Thiên
Thứ Nhất
Chương
Mười Một
Sự
Phát Triển Của Tiểu Thừa
Tiết
Mục:
-
I. Nguyên
nhân phân biệt danh từ
-
II. Sự
phát triển của Hữu Bộ
-
III. Sự
phát triển của Kinh Lượng Bộ
-
IV. Sự
phát triển của Đồng Diệp Bộ
Kinh sách
tham khảo: Dị Bộ Tông Luân Luận, Phật Học Đại Cương,
Lược Sử Truyền Bá Phật Giáo, Ấn Độ Phật Giáo Sử Lược.
Đề
yếu: Bởi chúng sinh căn tánh có khác nhau, nên giáo pháp mới
chia thành Đại, Tiểu thừa sai biệt. Tuy nhiên, nhìn nơi hiện
thực, mỗi bên đều có những ưu điểm riêng. Trong ba bộ
phái Tiểu thừa được phát triển nhất, giáo nghĩa đặc
sắc của Hữu Bộ là Câu Xá Luận; giáo nghĩa đặc sắc của
Kinh Bộ là Thành Thật Luận. Đạo lý của hai bộ này về
sau gây thành Câu Xá Tông và Thành Thật Tông bên Trung Hoa.
Còn Nam phương Thượng Tọa Bộ nhờ ở điểm giữ theo cổ
truyền, đến nay thế lực vẫn không suy giảm, lại có phần
muốn lấn hơn Bắc phương Phật giáo.
Nam
tông và Bắc tông đã có những ưu điểm riêng, thiết tưởng
người học Phật cũng nên có quan niệm bao dung, tham khảo
giáo nghĩa cùng sự hành trì của đôi bên, để chiết trung
lấy, bỏ những phần ưu, liệt.
Tiết
I: Nguyên Nhân Phân Biệt Danh Từ
Sau
khi Phật giáo chia thành hai mươi bộ, các phái đều phát đạt,
nhưng tiến trình rất sai khác nhau. Hoặc có bộ phái dừng
lại nơi giáo lý Tiểu thừa, có bộ phái biến thành Đại
thừa. Các phái Tiểu thừa phần nhiều thuộc hệ thống Thượng
Tọa Bộ. Các phái Đại thừa phần nhiều thuộc hệ thống
Đại Chúng Bộ.
Trước
tiên, sau khi đức Thế Tôn diệt độ trong khoảng 100 nãm,
Phật giáo chưa bị chia chẻ, nên thật ra chưa có danh xưng
phân biệt. Lúc giáo đoàn Tăng lữ dần dần chia thành hai
mươi bộ, ta có thể gọi đó là thời kỳ Bộ phái Phật
giáo. Bấy giờ những danh từ Tiểu thừa, Đại thừa hay Nguyên
thủy để chỉ định cho một tập đoàn nào cũng chưa có.
Nhưng sau khi Đại thừa Phật giáo được chính thức thành
lập, những học giả Đại thừa muốn phân biệt sự cao thấp
về mặt tư tưởng giáo lý, nên gọi những bộ phái thiên
về quan niệm tự độ, chấp ngã không pháp hữu là Tiểu
thừa. Trái lại, Tiểu thừa Phật giáo không chấp nhận danh
từ Tiểu thừa, để tỏ ra giáo lý của mình đi đúng với
căn bản hơn, sau này họ tự xưng là phái Nguyên thủy. Gần
đây, muốn gây ý niệm dung hòa trong khi giao tiếp, bên Đại
thừa thường tự xưng là Bắc tông và gọi bên Tiểu thừa
là Nam tông.
Khi
Đại thừa Phật giáo mới ra đời và dần dần được hưng
long, phái Tiểu thừa bị kích thích bởi ảnh hưởng đó,
cũng trở nên tiến đạt. Thời ấy, bên phái Tiểu thừa,
giáo lý được phát triển hơn cả là học thuyết của Nhất
Hữu Bộ và Kinh Lượng Bộ.
Tiết
II: Sự Phát Triển Của Hữu Bộ
Lập
nghĩa của Hữu Bộ, ban sơ lấy Phát Trí Luận của ngài Ca
Chiên Diên Ni Tử làm căn bản. Kế đó, các luận sư trong
bộ phái này căn cứ theo bản luận mà diễn thích thành sáu
bộ khác, gọi là Lục Túc Luận. Ít lâu sau, những học giả
thuộc bản bộ lại y cứ theo Phát Trí Luận và Lục Túc Luận
mà giải thích một cách tỉ mỉ, biên soạn thành bộ A Tỳ
Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa, có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết
cho rằng niên đại chế tác luận này vào lúc Phật diệt
độ hơn 400 năm, khi vua Ca Nị Sắc Ca mới lên ngôi. Còn trong
Thế Thân Truyện lại bảo sau Phật diệt độ 500 năm. Ngài
Đạo Đinh, vị pháp sư viết lời tựa Tỳ Bà Sa Luận, thì
nói là hơn 600 năm sau Phật diệt độ. Thuyết sau này gần
với sự thật hơn cả.
Đương
thời, tông nghĩa của Hữu Bộ lấy xứ Ca Thấp Di La làm trung
tâm, và được thịnh hành ở địa phương tây bắc Ấn Độ.
Khi bộ Đại Tỳ Bà Sa Luận đã được biên soạn, học thuyết
của Hữu Bộ dường như trở nên cố định, ngưng đến sau,
do phản ứng từ sự công kích của những luận sư Đại thừa
Phật giáo như Long Thọ, Đề Bà, các phái Tiểu thừa cũng
dần thức tỉnh. Riêng về Hữu Bộ, họ hết sức chỉnh đốn
lại nội dung của tông nghĩa mình. Như ngài Thi Đà Bàn Ni
(Stapàni) soạn thuật bộ Đề Bà Sa Luận; ngài Pháp Thắng
(Dharmasri) soạn thuật bộ A Tỳ Đàm Luận. Sau đó, ngài Ưu
Ba Phiên Đà (Upasantà) sáng tác bộ A Tỳ Đàm Tâm Luận Kinh;
ngài Đạt Ma Đà La (Dharmatràta) sáng tác bộ Tạp A Tỳ Đàm
Tâm Luận. Tất cả những bộ luận trên đều cùng chung mục
đích phát huy chân giáo nghĩa của Hữu Bộ. Niên đại xuất
thế của các vị luận sư kể trên, thuộc vào khoảng đầu
thế kỷ thứ II đến cuối thế kỷ thứ IV Tây lịch. Đến
đầu thế kỷ thứ V, có ngài Tắc Kiền Địa La (Skandila),
trứ thuật bộ Nhập A Tỳ Đạt Ma Luận. Giáo nghĩa của Hữu
Bộ nhờ đó thêm phần đặc sắc.
Từ
trước Hữu Bộ đã có bốn vị học giả trứ danh, mà cổ
lai thường gọi là Hữu tông tứ đại luận sư. Bốn ngài
đó là: Pháp Cứu (Dharmatràta), Diệu Âm (Ghosa), Thế Hữu (Vasumitra),
và Giác Thiên (buđhadeva). Đến cuối thế kỷ thứ IV, có hai
đại học giả Phật giáo là Vô Trước (Asanga) và Thế Thân
(Vasubandhu) ra đời. Hai ngài sinh quán ở thành Phú Lâu Sa Bổ
La (Purusapura - Bá Lộ Sa), thuộc nước Kiền Đà La. Trước
tiên hai ngài tin theo Bà la môn giáo, sau thấy đạo này chưa
được cứu cánh, nên đồng xuất gia học tập giáo lý Tiểu
thừa trong Hữu Bộ. Nhưng vì không mãn nguyện với học thuyết
Tiểu thừa, về sau hai vị lại chuyển sang nghiên cứu kinh
điển của Đại thừa Phật giáo.
Riêng
về ngài Thế Thân, khi còn ở Hữu Bộ, nhân nghiên cứu học
thuyết của Kinh Bộ thấy có nhiều ý tứ cao siêu, muốn đem
học thuyết này chiết trung với Hữu Bộ để bổ khuyết
cho giáo nghĩa của tông mình. Nhưng vì tông lý uyên nguyên
khó bề tường tận, ngài sang xứ Ca Thấp Di La tham phỏng
với một vị đại đức của Hữu Bộ là A la hán Ngộ Nhập
(biệt danh Chúng Hiền, Tăng Già Bạt Đà La - Sam - ghabhadra).
Sau khi nắm hết được các yếu nghĩa, tôn giả Thế Thân
trở về bản quốc giảng Đại Tỳ Bà Sa Luận, nạn phá những
chỗ ý tứ chưa được ổn, cải thiện lại học thuyết của
Hữu Bộ. Và, thuận theo lòng ngưỡng mộ cùng sự yêu thỉnh
của các học giả ở Ca Thấp Di La, ngài biên tập lại những
bài giảng của mình thành bộ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (Abhidharma
Kosasàstra). Chúng Hiền luận sư là một học giả chính thống
của Hữu Bộ nghe ngài Thế Thân sau khi phỏng đạo với mình,
trở về làm luận Câu Xá, bác phá nhiều điểm cổ truyền
của bản tông, có ý không bằng lòng. Do đó luận sư viết
ra hai bộ: A Tỳ Đạt Ma Bảo Luận cũng gọi là Thuận Chánh
Lý Luận và A Tỳ Đạt Ma Hiển Tông Luận; bộ trước dụng
ý phá tà, bộ sau dụng ý hiển chánh. Nhưng hai bộ luận này
vì chấp theo cựu thuyết, nên nội dung còn lủng củng, có
nhiều chỗ phải viết trái với cổ nghĩa, ý tứ mới được
thông. Vì vậy, bộ Câu Xá Luận được chiếm phần ưu thế
hơn; các học giả trong Hữu Bộ khi tham tầm giáo lý của
bản tông, chỉ nghiên cứu Câu Xá Luận là đầy đủ. Còn
hai bộ luận của ngài Chúng Hiền soạn, với chủ trương
kháng đối Câu Xá Luận, ngược lại, bị họ coi là phản
bội với giáo nghĩa của Hữu Bộ. Do đó, người đời sau
gọi Câu Xá Luận là Tân Tỳ Bà Sa Luận, tôn giả Thế Thân
là tân giáo chủ của phái Tát Bà Đa (Hữu Bộ).
Và,
học thuyết của Hữu Bộ phát triển đến đây là cùng cực.
Tiết
III: Sự Phát Triển Của Kinh Lượng Bộ
Theo
Bắc truyền, Kinh Lượng Bộ tức là Thuyết Chuyển Bộ. Nhưng
theo Nam truyền thì hai bộ ấy khác nhau, Kinh Lượng Bộ phát
xuất là Thuyết Chuyển Bộ. Nếu căn cứ thuyết sau này, giáo
nghĩa của hai phái tất phải có chỗ sai biệt. Nhưng thuyết
của Nam truyền không tìm thấy kinh sách để tham khảo, nên
nay chỉ theo Bắc truyền mà lược thuật tông nghĩa của Kinh
Lượng Bộ.
Sở
dĩ được gọi Kinh Lượng, vì bộ này lấy kinh làm Chánh
Lượng, mà không y theo Luật, Luận. Trong thời kỳ Kiết tập
thứ nhất, vị tôn giả trùng tuyên tạng Kinh là ngài A Nan,
nên phái này suy tôn ngài làm sơ tổ của bản bộ. Kinh Lượng
lại có tên là Thuyết Chuyển với hàm ý: học thuyết của
bộ này lưu chuyển về sau không cùng. Theo Kinh Lượng Bộ,
giáo nghĩa của tạng Kinh có công năng gây thành hạt giống
trong tâm thức, hạt giống đó họ gọi là Nhất vị uẩn.
Nhất vị uẩn lại có công năng sinh ra tự quả là danh và
sắc. Danh sắc chủng tử cùng tâm chủng tử hai bên duy trì
nhau, nên dù cho ở địa vị hữu tâm hay vô tâm, Nhất vị
uẩn vẫn hằng tương tục không tiêu diệt này gọi là Tế
ngũ uẩn, tương đối với Thô ngũ uẩn sinh diệt biến hóa.
Tế ngũ uẩn tức là Nhất vị uẩn, Thô ngũ uẩn gọi là
Căn biên uẩn.
Trước
tiên, Kinh Lượng bộ chấp ngoài tâm có pháp, sau dần dần
có khuynh hướng về Duy tâm luận. Phái này có hai học giả
trứ danh: vị trước là Cưu Ma Ra La Đa (Đồng Thọ), chủ
trương thuyết Sắc tâm hỗ trì. Vị sau là Thất Lỵ La Đa
(Thắng Thọ), chủ trương thuyết Tế ý thức. Tế ý thức
là bốn uẩn vi tế làm căn bản cho Thô ngũ uẩn. Theo Kinh
Lượng Bộ, các loài dị sanh tự nhiên có chúng tử vô lậu.
Do đó, dù Phật ra đời hay không ra đời, được nghe pháp
hay không nghe pháp, những loài này đều có năng lực tự giải
thoát. Bản phái lại lập ra thuyết Thắng Nghĩa Bổ Đặc
Già La, cho đây là cái thật ngã vi tế. Bổ Đặc Già La này
không có biệt thể khác năm uẩn như phái Độc Tử và Chánh
Lượng, mà rất vi tế không thể nghĩ bàn, nên mới gọi là
Thắng nghĩa. Tế ý thức là ngã thể trong nhân vị khi chưa
thành Phật. Thắng Nghĩa Bổ Đặc Già La là bản thể vô thủy
vô chung, thông cả phàm phu và Phật vị.
Kinh
Lượng Bộ lại lập ra ba định tụ: chánh định tụ, tà
định tụ và bất định tụ. Chánh định tụ là pháp vào
niết bàn. Tà định tụ là pháp không thể vào niết bàn.
Bất định tụ là pháp không nhất định được niết bàn.
Phái này cũng lập ra thuyết Vô vi vô tác dụng như Hữu Bộ.
Vô vi vô tác dụng đại khái giống như thuyết Chân như bất
động của Duy Thức. Vì thế, có kẻ cho Kinh Lượng Bộ là
tiền khu của Duy Thức tông.
Đến
giữa thế kỷ thứ IV Tây lịch, có ngài Ha Lê Bạt Ma (harivarman
- Sư Tử Khải) ra đời, chỉnh đốn lại giáo nghĩa của Kinh
Lượng Bộ. Ha Lê Bạt Ma gốc người Trung Ấn, thuộc dòng
Bà la môn, đã từng tu học theo phái Số luận, sau mới quy
y Phật giáo. Khi nương về chánh pháp, đầu tiên ngài theo
đại đức Cưu Ma La Đa, một học giả của Hữu Bộ, tham
cứu về Phát Trí Luận. Sau ngài thấy học thuyết của Hữu
Bộ còn nông cạn mà lối biện luận dần dần đi vào chỗ
phiền toái, nên chuyển sang nghiên tầm giáo nghĩa của Đại
Chúng Bộ. Khi nương về Kinh Lượng bộ, ngài có mục đích
thống nhất giáo nghĩa của các phái, nên mới chiết trung
các học thuyết Đại, Tiểu thừa, mà soạn ra bộ Thành Thật
Luận (Satyasiđhi Sàstra).
Nội
dung của Thành Thật Luận là căn cứ vào thuyết Tứ thánh
đế, để chỉnh đốn lại đạo lý của Phật giáo. Trong
đây chia thành năm tụ, gồm 202 phẩm. Năm tụ là: Phát tụ,
Khổ đế tụ, Tập đế tụ, Diệt đế tụ và Đạo đế
tụ. Phát tụ giải thích ý nghĩa Tam bảo và mục đích tạo
luận. Khổ đế tụ nói về sự khổ nung nấu của ngũ ấm.
Tập đế tụ bàn vấn đề nghiệp và phiền não. Diệt đế
tụ giải thích vấn đề Niết Bàn. Còn Đạo đế tụ thuyết
minh về Định và Trí. Điểm đặc sắc trong luận, là nơi
phẩm Diệt Pháp Tâm có đề cập đến thuyết Nhân pháp câu
không, giống như giáo nghĩa của Đại thừa, còn các phẩm
khác đều bàn về Tiểu thừa pháp. Ngoài ra, ngài Ha Lê Bạt
Ma còn kế thừa thuyết "Hiện tại thật hữu, quá vị vô
thể" của Kinh Lượng Bộ.
Đại
khái, Kinh Lượng Bộ được phát triển rực rỡ nhất, nhờ
khoảng thời gian bộ Thành Thật Luận ra đời.
Tiết
IV: Sự Phát Triển Của Đồng Diệp Bộ
Đồng
Diệp Bộ cũng gọi là Nam phương Thượng Tọa Bộ. Sở dĩ
có danh từ Nam phương Thượng Tọa Bộ là để phân biệt
với Thượng Tọa Bộ tại miền Bắc Ấn. Đồng Diệp quốc
hay Sư Tử quốc đều là biệt danh của người Trung Hoa gọi
đảo Tích Lan; Nam phương Thượng Tọa Bộ thịnh hành trước
tiên ở đảo này, nên gọi là Đồng Diệp Bộ. Về sau Phật
giáo các nước: Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao, Cao Miên, từ
hình thức cho đến giáo nghĩa đều giống như Nam phương Thượng
Tọa Bộ đã phát triển nơi xứ này, còn Phật giáo ở các
nước kia, vì đồng một hệ thống có thể suy ra để hiểu,
vả lại phạm vi cũng quá rộng, nên xin ngừng lại cho phần
lịch sử.
Về
Phật giáo Tích lan, nơi mục "Kinh Phật tiếng Ba ly" trong chương
thứ bảy của bản thiên đă có nói lược qua, nên nay chỉ
đề cập những điểm cần yếu.
Đạo
lý của Phật giáo Tích Lan, lúc đầu thuộc về hệ thống
Thượng tọa Bộ. Giáo đoàn trước tiên là Đại Tịnh Xá
Tự Phái, gọi tắt là Đại Tự Phái (Mahàvihàra). Phái này
được thành lập từ đời vua Thiên Ái Đế Tu thứ bảy,
thuộc Thượng Tọa Bộ (Theriyanikàya). Đến thời kỳ Vô Úy
Vương tức vị, lại xuất sanh phái Vô Úy Sơn Tự (Abhyagiri)
thuộc về Pháp Hỉ Bộ (Dhammaruci nikàya). Sang triều vua Cù
Đàm Bà Gia (Gotabhaya) lại phát xuất thêm một phái mới nữa,
gọi là Kỳ Đà Lâm Tự (Tetavana). Như vậy, từ thế kỷ thứ
III trước kỷ nguyên đến đầu thế kỷ thứ II sau tây lịch,
Phật giáo Tích Lan có tất cả ba phái khác nhau.
Đến
đầu thế kỷ thứ XI, xứ Tích Lan bị dân tộc Tamil ở Nam
Ấn Độ tràn tới đánh phá đô thành, thiêu hủy chùa tháp,
tàn sát chư Tăng, nên Phật giáo ở nơi đây bị suy vi trong
một thời gian. Sau đó vài mươi năm, có vua Tỳ Dà Gia Bà
Hầu (Vijaya bhàhu) nổi lên đánh đuổi quân thù, khôi phục
lại bờ cõi, sai sứ sang Miến Điện nghinh thỉnh tam tạng
kinh điển đem về. Phật giáo ở bản xứ nhờ đó mới trở
lại hưng thịnh.
Cuối
thế kỷ thứ XII, vua Ba Ra Ca Ma Bà Hầu (Parakhama bhàhu), một
vị anh quân của Tích Lan, lên ngôi thống trị. Vua là người
hết sức lưu tâm đến việc chấn hưng và thống nhất Phật
giáo. Từ trước ở bản xứ, ba phái Phật giáo vẫn đối
lập nhau, nhưng sau khi lên ngôi, vua dung hòa và thống nhất
ba phái thành một, lấy tông nghĩa của Đại Tự Phái thuộc
Thượng Tọa Bộ làm giáo học chính thống.
Từ
thế kỷ thứ XVI trở đi, nước Tích Lan tuy bị người Bồ
Đào Nha và Hòa Lan dùng đủ mọi cách đem tư tưởng Thiên
Chúa giáo truyền vào, nhưng dân chúng phần đông vẫn là tín
đồ của Phật giáo. Đến tháng hai năm 1948, xứ Tích Lan thoát
khỏi vòng cai trị của người Anh và tuyên ngôn độc lập.
Sang tháng 5 năm 1950, hội nghị Phật giáo thế giới gồm đại
biểu của 29 nước được chiêu tập tại nơi đây. Hội nghị
này đã quyết định từ nay về sau, Phật giáo của các nước
thuộc hệ thống Tiểu thừa đều gọi là Theravada (Thượng
Tọa Bộ phật giáo). Và từ đó, giữa Tiểu thừa và Đại
thừa Phật giáo đã có sự thông cảm.
Tóm
lại, sự tiến triển của Nam phương Thượng Tọa Bộ ở
Tích Lan nói riêng, cũng như các nước: Miến Điện, Thái Lan,
Ai Lao, Cao Miên nói chung, đều đồng những điểm đặc sắc
then chốt là:
Chỉ
tôn thờ Phật Thích Ca là đấng Bổn Sư duy nhất.
Đều
thông dụng thứ kinh điển chép bằng tiếng Ba Ly.
Chỉ
có chư Tăng, không có Ni chúng.
Chư
Tăng đều vấn y vàng, ôm bát.
Phái
xuất gia cố gắng giữ giới, tham thiền, phái tại gia ưu
thích sự cúng dường, bố thí.