự tin hiểu của phàm phu không ngoài
các giác quan như mắt thấy, tai nghe; những cái gì vượt quá
tầm tri thức thông thường, tất họ không chấp nhận. Song
lắm khi các việc ta chưa thấy, chưa hiểu nổi, thật ra nó
chẳng phải không có, chỉ do ta thiếu sự bác lãm, hoặc kém
trí suy luận mà thôi. Như trước kia, vì chưa tiếp xúc với
xúc với nền khoa học cơ giới của Tây phương, người Đông
phương nghe một đôi kẻ thuật lại những việc khác lạ
ở các nước văn minh, đều cho là đi xa về nói dối. Và
bởi chưa mục kích về hiện tượng thuộc khoa học huyền
bí của Đông phương, người Tây phương cho những bùa chú
của Đông phương là mê tín dị đoạn. Thật ra giữa thế
gian này cũng có những việc mê tín dị đoan, song cũng có
những hiện tượng mà các nhà mệnh là bác học cũng ngơ
ngác không giải thích nổi. Việc hiện tại mà còn như thế,
huống là những việc cao xa? Trong các kinh Phật nói, nhứt
là kinh điển Đại Thừa, có những sự lý mà bậc huệ nhãn
A la hán không thấy hiểu được trừ bậc đăng địa Bồ
tát và hàng phàm phu hay Thanh văn, Duyên giác có tín căn Đại
Thừa. Vì thế, đối với kinh nghĩa Đại Thừa, có kẻ không
tin hiểu nổi rồi cho đó là những điều tưởng tượng;
lại có người hiểu không thấu suốt rồi giải thích sai
lầm. Phạm vào các lỗi này, có khi là những học giả giỏi
về thế pháp muốn nghiên cứu qua tôn giáo, có khi là hàng
Phật tử tại gia, một đôi khi là những vị xuất gia kém
thông hiểu.
Vì
những lý do trên, nên khi sưu khảo kinh tạng để viết về
chương Chủng loại thế giới, bút giả đã đôi ba phen băn
khoăn, ngần ngại... Song nghĩ lại, pháp Đại Thừa của Phật
chẳng lẽ không được tuyên dương, biết đâu có nhiều người
tin nhận được mà mình không diễn dịch cũng là một điều
phụ với bi tâm của Phật?
Bởi
suy xét như thế, bút giả mới đem tâm thành thật và sự
phô diển thô sơ mà viết ra chương này. Lòng tin cố nhiên
là điều không thể ép buộc, nhưng mong rằng khi xem qua bản
chương, những điều nào mà duyệt giả chưa thể chấp nhận,
cũng xin thong thả đừng vội chê bai, vì đây là lời trích
dịch theo kinh Phật, người muốn học Phật phải tiềm tâm
suy nghĩ kỹ. Và đó mới là thái độ trung thật của nhà
học giả.
Trong
kinh Lăng Nghiêm, đức Phật bảo: "Này A Nan! Hư không sanh trong
tâm ông ví như một áng mây nhỏ điểm giữa khoảng trời
xanh rộng lớn bao la, huống chi vô lượng thế giới ở trong
hư không ư?". Các kinh khác cũng cho ta biết rằng, ngoài cõi
Ta Bà còn có nhiều thế giới khác, và trong biển tánh chân
như có vô biên quốc độ, gồm các cõi tịnh và uế.
Thế
nào là Tịnh độ? Tịnh độ là một cõi mà từ người đến
cảnh đều trong sạch đẹp lành. Về phương diện người,
tức là phần chánh báo, có những điều kiện như sau: 1. An
vui không bịnh. 2. Thọ mạnh lâu dài. 3. Thân tướng xinh đẹp.
4. Không có sự giàu, nghèo, sang hèn cách biệt nhau. 5. Tâm
tánh nhu hòa, ý chí cao thượng. 6. Đạo tâm không lui sụt.
7. Người đều hóa sanh, không có sự uế nhiễm về nam nữ,
sanh dục. 8. Không có trẻ, già, mạnh, yếu khác nhau. 9. Không
có các sự nhơ nhớp như nước mắt, nước mũi, mồ hôi,
đàm dãi, đại tiểu tiện. 10. Đạo đức tinh thần, trí huệ
thông suốt. 11. Không có các nỗi khỗ về tinh thần, thể
chất. 12. Sự ăn thọ dụng đều tự nhiên. 13. Có đủ huệ
nhãn, chánh kiến. 14. Có ngũ thông hoặc lục tông. 15. Thường
trụ nơi chánh định.
Về
phương diện cảnh, tức là phần y báo, lại có những điều
kiện như sau: 1. Đất đai bằng phẳng, do bảo chất hợp thành,
không có sông, biển, núi, gò, chông gai, hầm hố. 2. Không
có các nạn cảnh như: chiến tranh, bão, lụt, động đất,
nắng hạn, dịch khí, đói khát, sấm sét, sa mù. 3. Khắp nơi
đều trong tạnh sáng suốt, không cần ánh quang minh của mặt
trời, mặt trăng, đèn đuốc, và không có ngày đêm. 4. Khí
hậu thường mát mẻ điều hòa, không có các thời tiết nắng,
mưa, nóng, lạnh. 5. Tất cả vật kiện đều khéo đẹp tinh
khiết, không mục nát hư hoại. 6. Đường sá, lan can, cây,
hoa, đều nghiêm chỉnh xinh đẹp, có hàng lối. 7. Điện các,
lâu đài đều nguy nga tráng lệ, hóa hiện tự nhiên, không
cần phải dùng sức người kiến trúc. 8. Âm nhạc vi diệu
không cần người hòa tấu, muốn nghe liền tự trỗi lên,
không thích nghe lại tự yên lặng. 9. Trừ loài người ra,
không có thú dữ, ruồi, rắn, rít, độc trùng, cùng những
loại động vật khác, duy có các thứ chim đẹp lạ do thần
lực của Phật, hoặc Bồ tát hóa hiện. 10. Khắp nơi có nhiều
ao thất bảo, trong ấy nước bát công đức đầy dẫy, các
hoa sen đủ màu sằc, màu nào phóng sáng nấy. 11. Nước ở
các ao trong sạch ngọt thơm, tùy ý người mà lên, xuống,
ấm mát. 12. Tất cả cảnh vật, khí dụng đều do từ một
thứ báu đến nhiều thứ báu hóa thành. 13. Thường có mưa
hoa đúng thời rơi xuống. 14. Người tuy tăng thêm, nhưng quốc
độ không chật hẹp, vật dụng không thiếu hụt. 15. Thường
có Phật, Bồ tát ứng hiện giáo hóa, không bị nạn ngoại
đạo tà ma.
Những
cõi nào có đủ điều kiện người và cảnh như trên, mới
thật đúng là Tịnh độ. Ngoài ra nếu các cõi chỉ có phần
ít thanh tịnh, chưa được viên mãn, chỉ tạm gọi là Tịnh
độ trên phương tiện giả lập mà thôi. Như thế giới hoàng
kim theo người đời hằng mơ ước, hoặc cõi này vào lúc
nhơn thọ 84000 tuổi, cũng có thể tạm gọi là nhơn gian Tịnh
độ.
Sao
gọi là Uế độ? Đây là cõi mà từ người đến cảnh đều
không trong sạch an lành. Như phần người, về thân thì có
sự suy già, thô sấu, tật bịnh, đủ các điều nhơ nhớp;
về tâm lại có những phiền não, dục nhiễm, ác kiến. Phần
cảnh, thì có những hầm hố, gai chông, bùn lầy, sạn sỏi,
muỗi mòng, rắn rít, ác thú, độc trùng, thiên tai, nhơn họa.
Tóm lại Uế độ là cõi có những điều kiện trái hẳn với
Tịnh độ.
Những
cõi Tịnh độ đều do công đức, nguyện lực của Phật,
Bồ tát, cùng thiện nghiệp của dân chúng cõi đó cảm hiện.
Còn Uế độ là do nghiệp bất tịnh của chúng sanh nơi ấy
tạo thành.
Tiết
II: Tịnh Độ Phương Tây
Về
uế độ, đại khái như cõi Ta Bà hiện tại mà chúng ta đang
ở, không có chi kỳ đặc đáng kể. Dưới đây, xin trích
dẫn các kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, Phật Thuyết
A Di Đà, lược thuật về chánh báo, y báo cõi Cực Lạc, một
Tịnh độ vị trí thuộc phương Tây của thế giới này. Hiểu
qua y chánh cõi Cực Lạc, tức sẽ quan niệm chung được những
y chánh các cõi tịnh ở mười phương; vì quan cảnh cõi Cực
Lạc thế nào, những tịnh độ khác về sự thanh tịnh trang
nghiêm, cũng tương tợ như thế ấy.
A.
Chánh Báo Cõi Cực Lạc
1.
Thân tướng trang nghiêm: Thân thể của nhơn dân cõi Cực Lạc
đều là sắc chân kim, đủ 32 tướng, dung nghi xinh đẹp nhiệm
mầu, hình mạo đồng nhau không có ai hơn kém. Tất cả đều
thọ thân thể vô cực, tự nhiên. Thân tướng của Tây phương
Tam Thánh lại càng muôn phần trang nghiêm vi diệu.
2.
Thọ mạng vô lượng: Người ở cõi Cực Lạc đều sống
lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, trừ những vị có
bản nguyện đi đến các cõi khác để độ sanh muốn trụ
thọ mạng dài hay ngắn đều được tùy ý.
3.
Thần thông tự tại: Dân chúng cõi Cực Lạc đều có ngũ
thông là: Thiên nhĩ thông, thiên nhãn thông, Tha tâm thông, Túc
mạng thông, và Thần túc thông. Nếu vị nào chứng quả A
la hán, thì kiêm được Lậu tận thông.
4.
Thường ở trong chánh định: Tất cả đều an trụ nơi chánh
định tụ.
5.
Không đọa ác đạo: Kẻ nào được sanh về cõi ấy, tất
không còn bị đọa ba đường ác là: địa ngục, ngạ quỉ,
bàng sanh.
6.
Hóa sanh nơi hoa sen: Nhơn dân cõi Cực lạc đều hóa sanh nơi
hoa sen trong ao thất bảo, thuần là người nam, không có sự
ái dục và thai sanh.
7.
Thân thể tinh sạch: Chúng sanh ở cõi Cực Lạc thọ thân kim
cương, thể chất thơm tho tinh sạch, không có các uế vật
như mồ hôi, đàm dãi, đại tiểu tiện; không thọ các sự
khổ: sanh, già, bịnh, chết, thân ái, biệt ly, oán thù gặp
gỡ, mong cầu không toại ý và năm ấm lẫy lừng.
8.
Vui như bậc lậu tận: Nhơn dân ở cõi ấy thân tâm thường
được an vui như bậc Lậu tận tỷ khưu.
9.
Đạo tâm không lui sụt: Những kẻ sanh về cõi này, đều
thành bậc A bệ bạt trí, đối với đạo vô thượng không
còn thối chuyển, tu hành mạnh mẽ tinh tấn cho đến khi thành
Phật.
10.
Trí huệ biện tài: Nhơn dân cõi Cực Lạc có vị đọc tụng,
thọ trì, diễn giảng kinh pháp; có vị tư duy diệu nghĩa,
nhập dịnh tham thiền; tất cả đều đủ trí huệ biện tài.
11.
Được vô sanh nhẫn: Đã sanh về cõi ấy tất sẽ chứng được
vô sanh pháp nhẫn và các môn thâm tổng trì.
12.
Cúng dường chư Phật: mỗi buổi sớm mai, nhơn dân nước
Cực lạc thường đem các thứ hoa quí lạ đi cúng dường
chư Phật ở mười phương. Nếu muốn cùng dường hương mầu,
y phục, bảo cái, tràng phan; do nhờ nguyện lực của Phật
A Di Đà, đồ cúng dường quí đẹp đúng theo ý muốn, liền
hiện trên không nhóm lại như mây, rồi uyển chuyển rơi xuống
đạo tràng thành pháp cúng dường. Khi cúng dường và nghe
thuyết pháp xong, trong khoảnh khắc, tất cả đều trở về
bản quốc trước giờ thọ thực.
13.
Không ba ác đạo: Ở cõi Cực lạc không có các loài địa
ngục, ngạ quỉ, bàng sanh, cho đến không nghe điều chi bất
thiện huống nữa là có thật.
14.
Gần gũi Thánh chúng: Người sanh về cõi Cực lạc, thường
được gần gũi các bậc đại Bồ tát như Quán Âm, Thế Chí,
Văn Thù, Phổ Hiền, chung quanh mình toàn là bậc thượng thiện,
không có thầy tà bạn ác.
15.
Oai lực tự tại: Các bậc Thanh văn, Bồ tát ở Cực lạc,
thần thông rộng lớn, oai lực tự tại, có thể nhiếp trì
tất cả thế giới trong bàn tay.
16.
Thân quang rực rỡ: Ánh sáng nơi thân của chúng Thanh văn ở
cõi ấy chiếu xa một tầm, còn quang minh của hàng Bồ tát
chiếu xa từ 100 do tuần đến tam thiên đại thiên thế giới.
17.
Nhiều Thanh văn, Bồ tát: Chúng Thanh văn ở pháp hội đầu
tiên của Phật A Di Đà nhiều đến vô số. Các chúng Bồ
tát cũng như vậy. Đức Bổn sư bảo ngài A Nan: "Người có
trí huệ thần thông như bọn ông Xá Lợi Phất, Mục Kiền
Liên, đến kế các bậc Bồ tát, cũng không biết số lượng
là bao nhiêu, huống chi các pháp hội khác!".
18.
Bậc Bổ xứ vô biên: Chúng sanh sanh về cõi Cực lạc đều
là bậc A bệ bạt trí. Trong ấy những vị nhứt sanh bổ xứ
Bồ tát rất nhiều, không thể dùng toán số tính kể được,
chỉ có thể đem số vô lượng vô biên A tăng kỳ để nói
mà thôi.
B.
Y Báo Cõi Cực Lạc
1.
Quốc độ bằng phẳng: Toàn cõi Cực lạc bằng phẳng, trong
sạch không một điểm trần, không có núi Tu di, Kim cang và
tất cả các núi, cũng không có các biển lớn nhỏ, sông,
suối, giếng, hang.
2.
Bảy báu làm đất: Quốc độ của Phật A Di Đà, đất là
lưu ly xen với thất bảo, trong ngoài chói suốt nhau, dưới
có tràng kim cương thất bảo nâng đỡ. Tràng này hình bát
giác đều đặn, mỗi phía do tám thứ báu hợp thành. Mỗi
hạt bảo châu phóng ra ngàn tia sáng, mỗi tia sáng có 84000
sắc chói, đất lưu ly sáng như ngàn ức mặt trời. Mặt đất
lưu ly bằng phẳng, có giây hoàng kim cùng thất bảo giăng
phân khu vực và đường xá. Mỗi khu vực rộng rãi bao la,
cảnh trí kỳ lệ nhiệm mầu, trang nghiêm thanh tịnh.
3.
Khí hậu điều hòa: Khí hậu ở cõi Cực lạc không nóng không
lạnh, thường mát mẻ điều hòa, không có bốn mùa Xuân,
Hạ, Thu, Đông.
4.
Lưới báu trang nghiêm: Trên hư không có vô lượng lưới báu
chia từng khuôn, giăng che khắp Phật độ. Lưới này giây
bằng chất nhuyển kim hoặc chơn châu, trang nghiêm bằng vô
lượng kỳ trân tạp bảo, quang sắc rực rỡ như sao. Chung
quanh mỗi khuôn lưới có treo nhiều linh báu, mỗi khi gió nhẹ
thoảng qua, các bảo linh ấy phát ra vô lượng pháp âm mầu
nhiệm. Chư thiện nhơn nghe rồi tự nhiên sanh lòng niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng.
5.
Sáu thời mưa hoa: Ở cõi Cực lạc, ngày đêm sáu thời mưa
xuống hoa Mạn đà la, gió nhẹ phi phất, hoa bay khắp Phật
độ. Hoa này nhu nhuyển thơm tho; chư thiện nhơn lúc bước
chân đi, hoa lún xuống bốn tấc, khi giở chân lên, hoa tròn
nguyên như cũ. Thánh chúng thưởng ngoạn và thọ dụng mưa
hoa xong, Mạn đà la hoa lần lượt biến mất, mặt đất trở
lại vẻ trang nghiêm, tịnh khiết.
6.
Bảo trì thơm sạch: Ở cõi Cực lạc nơi nơi đều có bảo
trì rộng rãi mênh mông, trong ao đầy dẫy nước bát công
đức trong sạch thơm tho, vị như cam lộ. Những ao này do từ
một thứ báu đến bảy thứ báu tạo thành, như thành ao bằng
hoàng kim, đáy ao trải cát thủy tinh; thành ao bằng bạch ngân,
xa cừ, mã não, đáy ao trải cát lưu ly; hoặc thành ao bằng
bạch ngọc, đáy ao trải cát kim cương nhiều màu.
7.
Nước ao tùy ý: Các thượng thiện nhơn lúc vào ao để tắm,
tùy theo ỷ muốn, nước tự dâng lên, hoặc ngập đến đầu
gối, đến bụng, đến cổ. Nước này từ như ý châu vương
sanh ra, tùy tâm người mà lên xuống, hoặc sâu, hoặc cạn,
hoặc ấm, hoặc mát, rất điều hòa, thuận thích.
8.
Sen báu nhiệm mầu: Mỗi ao có sáu mươi ức hoa sen thất bảo.
Mỗi hoa sen tròn lớn 12 do tuần, có trăm ngàn ức cánh, đủ
các màu xinh đẹp, màu nào chiếu ánh sáng nấy. Nước bát
công đức chảy lên xuống theo cộng sen hoặc lòn vào cánh
hoa, phát ra tiếng thanh tao diễn nói pháp mầu: Khổ, Không,
Vô thường, Vô ngã và các môn Ba la mật.
9.
Cây đạo tràng thọ: Cây bồ đề nơi đạo tràng của Phật
do các thứ báu hợp thành, chất báu căn bản tên là Nguyệt
Quang Ma Na Trì Hải Luân, Thân cây trang nghiêm bằng ngọc anh
lạc treo rũ xuống, chiếu ra ngàn muôn sắc. Trên ngọn cây
có lưới báu phủ giăng; nơi thân cây và lưới báu tùy thời
ứng hiện vô lượng Phật sự trang nghiêm.
10.
Bảo thọ phát âm: Khắp cõi Cực lạc có những cây thất
bảo mọc theo hàng lối ngay thẳng, có thứ cây thuần một
chất báu, hoặc hai, ba, cho đến bảy chất báu hợp thành.
Các hàng cây, thân cây, cành, lá, hoa, trái đều có sự tương
đối cân phân. Tất cả Phật sự ở cõi Cực lạc và mười
phương thế giới đều hiện bóng rõ nơi thân cây như vật
hiện trong gương sáng. Những hoa xinh đẹp sắc vàng Diêm phù
đàn xen trong kẽ lá, sáng rỡ như những vòng lửa. Trên hoa
tự nhiên có trái thất bảo hình như chiếc bình quý của
trời Đế Thích. Sự trang nghiêm của bảo thọ nhìn xem không
thể xiết! Gió mát từ thân cây nhẹ nhàng phát ra, nổi lên
năm thứ âm thanh vi diệu, tự nhiên hòa tấu, còn nhiệm mầu
hơn tiếng nhạc của trời Tha Hóa ngàn muôn ức lần! Âm thanh
của bảo thọ diễn nói pháp mầu! Chúng sanh ở cõi ấy tai
nghe tiếng tăm, mắt thấy màu sắc, mũi ngửi hương thơm,
lưỡi nếm vị ngon, thân tắm ánh sáng, ý duyên diệu pháp
của cây báu, đều được sáu căn thanh triệt, trụ nơi bất
thối chuyển.
11.
Bảo tòa quý lạ: Ở cõi Cực lạc, Phật, Bồ tát cùng thánh
chúng đều ngồi tòa sen báu. Các liên tọa này do từ một
hai, cho đến vô lượng chất báu hợp thành, màu sắc đẹp
lạ, quang minh sáng rỡ, nhu nhuyển lớn nhỏ xứng theo thân
thể người ngồi. Tòa sen của Phật có 84000 cánh, mỗi cánh
rộng 250 do tuần, có 100 màu. Nơi mỗi cánh hoa lại hiện 84000
làn gân, phóng ra 84000 tia sáng, có trăm ức châu ma ni xen lẫn
vào. Đài sen bằng chất Thích ca tỳ lăng già bảo, trang nghiêm
xen lẫn tám muôn thứ ngọc kim cương, ma ni. Sự kỳ lệ của
liên tòa này vô cùng, đây là chỉ kể phần sơ lược.
12.
Cung điện trang nghiêm: Những giảng đường, tinh xá, lâu các,
cung điện của Phật, Bồ tát, nhơn dân nơi cõi Cực lạc,
do vô lượng trân bảo hợp thành, trăm ngàn muôn lần quý
đẹp hơn Tự Tại thiên cung. Những đền đài này có thứ
nổi lên giữa hư không, cao lớn tùy theo ý muốn của người
ở, có thứ không theo ý muốn mà trụ trên bảo địa. Đây
là do công hạnh tu hành có hơn kém mà trụ xứ khác nhau, nhưng
sự thọ dụng về ăn mặc thì đều bình đẳng.
13.
Thức uống ăn tinh khiết: Nhơn dân cõi Cực lạc khi muốn
uống ăn thì bát khí thất bảo như: vàng, bạc, lưu ly, tùy
ý hiện ra trước mặt. Trong các thứ đồ báu ấy có đầy
đủ trăm vị ẩm thực, ăn vào tự nhiên tiêu hóa không còn
cặn bã, có vị chỉ thấy sắc, nghe hương tự nhiên no đủ,
không cần phải ăn uống. Khi sự việc đã xong, bảo khí tự
nhiên ẩn mất, đúng thời lại hiện ra, không cần phải dọn
dẹp.
14.
Pháp phục tùy tâm niệm: Y phục của dân chúng ở cõi này,
tùy tâm niệm liền hiện ra nơi thân. Tất cả y phục đều
quý đẹp tự nhiên, không cần phải cắt, may, nhuộm, giặt.
15.
Hóa cầm nói pháp: Đức Phật A Di Đà vì muốn cho pháp âm
lưu thông, hóa hiện ra vô số thứ chim tạp sắc kỳ lạ như:
Bạch hạt, khổng tước, Anh vỏ, Xá lợi, Ca lăng tần già,
Cộng mạng, Hồng, Nhạn, Oan ương.... Các thứ chim này ngày
đêm sáu thời kêu lên tiếng hòa nhã, diễn nói những pháp
như: năm căn, năm lực, bảy phần bồ đề, tám phần thánh
đạo. Chúng sanh ở cõi ấy nghe rồi, tự nhiên sanh lòng niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
16.
Hương thơm bay khắp: Ở cõi Cực lạc, từ mặt đất cho đến
hư không, cung điện lâu đài, ao nước cây hoa, đều do vô
lượng tạp bảo, trăm ngàn thứ hương kết thành, sự trang
nghiêm kỳ diệu vượt hơn các cõi trời. Mùi hương bay xa
đến mười phương thế giới, hàng Bồ tát nghe rồi đều
tu Phật hạnh.
17.
Vạn vật nghiêm đẹp: Tất cả muôn vật ở cõi này đều
nghiêm, sạch, sáng, đẹp, hình sắc lạ thường, vi diệu cùng
cực, không thể diễn tả và nói hết số lượng.
18.
Quốc độ sáng trong: Cõi Cực lạc sáng sạnh trong ngần, in
bóng vô số thế giới chư Phật ở mười phương. Sự ảnh
hiện này rất phân minh, như người nhìn vào gương soi thấy
mặt mình.
Tiết
III: Tịnh Độ Phương Đông
Như
trên đã lược thuật phần y chánh của thế giới Cực lạc
ở phương tây. Nhưng phương tây chẳng phải chỉ có một
cõi tịnh là Cực lạc, mà còn vô số tịnh độ khác. Các
phương kia cũng như thế. Xin y theo kinh lược dẫn ra đây một
ít tịnh độ ở phương Đông để làm tỷ lệ cho những tịnh
độ khác ở mười phương.
Kinh
Thất Phật Công Đức nói: "Từ đây qua phương Đông cách
bốn căn già sa cõi Phật, có thế giới tên là Vô Thắng,
Phật hiệu Thiện Danh Xưng Kiết Tường Vương Như Lai. Cách
năm căn già sa cõi Phật có thế giới tên là Diệu Bảo, Phật
hiệu Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Như Lai.
Cách sáu căn già sa cõi Phật, có thế giới tên là Viên Mãn
Hương Tích, Phật hiệu Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành
Tựu Vương Như Lai, cách bảy căn già sa cõi Phật, có thế
giới tên là Vô Ưu, Phật hiệu Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường
Vương Như Lai. Cách tám căn già sa cõi Phật, có thế giới
tên là Pháp Tràng, Phật hiệu Pháp Hải Lôi Âm Vương Như
Lai. Cách chín căn già sa cõi Phật có thế giới tên là Thiện
Trụ Bảo Hải, Phật hiệu Pháp Hải Thắng Huệ Du Hí Thần
Thông Vương Như Lai. Cách mười căn già sa cõi Phật, có thế
giới tên là Tịnh Lưu Ly, Phật hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang
Như Lai.
Những
thế giới trên đây đều do các thứ trân bảo hòa hợp tạo
thành, thánh chúng đều hóa sanh nơi hoa sen, công đức và sự
trang nghiêm xinh đẹp, cũng giống như cõi Cực lạc ở phương
Tây"
Tiết
IV: Cõi Phật Mười Phương
Trong
mười phương, mỗi phương, đều có vô biên tịnh độ và
uế độ. Các cõi đều có Phật ra đời giáo hóa chúng sanh,
nên trong kinh thường gọi là Phật độ hay Phật sát. Mỗi
cõi Phật hoặc lấy một, mười, trăm, ngàn muôn, ức, triệu
cõi đại thiên làm một Phật độ; hoặc lấy một hằng hà
sa hay nhiều hằng hà sa cõi đại thiên làm một Phật độ.
Như trong Kinh Pháp Hoa, đức Thích Ca đã thọ ký cho ngài Phú
Lâu Na, sau vô lượng a tăng kỳ kiếp sẽ thành Phật, hiệu
là Pháp Minh Như Lai. Đấng Điều Ngự này lấy một hằng
hà sa cõi đại thiên làm một Phật độ, cõi nước tên là
Thiện Tịnh, cảnh vật ở bản quốc đều do bảy báu hợp
thành. Để chứng minh ngoài cõi Ta Bà nầy còn có nhiều thế
giới khác, xin trích kinh tạng đơn cở trong mười phương
mỗi phương một cõi Phật để làm chỉ cho vô biên Phật
độ.
Kinh
Hoa Nghiêm nói: "Phương đông cõi Ta bà này, có thế giới tên
là Mật Huấn. Phương nam có thế giới tên là Phong Dật. Phương
tây có thế giới tên là Ly Cấu. Phương bắc có thế giới
tên là Phong Lạc. Phương Đông bắc có thế giới tên là Nhiếp
Thủ, Phương đông nam có thế giới tên là Nhiêu Ích. Phương
tây nam có thế giới tên là Tiên Thiểu. Phương tây bắc có
thế giới tên là Hoan Hỷ. Hạ phương có thế giới tên là
Chấn Âm. Các đấng Như Lai trong mười phương thế giới nầy,
mỗi vị có nhiều danh hiệu, cho đến vô lượng chư Phật
ở vô số thế giới cũng đều như thế".
Tiết
V: Thế Giới Sai Biệt
Trong
mười phương hư không có nhiều chủng loại thế giới; có
thế giới nhỏ hình tướng chúng sanh và cảnh vật cũng nhỏ;
có thế giới lớn, hình tướng chúng sanh và cảnh vật cũng
lớn. Như kinh Pháp Hoa nói:
Bấy
giờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ nơi tướng đại nhơn là
nhục kế và tướng lông trắng giữa đôi mày, phóng ra ánh
sáng soi khắp tám trăm muôn ức na do tha hằng hà sa thế giới
chư Phật ở phương Đông. Qua khỏi số các cõi đó, có thế
giới tên là Nhứt Thế Tịnh Quang Trang Nghiêm. Đấng chánh
giác ở cõi này thánh danh Tịnh Hoa Tú Vương Trí, có đủ
mười hiệu là: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, đang thuyết pháp
cho vô lượng vô biên chúng Bồ tát cung kính vi nhiễu ánh
sáng bạch hào của đức Thích Ca Mâu Ni soi khắp quốc độ
ấy. Lúc đó, trong cõi Nhứt Thế Tịnh Quang Trang Nghiêm có
một vị Bồ tát tên là Diệu Âm. Vị Bồ tát này đã gieo
trồng các cội công đức từ nhiều kiếp lâu xa, và đã gần
gũi cúng dường vô lượng trăm ngàn muôn ức chư Phật....
Khi
ấy, đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí bảo Diệu Âm Bồ tát:
"Thiện nam tử. Hình thế cõi Ta bà kia nơi cao chỗ thấp không
được bằng phẳng, có những núi đất đá và đầy dẩy
sự nhơ xấu. Thân Phật và chúng Bồ tát ở cõi ấy đều
kém nhỏ, mà thân của ông lại cao đến bốn vạn hai ngàn
do tuần, thân ta cao sáu trăm tám mươi vạn do tuần. Sắc tượng
của ông do trăm ngàn muôn phước tập hợp hiện thành, sáng
rỡ nhiệm mầu, xinh đẹp bậc nhứt. Tuy nhiên, khi qua cõi
kia, ông chớ nên vì thế mà đối với Phật, Bồ tát và quốc
độ ấy, sanh tư tưởng khinh mạn, cho là hạ liệt..."
Bấy
giờ Diệu Âm đại sĩ cùng 84000 chúng Bồ tát ẩn thân nơi
cõi Tịnh Quang, cùng nhau sang Ta bà thế giới. Khi vượt qua
các quốc độ, đất đai của những cõi này bổng rung động
sáu cách, trên hư không mưa xuống hoa sen thất bảo trăm ngàn
thiên nhạc tự nhiên hòa tấu. Mắt của Diệu Âm Bồ tát
như đôi cánh hoa sen xanh biếc rộng rãi. Khuôn mặt của ngài
còn đoan chánh rực rỡ hơn trăm ngàn muôn mặt trăng sáng
hòa hợp. Và thân thể của ngài do vô lượng trăm ngàn công
đức trang nghiêm, đầy đủ các tướng, bền chắc như Na
la diên, sắc vàng chiếu diệu, hiện vẻ uy đức tôn nghiêm.
Trong
kinh Duy Ma Cật cũng có đoạn nói:
"Lúc
ấy trưởng giả Duy Ma Cật hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi: "Nhân
giả đã từng du ngoạn khắp vô lượng a tăng kỳ Phật độ,
có thấy thứ tòa sư tử nào kỳ xảo và quý đẹp bậc nhứt
chăng?" Văn Thù Bồ tát đáp: "Cư sĩ! Về phương đông cõi
này, trải qua ba mươi sáu hằng hà sa quốc độ, có thế giới
Tu Di Tướng, vị hóa chủ là đức Phật Tu Di Đăng Vương,
Đấng Như Lai ấy thân cao tám muôn bốn ngàn do tuần, tòa
sư tử bề cao và rộng cũng như thế. Tòa này do công đức
thượng diệu hóa thành, trang nghiêm xinh đẹp bậc nhứt..."
Và đoạn:
"Bấy
giờ trưởng giả Duy Ma Cật liền vào tam muội, dùng sức
thần thông hiện bày cho đại chúng thấy các thế giới ở
phương trên. Từ cõi Ta bà đi lên trải qua bốn mươi hai hằng
hà sa Phật độ, có cõi nước tên là Chúng Hương. Nơi ấy
có đức Hương Tích Như Lai hiện đang giáo hóa. Mùi thơm tại
cõi nầy thắng diệu hơn các thứ hương của hàng nhơn thiên
trong mười phương thế giới. Ở cõi Chúng Hương không có
danh từ Thanh văn, Bích chi Phật, duy có chúng Đại Bồ tát
thanh tịnh. Tất cả lầu các và cảnh vật nơi cõi này đều
do chất thơm tạo thành, vườn cây ao hoa cũng là chất thơm,
thánh chúng đi kinh hành trên hương địa. Mùi thơm của thức
ăn từ cõi Chúng Hương lan rộng đến vô lượng thế giới
ở mười phương. Khi ấy, đức Hương Tích Thế Tôn cùng chư
Bồ tát đang ngồi thọ trai, các hàng thiên tử đồng hiệu
là Hương Nghiêm, đã phát tâm vô thượng Bồ đề, cúng dường
Phật và chúng hội".
Trên
đây là mấy đoạn kinh chỉ rõ sự trang nghiêm kỳ diệu của
các thế giới. Căn cứ vào đó, ta có thể suy hiểu ngoài
cõi Ta bà này, có nhiều thế giới khác mà nhân vật và sự
cảnh đều phi thường. Lại theo kinh Hoa Nghiêm, Tịnh danh,
các Phật độ ở mười phương có nhiều chủng loại, hình
thể khác nhau. Có thế giới hình vuông hoặc vuông dài, có
thế giới hình tròn, có thế giới hình như dòng nước xoáy,
có thế giới hình như con sông, có thế giới hình luân võng,
có thế giới hình đàn đài, có thế giới hình như khu rừng
cây, có thế giới hình như lầu quán, có thế giới hình như
tràng thi la, có thế giới hình như thai tạng, có thế giới
hình hoa sen, có thế giới hình khê lặc ca (khataka; hình ấn
Toàn vũ), có thế giới hình chúng sanh, có thế giới hình
Phật tướng, có thế giới hình như áng mây, có thế giới
hình màn lưới, có thế giới hình như đôi cánh cửa gài,
có thế giới hình như các khí cụ nghiêm đẹp... Mỗi thế
giới như vậy, có nhiều thế giới đồng chủng loại vi nhiễu.
Chư
Phật ở các thế giới, hoặc dùng sắc tướng làm Phật sự;
hoặc dùng âm thanh làm Phật sự; hoặc dùng mùi hương làm
Phật sự; hoặc dùng trân vị làm Phật sự; hoặc dùng ánh
sáng làm Phật sự; hoặc dùng những động tác làm Phật sự.
Tóm
lại, do nghiệp sai biệt của chúng sanh, nên cảm hiện vô
số thế giới hình loại sai biệt. Có cõi uế ác, có cõi
nghiêm tịnh, có cõi thân người xinh đẹp cao lớn, có cõi
thân người thân nhỏ xấu thô; có cõi thuần là người nam,
có cõi thuần là người nữ, có cõi nam nữ ở xen lẫn; có
cõi loài người do thai, noãn, thấp, hóa mà sanh ra; có cõi
dân chúng toàn là hóa sanh; có cõi các thánh chúng, loài người
cùng những tạp loại khác ở lẫn lộn; có cõi toàn là bậc
tam thừa thánh nhơn; có cõi chỉ thuần những vị đại thừa
Bồ tát.
Sự
kỳ lạ sai biệt của các thế giới thật là vô cùng....