Thiên
Thứ Hai
Chương
Thứ Nhất
Chúng
Sinh Trong Ba Cõi
Tiết
Mục:
-
I. Tam
giới
-
II. Tứ
sinh
-
III. Thất
thú
-
IV. Sắc
thân của hữu tình
-
V. Thọ
lượng của hữu tình
-
VI. Thọ
dụng của hữu tình
Pháp
tạng trích dẫn: Luận Hiển Dương Thánh Giáo, Luận Câu Xá,
Kinh Giải Thâm Mật, Lục Đạo Tập, Kinh Trường A Hàm, Luật
Tứ Phần, Kinh Bồ Tát Xử Thai, Luận Du Già Sư Địa, Luận
Bà Sa, Luận A Tỳ Đàm, Kinh Khởi Thế Nhân Bản, Luận Đại
Trí Độ, Kinh Giảo Lượng Thọ Mạng, Kinh Chánh Pháp Niệm.
Đề
yếu: Do nghiệp sai biệt của loài hữu tình, nên thế gian
chia ra ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô giới. Dục giới
là nơi chúng sanh còn nhiễm năm dục lạc; Sắc giới là nơi
chúng sinh đã ly dục, nhưng còn có sắc tướng trang nghiêm
của thân và cảnh; Vô sắc giới có thể gọi là tinh thần
giới, vì nơi đây tuyệt tướng thân cảnh, người đồng
bích lạc, cõi tợ hư không, duy có bốn ấm vi tế của chúng
sinh. Các hữu tình trong ba cõi chia thành bốn loại: loại sinh
thai, loại sinh trứng, loại sinh nơi chỗ ẩm ướt và loại
hóa sinh. Trong bốn loại này, y theo thứ tự cao thấp, lại
có bảy nẻo: Trời, Tiên, Người, A tu la, Quỷ thần, Bàng
sanh, Địa ngục. Trong bảy nẻo, tùy theo nghiệp nhân lành
dữ sai biệt, nên chúng sinh từ sắc thân, thọ lượng, cho
đến sự thọ dụng, có xấu đẹp, dài ngắn, tinh thô, vui
khổ không đồng. Trên đây là đại khái của sáu tiết trong
bản chương.
Chúng
sinh là chánh báo, hoàn cảnh là y báo; chánh báo là phần chính,
y báo là phần phụ. Trong bản thiên diễn tả hữu tình trước
phần thế giới do bởi ý này.
Tiết
I: Tam Giới
Tam
giới là gì? Là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Dục
giới là chỗ ở của các loại hữu tình chưa ly dục, còn
tạp phiền não và các uẩn sai biệt. Sắc giới là chỗ ở
của các loại hữu tình đã ly dục, nhưng còn tạp phiền
não và các uẩn sai biệt. Vô sắc giới là chỗ ở của các
loại hữu tình đã ly dục và sắc, song cũng còn tạp phiền
não và các uẩn sai biệt. Trong tam giới lại còn có năm thứ
sai biệt khác là tướng sai biệt, thô trọng sai biệt, phương
xứ sai biệt, thọ dụng sai biệt và nhiệm trì sai biệt.
Tướng
sai biệt trong là cõi Dục có nhiều sắc tướng, những tướng
không trong sạch và các thứ tạp tướng; trong cõi Sắc có
ít sắc tướng, những tướng trong sạch và không có tạp
tướng; còn cõi Vô Sắc tuy thuộc về không nghiệp nhưng cũng
có sắc, mà sắc thuộc về định, về vô kiến, vô đối.
Lại nữa, trong cõi Dục có tướng khổ thọ tương ưng, tướng
sân nhuế tương ưng và tướng nhiều tùy phiền não tương
ưng. Trong cõi Sắc và Vô Sắc có tướng khổ thọ bất tương
ưng và tướng ít nhiều tùy phiền não tương ưng.
Thô
trọng sai biệt là trong Dục có những sự thô trọng thô mà
tổn hại, trong cõi Sắc và Vô Sắc sự thô trọng tế mà
không tổn hại.
Phương
xứ sai biệt là cõi Dục ở phương dưới, cõi Sắc ở phương
trên, còn cõi Vô Sắc thì không phương xứ.
Thọ
dụng sai biệt là chúng sanh cõi Dục thọ dụng cảnh giới
bên ngoài, chúng sanh cõi Sắc và Vô Sắc thọ dụng cảnh giới
bên trong.
Nhiệm
trì sai biệt là chúng sanh ở cõi Dục nương nơi bốn sự
ăn mà trụ, chúng sanh cõi Sắc và Vô Sắc nương nơi ba sự
ăn mà trụ (Luận Hiển Dương Thánh Giáo).
Trong
ba cõi, Dục giới thuộc về xứ sở hạ phương. Được mệnh
danh là Dục giới, vì chúng sanh ở nơi đây nhiễm năm thứ
dục lạc: sắc dục, tiền của, danh vị, ăn mặc, ngủ nghỉ.
Dục giới cũng gọi là chỗ Ngũ thú tạp cư. Ngũ thú là:
Trời, Người, Súc sanh, Ngạ quỉ, Địa ngục. Tạp cư có
hai nghĩa: 1. Trong cõi Dục gồm có năm chủng loại ở. 2. Trong
mỗi chủng loại lại có các chủng loại khác ở lẫn lộn,
như nơi cõi trời cũng có súc sinh, quỉ thần, nơi cõi người
có súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục. Nếu nói đại khái theo
thứ bậc thấp cao, thì trong Dục giới có ba loại: loại ác
thú, loại người, loại trời. Loại ác thú có bốn: A tu la,
Súc sinh, Ngạ quỉ, Địa ngục. Loại người gồm có nhơn
chúng ở bốn nơi: Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Đông
Thắng Thần Châu và Bắc Câu Lư Châu. Loại trời có sáu cõi
từ thấp đến cao: trời Tứ Vương, trời Đao Lợi, trời
Dạ Ma, trời Đâu Suất, trời Hóa Lạc và trời Tha Hóa Tự
Tại. Trong cõi Dục, về hữu tình giới thì kể từ cõi Tha
Hóa đến ngục Vô Gián; nếu về khí thế giới, phải kể
đến phong luân.
Trên
Dục giới là Sắc giới, gồm nhiếp hữu tình và khí thế
gian. Sở dĩ gọi Sắc giới, vì chúng sinh ở cõi nầy lìa
sự nhiễm dục, từ thân đến cảnh đều là sắc chất trang
nghiêm, thanh tịnh. Cõi này chia ra làm 18 thiên vức khác nhau;
ba thiền thiên trước mỗi nơi có ba, đệ tứ thiên có chín.
Ba thiên vức ở Sơ thiền Ly sanh hỷ lạc địa là: Phạm Chúng
thiên, Phạm Phụ thiên, Đại Phạm thiên. Ba thiên vức ở
Nhị thiền Định sanh hỷ lạc địa là: Thiểu Quang thiên.
Vô Lượng Quang thiên, Quang Âm thiên. Ba thiên vức ở Tam thiền
Ly hỷ diệu lạc địa là: Thiểu Tịnh thiên, Vô Lượng Tịnh
thiên, Biến Tịnh Thiên. Chín thiên vức ở Tứ thiền Xả
niệm thanh tịnh địa là: Vô Vân thiên, Phước Sanh thiên,
Quảng Quả thiên, Vô Tưởng thiên, Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt
thiên, Thiện Kiến thiên, Thiện Hiện thiên, Sắc Cứu Cánh
thiên. Trong chín thiên vức, năm cõi ở sau cùng tên là Ngũ
Tịnh Cư thiên, cũng gọi là Ngũ Bất Hoàn thiên, vì là chỗ
ở của bậc thánh A Na Hàm.
Theo
các đại luận sư ở xứ Ca Thấp Di La thì Sắc giới chỉ
có 16 thiên vức, vì Đại Phạm thiên nguyên là một vùng lâu
các rộng lớn ở cõi Phạm Phụ, chớ không phải biệt trí
nơi khác. Còn trời Vô Tưởng thì nhiếp về Quảng Quả thiên,
vì hai thiên chúng này đồng một thân lượng và thọ lượng.
Trên
Sắc giới là Vô Sắc giới. Được mệnh danh là Vô Sắc,
vì đây không có sắc uẩn chỉ có thọ, tưởng, hành, thức
bốn ấm mà thôi. Cõi này không có sắc pháp biểu hiện, nên
không có phương ở đời quá khứ vị lai đều như thế, lý
đã quyết định. Nhưng về phần dị thục sanh sai khác thì
có bốn bậc: Không Vô Biên xứ, Vô Sở Hữu xứ, và Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng xứ. Bốn bậc này không phải có riêng xứ sở
cao thấp, mà do nghiệp chúng sanh hơn kém khác nhau (Luân Câu
Xá, Lục Đạo Tập).
Tiết
II: Tứ Sanh
Trong
sáu nẽo luân hồi, loài hữu tình chết nơi đây sanh nơi kia,
hoặc do thai sanh, hoặc do noãn sanh, hoặc do thấp sanh, hoặc
do hóa sanh (Kinh Giải Thâm Mật).
Thai
sanh là chúng hữu tình từ nơi thai tạng mà sanh ra, như loài:
voi, ngựa, trâu, dê, heo, lừa... Noãn sanh là chúng hữu tình
từ nơi trứng mà sanh ra, như loài ngỗng, công, se sẻ, anh
vỏ, nhạn... Thấp sanh là chúng hữu tình chẳng nương nơi
nào, từ nơi không mà bỗng hiện ra đủ thân mình và chi phận,
như chư thiên, loài ở địa ngục....
Loài
người sanh ra có đủ bốn cách: thai, noãn, thấp, hóa. Người
do thai tạng sanh ra thì dễ biết, như nhơn loại hiện nay.
Người thuộc về noăn sanh như ông Ô Ba Thế La sanh từ trứng
hạt, và trường hợp ba mươi hai người con của bà Lộc Nữ,
năm trăm người con của vua Bà Giá La. Người thuộc về thấp
sanh như các vị: Ô Ba Giá Lư, Cáp Man Am La Vệ. Người thuộc
về hóa sanh như loài người vào thuở kiếp sơ.
Chúng
bàng sanh có đủ bốn loại: thai, noãn, thấp hoá. Chư thiên,
chúng địa ngục và thân trung hữu duy thuộc về hóa sanh.
Quỉ thú chỉ có hai loại: thai và hóa.
Trong
bốn loại thai, noãn, thấp, hóa, loài nào thắng hơn cả?
Chỉ
có loài hóa sanh là tối thắng?
Nếu
thế tại sao bậc hậu thân Bồ tát có thể sanh tự tại mà
lại thọ thai sanh?
Bồ
tát thọ thai sanh vì có những điều lợi ích như sau: Vì muốn
dẫn dắt các hàng Thích chủng và thân thuộc vào chánh pháp.
Vì muốn cho mọi người biết Bồ tát dòng dõi Luân vương
mà sanh lòng cung kính, bỏ tà về chánh. Vì muốn cho chúng
sanh phát lòng hướng thượng nghĩ rằng: "Ngài cũng là người,
ta cũng là người, tại sao ta không siêng năng tu tập để
được như ngài?" Vì nếu không thị hiện như thế, thì khó
biết tộc tánh, mọi người sẽ nghi là trời hoặc quỉ. Vì
muốn dứt lòng nghi báng của ngoại đạo, bởi họ có truyền
thuyết: "Qua một trăm kiếp sau, sẽ có nhà đại huyễn thuật
ra đời, dẫn dụ chúng sanh". Vì muốn lưu thân giới cho chúng
sanh cúng dường để được phước sanh cõi trời và gieo nhân
giải thoát. Nếu Bồ tát thọ hóa sanh, thì không tộc tánh,
sau khi chết như ngọn đèn tắt, không còn lưu xá lợi để
chúng sanh nương theo đó phát lòng tín ngưỡng.
Trong
tứ sanh, loài nào nhiều hơn hết?
Chỉ
có loài hóa sanh là nhiều hơn cả; vì trong ngũ thú, nhơn,
súc, quỉ có thiểu phần hóa sanh, còn chư thiên, chúng địa
ngục và tất cả thân trung hữu đều thuộc về hóa sanh.
(Luận Câu Xá).
Tiết
III: Thất Thú
Thất
thú cũng gọi là thất đạo, gồm có: Thiên, Tiên, Nhơn, A
tu la, Quỉ thần, Bàng sanh và Địa ngục. Trong kinh có nơi
chỉ gọi là lục đạo, vì Tiên đạo ở cõi Thiên, Nhơn,
Quỉ, Súc đều có, nên nhiếp về các nẽo kia. Có nơi ước
kết lại chỉ còn ngũ thú, không kể Tiên và A tu la, vì A
tu la ở cõi Thiên, Nhơn, Quỉ, Súc đều có, cũng nhiếp các
nẽo ấy. Tuy nhiên, Tiên cùng A tu la thật ra đều có chủng
loại và nơi cư trú sai biệt, người học Phật cũng cần
biết đến, nên xin kể đủ ra đây.
Sao
gọi là "đạo" hoặc "thú"? "Đạo" chỉ cho đường nẽo, "thú"
có nghĩa là nơi đến; đường nẽo của chúng sanh luân chuyển
gọi là "đạo", chúng sanh do nghiệp thiện ác phải đến đó
để thọ sanh, cư trụ, gọi là "thú". Cho nên kinh Pháp Hoa
nói: "Lục đạo chúng sanh, sanh từ sở thú". Thất thú chúng
sanh như sau:
1.
Thiên thú: Sao gọi là Thiên thú? Thiên thú là nẻo trời, chữ
Thiên có nghĩa: thiên nhiên, tự nhiên. Đây là chỉ cho chúng
sanh ở các cõi trời do tu thượng phẩm thập thiện và các
thiền định, nên được hưởng phước thiên nhiên, sự ăn
mặc thọ dụng đều tùy niệm hóa hiện, không cần phải
tạo tác. Lại chữ Thiên ở đây còn có bốn ẩn nghĩa: tối
thắng, tối thiện, tối lạc, tối tôn. Sáu hạng trời ở
cõi Dục đều có hình tướng nam nữ, dục nhiễm tùy theo
cao thấp mà có nặng nhẹ. Mười tám hạng trời ở cõi Sắc,
không hình tướng nam nữ, không có sự dục nhiễm, dùng thiền
định để trưởng dưỡng sắc thân. Còn bốn hạng trời
ở cõi Vô Sắc thì không hình tướng sắc thân, duy có tâm
thức, vì là báo thể của không định.
2.
Tiên thú: Sao gọi là Tiên thú. Tiên thú là nẻo tiên: "Tiên"
là an nhàn, tự tại, không còn bị phiền lụy của tục trần
ràng buộc. Lại "tiên" cũng có nghĩa là "thuyên", vì hạng
này có thể thuyên chuyển hình thần khiến cho dung sắc tươi
trẻ, mạng sống lâu dài. Tiên có nhiều bậc như thiên tiên,
nhơn tiên, địa tiên, hoặc dạo chơi nơi nhơn gian, hoặc ở
ẩn nơi non sâu, hải đảo. Theo kinh Lăng Nghiêm thì có mười
hạng tiên:
Hạng
chuyên tu về cách chế luyện các thức ăn, làm hoàn hoặc
bánh để dùng. Các vị nầy do thực đạo mà thành, có thể
mạnh khỏe sống lâu, nhưng chưa được nhẹ nhàng bay đi,
gọi là Địa hành tiên.
Hạng
chuyên phục thực các thứ thảo mộc như tử chi, huỳnh tinh,
xương bồ. Hạng này được đạo mà thành, thân được nhẹ
nhàng bay đi, gọi là Phi hành tiên.
Hạng
chuyên phục thực các chất kim thạch, như thu thạch, hồng
diên... Các vị nầy do hóa đạo mà thành, luyện đơn thành
tiên cốt, điểm đá hóa vàng ròng, trong chớp mắt có thể
đi xa muôn dặm, gọi là Du hành tiên.
Hạng
chuyên luyện về sự động chỉ tu cách điều khí cố tinh.
Các vị này do khí tinh mà thành, có thể dời hình ẩn bóng,
đi trên hư không, gọi là Không hành tiên.
Hạng
chuyên luyện về tân dịch, như nhả thứ cũ nuốt thứ mới,
làm cho lửa xuống nước lên. Các vị này do nhuận đức mà
thành, mặt sáng rỡ như ngọc, hay dạo chơi nơi cõi trời,
gọi là Thiên hành tiên.
Hạng
chuyên luyện về tinh sắc, mỗi ngày hớp thanh khí của trời
đất, tống hết cặn bả, thâu lấy tinh hoa. Các vị nầy
do hấp túy mà thành, có thể đi xuyên qua núi non, đạp trên
nước lửa, gọi là Thông hành tiên.
Hạng
chuyên luyện về chú cấm, nhờ công phu trì chú lâu ngày,
nên tâm thần được ngưng tịnh. Các vị này do thuật pháp
mà thành, có thể trị bịnh, dứt trừ ma quái để giúp ích
cho quần sanh, gọi là Đạo hạnh tiên.
Hạng
chuyên kiên cố về tư niệm, luyện theo lối buộc tâm tưởng
nơi đơn điền, đưa khí xuống vỉ lư, thăng lên giáp tích,
đạt đến nê hoàn, rồi xuất thần nơi đảnh. Các vị này
do tư ức mà thành, có thể hồi quang phản chiếu, gọi là
Chiếu hạnh tiên.
Hạng
kiên cố về sự giao cảm luyện cách phối hợp khảm ly, thâu
nhiếp tinh huyết. Các vị này do cảm ứng mà thành, làm cho
thân xinh đẹp sống lâu, gọi là Tinh hạnh tiên.
Hạng
chuyên luyện về biến hóa, hằng tồn tưởng nơi lý hóa,
đến khi tỏ ngộ thì làm được sự huyễn hóa to tát. Các
vị này do giác ngộ mà thành, có thể di sơn đảo hải, biến
hiện nhiều cách, gọi là Tuyệt hạnh tiên.
Các
hạng tiên trên đây, gọi trường sanh thì có, nhưng bất tử
thì không; đến khi số hết phải đọa luân hồi, vì họ
chấp hình thần hữu vi mà không rõ suốt chân tánh. Tuy nhiên,
họ cũng sung sướng hơn người một bậc nên ở trên Nhơn
thú.
3.
Nhơn thú: Sao gọi là Nhơn thú? Nhơn thú là nẻo người. "Nhơn"
có nghĩa là nhẫn, chỉ cho loài người khi gặp cảnh thuận
nghịch có năng lực nhẫn nại an chịu với duyên phần. Lập
Thế Luận nói: "Loài người do tu trung phẩm thập thiện mà
được sanh. Trong ngũ thú chỉ có nhơn thú là nhiều kiêu mạn,
nhưng về phần trấn định tâm lý lại hay hơn các nẻo kia".
Chúng sanh thuộc nẻo này có hình tướng nam nữ, ở rải rác
khắp bốn đại châu. Chúng sanh trong bốn châu phần nhiều
theo đường nhiễm dục, song cũng có người trọn đời giữ
nếp sống tu hành thanh tịnh. Luận về phước báo, người
ở ba châu: Tây Ngưu Hóa, Đông Thắng Thần, Bắc Câu Lư thù
thắng hơn, nhưng về nhân duyên giải thoát thì họ lại kém
thua người ở Nam Thiệm Bộ châu, vì nơi đây có ba điều
đặc biệt: Con người trí lanh lợi nhớ dai. Nhiều kẻ siêng
tu phạm hạnh. Thường có Phật ra đời.
4.
A tu la thú: Sao gọi là A tu la? A tu la là loại chúng sanh nhiều
sân hận, đa số có hình tướng không đoan chánh. A tu la cũng
gọi là A tố lạc, dịch là Vô đoan chánh, Phi thiên. Hai danh
từ này có nghĩa: không xinh đẹp, có phước trời mà đức
không bằng trời. Trong kinh luận có chỗ cho rằng loài A tu
la do gây nhân hạ phẩm thập thiện mà được sanh. Nhưng đó
chỉ là nói riêng về một phương diện mà thôi, cho đến
danh từ Phi thiên cũng như thế. Sự thật, phần chánh nhân
là loài nầy do hay nóng giận, hiếu thắng ưa tranh cãi mà
được sanh. A tu la chia thành bốn bậc: loài ở cõi trời thì
giống trời, loại ở cõi người thì giống người, loài ở
cõi quỉ thì giống quỉ, loài ở cõi súc thì giống súc. Vì
họ không có chủng loại và trụ xứ nhất định, có thể
nhiếp về các nẽo khác, nên trong kinh có chỗ chỉ gọi là
ngũ đạo hoặc ngũ thú. A tu la ở cõi trời cũng có cung điện
thất bảo, sự ăn mặc tự nhiên hóa hiện như chư thiên.
Nhưng do nhân sân hận họ có ba sự kiện kém hơn người,
nên ở sau loài người: Dù loài nầy có ăn các món trân vị,
song miếng sau rốt tự nhiên hóa ra bùn. Ở cõi trời mưa hoa
hoặc châu báu, nơi cõi người mưa nước, cõi A tu la mưa xuống
những binh khí dao gậy. Loài người tâm điểm tĩnh nên dễ
thật hành theo chánh pháp của Như Lai, loài A tu la tâm sôi
nổi hơn thua, nên khó tu đạo giải thoát.
5.
Quỉ thần thú: Sao lại gọi là Quỉ thần? "Quỉ" có nghĩa
là "úy", là hay khiếp sợ; "Thần" có nghĩa linh thông biến
hóa. Trong kinh có nói loài quỉ do nhân trung phẩm thập ác
mà được sanh, và sắp quỉ đạo sau súc đạo. Nhưng đó
là chỉ nói riêng về phương diện ngạ quỉ. Sự thật, nếu
nói rộng, phải gọi là quỉ thần thú, vì loài này chia làm
hai hạng: hạng có uy phước và hạng không uy phước. Đây
là do những nghiệp nhân thiện ác bất định từ thuở tiền
sanh. Loại quỉ thần uy phước cũng có cung điện, thân tướng
trang nghiêm, nhiều kẻ tùy thuộc, hoặc thọ dụng những trân
vị cam lồ, hoặc được người thờ cúng. Loại này lại
chia ra làm hai hạng: chánh thần và tà thần. Bậc chánh thần
thì giữ lòng chân chánh hay giúp đỡ nhơn gian; hạng tá thần
tâm niệm quỉ quyệt không chân thật, hoặc đa dâm đa sát,
thường làm tổn hại cho người. Loại quỉ không uy phước
thì vất vả, ở chỗ âm u, thường đói khát, hoặc ăn những
đồ bất tịnh.
Xứ
sở của quỉ thần có hai nơi: chánh trụ và biên trụ. Chánh
trụ là như trong kinh Chánh Pháp Niệm nói: "Có thành Diêm La,
nơi ở chánh thức của vô số ngạ quỉ do Diêm La Vương thống
lãnh. Thành này ở dưới châu Diêm phù đề, chu vi rộng 7.500.000
dặm. Nơi đây không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng". Biên
trụ là những chỗ như mé biển, triền núi, rừng bụi, đình
miếu, hang hố, đồng trống, mồ mả, cho đến vườn nhà
cùng các nơi bất tịnh. Chánh trụ là xứ sở riêng của loài
quỉ nghiệp nặng, thuộc về thế giới ngạ quỉ. Biên trụ
là xứ sở của các quỉ thần nghiệp nhẹ hoặc có phước
nghiệp, thuộc về hạng ở lẫn lộn trong loài người.
6.
Bàng sanh thú: Sao gọi là Bàng sanh? Bàng sanh là loại chúng
sanh có xương nằm ngang. Lại chữ "bàng" còn có nghĩa "biến
mãn", vì bàng sanh có nhiều chi loại, và ở các nẽo kia đều
có loài này. Trong sách Phật có chỗ gọi nẽo này là súc
sanh đạo, nhưng danh từ súc sanh chỉ ở trong phạm vi loài
sanh vật được người nuôi dưỡng, vẫn không rộng rãi và
đầy đủ bằng danh từ bàng sanh. Chủng loại bàng sanh tuy
nhiều, song đại ước có ba: loại bay trên hư không, loại
ở mặt đất và loại sống dưới nước. Theo kinh Chánh Pháp
Niệm, bàng sanh có đến 40 ức chi loại khác nhau. Duyên phận
của loại này cao thấp không đồng, cao như Kim súy điểu
vương, Long vương, có uy phước thần thông; thấp như dòi,
đỉa, côn trùng, sống một khung cảnh nhơ nhớp tối tăm,
ngắn ngũi. Bàng sanh cũng có nghiệp nhân thiện ác bất định
như quỉ thần và A tu la; nhưng nếu lấy phần đại khái về
đa số, thì loài này do nhân hạ phẩm thập ác mà được
sanh.
7.
Địa ngục thú: Sao gọi là Địa ngục? Danh từ nầy do người
Trung hoa y theo nghĩa mà lập danh, để chỉ cho lao ngục ở
dưới đất, và chữ "ngục" có nghĩa là bó buộc không được
tự do. Nhưng theo Luận Bà Sa, thì địa ngục thú không phải
đều ở dưới đất, mà có khi ở trên mặt đất, hoặc dưới
nước, hoặc trên hư không. Vì thế bổn kinh Phạm văn không
gọi địa ngục, mà gọi là Nại lạc ca có những nghĩa: khổ
cụ, phi đạo, ác nhơn, chỉ cho nơi người tội ác làm điều
trái đạo ở, nơi có đủ sự khốn đốn khổ đau. Địa
ngục tuy nhiều, nhưng đại ước có hai loại: chánh ngục
và biên ngục. Chánh ngục vị trí ở dưới châu Diêm phù
đề và giữa núi Thiết Vi. Chánh ngục lại có hai thứ: hàn
ngục và nhiệt ngục. Hàn ngục và nhiệt ngục mỗi thứ có
tám nơi, mỗi nơi có 16 ngục phụ, mỗi ngục phụ lại có
nhiều tiểu ngục khác nữa. Biên ngục cũng gọi là độc
ngục, thì ở lẻ loi trên núi, nơi mé biển, dưới nước,
chỗ đình miếu, giữa đồng trốn, hoặc trong hang sâu. Ở
châu Nam Thiệm Bộ có đại địa ngục, còn ba châu kia chỉ
có biên, độc địa ngục mà thôi. Theo kinh Nghiệp Báo thì
địa ngục là nơi thác sanh của loài hữu tình tạo mười
điều ác về thượng phẩm.
Tóm
lại, y báo và chánh báo của thất thú đều như huyễn. Chúng
sanh do nghiệp duyên lành dữ mà đổi thay hình dạng, chịu
sự khổ vui lên lên xuống xuống, luân chuyển không cùng.
(Lục Đạo Tập).
Tiết
IV: Sắc Thân Của Hữu Tình
1.
Thân lượng: Thân chúng sanh ở Nại lạc ca, cao thấp lớn
nhỏ không định, có đủ các màu sắc và hình tướng nhơn,
quỉ, súc, vì do các nẽo khác sanh về. Nếu loài hữu tình
tạo nghiệp cực ác, tự cảm thấy thân thể to lớn vô cùng,
chịu đủ các sự khổ. (Luận Du Già Sư Địa).
Thân
chúng sanh ở Bàng sanh thú cũng lớn nhỏ không định. Như
Nan Đà và Bạt Nan Đà long vương thân hình rất lớn, quấn
núi Tu Di bảy vòng, đầu gác trên đỉnh núi, đuôi chấm xuống
dưới biển. Loài chim lớn nhứt không chi bằng Kim súy điểu
vương. Chim này đầu và đuôi cách nhau tám ngàn do tuần, bề
cao thấp cũng như vậy. Khi nó cất cánh thì bay luôn một mạch
từ núi Tu Di này đến núi Tu Di kia, giữa chừng không nghỉ.
Ở đại hàm hải có loài cá Ma Kiệt, thân dài từ 300 đến
700 do tuần, mắt mũi cực to, miệng như hang máu. (Kinh A Hàm,
Luận Tứ Phần, Kinh Bồ Tát Xử Thai).
Thân
chúng sanh ở Quỉ thần thú có tốt xấu, lớn nhỏ khác nhau.
Đại khái, hạng quỉ lớn nhứt, thân hình cao một do tuần;
hạng bậc trung thì thân hình không nhứt định; hạng nhỏ
hơn hết, thân hình như đứa trẻ mới vừa biết nói. Hạng
quỉ thần có uy phước thân hình cao lớn xinh đẹp như chư
thiên. Các quỉ thần ở non núi, sông ngòi, biển cả, phần
nhiều thân thể đều trang nghiêm đoan chánh. Hạng quỉ không
uy phước; thân hình thô xấu không thể kể xiết. Có loại
bụng lép như chó đói, đầu rối nùi, chân như khúc củi
khô, miệng mũi thường chảy ra nước mũi, nước dãi, lỗi
tai sanh mủ, nơi mắt chảy ra máu. Có loại cao lênh khênh,
bụng lớn như cái trống, cổ họng nhỏ như mũi kim, miệng
thường phựt ra lửa, thân mình hôi hám, lông cứng nhọn như
gai. Các ngạ quỉ khác thân thể còn ghê gớm xấu xa hơn nữa
(Luận Bà Sa).
Thân
thể của A tu la tùy theo chủng loại không định, hoặc giống
người, hoặc giống quỉ, hoặc giống súc. Các loại A tu la
ở cõi nhơn thiên, người nam thì xấu, trái lại người nữ
rất xinh đẹp. Còn các bậc vua A tu la, bản thân cao từ một
trăm đến bảy trăm do tuần, hóa thân cao mười sáu vạn tám
ngàn do tuần, chân đứng dưới đáy biển, đầu cao bằng
núi. Tu Di A tu la vương có đại huyễn thuật, thường đánh
với chư thiên, vì phước kém hơn trời nên hằng bại trận
(Lục Đạo Tập).
Thân
lượng chúng sanh ở nhơn thú thuộc châu Nam Thiệm Bộ tùy
theo kiếp tăng giảm, lớn nhỏ không định. Người ở châu
Đông Tỳ Ha Đề, thân lượng quyết định (Luận Du Già Sư
Địa).
Người
ở Nam châu thân cao ba chẩu rưỡi hoặc bốn chẩu. Người
ở Đông châu cao tám chẩu, ở Tây châu cao mười sáu chẩu,
ở Bắc châu cao ba mươi chẩu (Luận A Tỳ Đàm),
Ở
tám trung châu, con người thân hình thấp nhỏ. Ngoài ra lại
có 500 tiểu châu, hoặc do loài người ở, hoặc do loài phi
nhơn ở, hoặc không có ai ở (Luận Bà Sa).
Người
ở Bắc châu mắt có thể thấy suốt tường vách núi non,
tai có thể nghe rõ ràng những tiếng hoặc lớn hoặc nhỏ
ở xa hay gần. Người ở Đông châu mắt có thể thấy rõ
ràng màu sắc hình dáng trong chỗ tối, tai có thể nghe tiếng
ở cách xa một làn tên. Người ở Tây châu mắt có thể nghe
được tiếng và thấy suốt tường vách núi non; tai nghe được
những âm thanh ở các nơi xa xôi cách ngại. Nhơn loại ở
Nam châu có đủ các sắc da, ở hai châu Đông, Tây cũng có
các sắc da nhưng không có giống người da đen. Nhơn dân ở
Bắc châu chỉ toàn là người da trắng (Luận A Tỳ Đàm).
Về
thiên phú, nơi Dục giới, chư thiên trời Tứ Vương thân lượng
cao nửa dặm, áo nặng nửa lượng. Chư thiên trời Đạo Lợi
cao một dặm, áo nặng sáu thù. Chư thiên trời Dạ Ma cao một
dặm rưỡi, áo nặng ba thù. Chư thiên trời Đâu Suất cao
hai dặm, áo nặng hai thù. Chư thiên trời Hóa Lạc cao hai dặm
rưỡi, áo nặng một thù. Chư thiên trời Tha Hóa cao ba dặm,
áo nặng nửa thù.
Ở
Sắc giới, chư thiên trời Phạm Chúng thân lượng cao nửa
do tuần, trời Đại Phạm cao một do tuần rưỡi, trời Thiểu
Quang cao hai do tuần, trời Vô Lượng Quang cao bốn do tuần,
trời Quang Âm cao tám do tuần, trời Thiểu Tịnh cao 16 do tuần,
trời Vô Lượng Tịnh cao 32 do tuần, trời Biến Tịnh cao 64
do tuần, trời Vô Vân cao 125 do tuần, trời Phước Sanh cao
250 do tuần, trời Quảng Quả cao 500 do tuần, trời Vô Tưởng
cao 500 do tuần, trời Vô Phiền cao 1.000 do tuần, trời Vô Nhiệt
cao 2.000 tuần, trời Thiện Kiến cao 4.000 do tuần, trời Thiện
Hiện cao 8.000 do tuần, trời Sắc Cứu Cánh cao 16.000 do tuần.
Chư
thiên cõi Sắc tuy không mặc y phục, song cũng như có mặc;
tuy không đội thiên quan, cũng như có đội, vì do thân quang
chiếu hiện.
Chư
thiên ở Vô Sắc giới chỉ có định quả sắc, nên không
có thân lượng. (Luận Câu Xá, Khinh Khởi Thế, Kinh Trường
A Hàm).
2.
Thân Quang: Chư thiên ở Dục giới do tu bố thí, trì giới,
nhẫn nhục, thanh tịnh nên thân thường có ánh sáng rực rỡ.
Chư thiên cõi Sắc do ly dục tu thiền định, nên nơi thân
phát ra ánh sáng nhiệm mầu, hơn cả ánh nhật, nguyệt và
quang minh của thiên chúng cõi Dục. Ánh sáng đây là do tâm
thanh tịnh mà có. (Luận Trí Độ).
Chư
thiên ở cõi Dục thân hình có bốn sắc: biếc, hồng, vàng,
trắng tươi sáng như ngọc. Thiên chúng ở đây khi mới hóa
sanh, nếu thấy bích hoa hiện thì người sắc biếc, hồng,
vàng, trắng cũng như thế. Chư thiên ở cõi Sắc đa số thân
hình có hai sắc: huỳnh kim và bạch ngân. Nhưng cũng có số
thiên chúng thân sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, vì do nhân tu
về Biên xứ định. (Luận A Tỳ Đàm).
Tiết
V: Thọ Lượng Của Hữu Tình
Loài
hữu tình ở Địa ngục tội ác sâu nặng, nên thọ mạng
rất lâu dài. Chúng sanh ngục Đẳng Hượt thọ 500 tuổi, một
ngày đêm nơi đây bằng 16.200 câu đê năm cõi người. Chúng
sanh ngục Hắc Thằng thọ 1.000 tuổi, một ngày đêm nơi đây
bằng 32.400 câu đê năm cõi người. Chúng sanh ngục Chúng Hiệp
thọ 2.000 tuổi, một ngày đêm nơi đây bằng 64.800 câu đê
năm cõi người. Chúng sanh ngục Kiếu Hoán thọ 4.000 tuổi,
một ngày đêm nơi đây bằng 129.600 câu đê năm cõi người.
Chúng sanh ngục Đại Kiếu Hoán thọ 8.000 tuổi, một ngày
đêm nơi đây bằng 259.200 câu đê năm cõi người. Chúng sanh
ngục Viêm Nhiệt thọ 16.000 tuổi, một ngày đêm nơi đây
bằng 518.400 câu đê năm cõi người. Như thế cứ tăng gấp
đôi cho đến ngục Cực Nhiệt, chúng sanh thọ nửa trung kiếp;
ngục Vô Gián chúng sanh thọ một trung kiếp. (Kinh Giáo Lượng
Thọ Mạng, Luận A Tỳ Đàm).
Loài
hữu tình ở Quỉ thần và Bàng sanh thú, thọ lượng dài ngắn
không định, hoặc trong sát na như cực vi trùng, hoặc muôn
ức năm như loài ngạ quỉ. Các loại rồng và kim Súy điểu
thọ lượng một trung kiếp, cũng có khi giữa chừng chết
yểu. (Luận Du Già, Kinh Khởi Thế).
Loài
hữu tình ở A tu la thú thọ lượng cũng bất định, tùy theo
súc, quỉ, nhơn, thiên, mà có ít nhiều, hơn kém. Thiên A tu
la thọ lượng bằng chư thiên, như La Hầu A tu la vương và
thuộc chúng ở thành Quang Minh thọ 5.000 tuổi, một ngày đêm
nơi đây bằng 500 năm cõi người. Dõng Kiện A tu la vương
và thuộc chúng ở thành Tinh Mạng thọ 6.000 tuổi, một ngày
đêm nơi đây bằng 600 năm cõi người. Hoa Mang A tu la vương
và thuộc chúng ở thành Tỳ Xá La thọ 7.000 tuổi, một ngày
đêm nơi đây bằng 700 năm cõi người. Tỳ Ma Chất Đa A tu
la vương và thuộc chúng ở thành Xá Tỳ La thọ 8.000 tuổi,
một ngày đêm nơi đây bằng 800 năm cõi người. (Kinh Chánh
Pháp Niệm).
Chúng
sanh ở Nhơn thú, thọ lượng tùy nơi có hơn kém. Người ở
châu Nam Thiệm Bộ thọ lượng bất định, như ở vào lúc
kiếp cực tăng thì sống đến 84.000 tuổi, ở vào lúc kiếp
cực giảm chỉ sống có 10 tuổi. Người ở châu Đông Tỳ
Đề Ha thọ 250 tuổi. Người ở châu Tây Cù Đà Ni thọ 500
tuổi. Người ở châu Bắc Uất Đan Việt thọ 1.000 tuổi.
Nhơn loại ở Bắc châu thọ lượng nhứt định, không có
yểu chiết; còn ba châu kia thì có khi yểu chiết giữa chừng.
(Luận Du Già Sư Địa).
Thọ
lượng của chúng sanh ở Thiên thú cũng có hơn kém tùy mỗi
từng trời. Như về Dục giới, trời Tứ Vương thọ 500 tuổi,
một ngày đêm nơi đây bằng 50 năm cõi người. Trời Đao
Lợi thọ 1000 tuổi, một ngày đêm nơi đây bằng 100 năm cõi
người. Trời Dạ Ma thọ 2.000 tuổi, một ngày đêm nơi đây
bằng 200 năm cõi người. Trời Đâu Suất thọ 4.000 tuổi,
một ngày đêm nơi đây bằng 400 năm cõi người. Trời Hóa
Lạc thọ 8.000 tuổi, một ngày đêm nơi đây bằng 800 năm
cõi người. Trời Tha Hóa thọ 16.000 tuổi, một ngày đêm nơi
đây bằng 1.600 năm cõi người.
Thọ
mạng chư thiên ở cõi Sắc thì lấy kiếp làm lượng. Như
về Sơ thiền, trời Phạm Chúng thọ nữa trung kiếp, trời
Phạm Phụ thọ một trung kiếp, trời Đại Phạm thọ một
trung kiếp rưỡi. Về Nhị thiền, trời Thiểu Quang thọ hai
đại kiếp, trời Vô Lượng Quang thọ bốn đại kiếp, trời
Quang Âm thọ tám đại kiếp. Về Tam thiền, trời Thiểu Tịnh
thọ 16 đại kiếp, trời Vô Lượng Tịnh thọ 32 đại kiếp,
trời Biến Tịnh thọ 64 đại kiếp. Về Tứ thiền, trời
Vô Vân thọ 125 đại kiếp, cứ như thế tăng gấp đôi cho
đến trời Sắc Cứu Cánh thọ 16.000 đại kiếp. Trong đây
trừ Vô Tưởng thiên thọ lượng đồng với Quảng Quả thiên.
Ở
cõi Vô Sắc, trời Không Vô Biên thọ 20.000 đại kiếp, cứ
tăng gấp đôi cho đến trời Phi Phi Tưởng thọ 80.000 đại
kiếp. (Luận Câu Xá, Luận A Tỳ Đàm, Kinh Giảo Lượng Thọ
Mạng).
Tiết
VI: Thọ Dụng Của Hữu Tình
1.
Khổ lạc thọ dụng: Sự thọ dụng của loài hữu tình như
về khổ lạc thọ dụng, thì chúng sanh ở Địa ngục chịu
đựng nhiều phần hình phạt khổ sở. Chúng hữu tình thuộc
Bàng sanh thú chịu nhiều phần khổ về sự ăn nuốt lẫn
nhau, chút ít phần vui. chúng hữu tình thuộc Quỉ thần thú
chịu nhiều phần khổ về sự đói khát, chút ít phần vui;
trừ loại quỉ thần có uy phước. Chúng hữu tình thuộc A
tu la và Nhơn thú thọ sự khổ vui xen tạp, hoặc nhiều hoặc
ít tùy theo tội phước hơn kém. Chư thiên ở cõi Dục thọ
dụng nhiều phần vui, ít phần khổ về sự suy não đọa lạc.
Thiên chúng ở cõi Hóa Lạc tự biến ra lạc cảnh để làm
vui. Thiên chúng ở cõi Tha Hóa lấy hóa cảnh dục lạc của
trời Hóa Lạc làm vui. Ở Sắc giới từ Sơ thiền đến Tam
thiền chư thiên lấy định cảnh làm vui, sự vui cùng cực
duy ở cõi Tam thiền. Từ trời Tứ thiền cho đến cõi Vô
Sắc thì không có khổ lạc thọ. (Luận Du Già, Luận Câu Xá).
2.
Ẩm thực thọ dụng: Về ẩm thực thọ dụng, chúng hữu tình
ở Nại lạc ca đều dùng thức thực mà duy trì thân. Loài
nầy cũng có thọ dụng phần đoạn thực vi tế, là ở nơi
tạng phủ có hơi gió thoảng động, do nhân duyên này mà được
sống lâu. Các bàng sanh, quỉ thần đều dùng thô đoạn thực.
Các loài rồng thường dùng cá, rùa, trùng, ếch nhái làm thức
ăn. Những vị long vương có phước báo cũng thọ dụng các
trân vị như hương phạn, cam lồ, nhưng miếng ăn sau hóa thành
ếch nhái. Loài kim súy điểu dùng rồng làm thức ăn. Loài
quỉ thần có uy phước thọ dụng những trân vị. Loại quỉ
thần không uy phước thường đói khát, khi ăn đồ bất tịnh.
Loại ngạ quỉ nghiệp nặng khi dùng nước hoặc thức ăn,
thì những thứ nầy đều hóa thành máu, lửa, hoặc cát, sạn.
Chúng
A tu la và Nhơn thú thọ dụng thô đoạn thực và tế đoạn
thực. Tế đoạn thực là khi ở trong thai thọ dụng huyết
phần của mẹ. Thô đoạn thực là ăn những thức ăn: cơm,
bánh, trái, cá, thịt, hoặc các thức trân vị khác. Các A
tu la ở cõi trời cũng dùng vị tô đà như chư thiên. Trong
bốn châu ở cõi người, riêng về Bắc châu thì do phước
báo nhiều, nên sự ăn mặc tự nhiên mà có, không cần phải
tạo tác như ba châu kia. Nói rộng ra ngoài việc ăn uống,
các sự thọ dụng khác như phòng nhà, chăn gối, tắm gội,
xông ướp hương, thoa dầu phấn, xoa nắn thân thể... cũng
gọi là vi tế thực.
Chư
thiên ở Dục giới thọ dụng những trân vị như cam lộ,
tô đà, cùng trăm món quí lạ khác, khi ăn vào liền tiêu hóa
không có đại tiểu tiện. Còn các sự thọ dụng vi tế như
những âm nhạc, xướng hát, du ngoạn, cung điện thất bảo...
thì rất thù thắng nhiệm mầu. Tuy nhiên, chư thiên phước
báo cũng có dày mỏng nên có vị thì sự thọ dụng đầy
đủ, có vị thọ dụng lại không xứng tâm. Như chư thiên
ăn chung trong một bảo khí vị phước đức bậc thượng thấy
cơm sắc trắng, vị phước đức bậc trung thấy cơm sắc
vàng, vị phước đức bậc hạ thấy cơm sắc đỏ, mùi vị
cũng có thứ bậc ngon dở hơn kém. Còn chư thiên ở cõi Vô
Sắc thì chỉ có thức thực. (Kinh Chánh Pháp Niệm, Kinh Khởi
Thế, Luận Du Già).
3.
Dục nhiễm thọ dụng: Về dục nhiễm thọ dụng, thì loài
hữu tình ở Địa ngục không có sự dâm, vì bị nhiều hình
phạt quá đau khổ. Các hữu tình thuộc Bàng sanh, Quỉ thần,
A tu la và Người, do vì khổ vui xen lẫn, nên có sự dâm dục.
Ở các cõi này, khi hai giống giao hợp, liền có chất bất
tịnh thoát ra. Thiên chúng ở dục giới khi gần gũi nhau, không
có thứ bất tịnh ấy, duy nơi căn môn có hơi gió nhẹ thổi
ra, Dục niệm liền tiêu. Trời Tứ Vướng và Đao lợi sự
giao hợp cũng như loài người. Trời Dạ Ma, nam nữ chỉ ôm
nhau là cảm dục niệm đã thỏa mãn. Trời Đâu Suất, hai
bên nắm tay nhau dục niệm liền tiêu. Trời Hóa Lạc, chư
thiên nam nữ chỉ chăm chú nhìn nhau cười, là dục sự đầy
đủ, Trời Tha Hóa, chư thiên nam nữ chỉ liếc nhau là đã
xong rồi dục sự. Chư thiên cõi Sắc và Vô Sắc đều tu phạm
hạnh, không có dục nhiễm thọ dụng.
Các
loại Bàng sanh, Quỉ thần, A tu la, tùy theo hạng cao thấp,
hoặc có giá thú, đôi bạn, hoặc si mê giao hợp xen tạp.
Loài người ở Nam, Tây, Đông châu, có lễ giá thú, đôi bạn
và thê thiếp riêng. Loài người ở Bắc châu, vì không ngã
sở nên không có sự giá thú. Đại lực quỉ và chư thiên
cõi Dục cũng có đôi bạn thê thiếp riêng như người ở
Ba châu kia, duy trừ trời Hóa Lạc và Tha Hóa Tự Tại. (Luận
Du Già Sư Địa).
Chúng
sanh trong ba cõi chen chúc nhau nhiều đến số vô lượng, nhưng
do đâu mà bị luân chuyển và sẽ đi về đâu? Kinh nói: "Tất
cả hữu tình đều nương sự ăn mà trụ. Tất cả chúng sanh
đều lấy dâm dục làm phần chánh cho mạng sống". Chữ "dâm"
ở đây cũng có nghĩa là tham nhiễm, dù là tham nhiễm thiền
lạc, không định. Sự khổ của thế gian phải trừ lòng tham,
muốn trừ tham nhiễm phải dứt ngã chấp (Lục Đạo Tập).