Thiên
Thứ Nhất
Chương
Mười
Tiểu
Thừa Và Đại Thừa
Tiết
Mục:
-
I. Ý
nghĩa Tiểu thừa, Đại thừa
-
II. Khởi
nguyên phân biệt giữa hai phái
-
III. Những
điểm sai biệt của hai phái
-
IV. Dung
hội các thừa
Kinh sách
tham khảo: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kinh Văn Thù Bát Nhã, Kinh
Tạp A Hàm, Trí Độ Luận, Nhập Đại Thừa Luận, Ấn Độ
Phật Giáo Sử Lược, Phật Giáo Khái Luận.
Đề
yếu: Ý nghĩa Đại, Tiểu thừa và sự sai biệt giữa đôi
bên, đã thường gây nhiều thắc mắc cho người sơ cơ học
Phật. Để giải thích phần nào mối hoài nghi ấy, trong tiết
thứ nhất thuộc bản chương đưa ra ba sự kiện: pháp môn,
tế độ, quả vị, để lược bàn về quan điểm hơn kém
của song phương. Hai tiết kế, tiếp tục nói qua nguyên nhân
phân biệt và sự sai khác giữa Tiểu thừa Đại thừa, mà
yếu tố chính không ngoài cảnh duyên và sự nhận thức của
cá tính. A Hàm và đại ý phẩm Phương Tiện trong kinh Pháp
Hoa, chỉ rõ các thừa đều là những nấc thang phương tiện
để đi đến Phật thừa, trong một đời thuyết giáo, đức
Thế Tôn duy nói Nhất thừa pháp mà thôi.
Thể
nhận nghĩa này, người học Phật sẽ tự giải thích được
tâm niệm phân vân, chia rẽ.
Tiết
I: Ý Nghĩa Tiểu Thừa, Đại Thừa
Khi
đức Phật còn ở đời, vì tùy trình độ của mọi người,
mà Ngài thuyết pháp có cạn sâu, cao thấp. Lại đôi khi, thính
chúng tuy cùng nghe một giáo lý, nhưng sự lĩnh hội của mỗi
người có thấp cao, rộng hẹp không đồng. Nhân đó, về
sau mới nảy sinh ra sự phân biệt giữa Đại thừa (Mahàyàna)
và Tiểu thừa (Hìnayàna).
Đại
thừa là gì? Một lời tổng quát, đó là "giáo pháp dạy tất
cả hữu tình thành Phật". Đứng về phương diện phân tích,
chữ "Thừa" là vận tải, vận độ, nghĩa là chuyên chở.
Giáo lý của Phật dạy có đủ công năng, phương pháp, dắt
đường chỉ lối, chuyên chở chúng sanh từ cõi trần lao phiền
não đến cảnh thanh tịnh an vui, từ biển sống chết luân
hồi đến bến niết bàn giải thoát, nên gọi là "Thừa".
Trong
danh từ Tiểu thừa, chữ "Tiểu" có những nghĩa: hẹp, nhỏ,
thấp. Nghĩa "hẹp" của Tiểu thừa, là chỉ cho quan niệm của
người tu duy lo tự độ, tự đưa mình đến chỗ giải thoát,
không đoái hoài đến bao nhiêu chúng sinh khác đang ở trong
biển trầm luân. Có điều nên phân biệt, nếu người nào
có hoài bảo tha thiết độ sanh, tuy dùng pháp Tiểu thừa để
giáo hóa, song thật ra lại thuộc về tâm niệm Đại thừa.
Và những kẻ tuy ở nơi non cao rừng thẳm, không tiếp xúc
với đời, nhưng có bi nguyện tự độ để độ tha, cũng
thuộc về tâm niệm Đại thừa. Nghĩa "nhỏ" của Tiểu thừa,
là chỉ cho giáo pháp cạn cợt, chỉ thích hợp, hóa độ được
một hạng người, không thích hợp, hóa độ được mọi tầng
lớp chúng sinh. Điểm cạn cợt này, là sự chấp nhận trong
phạm vi giáo pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên. Một điều
nên nhận định, tiểu pháp không thể bao hàm đại pháp, nhưng
trái lại đại pháp bao hàm tiểu pháp; vì thế Tứ đế, Thập
nhị nhân duyên cũng là một phương tiện trong sự độ sinh
của Đại thừa. Nghĩa "thấp" của Tiểu thừa, là chỉ cho
giáo pháp đưa người đến quả vị thấp của Thanh Văn, Duyên
Giác, không đưa đến quả vị cao siêu cứu cánh của Phật
đà. Giáo pháp này cũng chính là Tứ đế, Thập nhị nhân
duyên. Tóm lại "Tiểu thừa" có ba ý nghĩa: "sự vận tải
hẹp, nhỏ, thấp", như trên.
Phản
ảnh lại, danh từ Đại thừa cũng có ba nghĩa: rộng, lớn
và cao. "Rộng" là độ mình và tất cả chúng sinh; "lớn" là
đủ các pháp môn thích hợp với mọi căn cơ; "cao" là đưa
loài hữu tình đến quả vị Vô thượng chánh giác. Cả hai
danh từ Tiểu thừa, Đại thừa, nếu mỗi bên thiếu một
trong ba ý nghĩa trên, thì không thể thành lập.
Đại
thừa, tiếng Phạn gọi là Ma ha Diễn Na (Mahàyàna). Đầu tiên,
danh từ này không có tính cách để đối chọi với Tiểu
thừa, đại ý của nó là chỉ cho những giáo lý cao thâm,
những pháp môn rộng lớn có công năng độ khắp chúng sinh
mà thôi. Vì thế, trong kinh Đại thừa vẫn có những danh từ
thuộc Tiểu thừa, và trong kinh Tiểu thừa ta cũng thường
thấy những danh từ thuộc Đại thừa. Khi đức Thế Tôn còn
ở đời, giáo pháp của Ngài tuy hàm ẩn cả Đại, Tiểu thừa,
nhưng trong giáo đoàn vẫn hòa hợp tu hành, không có sự phân
biệt lớn nhỏ, cao thấp. Khoảng thời gian 600 năm sau Phật
diệt độ, tuy chư Tăng chia thành nhiều bộ phái, song cũng
không có sự đối lập giữa Đại, Tiểu thừa. Trong các chi
phái thuộc ba hệ thống Hữu Bộ, Đại Chúng và Độc Tử,
có nhiều vị nghiên cứu kinh luận Đại thừa. Như ngài Chân
Đế nói: "Giáo đồ của Đại Chúng Bộ ở thành Vương Xá
cũng học hỏi truyền bá những kinh điển Đại thừa như
Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Thắng Mang, Duy Ma, Kim Quang Minh, Bát Nhã..."
Nhưng
từ 600 năm sau Phật diệt độ trở đi, do tư tưởng tiến
triển của quần chúng, do hoàn cảnh, nhân duyên, sự phân
biệt và đối lập giữa hai tập đoàn lớn trong Phật giáo
lâm vào tình trạng không thể tránh khỏi.
Tiết
II: Khởi Nguyên Phân Biệt Giữa Hai Phái
Nhân
duyên phân biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa, đại ước
có ba điểm:
1.
Do hoàn cảnh: Đại thừa Phật giáo bột hưng, một phần do
ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài. Xét theo lịch sử, từ
đời A Dục Vương về sau, quần chúng miền Bắc Ấn thường
giao thiệp với dân tộc hai xứ Hy Lạp, Ba Tư. Những nhà học
Phật ở Bắc Ấn lúc ấy càng ngày càng đông. Do sự tiếp
xúc với ngoại nhân, họ dần dần chịu ảnh hưởng tư tưởng
tôn giáo của hai xứ đó, nên có nhiều nhà học Phật chủ
trương sùng bái cầu nguyện. Bởi nguyên nhân này, thuyết
tha lực vãng sanh đã sẵn có trong kinh điển Phật giáo được
đề khởi lên. Thời bấy giờ, phong trào cầu vãng sanh về
cõi Đâu Suất của Di Lặc Bồ tát, cõi Cực Lạc của Phật
A Di Đà, cõi Lưu Ly của Phật Dược Sư, cõi Diệu Hỷ của
Phật A Súc Bệ rất thịnh hành. Trong đây chỉ có thuyết
vãng sanh Cực Lạc là được lưu thông hơn cả. Người ta
gọi phong trào này là Chủ tình đại thừa giáo.
Mặt
khác, sau Phật diệt độ 500 năm, các phái ngoại đạo dần
dần phục hưng, lý thuyết của họ càng ngày càng được
cải cách thêm đến mức siêu việt. Song song với phong trào
đó, kho tàng Phật giáo cũng phải được khai thác triệt để,
mới có thể đối phó với ngoại đạo và giải quyết đầy
đủ mối nghi ngờ của học giả. Vì thế, Đại thừa Phật
giáo phải ra đời để thích ứng với thời đại.
2.
Do trào lưu tư tưởng: Khởi nguyên tư tưởng Đại thừa Phật
giáo lẽ dĩ nhiên đã có từ khi đức Như Lai còn tại thế.
Sau khi đức Thế Tôn diệt độ 100 năm, giáo đoàn đạo Phật
chia thành Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ, rồi dần dần
phát sinh ra các chi phái. Giáo nghĩa của các bộ phái đó phần
nhiều bao hàm cả đạo lý Đại thừa. Tư tưởng của học
giả cũng biến thiên theo trào lưu, từ đời A Dục đến đời
Ca Nị Sắc Ca, quan niệm Đại thừa giáo càng ngày càng phát
hiện thêm rõ rệt.
Trên
phương diện địa lý, tư tưởng này bắt nguồn từ xứ An
Đạt La thuộc Nam Ấn Độ. Giáo nghĩa nẩy nở đầu tiên
là Ma Ha Bát Nhã, phát xuất từ Đại Chúng Bộ. Trong kinh Bát
Nhã có đoạn Phật dự ký: "Sau khi Như Lai niết bàn, kinh này
được truyền về phương Nam, rồi từ đó lưu chuyển đến
phương Tây và lên phương Bắc". Lời dự ký này đã chứng
minh cho Đại thừa Bát Nhã xuất phát từ phương Nam. Đại
thừa Phật giáo ở Bắc Ấn Độ phát nguyên từ địa phương
nào, sự kê khảo chưa được chính xác. Nhưng theo ngài Huyền
Trang thì tại xứ Câu Tát La (Kosala), kinh điển Đại thừa
rất nhiều, Phật pháp ở đây cực thịnh và được truyền
bá đi các nơi khác. Hoặc giả địa phương này là chỗ phát
nguyện của Đại thừa Phật giáo miền Bắc Ấn chăng?
3.
Do các học giả phát khởi: Sau khi Phật diệt độ, một mặt
do trào lưu tư tưởng dần dần biến thiên, nên sự đòi hỏi
thích ứng với quan niệm quần chúng càng ngày càng thêm cần
thiết. Mặt khác, giáo nghĩa của ngoại đạo cũng dần dần
được cải tiến, họ biết rút lấy cái hay của các phái
khác trong ấy có cả đạo Phật, để bổ khuyết thêm cho
học thuyết của mình. Vì thế, lập luận của họ càng ngày
thêm vững vàng, trong đó các phái Thắng luận, Số luận,
Phệ đàn đà luôn luôn bài xích Phật giáo. Giữa lúc ấy,
phần đông chư Tăng lại thiên về khuynh hướng giải thoát,
bảo thủ lấy truyền thống xưa, nên thanh thế Phật giáo
dần dần thấy sút kém trước ảnh hưởng của ngoại đạo.
Để cứu vãn tình thế và thích ứng thời cơ, sau Phật diệt
độ 700 năm, hai ngài Mã Minh, Long Thọ nối nhau xuất hiện,
trứ tác các bộ như: Đại Thừa Khởi Tín Luận, Đại Trang
Nghiêm Luận Kinh, Trí Độ Luận, Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận,
Trung Quán Luận, để phát huy ý nghĩa đại thừa Phật giáo.
Kế tiếp sau hai ngài, có các vị như Đề Bà, La Hầu La, Bạt
Đà La, Vô Trước, Thế Thân, cũng cực lực đề xướng đạo
lý này.
Xét
ra, đứng về mặt bao quát, Đại thừa kiêm cả Tiểu thừa.
Nhưng Đại thừa giáo sở sĩ được biệt lập là để đối
kháng với quan niệm bảo thủ và xu hướng tự giải thoát
của phần đông chư Tăng thời bấy giờ. Nhưng hoàn cảnh
hoặc trào lưu tư tưởng chỉ là nhân duyên phát khởi, mà
thành quả lại do sự xướng lập của chư đại đức Mã
Minh, Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân. Cho nên người sau thường
gọi các ngài là những nhà cách mạng Phật giáo.
Vậy,
khởi nguyên của Đại thừa Phật giáo là bởi ba lý do trên.
Quan niệm phân biệt, khen chê giữa Đại thừa và Tiểu thừa
sau này, thật ra cũng có. Nhưng sự đối lập giữa hai tập
đoàn lớn trong Phật giáo, là một lẽ tất nhiên của thời
đại, mà dù muốn dù không, người ta vẫn không thể tránh.
Tiết
III: Những Điểm Sai Biệt Của Hai Phái
Đứng
về phương diện lịch sử mà nói, sự đối lập giữa Tiểu
thừa và Đại thừa có ba nguyên nhân như trên. Nhưng về phương
diện lập thuyết, thì hai phái hoàn toàn khác nhau từ chỗ
phát tâm đến giáo, lý, hạnh, quả. Trong Trí Độ Luận, ngài
Long Thọ nói: "Phật pháp đồng một vị, đó là vị giải
thoát. Trong vị giải thoát này có hai thứ: một là chỉ vì
mình, hai là vì tất cả chúng sinh. Cho nên, tuy đồng cầu
giải thoát, mà có sự lợi mình và mình người đều lợi
khác nhau. Vì thế, mới có sự sai biệt giữa Tiểu thừa,
Đại thừa". Xem đây thì biết, sự khu phân của hai phái không
phải chỉ thuộc trên nguyên nhân, mà còn trên phương diện
chủ thuyết. Căn cứ theo Nhập Đại Thừa Luận của ngài
Kiên Ý, và xét qua chủ trương lập thuyết đôi bên, ta có
thể chia sự sai biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa thành
tám điểm như sau:
1.
Tâm lượng: Hàng Tiểu thừa tâm lượng hẹp hòi, gấp cầu
giải thoát mọi sự khổ não trong đường sinh tử. Họ chỉ
biết độ cho mình hơn là độ cho kẻ khác. Hàng Đại thừa
tâm lượng rộng rãi, quyết đạt đến lý tưởng tự lợi
lợi tha. Hơn nữa, họ còn lấy việc lợi tha làm chủ đích.
2.
Căn cơ: Tiểu thừa là hàng căn tánh tối chậm, chỉ tin hiểu
những tiểu pháp như Tứ đế, Thập nhị nhân duyên. Đại
thừa là hạng có thắng giải đại tánh, không thích tiểu
pháp mà ưa thọ trì những đại pháp như: Ngã pháp câu không,
Duyên khởi như huyễn.
3.
Nhân sinh quan: Tiểu thừa khuynh hướng về nhân sinh quan vô
thường, nhiều khổ não. Vì vậy, họ chủ trương phá tan
tiểu ngã, mong sớm chứng vào thể tánh vắng lặng, và lấy
đó làm chỗ giải thoát an vui. Đại thừa cũng bắt đầu
từ quan niệm ấy, nhưng lại hiểu rằng các pháp như huyễn,
chúng sinh chính là tự tánh của mình. Cho nên lập thuyết
của họ là phá chấp trên ngã, pháp, để khuyếch trương
đại ngã, không cần phải lìa đời xa lánh chúng sinh, mà
vẫn được giải thoát tự tại.
4.
Vũ trụ quan: Tiểu thừa đối với vạn hữu thì cuộc hạn
trong phạm vi hiện tượng luận sinh diệt, yếu tố để giải
thích của họ duy có 75 pháp. Sự chứng biết của Tiểu thừa
cũng chỉ trong vòng tam thiên đại thiên thế giới, cho nên
họ không tin có tha phương Tịnh độ. Đại thừa thì ngoài
hiện tượng sai biệt, còn thuyết minh chân như bình đẳng
không sinh diệt để đạt đến bản thể luận. Yếu tố để
giải thoát vạn hữu của họ gồm có 100 pháp. Họ tin nhận
rằng, ngoài thế giới này còn có vô số uế độ và tịnh
độ như vi trần. Tất cả đều là thể Như huyễn tự tánh
thanh tịnh tánh.
5.
Quan niệm Tam bảo: Về Phật bảo, hàng Tiểu thừa chỉ chấp
nhận đức Thích Ca Mâu Ni và chư Phật của cõi Ta Bà, không
tin có các đấng Như Lai ở tha phương thế giới. Về Pháp
bảo, họ duy tính thuận những kinh Tiểu thừa như A Hàm, Pháp
Cú..., không tin nhận những kinh Đại thừa như Hoa Nghiêm,
Pháp Hoa. Về Tăng bảo, họ chỉ hiểu biết các bậc A la hán
như Xá Lỵ Phất, Mục Kiền Liên...., không chấp nhận các
bậc Bồ tát tha phương như: Phổ Hiền, Dược Vương, Nguyệt
Quang, Thế Chí. Trái lại, Đại thừa tin nhận cả tiểu pháp
lẫn đại pháp và ngôi Tam bảo ở cõi này cùng mười phương.
6.
Tư lương tánh: Trên phương diện tu hành, hàng Tiểu thừa
thiên về huệ, y theo Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Tam thập
thất đạo phẩm, mục đích để phá trừ ngã chấp, chứng
quả nhân không. Còn hàng Đại thừa thì y theo lục độ vạn
hạnh gồm tu phước huệ, phá cả ngã chấp lẫn pháp chấp,
chứng quả nhị không.
7.
Thời gian tánh: Về Tiểu thừa, hàng Thanh văn phải từ ba
đời đến 60 kiếp mới chứng quả A la hán; còn hàng Duyên
giác phải tu từ bốn đời đến 100 kiếp mới chứng quả
Bích Chi Phật. Còn bên Đại thừa phải dùng ba A tăng kỳ
kiếp để tu sáu độ và 100 kiếp để tu nhân tướng tốt,
mới chứng quả Phật.
8.
Quả chứng: Giải thoát của Tiểu thừa là tiêu cực. Họ
muốn lánh khỏi mọi sự khổ não ở hiện tại mà thể nhập
vào cảnh không tịch. Cho nên mục đích chung cuộc của họ
là cầu lấy quả A La Hán hoặc Bích Chi Phật. Giải thoát
của Đại thừa là tích cực. Họ hiểu rằng phiền não vốn
không và trong chúng ta có đủ đức tướng, trí huệ của
Như Lai cùng vô lượng công đức. Vì thế họ lấy địa vị
Phật đà làm lý tưởng chung cuộc. Về chúng sinh, Đại thừa
quyết độ tất cả đều thành Phật. Về thế giới, họ
quyết biến cõi uế ác thành cảnh thiện mỹ, trang nghiêm.
Cho nên mục đích của Đại thừa gồm trong câu: "Trang nghiêm
Phật độ, thành tựu chúng sinh".
Tiết
IV: Dung Hội Các Thừa
Theo
Nguyên thủy Phật giáo, quả niết bàn giải thoát của hàng
Thanh văn đồng với Phật, nhưng bậc Thanh văn phước trí
chưa được đầy đủ bằng đức Thế Tôn. Theo Đại thừa
Phật giáo, quả vô thượng bồ đề của Như Lai, duy những
vị tu theo Bồ tát thừa mới chứng được. Đứng về mặt
khách quan để khảo cứu kinh điển của hai phái, ta có thể
chia lối thuyết pháp của Phật ra ba thời kỳ:
Thời
kỳ thứ nhất, đức Thế Tôn vì muốn cho hàng đệ tử lìa
khỏi nỗi khổ thân tâm hiện tại, hưởng sự an vui tịch
tịnh, nên Ngài chỉ ngay những phương tiện giải thoát. Như
đức Phật dạy: "Thế này là Khổ, thế này là Tập, thế
này là Diệt, thế này là Đạo. Như Lai đã tu tập theo đường
lối ấy, các ông nên thực hành theo. Như Lai đã đắc quả
giải thoát theo đường lối ấy, các ông nên cố gắng để
chứng nhập...Hiện nay sự sống chết của ta đã dứt, phạm
hạnh đã thành lập, việc làm cũng đã xong, không còn thọ
thân đời sau nữa...". Xuyên qua mấy lời này, đạt đáo điểm
của Phật cùng với hàng đệ tử trong buổi đầu biểu dương
bằng câu: "Hành đồng đạo, đắc đồng quả".
Qua
thời kỳ thứ hai, đức Thế Tôn dần dần nói những đạo
pháp cao rộng hơn. Như trong đoạn ngài Văn Thù trình bày kiến
giải với Phật: Bạch đức Thế Tôn! Tu Bát Nhã ba la mật
là không rời bỏ pháp phàm phu, không cầu lấy pháp hiền
thánh. Tại sao thế? Vì người thực hành môn này, không thấy
có pháp để lấy hoặc bỏ, cũng không thấy có Niết bàn
đáng ưa, sinh tử đáng chán. Bởi Niết bàn cùng sinh tử,
hành giả còn không thấy có, huống nữa là sự ưa chán ư?
Đức Phật bảo: "Đúng như thế! Này Văn Thù! Đó là sở
hành của các bậc Bồ tát ma ha tát. Cho đến hàng Thanh văn,
Duyên giác, nói chung là bậc hữu học, vô học, đều không
nên rời pháp ấn này mà tu đạo quả". Đoạn kinh văn trên
đây, chứng minh đức Thế Tôn khuyến dụ hàng Thanh văn đi
vào thâm pháp. Ngài còn bảo chính mình đă trải qua vô lượng
kiếp, tu những nhân hạnh tự lợi lợi tha rộng lớn, mới
thành tựu ba mươi tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, mười
lực, bốn vô úy, mười tám pháp bất cộng của quả vô thượng
bồ đề.
Đến
thời kỳ thứ ba, đức Thế Tôn dung hòa ba thừa. Đại ý
Ngài nói: "Những vị nghe tu theo pháp Tứ đế, chứng được
đạo quả, gọi là Thanh văn thừa. Hạng căn cơ lanh lợi hơn,
tự phát minh hoặc do ngôn giáo của Như Lai mà tỏ ngộ Thập
nhị nhân duyên, gọi là Bồ tát thừa. Nhưng hàng Thanh văn,
Duyên giác có thể hướng thượng và thành Phật; hai thừa
này chỉ là những nấc thang để bước lên Bồ tát thừa
mà thôi". Tóm lại, ba thừa chỉ là một, đức Như Lai ra đời
không ngoài mục đích đưa chúng sinh đến quả Phật, và Ngài
cũng chỉ dạy có đạo pháp Nhất thừa. Danh từ Nhất thừa,
trong kinh điển của hai phái, đức Phật cũng thường nhắc
nhở đến. Như kinh Tạp A Hàm nói: "Có Nhất thừa đạo hay
khiến cho chúng sinh được thanh tịnh, đưa họ vượt qua sự
thương lo buồn khổ, vào pháp chân như. Đó là Tứ niệm xứ..."
Và đoạn:
-
Ta có
pháp Nhất thừa
-
Vì chúng
sinh các cõi
-
Diễn
nói chánh pháp âm
-
An ủi
chúng sinh khổ
-
Chư Phật
đời quá khứ
-
Dùng
pháp này độ sinh
-
Chư Phật
đời vị lai
-
Cũng
diễn Nhất thừa pháp
-
Chư Phật
đời hiện tại
-
Nương
đây độ dòng mê
-
Đưa
khỏi bờ sinh tử...
-
Kinh Pháp
Hoa cũng nói:
-
Vì thế,
Xá Lỵ Phất
-
Ta mới
lập phương tiện
-
Nói các
pháp diệt khổ
-
Chỉ
bày nẻo Niết bàn
-
Nhưng
cảnh Niết bàn này
-
Chưa
phải chân diệt độ
-
Các pháp
từ xưa nay
-
Tự hướng
hằng vắng lặng
-
Phật
tử đã hành đạo
-
Về sau
sẽ thành Phật
-
Ta dùng
sức phương tiện
-
Mở bày
pháp tam thừa
-
Tất
cả chư Thế Tôn
-
Đều
nói Nhất thừa đạo
-
Nay trong
đại chúng đây
-
Phải
nên trừ nghi hoặc
-
Lời
chư Phật không khác
-
Chỉ
một, không hai thừa...
-
Pháp
tối diệu bậc nhất
-
Vì các
loại chúng sinh
-
Phân
biệt nói ba thừa
-
Kẻ thấp
ưa pháp nhỏ
-
Không
tin mình thành Phật
-
Nên ta
dùng phương tiện
-
Chia ra
các đạo quả
-
Tuy là
nói ba thừa
-
Kỳ thật
dạy Bồ tát...
Căn cứ
mấy đoạn kinh trên, thì từ trước đến sau, đức Phật
chỉ dạy có Nhất thừa pháp, chẳng qua vì tùy trình độ
chúng sinh mà phương tiện dẫn dụ thế thôi.
Tóm
lại, trong một đời giáo hóa, nói rộng ra, tuy đức Thế
Tôn dạy bảo Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên
giác thừa, Bồ tát thừa, song không ngoài mục đích để thành
tựu Phật thừa, tức là Nhất thừa đạo. Đối với hạng
chưa thể tu theo đường giải thoát, Ngài khuyên dạy pháp
Ngũ giới, Thập thiện, để cho họ trồng căn lành, khỏi
sa vào ác đạo, gây nhân duyên đắc độ về sau. Với hạng
có thể bước lên nẻo Niết bàn, Ngài khai thị pháp Tứ đế,
Thập nhị nhân duyên, để họ thoát nỗi khổ luân hồi, hưởng
sự vui tịch tịnh, rồi lần lượt dẫn dụ vào đại pháp.
Với hạng đại căn cơ, Ngài chỉ ngay Bồ tát đạo, khiến
cho họ mau thành tựu quả Phật. Đức từ bi, bình đẳng,
trí huệ, phương tiện của Phật quả thật không lường!
Thế thì dù Tiểu thừa hay Đại thừa, đều cùng là con của
Phật, cùng sẽ về một tiêu điểm, người phật tử chỉ
nên tự xét và tự hướng lối đi của mình đúng như lời
dạy của đức Thế Tôn, chớ không nên cố tâm chia rẽ.