Thiên
Thứ Nhất
Chương
Chín
Giáo
Nghĩa Các Bộ Phái
Tiết
Mục:
-
I. Ba
hệ thống bộ nghĩa
-
II. Giáo
nghĩa của Đại Chúng Bộ
-
III. Giáo
nghĩa của Hữu Bộ
-
IV. Giáo
nghĩa của Độc Tử Bộ
Kinh sách
tham khảo: Dị Bộ Tông Luân Luận, Tông Luận Khảo, Ấn Độ
Phật Giáo Sử Lược.
Đề
yếu: Tông nghĩa 20 bộ rất phiền toái, trong một bài hữu
hạn, không thể ghi ra mỗi mỗi chi tiết. Vì thế, nội dung
tiết thứ nhất trong bản chương, y theo Tông Luân Khảo của
ngài Huyền Trang, mà chia các phái thành ba hệ thống: Đại
Chúng, Hữu Bộ và Độc Tử. Ba tiết sau nói khái lược về
giáo nghĩa của ba bộ phái đại biểu này. Trong đây, giáo
nghĩa Hữu bộ phưởng phất như Nguyên thủy Phật giáo, nhưng
lối phân tích vạn hữu tinh tế hơn Đại Chúng Bộ. Giáo
nghĩa của Đại Chúng Bộ thì quan niệm về Phật thân có
phần khoáng đạt hơn Hữu bộ. Còn giáo nghĩa của Độc Tử
Bộ lại giản ước và độc lập với thuyết Tam tụ. Đặc
điểm của Đại Chúng Bộ là lối nhận xét về hữu vi pháp
gần với thuyết "Ngã pháp câu không" làm cơ sở khai triển
không tông về sau. Đặc điểm của Hữu Bộ là lối phân
tích các pháp một cách tinh tế, làm cơ sở cho Duy thức học
của Hữu tông trong tương lai. Riêng Độc Tử Bộ được đặc
thù với thuyết Bổ Đặc Già La, làm cơ sở cho lập thuyết
Như Lai tạng.
Cả
ba hệ thống do ba bộ làm đại biểu, tuy hình thức còn trong
phạm vi Tiểu thừa, nhưng về tông nghĩa đều đã mạnh dạn
tư tưởng Đại thừa Phật giáo.
Tiết
I: Ba Hệ Thống Bộ Nghĩa
Trong
một thời gian không bao lâu, Phật giáo chia ra đến 20 bộ
phái, như các thứ nấm mọc lên sau cơn mưa rào, người ngoài
trông thấy không khỏi lấy làm lạ. Nhưng điều ấy chẳng
có chi kỳ đặc, vì các phái trên chỉ bất đồng ý kiến
rồi biệt lập, không có tính cách môn đình kiên cố như
các tông Thai, Thiền, Tịnh, Mật bên Trung Hoa. Trong ấy, duy
có hai bộ văn bản là sai biệt, ngoài ra các phái chi mạt
chỗ lập nghĩa chỉ hơi khác nhau. Chẳng hạn như bốn phái
Pháp Thượng, Hiền Trụ, Chánh Lượng, Mật Lâm Sơn, sở dĩ
được chia ra, vì lối giải thích bất đồng trên một bộ
luận. Do đó, chỉ trong thời gian hơn hai trăm năm mới phát
sinh nhiều bộ như thế.
Nay
xin căn cứ quyển Tông Luận Khảo của ngài Huyền Trang, nương
theo nghĩa tương đồng của 20 bộ, mà chia thành ba hệ thống:
1.
Đại Chúng, Nhất Thuyết, Thuyết Xuất Thế, Kê Dẫn, Thuyết
Giả, Chế Đa Sơn, Tây Sơn Trụ, Bắc Sơn Trụ, Pháp Tạng,
Ẩm Quang, Hóa Địa, Đa Văn, Tuyết Sơn, thuộc về hệ thống
Đại Chúng Bộ.
2.
Thuyết Nhất Thế Hữu, Thượng Tọa, Đa Văn, Tuyết Sơn, Kinh
Lượng, thuộc về hệ thống Nhất thế Hữu Bộ.
3.
Độc Tử, Pháp Thượng, Hiền Trụ, Chánh Lượng, Mật Lâm
Sơn, thuộc về hệ thống Độc Tử Bộ.
Như
trên, hệ thống thứ nhất lấy Đại Chúng Bộ làm đại biểu.
Hệ thống thứ hai, không lấy Thượng Tọa Bộ làm đại biểu
mà lấy Nhất Thế Hữu Bộ, vì bộ này giải thích kinh văn
có phần tinh tế hơn, và có tính cách bao quát những bộ tùy
thuộc. Trong hệ thống thứ nhất, thứ nhì đều liệt danh
Đa Văn và Tuyết Sơn, vì tông nghĩa của hai bộ này kiêm thông
cả Nhất Thế Hữu Bộ và Đại Chúng Bộ. Hệ thống thứ
ba lấy Độc Tử Bộ làm đại biểu. Trong hệ thống này,
về sau Chánh Lượng Bộ được thạnh truyền hơn cả, nên
cũng có thể đem Chánh Lượng thay thế Độc Tử mà đại
biểu cho ba bộ: Pháp Thượng, Hiền Trụ, Mật Lâm Sơn.
Trong
Nam Hải Ký Quy Truyện, Nghĩa Tịnh pháp sư cũng có nói: "Tuy
các bộ phái phát xuất không đồng nhau, nhưng sự truyền
thừa ở Tây Vức đại cương chỉ có bốn". Theo pháp sư,
bốn hệ thống là ngoài ba đại biểu trên, thêm vào Thượng
Tọa Bộ. Nhưng Thượng Tọa Bộ tông nghĩa kiêm thông cả
Đại, Tiểu thừa, về sau lại bị canh cải, thành ra mất
bản sắc. Trên đây để Nhất Thế Hữu Bộ làm đại biểu
là cũng do duyên cớ đó. Như Đồng Diệp Bộ (Tàmrasàtìyà)
được lưu hành ở Tích Lan chính là lưu phái thuộc Thượng
tọa Bộ, nhưng sánh với tông nghĩa của căn bản Thượng
Tọa Bộ, có chỗ khác nhau.
Tóm
lại, các bộ phái tuy nhiều, nhưng tông nghĩa đại khái không
ngoài ba hệ thống trên. Cho nên, biết được tông nghĩa của
một bộ đại biểu, tức hiểu được tông nghĩa của các
bộ tùy thuộc. Tuy nhiên, thể theo dụng ý của ngài Huyền
Trang, nội dung bản chương chỉ trình bày đại nghĩa các phái
đương thời một cách giản yếu cho học giả dễ nhận thức,
chớ không phải cố tâm sáp nhập 20 bộ vào ba hệ thống.
Vì thật ra, do sự lưu truyền và phát đạt của mỗi phái
về sau, những tông nghĩa đầu tiên trong 20 bộ cũng có thay
đổi, không thể xác chỉ đâu là giới hạn.
Tiết
II: Giáo Nghĩa Của Đại Chúng Bộ
Giáo
nghĩa của Đại Chúng Bộ, đại khái có thể chia thành bốn
đoạn như sau:
1.
Hữu vi luận: Theo Đại Chúng Bộ, tất cả pháp hữu vi, gọi
là hiện tượng giới hay hữu vi giới, đều nương nơi nhân
duyên mà sinh diệt. Vì hiện tượng giới luôn luôn sinh diệt,
nên các pháp đời quá khứ không có thật thể, bởi nó chẳng
còn tồn tại. Các pháp đời vị lai cũng không có thật thể,
bởi nó hãy chưa sinh. Duy các pháp trong một sát na của đời
hiện tại là có thật thể, bởi nó đang lưu tồn. Đây là
chủ thuyết "Quá vị vô thể, hiện tại hữu thể" của bản
bộ. Đứng về phương diện triết học, chủ thuyết này gọi
là Phê phán thật tại luận. Quan niệm về hữu vi pháp của
Đại Chúng Bộ, mục đích để phá trừ tâm chấp có, tuy
chưa được hoàn mỹ, nhưng cũng gần với thuyết "Ngã pháp
câu không" của Đại thừa.
2.
Vô vi luận: Tương đối với pháp hữu vi, Đại Chúng Bộ
lập ra chín pháp vô vi. Chín pháp ấy là: Trạch diệt, Phi
trạch diệt, Hư Không, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ,
Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Duyên khởi
chi tánh, Thánh đạo chi tánh.
Trạch
diệt vô vi là lý tánh niết bàn nương vào sức tuyển trạch
của trí huệ, lìa sự ràng buộc của phiền não mà chứng
được Phi trạch diệt vô vi là chân tánh bản lai vắng lặng,
không cần sức lựa chọn của trí huệ mới hiển ngộ. Hư
không vô vi là chỉ cho hư không của lý tánh, không chướng
ngại các pháp và không bị các pháp làm chướng ngại. Không
vô biên vô vi là cảnh giới trống không do hành giả chán
thô chất của sắc tượng, tu không quán mà chứng được.
Thức vô biên vô vi là cảnh giới lặng lẽ không ngằn mé,
chỉ có sự biến duyên của tâm thức. Vô sở hữu vô vi là
cảnh giới trống lặng bình đẳng, do hành giả chán vô biên
thức tu vô ngã quán được thân chứng. Phi phi tưởng vô vi
là định cảnh thoát ly trạng thái có, không, chỉ còn tâm
tưởng vi tế. Bốn định cảnh thuộc vô sắc giới trên đây,
tuy gọi là vô vi, vô sắc, nhưng thật ra còn có sắc chất
vi tế gọi là thức tâm (Hrdayavastu). Vả lại Đại Chúng Bộ
không cho bốn định cảnh này là cứu cánh, mà chỉ cho là
cảnh sở y tạm trong thời kỳ gia hạnh, do nhân tu mà cảm
thành bốn không báo sai biệt. Duyên khởi chi tánh vô vi là
lý pháp của sự sống chết xoay vần. Đại Chúng Bộ cho rằng
mười hai chi duyên khởi tuy là pháp hữu vi, nhưng thứ lớp
tương sinh trước sau của nó không thay đổi. Vì lý pháp duyên
khởi này nhất định và tương tục không ngừng, nên họ
liệt vào vô vi pháp. Thánh đạo chi tánh vô vi là lý pháp
lìa nhiễm chứng diệt của bát thánh đạo. Do mỗi chi trong
bát thánh đạo đều có công năng làm cho hành giả lìa sự
ô nhiễm, chứng vào thể vắng lặng, nên Đại Chúng Bộ liệt
lý pháp này vào vô vi pháp.
Trong
chín pháp trên đây, điểm trọng yếu nhất là Trạch diệt
vô vi, vì trừ phiền não chứng niết bàn, là mục đích của
người tu đạo giải thoát. Xét lại, quan niệm vô vi của
Đại Chúng Bộ, không phải chỉ có tính cách tịch tĩnh, mà
gồm cả hoạt động, như Duyên khởi chi tánh chẳng hạn.
Vô vi của họ, không phải phủ nhận hiện tượng của các
pháp, mà là phủ nhận tâm niệm phiền não chấp trước trên
các pháp.
3.
Tâm tánh bản tịnh luận: Đại Chúng Bộ chủ trương tâm
tánh bản lai thanh tịnh, xa lìa tất cả phiền não mê vọng.
Duyên vì khách trần phiền não bên ngoài làm ô nhiễm, nên
tâm tánh trở thành bất tịnh. Đây là thuyết "Tâm tánh bản
tịnh, khách trần ô nhiễm" của Đại Chúng Bộ.
Vì
tâm tánh thì bản tịnh, khách trần là phiền não, tâm và
phiền não đều có từ vô thủy, khách trần thường đeo đuổi
theo tâm, nên gọi là tùy phiền não. Bởi có tùy phiền não
nên tâm bị ô nhiễm, tạo ra nghiệp, khiến cho chúng sinh mãi
xoay vần trong nẻo khổ. Nếu nương vào sự tu hành để gột
rửa phiền não, thì tâm trở nên trong sạch, hiển hiện được
tịnh tánh sẵn có từ xưa. Tâm là chủ, phiền não là khách,
hai thứ đều đồng thời; tâm tánh thì vô thủy vô chung,
phiền não thì vô thủy hữu chung. Lập luận này tương tợ
thuyết "Quan hệ giữa tự tánh và thần ngã" của Số luận,
nhưng về nghĩa sinh diệt thì có phần khác hơn.
4.
Niết bàn Phật thân luận: Quan niệm về niết bàn của Đại
Chúng Bộ, không thấy ghi chép rõ ràng. Nhưng về Phật thân,
Đại Chúng Bộ cho rằng đức Thích Tôn sinh ở Ấn Độ, giáo
hóa nhân gian, là hóa thân chớ không phải thật thân. Thật
thân của Phật nương vào nhân hạnh nhiều kiếp mà thành,
đối với không gian thì khắp tất cả chỗ, đối với thời
gian thì thọ lượng vô vùng. Oai lực của Phật cũng không
biên tế, gần gũi giáo hóa chúng sinh mà không khởi phiền
não, sự ứng hiện và nhập diệt đều được tùy duyên tự
tại.
Đối
với Đại Chúng Bộ, Phật thân là vô lậu thân, là siêu việt
và thường tồn tại. Do đó, khi Phật chuyển pháp luân, trong
một âm thanh có thể nói tất cả pháp, trong một sát na có
thể hiểu biết hết mọi việc. Phật thường ở trong định,
không có thụy miên, chúng sinh hỏi gì, Ngài đều đáp ngay
không cần phải suy nghĩ.
Trên
đây là khái lược yếu nghĩa của Đại Chúng Bộ. Hữu vi
luận của bộ này, rất gần với không quán của Ma Ha Bát
Nhã. Vô vi luận có thể làm tiền khu cho thuyết Chân như duyên
khởi của Đại thừa. Trong Tâm tánh bản tịnh luận, thuyết
phiền não vô thủy hữu chung rất giống với Chân như duyên
khởi luận, và cũng là nguyên nhân để dẫn dụ đến tư
tưởng "Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh", của Đại
thừa. Niết bàn quan của Đại Chúng Bộ tuy không thấy ghi
chép, nhưng chúng ta có thể khái luận rằng Phật thân và
niết bàn của họ vẫn không xa nhau. Vì thế, giáo nghĩa của
bộ này tuy là Tiểu thừa, mà có những tư tưởng rất gần
với Đại thừa. Cho nên có thể nói, giáo nghĩa Đại thừa
là từ chỗ phát triển dần dần ở giáo nghĩa của Đại
Chúng Bộ.
Tiết
III: Giáo Nghĩa Của Hữu Bộ
Nhất
Thế Hữu Bộ phát xuất từ Thượng Tọa Bộ. Giáo nghĩa của
Thượng tọa Bộ thuộc về Nguyên Thủy Phật giáo, gồm cả
đạo lý Đại, Tiểu thừa, nhưng Đại thừa còn ở trong vòng
ẩn mật. Giáo nghĩa của Hữu Bộ lại nương vào sự tiến
triển của Nguyên thủy Phật giáo. Vì vậy, khi nói về bộ
này, ta có thể suy biết được nội dung của Thượng Tọa
Bộ và các chi phái cùng một hệ thống Lập thuyết của Hữu
Bộ được khái quát theo bốn đoạn như sau:
A.
Pháp Tạng Y Cứ: Như trên đã nói. Nhất Thế Hữu Bộ do tôn
giả Ca Chiên Diên Ni Tử khai sáng, lấy Luận tạng làm bản
vị. tôn giả chế tác ra A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận (Abhidharma
jnànaprasthàna sàstra) gồm 20 quyển làm nền tảng cho Hữu
bộ. Ngoài Phát Trí Luận ra, còn sáu bộ khác được gọi
Lục túc luận, cũng là pháp tạng y cứ của Hữu Bộ. Sáu
bộ luận ấy là:
1.
A Tỳ Đạt Ma Tập Dị Môn Túc Luận (Abhidharma Sanjitiaparyàpàdá
Sàstra) 20 quyển, tương truyền do Ngài Xá Lỵ Phất sáng tác
trong khi Phật còn tại thế.
2.
A Tỳ Đạt Ma Pháp Uẩn Túc Luận (Abhidharma dhamaskandhapàda
Sàstra) 12 quyển, do Ngài Xá Lỵ Phất tạo; theo bản Hán dịch
thì do Ngài Mục Kiền Liên.
3.
A Tỳ Đạt Ma Thi Thiết Túc Luận (Abhidarma prajnàtipàda Sàstra)
gồm 18.000 bài tụng, do Ngài Mục Kiền Liên tạo; theo bản
Hán dịch thì do Ngài Đại Ca Chiên Diên.
4.
A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Túc Luận (Abhidarma vijnànakàyapàda
Sàstra) 16 quyển, do Ngài Đề Bà Thiết Ma (Devasarman - Thiên
Tịch, Thiên Hộ) sáng tác khoảng sau Phật diệt độ 100 năm.
5.
A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc Luận (Abhidarma prakaranapàda Sàstra)
18 quyển, do ngài Thế Hữu sáng tác phần đầu, Kê Tân La
viết phần cuối.
6.
A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận (Abhidharma dhàtukàyapàda
Sàstra) 3 quyển, do ngài Phú Lâu Na tạo; theo Hán dịch thì
do ngài Xá Lỵ Phất. (Trên đây, phần ghi chú tác giả là
y theo thuyết của ngài Xứng Hữu, trong Câu Xá Thích).
Sáu
bộ trên, về giáo lý, chỉ là những phần tử của Phát Trí
Luận nên gọi là Lục Túc Luận. Còn Phát Trí Luận gọi là
Thân luận. Đây là y theo nghĩa bản và mạt. Về sau, các bậc
học giả của Hữu Bộ lại giải thích giáo nghĩa của Phát
Trí Luận, và biên tập lại thành một bộ gọi là A Tỳ Đạt
Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (Abhidharmamahàvibhàsà Sàstra) gồm 200
quyển. Trong đó có nhiều đoạn dẫn chứng từ Lục Túc Luận.
Ngài
Ca Chiên Diên Ni Tử lấy Luận tạng làm bản vị, bởi có
hai lý do. Một là để đối kháng với tân thuyết của Đại
Chúng Bộ, phương diện khác là để đả phá hai học phái
Thắng luận và Số luận của ngoại đạo, đang phục hưng
lúc đương thời thường hay bài xích Phật giáo. Vì mục đích
đó, ngài chủ trương môn lý luận của Phật giáo cần phải
có lập trường cho thật vững chắc để quyết thắng. Lại,
trong khi tranh biện, ngài thường lấy giáo nghĩa của Thắng
luận và Số luận để dẫn chứng, nên nội dung của Hữu
Bộ có hình tích ảnh hưởng từ Thắng luận, cũng như giáo
nghĩa Đại Chúng Bộ chịu ảnh hưởng của Số luận này.
B.
Chúng Sinh Và Thế Giới: Theo Nguyên thủy Phật giáo, thì năm
uẩn là những yếu tố để thành lập thế giới. Tất cả
chánh báo và y báo thế gian, không ngoài hai điểm sắc, tâm
trong năm uẩn. Nhưng Hữu Bộ vì chịu ảnh hưởng sự phân
loại vạn hữu của phái Thắng luận, nên đem chia tất cả
sự vật thành năm vị: sắc, tâm, tâm sở, tâm bất tương
ưng hành và vô vi. Năm ngôi vị này gồm có 75 pháp như sau:
1.
Sắc pháp: Sắc pháp có 11 thứ, là năm căn, năm cảnh và vô
biểu sắc. Năm căn là: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân. Năm cảnh
là: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Vô biểu sắc (Avijnaptirùpa)
là những tác động của thân, khẩu, phát sinh từ tâm nghiệp
lành dữ của chúng sinh.
2.
Tâm pháp: Tâm pháp chỉ có một thứ, gọi là Tâm vương. Tâm
vương đây là chỉ cho những công dụng của tinh thần, như
cảm giác, tri giác, tưởng tượng. Nếu đem tế phân thì công
dụng tinh thần này không ngoài sáu thức.
3.
Tâm sở pháp: Tâm sở pháp gồm có 46 thứ như: Mười đại
địa pháp: thọ, tưởng, tư, xúc, dục, huệ, niệm, tác ý,
thắng giải, tam ma địa. Mười đại thiện pháp: tín, cần,
hành xả, tâm, quý, vô tham, vô sân, bất hại, khinh an, bất
phóng dật, giải đải, bất tín, hôn trầm, điệu cử. Hai
đại bất thiện pháp: vô tâm, vô quý. Mười tiểu phiền
não địa pháp: phẩn, phú, xan, tật, não, hại, hận, siểm,
cuống, kiêu. Tám bất định địa pháp: hối, miên, tầm, từ,
tham, sân, mạn, nghi.
4.
Tâm bất tương ưng hành pháp: Ngôi vị này có 14 thứ: đắc,
phi đắc, chúng đồng phận, vô tưởng quả, vô tưởng định,
diệt tận định, mạng căn, sinh, trụ, dị, diệt, danh thân,
cú thân, văn thân.
5.
Vô vi pháp: Vô vi pháp có ba thứ: trạch diệt vô vi, phi trạch
diệt vô vi, hư không vô vi.
Bảy
mươi lăm pháp thuộc năm ngôi vị trên đây là đứng về
phương diện khách quan để phân loại vũ trụ vạn hữu. Còn
đứng về phương diện chủ quan thì có ba khoa là: năm uẩn,
mười hai xứ, mười tám giới. Ba khoa này không ngoài ba phần:
Căn, cảnh, thức hằng làm nhân duyên cho nhau mà sinh ra các
pháp, và mọi tác dụng của tinh thần.
Hữu
Bộ cho rằng tất cả pháp, nương vào thời gian thì phải
trải qua bốn trạng thái sanh, trụ, dị, diệt; nương vào
không gian phải có sự, lý, hợp, biến hóa. Hiện tượng các
pháp tuy sanh diệt biến hóa, nhưng thể tánh của nó vẫn thường
tồn tại trong ba đời. Ví như các làn sóng tuy sanh diệt biến
hóa, nhưng thể tánh của nó là nước vẫn không thay đổi.
Tác dụng của thể tánh hằng hữu này, lúc chưa phát khởi
gọi là vị lai, lúc đang diễn ra gọi là hiện tại và lúc
đã qua rồi gọi là quá khứ. Đây là thuyết "Tam thế thật
hữu, pháp thể hằng hữu" của Hữu Bộ. Đứng về phương
diện triết học, thuyết này gọi là Đa Nguyên thật Tại
Luận.
Hữu
Bộ tuy chia chẻ vạn hữu có phần tinh tế hơn Thượng Tọa
Bộ, nhưng cũng không ngoài hai điểm: sắc và tâm; hay nói
cách khác là chúng sinh (tâm) và thế giới (sắc). Theo Hữu
Bộ, chúng sinh nương nơi trần cảnh mà khởi phiền não; nếu
quán biết các pháp đều do nhân duyên hòa hợp, sinh diệt
trong sát na, thì tâm chấp trước không còn, ngã tướng phải
tiêu tan. Môn quán này tên: Tích sắc nhập không gọi tắt
là Tích không quán. Vì thế, tông nghĩa của Hữu Bộ gọi
là Ngã Không Pháp Hữu Tông.
C.
Quan Niệm Tu Hành: Hữu Bộ quan niệm rằng cuộc đời nhiều
khổ, mục đích của người tu là cầu giải thoát sự khổ
ấy, để đạt cảnh giới niết bàn an vui. Muốn được như
thế, phải biết đời là khổ, phải trừ phiền não là cái
khổ nhân, phải nương nơi đạo pháp đạt đến niết bàn
mà tu, và cuối cùng sẽ chứng vào cảnh niết bàn an lạc.
Quan niệm tri, đoạn, tu, chứng này không ngoài đạo lý Tứ
thánh đế. Nếu giản ước lại, phương pháp tu hành của
Hữu Bộ, theo thứ lớp chia thành ba bậc:
1.
Kiến đạo (Darsana màrga): Trước tiên, dùng sức lựa chọn
của trí huệ, biết rõ lý Tứ đế, đoạn hết phần kiến
hoặc.
2.
Tu đạo (Bhàvana màrga): Tiến thêm một bậc, đem huệ lực
để tu tập theo lý Tứ đế và Tam thập thất giác phần.
3.
Vô học đạo (Asàiksa màrga): Sau cùng, tất cả phiền não
đều tiêu tan, chứng vào thể tánh niết bàn, không còn chi
phải học nữa.
Lại,
nương vào căn tánh của người tu, Hữu Bộ chia ra ba hạng
thượng, trung, hạ, và sở chứng của ba hạng này được
gọi là tam thừa. Hạ căn thuộc về Thanh văn thừa; hạng
này nương vào lời dạy của Phật, quán lý Tứ đế mà tu
hành, chứng được quả A la hán. Trung căn thuộc Độc giác
thừa: hạng này quán mười hai nhân duyên mà tự tỏ ngộ,
chứng quả Bích Chi Phật (Pratyeka Buddha). Đây cũng gọi là
Duyên giác thừa. Thượng căn thuộc về Bồ tát thừa, hạng
này y theo Lục độ tu tập trong nhiều kiếp, sau cùng đầy
đủ phần tự lợi lợi tha, chứng quả Vô thượng chánh giác.
D.
Niết Bàn Và Phật Thân: Khi đức Như Lai còn tại thế, Phật
thân chứng niết bàn, sắc thân hiện tồn tại, nên không
có sự luận nghị về niết bàn và Phật thân. Nhưng sau khi
đức Thế Tôn diệt độ, vấn đề đó lần lần trở thành
trọng đại là mục tiêu sinh ra nhiều kiến giải không giống
nhau.
Đối
với vấn đề Niết bàn và Phật thân, kiến giải của Hữu
Bộ cũng như Nguyên thủy Phật giáo. Về Niết bàn, bộ này
cũng chia ra Hữu dư Niết bàn. Còn về Phật thân, thì Phật
là thân người hiện thật. Thân thể của Phật vì liên quan
đến nghiệp nhân của đời trước nên thọ mạng có hạn
định. Khi nghiệp quả đã dứt, thân xác tiêu tan, Như Lai
vào Vô dư niết bàn, trở về nơi tịch tĩnh. Tự thân của
Như Lai không làm điều gì ác, nhưng vì còn thể chất nên
còn là sở y của suy, già, bệnh, khổ. Và, với Hữu Bộ,
Phật cũng có tâm vô ký, có sự ngủ nghỉ, không phải thường
ở trong định, trong một sát na không thể suốt hết mọi
việc, trong một âm thanh không thể nói tất cả pháp. Về
nhân hạnh của Phật trong đời quá khứ, mục đích cốt yếu
là cứu độ loài hữu tình chớ không mấy chú trọng ở sự
đoạn hoặc. Nhưng khi tiền thân của Như Lai thọ sinh trong
tam giới tu hạnh Bồ tát, phiền não do đó dần dần bị chiết
phục, đến khi nhân hạnh viên mãn, nghiệp hoặc tiêu tan,
được trở thành bậc Đại giác. Đây là thuyết "Phục hoặc
nhân hành" của Hữu Bộ.
Như
trên đã lược thuật, đạo lý của Hữu Bộ phưởng phất
với Thượng Tọa Bộ, với Nguyên thủy Phật giáo. Nhưng đặc
biệt là giáo nghĩa của bộ này, về sau trở thành những
tài liệu quan trọng cho môn Duy thức học trong đạo Phật.
Tiết
IV: Giáo Nghĩa Của Độc Tử Bộ
1.
Pháp tạng y cứ: Tử Nhất Thế Hữu Bộ, trước tiên phát
sinh ra Độc Tử Hữu Bộ. Nhưng đặc biệt, giáo nghĩa của
bộ này lại không thuộc vào Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa
Bộ, mà tự nó có một hệ thống giáo nghĩa riêng.
Nguyên
lúc đức Như Lai còn tại thế, có một người ngoại đạo
tên là Độc Tử, xuất gia trong Phật pháp, quy y với tôn giả
La Hầu La, rồi từ đó đời này đến đời khác thầy trò
truyền thọ cho nhau. Sau đức Thế Tôn diệt độ 200 năm, những
học đồ thuộc hệ thống của ngài Độc Tử mới biệt lập
thành một phái lấy tên là Độc Tử Bộ. Luận tạng y cứ
của phái này là bộ Pháp tướng A Tỳ Đàm. Bộ luận này
nguyên là Cửu Phần Tỳ Đàm của Phật nói, tôn giả Xá Lỵ
Phất căn cứ theo đó mà giải thích rộng thêm, rồi truyền
lại cho ngài La Hầu La. Tôn giả La Hầu La lúc đương thời
hoằng dương thuyết này, và truyền lại cho ngài Độc Tử.
Thuyết
Bổ Đặc Già Là (Pudgala): Giáo nghĩa đặc thù của Độc Tử
Bộ là Thuyết Bổ Đặc Già La. Danh từ này, Trung Hoa dịch
là "Ngã"; nhưng Ngã của Độc Tử Bộ không đồng với Ngã
của ngoại đạo, cũng không thuộc về Ngã của ngũ uẩn.
Ngã của ngoại đạo là nguyên chất của vạn hữu sinh hoạt
gọi là Linh hồn hay Thần ngã; Phật giáo cho đó là lối chấp
thường của Nhất thần giáo. Ngã của ngũ uẩn là vọng nghiệp
của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, biến hóa sinh diệt vô
thường. Ngã của Độc Tử Bộ thì khác; phái này cho rằng
Bổ Đặc Già La không phải đương thể của ngũ uẩn, cũng
không phải lìa ngũ uẩn mà có. Như con người khi tạo nghiệp
nhân lành dữ, sẽ phải cảm thọ quả báo về sau, Bổ Đặc
Già La là mối liên quan từ đời này cho đến nhiều đời
khác. Nếu không có nó duy trì, thì ngũ uẩn cũng tiêu diệt
không còn sự chuyển sinh ở kiếp sau. Chẳng hạn như Phật
là bậc Nhất thế trí biết tất cả mọi pháp, nếu không
có Bổ Đặc Già La thì cái biết thuộc về tâm, tâm sở sinh
diệt. Nếu là tâm, tâm sở sanh diệt thì khi biết tâm không
biết sắc, khi biết sắc không biết tâm. Nhưng vì có Ngã
thường trụ bất biến, nên đức Thế Tôn biết khắp cả
sắc và tâm một cách tự tại. Cho nên từ địa vị phàm
phu cho đến khi thành Phật, Bổ Đặc Già La là một thật
thể tồn tại quán thông ba đời, duy trì nghiệp nhân lành
dữ, và biết khắp tất cả.
3.
Ba tụ và năm tạng: Độc Tử Bộ lại lập ra ba tụ và năm
tạng. Ba tụ là Hữu vi tụ, Vô vi tụ và Phi nhị tụ. "Tụ"
có ý nghĩa: phân loại, bộ phận. Hữu vi tụ là phân loại
thuộc các pháp hữu vi. Vô vi tụ là bộ phận về vô vi pháp.
Phi nhị tụ là chỉ cho Bổ Đặc Già La, vì thật thể này
không thuộc về hữu vi pháp của ngũ uẩn, cũng không thuộc
về vô vi pháp của niết bàn.
Từ
ba tụ, Độc Tử Bộ lại chia thành năm tạng. Năm tạng ấy
là: Quá khứ tạng, Hiện tại tạng, Vị lại tạng, Vô vi
tạng, và Bất khả thuyết tạng. Ba tạng đầu gọi là Tam
thế tạng, do sự tế phân từ Hữu vi tụ. Vô vi tạng tức
là Vô vi tụ. Còn Bất khả thuyết tạng là biệt danh của
Phi nhị tụ, tức chỉ cho Bổ Đặc Già La.
Kết
luận lại, giáo nghĩa của Độc Tử Bộ rất giản ước,
thâu gồm muôn pháp trong ba tụ. Về đường lối tu hành, thì
bộ này chủ trương phá sự chấp trước trên hữu vi, vô
vi, mà xu hướng về Phi nhị tụ, làm hiển lộ Bất khả thuyết
tạng, tức Bổ Đặc Già La. Riêng về thuyết Bổ Đặc Già
La, có thể gọi là giáo nghĩa đặc thù của phái Độc Tử,
và làm cơ sở cho lập thuyết Như Lai tạng của Đại thừa
Phật giáo về sau.