Thiên
Thứ Hai
Chương
Năm
Từ
Đức Thích Ca Đến Phật Di Lặc
Tiết
Mục:
-
I. Phật
pháp trong ba thời kỳ
-
II. Phật
pháp trong năm thời kỳ
-
III. Những
lời huyền ký về thời mạt kiếp
-
IV. Đức
Từ Thị và hội Long Hoa
Kinh sách
tham khảo: Tam Tạng Ký Lục, Nhơn Vương Kinh Sớ, Kinh Đại
Tập Nguyệt Tạng, Tân Bà Sa Luận, Kinh Đại Bi, Kinh Ma Ha Ma
Gia, Kinh Pháp Diệt Tận, Kinh Di Lặc Hạ Sanh, Kinh Trường A
Hàm, An Sĩ Toàn Thơ, Thái Hư Toàn Thơ.
Đề
yếu: Muôn vật giữa đời, có thạnh tất có suy, dù cho đạo
pháp của Phật cũng vậy. Nhưng động cơ chánh trong sự suy
vong của nền đạo là do con người chớ không phải do giáo
pháp. Như hiện thời có thể nói tam tạng kinh điển đầy
đủ hơn xưa, nhưng sở dĩ gọi là mạt pháp, vì con người
kém đạo đức căn lành không giữ đúng theo lời dạy của
Phật. Cho nên người xưa có câu: "Nhơn năng hoằng đạo, phi
đạo hoằng nhơn", chính là ý này, "Người hay mở mang cho
đạo, không phải đạo mở mang cho người", câu này chỉ có
ý nghĩa phiến diện".
Về
đạo Phật, theo thuyết tam thời, thì hiện tại là thời mạt
pháp; thuyết ngũ thời, hiện tại chính nhằm thời đấu tranh.
Từ đây về sau, cứ đúng theo thật tế mà nói, Phật pháp
có ở trong tình trạng tiệm suy, nếu có vùng dậy cũng chỉ
trong giai đoạn tạm thời, hay hoặc chỉ có ảnh hưởng bên
ngoài. Vậy, nhứt là hàng Phật tử, càng nên cố gắng thật
học, thật tu, để duy trì pháp vận, lợi ích thế gian, và
phải làm với hết sức của mình. Tuy nhiên, hết thạnh rồi
suy, hết suy lại thạnh, Phật Thích Ca đã nhập diệt, đức
Di Lặc sẽ kế tiếp giáng sanh, nên chung qui chánh pháp vẫn
là bất diệt, chẳng qua chỉ tạm ẩn để phục hưng đấy
thôi.
Những
vị muốn được dự vào Long Hoa tam hội, nên kết duyên bằng
cách quy kính hộ trì Tam Bảo và thiết thật hành thiện ngay
trong lúc này.
Tiết
I: Phật Pháp Trong Ba Thời Kỳ
Khi
một đức Phật ra đời rồi nhập diệt, đạo pháp của vị
giáo chủ ấy được chia thành ba thời kỳ là: chánh pháp,
tượng pháp và mạt pháp. Về pháp vận của đức Thích Ca,
tham khảo trong ba tạng, các kinh, luật, luận đều nói có
hai thời chánh và tượng; luận Câu Xá, kinh Tạp A Hàm duy
nói một thời chánh pháp; riêng kinh Đại Bi là nói đủ ba
thời mà thôi.
Về
vấn đề trên, các kinh luận ghi chép cũng không đồng, đại
khái có bốn thuyết:
1.
Chánh pháp 1000 năm, tượng pháp 1000 năm, mạt pháp 10000 năm,
là thuyết của kinh Đại Bi. Kinh Tạp A Hàm nói chánh pháp
1000 năm, Luật Thiện Kiến nói chánh, tượng đều 1000 năm;
hai bộ kinh và luật này tuy một không đề cập đến tượng,
mạt, một không nói về mạt pháp, song đại lược cũng đồng
với thuyết của kinh Đại Bi.
2.
Chánh pháp 500 năm, tượng pháp 500 năm, là thuyết của kinh
Đại Thừa Tam Tụ Sám Hối.
3.
Chánh pháp 1000 năm, tượng pháp 500 năm, là thuyết của kinh
Bi Hoa
4.
Chánh pháp 500 năm, tượng pháp 1000 năm, là thuyết của các
kinh: Đại Tập Nguyệt Tạng, Hiền Kiếp, Ma Ha Ma Gia. Cổ lai,
các bậc danh đức Phật giáo bên Trung Hoa đều thể dụng
thuyết chánh pháp 500 năm, tượng pháp 1000 năm, và y cứ theo
kinh Đại Bi thêm vào phần mạt pháp 10000 năm.
Sao
gọi là chánh, tượng và mạt pháp? Sở dỉ nói chánh pháp,
vì "chánh" có nghĩa là "chứng". Trong thời kỳ này, đức Thế
Tôn tuy đã nhập diệt, nhưng pháp nghi chưa cải, có giáo lý,
có kẻ hành trì, có nhiều người chứng quả. Nói tượng
pháp, vì "tượng" có nghĩa "tương tợ", tức là mường tượng.
Trong thời kỳ này đạo hóa chỉ còn mường tượng, pháp
nghi lệch lạc, tuy có giáo lý, có người hành trì, nhưng rất
ít kẻ chứng đạo. Nói mạt pháp, vì "mạt" hàm ý "vi mạt",
nghĩa là mong manh nhỏ nhiệm, như chót đầu lông chim nhỏ,
như hạt bụi điểm sương. Trong thời kỳ này đạo hóa suy
vi, tuy có giáo lý, song rất ít kẻ hành trì đúng pháp, huống
chi là chứng đạo? Nhơn Vương Kinh Sớ nói: "Có giáo lý, có
hành trì, có quả chứng, gọi là chánh pháp. Có giáo lý, có
hành trì không quả chứng, gọi là tượng pháp. Có giáo lý,
không hành trì, không quả chứng, gọi là mạt pháp. Thật
ra, thời tượng pháp chẳng phải là không có quả chứng,
song bậc chứng quả như sao buổi sáng trên nền trời, khó
tìm khó gặp; thời mạt pháp chẳng phải là không có người
hành trì, song kẻ hành trì đúng theo giáo lý rất ít, hầu
như không có, nên mới gọi là không hành trì.
Trên
đây là thuyết minh đại lược ba thời kỳ chánh, tượng,
và mạt pháp của đức Thích Ca Mâu Ni. Dẫn ra đoạn này,
không phải bút giả cố ý gây quan niệm chánh nản tiêu cực
cho hàng Phật tử; nhưng ngoài sự trình bày để người học
Phật biết thế nào là chánh, tượng, mạt, còn nói lên lời
nhắc nhở đồng nhơn nên nhìn vào thật hạnh, đừng để
cho pháp đã mạt lại càng thêm mạt.
Tiết
II: Phật Pháp Trong Năm Thời Kỳ
Theo
Kinh Đại Tập Nguyệt Tạng, sau khi đức Thế Tôn niết bàn,
Phật pháp sẽ diễn biến qua năm thời kỳ, từ thạnh đến
suy. Năm thời ấy gọi là Ngũ kiên cố, mỗi giai đoạn là
500 năm. Hai chữ kiên cố trong đây, ý nói tùy mỗi thời,
nghiệp duyên và tâm niệm của chúng sanh hướng theo mỗi chiều
huớng một cách bền chắc, ví như gốc cây to rễ bám đã
sâu, khó nhổ lên hoặc xô cho lay chuyển. Danh từ kiên cố
này, các kinh luận khác cũng thường dùng, như kinh Pháp Hoa
có câu: "Diệu Quang giáo hóa nay kiên cố". Năm thời kiên cố
như sau:
1.
Giải thoát kiên cố: Sau khi đức Thế Tôn niết bàn, trong
500 năm đầu tiên, đệ tử của Phật có nhiều vị chứng
quả, được vào cảnh an vui giải thoát. Thời kỳ này các
phương diện học, tu, chứng đều thạnh, hành nhơn hiểu sâu
lẽ mầu, giữ gìn giới hạnh, một trăm người tu có đến
sáu bảy mươi vị đắc đạo. Bấy giờ trong nhơn gian đầy
dẫy những bậc thánh hiền.
2.
Thiền định kiên cố: Sang 500 năm thứ hai, hàng Phật tử
xuất gia, tại gia tuy ít kẻ chứng đạo như thời gian trước,
song phần nhiều đều thật hành đúng theo lời Phật dạy,
đi sâu vào cảnh giới thiền định. Giai đoạn này, trong một
trăm người tu, có được sáu bảy người chứng đạo.
3.
Đa văn kiên cố: Qua 500 năm thứ ba, đạo căn của chúng sanh
đã cạn cợt hơn trước, người tu Phật đa số chỉ thích
học rộng nghe nhiều; các phương diện diễn dịch kinh sách,
biện luận đạo lý được thạnh hành khắp nơi. Lúc này
kẻ thiết thật cầu giải thoát thâm nhập thiền định, còn
ít có người, huống chi là chứng quả. Tuy nhiên, trong muôn
ức người tu, cũng có đôi ba bậc đắc đạo.
4.
Tháp tự kiên cố: Sang 500 năm thứ tư, Phật giáo đồ phần
nhiều hướng về việc cất chùa, xây tháp, bố thí, tụng
kinh để cầu phước báo; về phương diện văn tự rất ít
có người, huống nữa là tu? Thuở xưa, cũng vào khoảng thời
gian này, bên Trung Hoa có một bậc cao tăng là Tĩnh Công. Sau
khi ngài tham thiền ngộ đạo, một vị tôn túc bảo rằng:
"Ngày kia ông ra hoằng hóa, dưới tòa có đến 1000 tăng chúng,
song không kẻ nào là bậc xuất gia". Quả nhiên, sau Tĩnh Công
đáp lời yêu thỉnh của tiền công, về trụ trì một ngôi
chùa, tăng chúng quy tụ đến số ngàn, song chỉ toàn là hạng
tụng kinh để gieo căn lành phước báo ở tương lai, không
có vị nào tham thiền ngộ đạo. Cổ đức quan niệm rằng:
nghĩa chân thật của "Xuất gia" là phải ra khỏi nhà tam giới,
hay ít nữa ra khỏi nhà phiền não, không phải chỉ ra khỏi
nhà thế tục vào cửa chùa, cạo tóc mặc áo cà sa là đủ.
Cách bốn mươi năm về trước, những bạn đồng tham với
Tĩnh Công, trong 1000 người cũng được bảy tám mươi vị
đại ngộ; không ngờ qua một thời gian chẵng bao lâu mà lại
có sự sai biệt dường ấy! Sự kiện này tương tợ các sông
rạch gặp cơn nước kém, mỗi ngày mực nước mỗi thấp
xuống; căn cơ của chúng sanh trong thời giảm kiếp cũng như
vậy.
5.
Đấu tranh kiên cố: Đến 500 năm thứ năm, nhơn loại vì ngã
chấp nặng, tự ái nhiều, chẳng những ngoài đời thường
xảy ra cảnh tượng tranh đua giết hại lẫn nhau, mà trong
đạo cũng lắm kẻ chen lấn trên đường danh nẻo lợi. Giai
đoạn này, hàng đệ tử Phật tuy nhiều, song đối với tam
tạng kinh điển ít người tin hiểu sâu, ít ai thiết thật
vì đạo, đi đúng với đạo trên phương diện tự lợi lợi
tha. Kinh Kim Cang nói: "Năm trăm năm rốt sau" chính là thời
kỳ này.
Trong
An Sĩ Toàn Thơ có đoạn nói về tình trạng hơn kém của phước
báo xưa và nay như sau: "Con người do có đức nên mới được
hưởng phước, nếu đức đã giảm thì tất cả đều giảm.
Chẳng hạn như: thọ số lần lần giảm, phước báo lần
lần suy, ngũ cốc lần lần mất mùa, bảy báu lần lần ẩn
một, y thực lần lần khó khăn, dung mạo lần lần thô xấu,
tư bẩm lần lần tối tăm, tinh thần lần lần bại nhược,
phong hóa lần lần hoang sơ, thân tộc lần lần bất hòa, sưu
thuế lần lần cao nặng, tai nạn nước lửa trộm giặc lần
lần thêm nhiều, người lành lần lần điêu tàn, kẻ ác lần
lần tăng thạnh, tà đạo lần lần phát hưng, Phật pháp lần
lần hư phế. Lấy một ít việc để suy nghiệm: như thời
xưa vào đời nhà Châu, Võ vương thọ 93 tuổi, vua Thuấn thọ
110 tuổi, vua Nghiêu thọ 117 tuổi. Trước vua Nghiêu, vua Đế
Cốc ở ngôi 70 năm, vua Chuyên Húc ở ngôi 78 năm, vua Thiếu
Hạo ở ngôi 84 năm, vua Huỳnh Đế ở ngôi 100 năm, vua Diêm
Đế ở ngôi 140 năm. Thời gian tại vị mà còn dài như thế,
thọ số tất cao biết dường nào! Thế thì thuyết nhà Phật
nói thọ lượng nhơn loại lúc cực tăng được 84000 tuổi,
khi vào giảm kiếp qua 100 năm bớt một tuổi, không phải là
việc hoang đường. Cho nên Hàn Dũ dâng biểu tâu nói thời
xưa không có Phật mà nhơn loại sống lâu, đời nay có Phật
mà thiên hạ chết yểu, là bởi ông ta chưa rõ thuyết giảm
kiếp của nhà Phật. Đức Thích Ca ra đời lúc nhơn thọ giảm
còn 100 tuổi, thuở ấy nhằm thời đại Châu Chiêu vương
của Trung Hoa. Bấy giờ thọ số con người thường trên dưới
100 tuổi nên theo pháp chế nhà Châu, trai gái đến 30 tuổi
mới được phép có chồng vợ. Từ đời Châu Chiêu vương
đến nay đã gần 3000 năm, thọ số con người chỉ trên dưới
thất trần, trai gái mới 13, 14 tuổi đã sớm nghĩ đến đường
tình ái. Lại có người khai phát những mộ cổ từ đời
nhà Tùy, Đường trở về trước, thấy xương của người
xưa to lớn, so với người thời nay cao hơn độ hai thước
(thước Trung Hoa). Thế thì thuyết "khi nhơn thọ cao, sắc thân
của loài người tùy theo thọ số mà cao lớn" cũng không phải
là điều huyễn hoặc. Về trân bảo, như thuở đời Hạ,
Thương, Châu, khi các vương hầu tống tặng nhau, thường sắm
lễ vàng ròng mấy muôn lượng, ngọc bạch bích mấy trăm
đôi, chưa từng dùng thuấn bạch kim. Đến đời nhà Hán mới
xen dùng bạch kim, những thứ ngọc dạ quang ánh sáng chiếu
xa đôi mươi cỗ xe, các nước nhỏ đều có. Đến nay thì
vàng bạc là vật quí báu hi hữu, người ta lại pha chế sen
đồng đỏ vào; đây là triệu chứng bảy báu lần lần ẩn
một vậy. Thuở xưa quốc khố chứa không đủ lương tiền
chi dụng trong mười năm gọi là "bất túc", chứa không đủ
lương tiền chi dụng trong sáu năm gọi là "cấp". Đời nay
cầu cái "cấp" còn không được; ấy chẳng phải triệu chứng
sự thọ dụng về ăn mặc lần lần khó khăn là gì? Thời
xưa các bậc vương hầu còn đến núi rừng thôn dã để cầu
hiền, hoặc kết giao với người đạo đức; hàng khanh tướng
tuy sang trọng, nhưng không có công lớn chẳng dám ngồi xe
quí. Người đời nay vừa được chút quan tước đã coi rẻ
bạn bè, xem thường làng xóm, cho đến trẻ không kính già,
trò ngang ngổ với thầy. Đây là triệu chứng phong hóa lần
lần hoang sơ, đồi trụy. Thuở xưa các bậc cao tăng có khi
vua mời không đến, vua xuống chiếu thơ cầu thỉnh tất xưng
tặng như bậc thầy; nên ngài Huyền Trang tịch mà vua Cao Tôn
bái triều ba ngày, và các bậc hiền vương hoặc thường giá
lâm đến chùa, hoặc thỉnh pháp nơi nội điện. Đời nay
hàng sĩ thứ thấy tượng Phật không lễ, gặp bậc cao tăng
không chào; ấy cũng bởi bên trong ít người đạo đức, bên
ngoài nhiều kẻ ngạo kiêu. Đây chính là triệu chứng Phật
pháp lần lần điêu phế vậy.
Tóm
lại, năm thời kiên cố đi theo chiều kiếp giảm, nên căn
lành của chúng sanh càng ngày càng kém. Phước đức căn lành
của nhơn loại càng kém, thì trong đạo càng ngày ít bậc
cao tăng, ngoài đời càng ngày thêm nỗi đảo điên tai nạn.
Cảm tác cảnh thanh tu giải thoát của người xưa, Bát Chỉ
Đầu Đà đã có câu: "Mâu tháp đăng hôn tăng nhập định.
Tùng chi nguyệt lãnh hạt sơ hoàn". (Giường lau đèn tối tăng
vào định. Trăng lạnh cành thông bóng hạt về). Trong tăng
giới ngày nay, khó tìm được phong độ tiêu sái ấy. Gần
đây, Hư Vân thiền sư xuất thần lên cung trời Đâu Xuất,
được nghe Di Lặc Bồ tát nói pháp Duy tâm thức định; sau
cùng Bồ tát thuyết kệ trong ấy có câu: "Kiếp nghiệp dương
đầu. Cảnh tích phổ giác". Đại ý của hai câu này, Bồ
tát bảo ngài Hư Vân: "Dưới trần thế đang ở trong giai đoạn
khởi đầu của tam tai tiểu kiếp. Vậy ngươi hãy trở về
nhắc nhở khuyên mọi người nên giác ngộ, cố gắng tu hành".
Tần Bà Sa Luận nói: "Nếu kẻ nào thọ giới bất sát đúng
pháp trong một ngày đêm, sẽ được tránh khỏi tai nạn đao
binh ở tương lai. Nếu kẻ nào đem lòng ân cần trong sạch
dùng một trái Ha lê lặc cúng dường chư tăng, sẽ không gặp
tai nạn tật dịch ở tương lai. (Ha lê lặc là thứ trái có
thể trị bịnh, người muốn tịnh thí có thể dùng thuốc
men để thay thế). Nếu kẻ nào sanh tâm bi mẩn, dùng một
nắm cơm bố thí cho loài hữu tình, quyết định không gặp
tai nạn cơ cẩn ở tương lại".
Những
ai muốn chủng phước duyên, tránh tam tai tiểu kiếp, nên thật
hành các hạnh lành như trên. Và muốn cho kiếp nạn được
tiêu giảm, không chỉ sức của một đôi người, mà tất
cả mọi người phải đồng tâm hướng thiện.
Tiết
III: Những Lời Huyền Ký Về Thời Mạt Kiếp
Khi
đức Thế Tôn sắp niết bàn, ngài có huyền ký tình trạng
trong đời mạt pháp và lúc chánh pháp sắp diệt. Xin dẫn
ra đây ít đoạn để cho hàng Phật tử xuất gia tại gia tự
kiểm điểm, gạn bỏ điều ác, tu tập pháp lành.
Trong
kinh Đại Bi, đức Phật bảo: "Này A Nan! Khi ta niết bàn rồi,
trong thời gian 500 năm rốt sau, nhóm người giữ giới, y theo
chánh pháp, lần lần tiêu giảm; các bè đảng phá giới, làm
điều phi pháp, ngày tăng thêm nhiều. Do chúng sanh phỉ báng
chánh pháp, gây nhiều ác hạnh, nên phước thọ bị tổn giảm,
các tai nạn đáng kinh khiếp nổi lên. Bấy giờ có nhiều
Tỷ khưu đắm mê danh lợi, không tu thân, tâm, giới, huệ.
Họ tham trước những y, bát, thức ăn, sàng tòa, phòng xá,
thuốc men, rồi ganh ghét tranh giành phỉ báng lẫn nhau, thậm
chí đem nhau đến quan ty, lời nói như đao kiếm. Cho nên, A
Nan! Đối với những vị xuất gia tu phạm hạnh, thân khẩu
ý thật hành đạo từ bi, ông nên cung cấp những thức cúng
dường cho đầy đủ. Vị nào đối với các phạm hạnh hoặc
thấy, hoặc nghe, hoặc tin, hoặc làm, hoặc nhiều, hoặc ít,
ông nên làm thế nào cho họ không khởi lòng não loạn, nên
vâng giữ điều này! Tại sao thế? Vì trong cõi ngũ trược
vào thời mạt kiếp, có nhiều sự khổ nạn như: đói, khát,
giặc, cướp, nắng hạn, bão lụt, các loài trùng phá hại
mùa màng, tóm lại có nhiều nhân duyên làm cho chúng sanh bị
xúc não. A Nan! Lúc bấy giờ có các hàng trưởng giả, cư
sĩ, tuy bị nhiều sự khổ não bức thiết, song vẫn sanh lòng
tịnh tín, cung kính tôn trọng ngôi Tam Bảo, bố thí, giữ
giới, tụng kinh, tu các công đức, khuyên người y theo Phật
pháp làm lành. Do thiện căn đó, khi mạng chung họ được
sanh về thiên đạo, hưởng các điều vui. Còn các Tỷ khưu
ác kia, ban sơ dùng đức tin, tâm lành, bỏ tục xuất gia; nhưng
sau khi xuất gia, họ lại tham trước danh lợi, không cố gắng
tu hành, nên kết cuộc bị đọa vào ác đạo...
Kinh
Đại Tập nói: "Trong đời mạt pháp, có những vua, quan, cư
sĩ, ỷ mình giàu sang quyền thế, sanh tâm kinh mạn, cho đến
đánh mắng người xuất gia. Nên biết những kẻ gây nghiệp
ấy, sẽ bị tội đồng như làm cho thân Phật ra huyết..."
Kinh
Ma Ha Ma Gia nói: "Khi đấng Nhứt thế trí vào niết bàn rồi,
một trăm năm sau, có Tỷ khưu Ưu Ba Cúc Đa, đủ tài biện
thuyết như Phú Lâu Na, độ vô lượng chúng. Hai trăm năm sau,
có Tỷ khưu Thi La Nan Đà, khéo nói pháp yếu, độ mười hai
ức người trong châu Diêm Phù. Ba trăm năm sau, có Tỷ khưu
Thanh Liên Hoa Nhãn thuyết pháp độ được nữa ức người.
Bốn trăm năm sau, có Tỷ khưu Ngưu Khẩu thuyết pháp độ
được một vạn người. Năm trăm năm sau có Tỷ khưu Bảo
Thiên thuyết pháp độ được hai vạn người, và khiến cho
vô số chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề. Đến đây
thời kỳ chánh pháp đã chung mãn. Sáu trăm năm sau, 96 thứ
ngoại đạo phục hưng, nhiều tà thuyết nổi lên phá hoại
chánh pháp. Lúc ấy có Tỷ khưu Mã Minh ra đời, dùng tài huệ
biện hàng phục ngoại giáo. Bảy trăm năm sau, có Tỷ khưu
Long Thọ ra đời, dùng sức chánh trí xô ngã cột phướn tà
kiến, đốt sáng ngọn đuốc Phật pháp. Tám trăm năm sau,
hàng xuất gia phần nhiều tham trước danh lợi, giải đãi
buông lung, trong trăm ngàn người tu, chỉ có một ít người
đắc đạo. Chín trăm năm sau, trong giới tăng ni, phần nhiều
là hạng nô tỳ bỏ tục xuất gia. Một ngàn năm sau, các tỷ
khưu nghe nói pháp bất tịnh quán, pháp sổ tức, buồn chán
không thích tu tập, trong trăm ngàn người chỉ có ít người
được vào chánh định. Từ đó về sau, lần lần hàng xuất
gia hủy phá giới luật, hoặc uống rượu, hoặc sát sanh,
hoặc đem bán đồ vật của ngôi Tam Bảo, hoặc làm hạnh
bất tịnh, nếu có con thì trai làm tăng, gái làm ni, chỉ còn
số ít người biết giữ giới hạnh, gắng lo duy trì và hoằng
dương chánh giáo. Khi áo cà sa của tăng ni biến thành sắc
trắng, đó là triệu chứng Phật pháp sắp diệt..."
Trong
kinh Pháp Diệt Tận, đức Phật bảo: "Về sau, khi pháp của
ta sắp diệt, nơi cõi ngũ trược nầy tà đạo nổi lên rất
thạnh. Lúc ấy có những quyến thuộc ma vào làm sa môn để
phá rối đạo pháp của ta. Họ mặc y phục như thế gian,
ưa thích áo cà sa năm sắc, ăn thịt uống rượu, sát sanh,
tham trước mùi vị, không có từ tâm tương trợ, lại ganh
ghét lẫn nhau. Bấy giờ có các vị Bồ tát, Bích chi, La hán
vì bản nguyện hộ trì Phật pháp, hiện thân làm sa môn, tu
hành tinh tấn, đạo hạnh trang nghiêm, được mọi người
kính trọng. Các bậc ấy có đức thuần hậu, từ ái, nhẫn
nhục, ôn hòa, giúp đỡ kẻ già cô cùng, hằng đem kinh tượng
khuyên người phụng thờ đọc tụng, giáo hóa chúng sanh một
cách bình đẵng, tu nhiều công đức, không nệ tổn mình lợi
người. Khi có những vị sa môn đạo đức như thế, các tỷ
khưu ma kia ganh ghét phỉ báng, vu cho những điều xấu, dùng
đủ cách lấn áp, xua đuổi, hạ nhục, khiến cho không được
ở yên. Từ đó các tỷ khưu ác càng lộng hành, không tu đạo
hạnh, bỏ chùa chiền điêu tàn hư phế, chỉ lo tích tụ tài
sản riêng, làm các nghề không hợp pháp để sanh sống, đốt
phá rừng núi làm tổn hại chúng sanh không có chút từ tâm.
Lúc ấy có nhiều kẻ nô tỳ hạ tiện xuất gia làm tăng ni,
họ thiếu đạo đức, dâm dật tham nhiễm, nam nữ sống lẫn
lộn, Phật pháp suy vi chính là do bọn này. Lại có những
kẻ trốn phép vua quan, lẫn vào cửa đạo, rồi sanh tâm biếng
nhác không học không tu. Đến kỳ tụng giới trong mỗi nữa
tháng, họ chỉ lơ là gắng gượng, không chịu chuyên chú
lắng nghe. Nếu có giảng thuyết giới luật, họ lược bỏ
trước sau, không chịu nói ra hết. Nếu có đọc tụng kinh
văn, họ không rành câu, chữ, không tìm hỏi bậc cao minh,
tự mãn cầu danh, cho mình là phải. Tuy thế, bề ngoài họ
cũng ra vẻ đạo đức, thường hay nói phô, để hy vọng mọi
người cúng dường. Các tỷ khưu ma nầy sau khi chết sẽ bị
đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh trải qua nhiều kiếp.
Khi đền tội xong, họ thác sanh làm người ở nơi biên địa,
chỗ không có ngôi Tam Bảo.
Lúc
Phật pháp sắp diệt người nữ phần nhiều tinh tấn, ưu
tu những công đức. Trái lại, người nam phần nhiều kém
lòng tin tưởng, thường hay giải đãi khinh mạn, không thích
nghe pháp, không tu phước huệ, khi thấy hàng sa môn thì rẻ
rúng chê bai, xem như đất bụi. Lúc ấy, do nghiệp ác của
chúng sanh, mưa nắng không điều hoà, ngũ sắc hư hao tàn tạ,
bịnh dịch lưu hành, người chết vô số. Thời bấy giờ,
hàng quan liêu phần nhiều khắc nghiệt tham ô, lớp dân chúng
lại nhọc nhằn nghèo khổ, ai nấy đều mong cho có giặc loạn.
Trong thế gian lúc ấy khó tìm được người lương thiện,
còn kẻ ác thì nhiều như cát ở bãi biển, đạo đức suy
đồi, chư thiên buồn thương rơi lệ.
Này
A Nan! Lúc đạo pháp ta sắp diệt, ngày đêm rút ngắn, con
người đoản mệnh, nhiều kẻ mới bốn mươi tuổi, tóc trên
đầu đã điểm bạc. Về phần người nam, bởi nhiều dâm
dật nên hay yểu chết, trái lại người nữ sống lâu hơn.
Lúc ấy có nhiều tai nạn nổi lên, như giặc cướp, bịnh
tật, bão lụt, nhơn dân hoặc không tin hiểu đó là nghiệp
báo, hoặc vì sống quen trong cảnh ấy, xem như là việc thường.
Bấy giờ nếu có bậc Bồ tát, Bích Chỉ, La hán dùng bi tâm
ra giáo hóa, do nghiệp ác của chúng sanh và sức ngoại ma xua
đuổi, cũng ít ai đến dự pháp hội. Còn bậc tu hành chân
chánh, phần nhiều ẩn cư nơi núi rừng xa vắng, giữ đời
sống an vui đạm bạc, được chư thiên hộ trì. Khi nhơn thọ
giảm còn 52 tuổi, áo cà sa của hàng sa môn đổi thành sắc
trắng, kinh Thủ Lăng Nghiêm và Bát Chu Tam Muội tiêu diệt
trước, các kinh khác lần lần diệt sau, cho đến không còn
văn tự.
Này
A Nan! Như ngọn đèn dầu trước khi sắp tắt, ánh đèn bỗng
bừng sáng lên rồi lu mờ và mất hẳn. Đạo pháp của ta
đến lúc tiêu diệt cũng có tướng trạng như thế. Từ đó
về sau trải qua ức triệu năm, mới có Phật Di Lặc ra đời
giáo hóa chúng sanh".
Tiết
IV: Đức Từ Thị Và Hội Long Hoa
Gần
đây, có nhiều thuyết tuyên truyền nói không bao lâu hội
Long Hoa sẽ mở, đức Di Lặc sẽ ra đời giáo hóa chúng sanh.
Có người lại quả quyết rằng: độ chừng 40 năm nữa, sẽ
có hội Long Hoa mở ra tại núi Cấm. Chẳng những ở Việt
Nam, mà thời gian trước tại Trung Hoa cũng có thuyết ấy.
Đó là do những người của các giáo phái khác không tham khảo
chính xác về đạo Phật, nghe nói hội Long Hoa rồi phụ họa
theo mà tuyên truyền, nếu có người thử hỏi ý nghĩa của
hai chữ Long Hoa, không chừng họ chẳng hiểu nữa là khác!
Cũng có giáo phái cố ý đem hội Long Hoa của đạo Phật làm
của mình, nên mới sanh ra sự đồn đải như trên. Xét ra
họ được điểm tốt là khuyên mọi người cố gắng làm
lành "để rồi gần đây sẽ gặp Di Lặc". Nhưng cũng có điều
lỗi lầm là đã vô tình hoặc cố ý làm sai lạc giáo thuyết
trong kinh Phật.
Theo
Phật giáo, đức Thích Ca ra đời lúc nhơn thọ còn 100 tuổi.
Qua mỗi trăm năm thọ số con người bớt xuống 1 tuổi, giảm
đến khi nhơn thọ còn 10 tuổi rồi lại tăng lần đến lúc
84000 tuổi là mãn tiểu kiếp thứ chín của trụ kiếp. Sang
tiểu kiếp thứ mười, lúc nhơn thọ từ 84000 tuổi giảm
còn 80000 tuổi, đức Di Lặc mới ra đời. Từ khi Phật Thích
Ca niết bàn đến nay đã được 2536 (DL. 1992), ta tạm kể
chẳn là 2500 năm, mức sống con người hiện thời 75 tuổi
kể theo số niên kiếp tăng giảm, thì từ đây đến lúc đức
Di Lặc ra đời còn 8805500 năm nữa. Lúc đức Di Lặc thành
chánh giác, ngài ngồi nơi một gốc đại thọ, cành cây như
mình rồng, hoa nở tủa ra bốn bên như những đầu rồng,
nên gọi cây này là Long Hoa bồ đề. Sau khi thành đạo quả,
Phật Di Lặc cũng ngồi nơi đây mà thuyết pháp, nên lại
có danh từ Long Hoa pháp hội.
Theo
kinh Di Lặc Hạ Sanh và Trường A Hàm, thì khi đức Di Lặc
giáng sanh, nhơn thọ được tám muôn tuổi. Bấy giờ mực
nước biển giảm xuống để lộ thêm 3300 du thiện na đất
liền, châu Nam Thiêm Bộ chu vi rộng được một vạn du thiện
na. Dưới đây là một đoạn kinh tả cảnh tượng vui đẹp
thanh bình trong lúc đó:
-
Thuở
ấy nước giàu thạnh
-
Dân không
bị hình phạt
-
Khỏi
tất cả tai ách
-
Chúng
nam nữ trong xứ
-
Đều
do thiện nghiệp sanh.
-
Đất
khắp nơi bằng phẳng
-
Không
có những chông gai
-
Cỏ xanh
tốt dịu mềm
-
Đi êm
như bông nệm
-
Ngoài
nội mọc lúc thơm
-
Đủ
hương vị ngon lạ.
-
Các cây
sanh y phục
-
Mọi
vẻ đều tươi sáng
-
Cây cao
ba câu xá
-
Hoa trái
thường sung mãn.
-
Bấy
giờ người trong nước
-
Đều
sống tám muôn tuổi
-
Không
có các tật bịnh
-
Tướng
mạo rất xinh đẹp
-
Sắc
lực đều đầy đủ
-
Tâm hằng
được an vui
-
Khi biết
mình mệnh chung
-
Đến
Thi lâm xả thọ.
-
Chỗ
Luân vương đóng đô
-
Là thành
Diệu Tràng Tướng
-
Dọc
mười hai do tuần
-
Bảy
do tuần ngang rộng.
-
Những
kẻ ở trong đó
-
Đều
là nơi phước địa
-
Người
hưởng cảnh nhàn vui
-
Lâu đài
để trấn quốc
-
Bằng
bảy ngõ trong ngoài
-
Đều
trang nghiêm mỹ lệ
-
Những
hào lũy quanh thành
-
Cũng
xây bằng chất báu
-
Hoa tươi
khắp bốn bề
-
Chim lành
bay đậu hót
-
Ngoài
thành cây Đa la
-
Đủ
bảy vòng bao bọc
-
Lưới
đẹp cùng linh ngọc
-
Giăng
nối các hàng cây.
-
Mỗi
cơn gió thoảng qua
-
Tiếng
linh khua thanh diệu
-
Dường
như nhạc bát âm
-
Khiến
lòng người vui vẻ.
-
Trong
ngoài nhiều ao hồ
-
Trong
hồ nhiều sen lạ
-
Vườn
hoa cùng hương lâm
-
Trang
nghiêm cảnh thành ấy...
Đại
khái, nhơn loại thời đó đều xinh đẹp sống lâu, trai gái
500 tuổi mới có vợ chồng. Cảnh vật trong nước sáng sủa
tốt tươi, không có các loài ruồi muỗi rắn rết độc trùng;
gạch ngói sạn đều biến thành lưu ly. Con người thuở ấy
không bị khổ vì chiến tranh, khỏi lo nhọc về ăn mặc. Tất
cả đều hiền lành, tu mười nghiệp thiện, sau khi chết phần
nhiều được sanh lên cõi trời. Nhưng phước đức chưa được
đầy đủ, nên bấy giờ loài người còn có những nghiệp
tướng như: nóng, lạnh, đói, khát, tiểu tiện, đại tiện,
tham dục, thích ăn uống, suy già. Tuy nhiên, do phước nghiệp,
khi đại tiểu tiện xong, đất chỗ ấy nứt ra rồi khép lại
che dấu uế vật, hoa sen đỏ liền ló lên tuôn ra mùi thơm
đánh ta xú khí.
Vị
luân vương thời đó tên là Hướng Khê. Vua cai trị bốn châu,
có bảy báu, một ngàn người con và đủ cả bốn binh. Trong
nước có bốn kho tàng lớn; mỗi kho chứa trăm vạn ức châu
báu. Vị quốc sư cũng chính phụ tướng đại thần đương
triều là Thiện Tịnh Bà La Môn, ông này có bà phu nhơn xinh
đẹp tên là Tịnh Diệu. Di Lặc Bồ tát từ cõi trời Đâu
Suất giáng sanh làm con trai của vợ chồng quốc sư. Bồ tát
lúc sanh ra, có đủ 32 tướng tốt, thân hình đầy đặn, khuôn
mặt đoan trang tươi sáng như trăng rằm, đôi mắt trong đẹp
như cánh hoa sen xanh. Khi Bồ tát lớn lên, ngài thông thuộc
các nghề, kẻ tùy học được 84000 người. Một năm nọ,
vua Hướng Khê làm tràng Diệu bảo để mở hội thí vô giá,
các phạm chí vì giành giựt châu báu làm gãy nát bảo tràng.
Bồ tát thấy thế ngộ lý vô thường, xuất gia tu thành Phật,
hiệu là Từ Thị Như Lai. Trong hội thuyết pháp đầu tiên,
đức Từ Tôn độ được 96 ức người thành đạo quả; hội
thứ hai độ được 94 ức người và hội thứ ba độ được
92 ức người. Nơi thiền môn, vào kỷ niệm đức Di Lặc,
chư tăng ni thường đọc bài tán, trong ấy có câu: "Long Hoa
tam muội nguyện tương phùng" (Ba hội Long Hoa nguyền được
gặp). Câu này là chỉ cho ba pháp hội đã nói trên. Nhưng
thật ra, đức Từ Thị Như Lai thuyết pháp rất nhiều hội,
chớ không phải chỉ có ba hội ấy. Sở dỉ trong kinh nói
có ba là muốn nêu ra tánh cách quan trọng và lớn lao nhất
của ba hội trong nhiều pháp hội đó thôi. Người nào muốn
dự ba hội Long Hoa, nên thật hành đúng ba điều kiện, theo
lời nguyện của đức Di Lặc như sau:
1.
Những vị tăng ni xuất gia trong giáo pháp của Phật Thích
Ca Mâu Ni, nếu có thể giữ gìn giới hạnh trang nghiêm, tương
lai sẽ được tham dự và độ thoát trong pháp hội đầu tiên
của ta.
2.
Hàng Phật tử tại gia, nếu giữ đúng ngũ giới, bát quan
trai giới, phụng thờ và cung kính cúng dường ngôi Tam Bảo,
sẽ được độ thoát trong pháp hội thứ hai của ta.
3.
Những kẻ tuy chưa giữ giới, nhưng có lòng chánh tín đối
với ngôi Tam bảo biết kính lễ Phật và đem tâm thành cúng
dường Phật, Pháp, Tăng, sẽ được độ thoát trong pháp hội
thứ ba của ta.
Trên
đây là đại lược về thời kỳ giáng sanh thành Phật của
đức Di Lặc ở tương lai. Nếu vị nào muốn nghe pháp và
được hóa độ trong ba hội Long Hoa, cần nên chú ý.