Thiên
Thứ Nhất
Chương
Nhất
Xã
Hội Ấn Độ Trước Khi Phật Ra Đời
Tiết
Mục:
-
I. Nguồn
gốc dân tộc Ấn Độ
-
II. Bốn
thứ Phệ Đà
-
III. Sự
diễn biến của Phệ Đà
-
IV. Bốn
giai cấp của xã hội Ấn Độ.
Kinh sách
tham khảo: Nhơn Vương Kinh Sớ, Ấn Độ Phật giáo, Phật học
Đại cương, Ấn Độ Phật giáo Sử lược.
Đề
yếu: Tiết thứ nhứt, lược thuật cuộc di cư của chủng
tộc Nhã Lỵ An, sau thành dân Ấn Độ, trải qua năm giai đoạn:
Từ Trung Á dời qua Đông Nam Á, từ Đông Nam Á vào Ca Nhĩ
Bố, từ Ca Nhĩ Bố đến Ấn Độ Hà, từ Ấn Độ Hà xuống
lưu vực sông Hằng, và từ Hằng hà về Nam Ấn. Tiết thứ
hai, nói về lý tưởng tôn giáo của dân tộc Ấn thời xưa,
được thể hiện bằng bốn pho kinh: Lê Câu, Dạ Du, Sa Ma,
và A Thát Bà Phệ Đà. Tiết thứ ba, kể lại tình trạng biến
đổi về tư tưởng tôn giáo của dân tộc Ấn: từ Đa thần
qua Nhất thần, từ Nhất thần lần sang khu vực Triết học
theo ba thời đại: Phệ đà thiên thơ, Phạm thơ và Áo nghĩa
thơ. Ấn độ giáo hiện thời cũng thừa kế tư tưởng của
hệ thống này. Tiết thứ tư, nói về sự sai biệt của bốn
giai cấp: Bà La Môn, Sát đế lỵ, Phệ xá, Thủ đà la. Sự
sai biệt này có liên quan đến lý tưởng tôn giáo, và dẫn
khởi hai tự trào: hệ thống Phệ Đà và hệ thống phản
Phệ Đà.
Hai
hệ thống này đã sản xuất nhiều giáo phái ở Ấn Độ.
Tiết
I: Nguồn Gốc Dân Tộc Ấn Độ
Một
tôn giáo không luận là cao siêu hay thâm thúy đến đâu, cũng
vẫn là sản phẩm của xã hội. Là sản phẫm của xã hội,
tất nhiên tôn giáo ảnh hưởng đến xã hội và đồng thời
cũng chịu ảnh hưởng đến xã hội. Đó là điều không thể
tránh khỏi.
Phật
giáo có một lịch sử trên hai ngàn năm, đông tây truyền
bá đến vài mươi nước. Ngoài năm xứ của Ấn Độ, Phật
giáo đã gieo rắc rất nhiều ảnh hưởng ở các nơi. Trong
sự gieo rắc ấy, qua mỗi thời đại, Phật giáo lại tùy
theo tình trạng xã hội của mỗi địa phương mà có ít nhiều
biến thái về bản sắc. Vì thế, muốn nói đến điểm xuất
phát của đạo Phật, không thể đi sâu vào bối cảnh lịch
sử của Ấn Độ đương thời.
Trước
đây khoảng trên bốn ngàn năm, dân tộc xưa nhất của Ấn
Độ là giống người Nhã Lỵ An (Aryan). Chủng tộc này lấy
nghề du mục để sinh sống. Trước tiên họ cư trụ ở miền
trung nguyên Á Tế Á, rồi vượt qua dãy núi Tín Độ Khó tư
(Hindukush), dời xuống vùng Đông Nam Á Tế Á. Từ nơi đây,
họ chia làm hai bộ, một bộ di chuyển về phía Tây nam vào
xứ Ba Tư (Iran); một bộ tiến thẳng về phía Đông Nam vào
xứ Ca Nhĩ Bố (Kabul) và lần xâm nhập miền Tây bắc Ấn
Độ, đánh đuổi người bản xứ, chiếm lãnh vùng Bằng Xà
Bạch (Panjab Ngũ hà địa phương) thuộc thượng lưu Ấn Độ
hà (Indus). Sau đó, họ lại đi dọc theo dãy núi Tuyến (Hymalaya),
vào ở tại lưu vực sông Hằng (Ganga, Gange). Cuộc di cư sau
này, thuộc vào khoảng 1.000 năm trước kỷ nguyên. Trong mười
vạn bài tụng của bộ Đại sử thi Ma Ha Bà La Đa (Mahàbhàrata),
có nói rõ những chiến sự và tình trạng giữa thời gian
đó. Còn cuộc di chuyển tiếp tục về nam Ấn, ước vào khoảng
500 năm trước kỷ nguyên. Trong khoảng thời gian nầy, để
ghi lại sự giao tranh giữa thổ nhơn và chủng tộc Nhã Lỵ
An, người Ấn Độ đã mượn cảnh động tác của cá nhơn
mà làm ra bộ La Ma Diễn Noa (Ramayana), gồm hai vạn bốn ngàn
bài tụng.
Tiết
II: Bốn Thứ Phệ Đà
Giữa
thời kỳ chiếm lãnh Ấn Độ hà, thuộc miền Tây bắc Ấn,
giống người Nhã Lỵ An được gọi là dân tộc Nhã Lỵ An
Ấn Độ. Gặp nơi khí hậu ấm áp, thời tiết điều hòa,
vật sản phong phú, dân tộc ấy hưởng một đời sống an
nhàn, vui vẻ. Vì thế, đối với bầu trời man mác, với hiện
tượng nhựt, nguyệt, tinh tú, non, sông, gió, mây, nước, lửa,
họ đều có một ý niệm tín thành sùng bái. Đó là những
lý do người ta đã sáng tác ra những bản Thánh ca và nghi
thức cúng tế Thần linh, để cầu cho đất nước gia đình
được tiêu tai, thêm phước. Nghi thức đã nhiều thì không
thể ai cũng thông thạo cả, phải có người chủ chốt việc
tế tự. Nhân đó mới sản xuất một hạng Tăng lữ, về
sau thành giai cấp Bà La Môn (Brahman).
Bà
La Môn, Trung Hoa dịch là Tịnh hạnh hoặc Phạm hạnh, chỉ
cho phái tu hạnh trong sạch. Kinh điển của phái này gọi là
Phệ Đà (Veda), Trung Hoa dịch là Minh luận hoặc Trí luận,
có nghĩa: Kinh sách thuyết minh sự thật và phát sinh trí huệ.
Kinh điển của đạo Bà La Môn truyền lại có 4 thứ:
1.
Lê Câu Phệ Đà (Rig-Veda): Trước tiên, dân tộc Ấn Độ chỉ
sùng bái ca ngợi những hiện tượng của tự nhiên vật. Lần
lần họ tin tưởng mỗi hiện tượng đó đều có tính cách
đạo đức, có quyền thưởng phạt thế gian. Đồng thời
lại do sự hàm dưỡng của tư tưởng triết họ, họ dung
hợp lại, chế tác ra bộ kinh đầu tiên là Lê Câu Phệ Đà.
Lê Câu Phệ Đà, Trung Hoa dịch là Tán Tụng Minh Luận hoặc
Thọ Minh. Nội dung của kinh này gồm những bài ca tán có tính
cách thần thoại, nhưng cũng bao hàm nhiều tư tưởng về vũ
trụ và nhân sinh quan. Trong ấy lại có biên tập về thuật
dưỡng sinh, dạy những phương pháp làm cho con người dung
sắc thường tươi trẻ, mạng sống được lâu dài. Tư tưởng
của Lê Câu Phệ Đà là tư tưởng mở đầu cho nền văn minh
và triết học Ấn Độ và cũng là cơ sở để khai triển
cho những trào lưu tư tưởng hậu lai.
2.
Dạ Du Phệ Đà (Yajur Veda): Từ sự ca ngợi tự nhiên vật
rồi tin tưởng thần linh, người ta lại bày ra những nghi
thức thờ phụng cúng tế. Đây là nguyên nhân sản xuất kinh
Dạ Du Phệ Đà. Dạ Du Phệ Đà, Trung Hoa dịch là Tế Tự
Minh Luận, gọi tắt là Tự Minh. Nội dung của kinh điển này,
phần nhiều đều trích dẫn trong Lê Câu Phệ Đà, lấy cơ
bản của sự tán tụng mà chế tác. Trong ấy, ngoài việc
biên tập về nghi thức cúng tế, lại có ghi chép những bài
chú văn để tế tự trong các mùa. Xét qua từ Lê Câu Phệ
Đà, cho đến Da Du Phệ Đà, người ta nhận thấy tôn giáo
thời ấy tuy là đa thuần mà kiêm sắc thái nhất thần, đôi
khi lại xen tạp những tư tưởng về triết học.
3.
Sa Ma Phệ Đà (Sàma Veda): Để cho sự tán ca được tiện lợi,
và bổ túc phần nghi lễ thêm hoàn bị, người ta lại sáng
chế kinh Sa Ma Phệ Đà. Kinh điển này cũng trích dẫn một
phần các tụng văn trong Lê Câu Phệ Đà mà làm ra. Sa Ma Phệ
Đà, Trung Hoa dịch là Ca Vịnh Minh Luận, cũng gọi là Bình
Minh. Trong đó, ngoài sự ghi chép về nghi lể, âm nhạc, luật
lệ xử đoán, lại có giảng dạy về môn bốc toán cho đến
binh pháp đồ trận. Căn cứ theo ba pho kinh Phệ Đà trên đây,
mỗi khi cúng thần, người ta đều dùng những vị tế tăng
riêng biệt.
4.
A Thát Bà Phệ Đà (Atharva Veda): Về sau, có kẻ lại tập hợp
những bài chú thuật cổ truyền, được người đời tin tưởng,
viết ra kinh A Thát Bà Phệ Đà. A Thát Bà Phệ Đà, Trung Hoa
dịch là Nhương Tai Minh Luận, cũng gọi là Thuật Minh. Trong
ấy, người ta ghi chép những bài chú để cầu phước, tiêu
tai. Ngoài ra, kinh điển này cũng có dạy về y phương và nhiều
dị thuật.
Bốn
thứ kinh trên đây, được gọi chung là Tứ Phệ Đà thánh
điển. Đó là một hệ thống tư tưởng về thời xưa của
Ấn Độ.
Tiết
III: Sự Diễn Biến Của Phệ Đà
Từ
khi Tứ Phệ Đà thánh điển được thành lập, chủng tộc
Bà La Môn chiếm địa vị tối cao trong xã hội, và thành ra
một giai cấp tăng lữ. Họ không còn những hoạt động hướng
ngoại như khi trước, mà có một cuộc sống trầm tư, hướng
nội, bảo thủ những truyền thuyết tán tụng, những nghi
thức cúng tế theo xưa. Các tăng lữ lại thẩm định những
câu văn, ý nghĩa trong kinh Phệ Đà, rồi giải rộng thêm ra,
gây thành một học phong phiền tỏa và thần bí. Đồng thời
trên hình thức tôn giáo, những hành nghi cũng tăng thêm phần
bí mật. Khi giáo lý càng phiền, thì địa vị của giai cấp
Bà La Môn càng được bền vững. Do đó nền văn học, đạo
đức trong xã hội, nằm yên trong nếp cũ, dường như ở trong
trạng thái khó nổi chấn hưng.
Tuy
nhiên, cảnh đời đã vô thường, thì nguồn tư tưởng của
nhân loại cũng theo thời gian mà biến đổi. Từ khi giai cấp
tăng lữ mới thành lập, cho đến khoảng 600 năm trước kỷ
nguyên, nếu phân tích kỹ, chúng ta có thể chia nền học thuyết
của Bà La Môn giáo thành ba thời đại:
1.
Thời đại Phệ Đà thiên thơ (Veda): Thời đại này khởi
thủy từ khi bốn mươi quyển Lê Câu Phệ Đà vừa được
sáng tác, lúc dân tộc Nhã Lỵ An di cư xuống Ấn Độ hà,
vào khoảng 2500 - 1000 năm trước kỷ nguyên. Trong thời gian
này, giáo đồ Bà La Môn thiên về sự sùng bái cúng tế, hình
thức phần chánh thuộc về Đa thần giáo. Họ có ba cú thoại
(luận điệu): Phệ Đà là thiên thơ (sách của Trời) Bà La
Môn là chủng tộc cao quí nhất của nhân loại. Tế lễ là
vạn năng.
Những
tư tưởng trên, được truyền lại một thời gian lâu xa về
sau. Cho đến khi Phật giáng sinh, một số đông giáo đồ Bà
La Môn vẫn còn bảo thủ lấy quan niệm cũ. Nhưng đó là một
chủ nghĩa chuyên chế, họ không thể trói buộc mãi được
lòng người, khi tình thế đổi mới. Hơn nữa, lúc bấy giờ
giáo đồ Bà La Môn rất kiêu sa, cho nên họ không thể duy
trì một cách hữu hiệu sự tín ngưỡng của đạo mình trong
xã hội nữa.
2.
Thời đại Phạm Thơ (Brahmana - Thần học thơ): Thời đại
này vào khoảng 1000 - 800 năm trước kỷ nguyên, lúc dân tộc
Nhã Lỵ Ấn Độ di chuyển về phía Đông Nam, chiếm lãnh khu
vực đồng bằng phì nhiêu trên bờ sông Hằng, lấy nghề
canh nông làm mục tiêu. Hình thức của Phệ Đà khi xưa thiên
về Đa thần giáo, việc tế lễ rất nặng nề, phiền phức.
Đến thời gian này, dân chúng sinh ra chán những nghi thức
nghiêm cách ấy. Vì thế, trong các vị thần, người ta chọn
lấy ít vị quan trọng để làm trung tâm tín ngưỡng. Ba vị
thần phổ thông nhất bấy giờ là Phạm Thiên (Brahma), Tỳ
Nựu Noa thiên (Visnu) và Thấp Bà Thiên (Civa). Thế là đối
tượng tín ngưỡng đã bắt đầu chuyển lần từ Đa thần
giáo sang Nhất thần giáo.
Về
mặt tư tưởng, từ khi kinh điển Phệ Đà được suy diễn
rộng thêm, giáo lý Bà La Môn đượm vẻ thần bí; người
ta gọi đó là học thuyết Bà la ma noa, tức Phạm thơ. Phạm
thơ là bộ sách chú thích và thuyết minh kinh Phệ Đà. Phần
chủ yếu của sách này, đều rút những tài liệu trong Tứ
Phệ Đà thánh điển, nhưng suy diễn sâu rộng đến chỗ u
vi, hoàn toàn có tính cách thần học. Tư tưởng triết học
của Phạm thơ tiến triển theo thứ tự trong ba giai đoạn:
Giai
đoạn thứ nhứt, Phạm (Brahma) là vị thần tối cao, trước
tiên tạo ra trời đất, rồi đến Thái dương thần, Phong
thần, Hỏa thần... con người và vạn hữu. Vì thế Phạm
cũng có hiệu là Sanh chủ (Prajapati). Giai đoạn này thiên về
quan niệm sáng tạo, lấy thần Sanh chủ làm trung tâm điểm.
Giai
đoạn thứ hai, Phạm là Đại ngã (Svayambhu), là bản thể
của vũ trụ, có tính cách tuyệt đãi độc tồn. Giá trị
của Phạm đứng trên hai phương diện: Một mặt thì duy trì
cái bản chất không biến động của nó; mặt khác lại hoạt
động theo hai yếu tố là Danh (Nama) và Sắc (Rupa) để mở
mang vạn hữu. Giai đoạn này thiên về quan niệm bất biến,
lấy Đại ngã làm trung tâm điểm.
Giai
đoạn thứ ba, Phạm là Tự ngã (Atman). Phạm và Tự ngã tên
tuy khác nhau, nhưng cùng một thể. Sở dĩ có tên khác nhau
như thế, vì Tự ngã do sự suy lý của triết học, chỉ định
cho là nguồn gốc của muôn vật; còn Phạm thì do sự khảo
sát của thần học, chỉ định cho là tự tánh của muôn vật.
Tự ngã thuộc về phương diện tâm lý (linh hồn), Phạm thuộc
về phương diện vũ trụ (linh tánh). Căn cứ vào phương diện
tâm lý thì linh hồn bất diệt, khi con người chết thì Tự
ngã lìa thế thể xác mà quy thuộc về Phạm. Giai đoạn này
lấy Tự ngã làm trung tâm điễm.
3.
Thời đại Áo Nghĩa Thơ (Upanishad): Thời đại này thuộc vào
khoảng 800 - 600 trước kỷ nguyên. Từ nơi Phạm thơ, người
ta suy diễn rộng thêm, cho rằng khi hành nghi thức đã có hàm
triết lý bên trong, và nghi thức tế tự là biểu hiện cho
triết lý. Để kỷ thuật Đạo lý này, người ta sáng chế
ra sách A lan nhã ca (Aranyaka). A lan nhã ca có nghĩa là Lâm trung
thơ. Bởi người trong chủng tộc Bà la môn đến khi lớn tuổi
thì ẩn cư nơi rừng vắng, lấy sự tế tự tu hành làm thường
khoá. Những nghi thức ấy đều ghi chép trong sách này. Nhưng
nội dung của Lâm trung thơ không phải chỉ giới hạn trong
nghi thức tế tự, mà gồm có môn triết lý cao siêu.
Từ
Lâm trung thơ, người ta nghiên cứu rộng thêm, rồi sáng tác
ra bộ Ưu Ba Ni Sa Đàm, tức là Áo nghĩa thơ. Danh từ Áo nghĩa
thơ bao hàm những ý: Môn triết học trong triết học, Bí mật
ngữ, Bí mật văn và Bí mật nghĩa. Bộ phận chủ yếu của
nguồn tư tưởng này, do chủng tộc Sát đế lỵ khai sáng,
về sau dòng Bà la môn mới phụ họa suy diễn rộng thêm. Nội
dung của Áo nghĩa thơ chủ trương thuyết "Phạm, Ngã đồng
nhất", Phạm cùng Ngã đều là một bản thể của vũ trụ.
Các hiện tượng của sai biệt giới đều là huyễn pháp (Maya)
không ngoài bản thể ấy mà có. Lý tưởng giải thoát của
Áo nghĩa thơ chia làm hai phần:
Phần
thứ nhất là việc đi tìm giải thoát, nhưng giải thoát phải
tìm chính nơi mình, không phải ở bên ngoài. con người sở
dĩ bị luân hồi là do Vô minh (Avidya) che lấp, không biết
sai biệt giới là giả huyễn. Từ Vô minh sanh Ái dục (Kàma),
rồi tạo nghiệp, gây ra sự khổ trong đường sinh tử. Muốn
được giải thoát, phải có tinh thần tự giác hướng về
Trí minh ( Vidya) mà trừ cái gốc Vô minh. Hướng về Trí minh
là an trụ tâm vào bản tính trong lặng để bồi dưỡng phần
trí huệ. Khi tâm đã thuần tịnh, tự nhiên được giác ngộ,
nảy sinh trí huệ, thấy sự sống chết như chiêm bao. Phạm
và ngã thầm hợp, không còn luân hồi, chứng được Phạm
niết bàn (Brahma nirvana). Đây là phần lý thuyết.
Phần
thứ hai là phải y theo pháp thức tu trì để phát minh trực
giác trí. Pháp thức này lại có hai phương diện: một mặt
là cần giữ giới, lìa tất cả dục cảnh để thành hạnh
Xả ly (Samuyasa); mặt khác, phải trừ vọng tình, chuyên tâm
nơi ngã tướng để thành hạnh Du già (Yoga - tương ưng quán).
Cứ như thế mà tu, lần lần chân ngã sẽ toàn hiện, tức
là được giải thoát, chấm dứt luân hồi. Đây là phần
thực hành.
Tóm
lại, ba thời đại trên đây đã cho chúng ta thấy sự diễn
biến của giáo lý Phệ Đà, từ nơi thô sơ đến chỗ u vi
thần bí. Riêng về Áo nghĩa thơ, các nhà nghiên cứu triết
học Đông Tây đều tán dương, cho là một sản phẩm trí
huệ cao siêu của nhân loại. Về sau, các học giả nương
theo tư trào này mà lập ra nhiều giáo phái, như phái Số luận
thì cho Ngã là Thần ngã, Huyễn là Tự tánh, danh từ tuy khác,
nhưng lý tưởng vẫn đồng. Phật giáo cũng nương theo một
phần trọng yếu của Áo nghĩa thơ, như thuyết luân hồi,
nhưng canh tân thêm, thành ra sâu sắc và hoàn bị hơn. Ngoài
ra cũng có nhiều học giả thoát ly tư tưởng Phệ Đà, chủ
trương tự do khảo cứu, rồi lập thành phái triết học tự
nhiên. Trong chương sau, chúng ta sã thấy những học thuyết
ấy.
Tiết
IV: Bốn Giai Cấp Của Xã Hội Ấn Độ
Thuở
xưa, dân tộc Ấn Độ rất cung kính thần linh, tôn trọng
nghi thức cúng tế. Lúc đầu, họ đặt ra người Gia trưởng,
hoặc Tộc trưởng, để giữ việc tế lễ, gọi là chức
Ty tế. Dần dần, chức Ty tế này trở thành việc chuyên môn,
nên được thay thế bằng các Tăng lữ. Mặc khác, vì theo
đà tiến triển của xã hội, lại phát sinh ra bốn chức nghiệp:
Sĩ, Nông, Công, Thương. Các nghề nghiệp này dần dần trở
thành giai cấp hóa. Giai cấp Tăng lữ chủ về việc tế tự,
chiếm địa vị tối cao. Giai cấp vua chúa nắm giữ chánh
quyền, ở vào địa vị thứ hai. Nhơn dân phổ thông như hạng
nông, công, thương, thuộc về địa vị thứ ba. Còn hạng
người thổ dân của Ấn Độ, bị Nhã Lỵ An chinh phục, chuyên
theo nghề nghiệp thấp kém như ở đợ, làm mướn, là giai
cấp tiện dân, ở vào địa vị thứ tư.
Lối
phân chia giai cấp đó, mỗi ngày thêm chặt chẽ. Ban sơ, sự
phân biệt chỉ ở trong quan niệm của dân chúng mà thôi. Nhưng
khi các Tăng lữ nắm được thật quyền trong xã hội họ
liền tổ chức thành bốn giai cấp rõ rệt: Tăng lữ thuộc
giai cấp Bà la môn (Brahman), Vua chúa thuộc giai cấp Sát đế
lỵ (Ksatriya), Bình dân thuộc giai cấp Phệ Xà (Vaisya), Tiện
dân thuộc giai cấp Thủ đà la (Sùdra). Hai hạng trước là
giai cấp thống trị, hai hạng sau là giai cấp bị trị. Bốn
giai cấp này theo chế độ thể tập, cha truyền con nối, nên
giai cấp nô lệ cứ phải đời đời làm nô lệ, gây ra một
tổ chức xã hội bất công.
Giai
cấp Bà la môn lại nương vào chế độ của xã hội mà quy
định thành bốn thời kỳ của chủng tộc mình. Bốn thời
kỳ đó như sau:
1.
Phạm trí kỳ (Brahmacàrin): thời kỳ du học của buổi thiếu
niên và tráng niên. Người trong chủng tộc Bà la môn, vào
khoảng từ 7 tới 15 tuổi, thì học tập ở nhà; từ 16 tới
39 tuổi, phải xuất gia theo thầy học tập Phệ Đà thánh
điển. Đến khi học nghiệp thành tựu lại được trở về
nhà.
2.
Gia cư kỳ (Grhastha): thời kỳ sinh hoạt gia đình của buổi
trung niên. Khi đã được 40 tuổi, người Bà la môn phải trở
về nhà lập gia đình để cho dòng dõi không bị tuyệt. Thời
gian này họ theo chức nghiệp, làm trọn nhiệm vụ tế tự
của người gia trưởng.
3.
Lâm cư kỳ (Vànaprastha): thời kỳ tu dưởng của buổi mộ
niện. Lúc 50, 51 tuổi sắp lên, người Ba la môn đã làm xong
nhiệm vụ gia đình, phải lìa nhà vào nơi núi sâu rừng vắng
để tu luyện.
4.
Du hành ký (Parivràjaka): thời kỳ du hành vừa tự tu vừa hóa
đạo của buổi lão niên. Thời kỳ này không nhất định,
tùy theo tu nghiệp được vững vàng, mà sự xuất thế có
sớm hay muộn. Trong khoảng thời gian sau cùng, hàng Bà la môn
muốn cho thân tâm được tự tại giải thoát, nên nơi ăn
chốn ở không nhất định, rày đây mai đó. Cho nên người
tu ở thời kỳ này có tên là Khất sĩ (Bhiksu) hay Hành giả
(Yati).
Bốn
thời kỳ kể trên, là lý tưởng sinh hoạt của giai cấp Bà
la môn. Theo đó, nếu người nào tu hành đạt tới chỗ cứu
cánh, thì được mọi người cung kính tột bậc.
Chủng
tộc Bà la môn đã chế định ra bốn giai cấp, tự cho mình
ở địa vị tối cao. Còn ba giai cấp kia, nhất là hàng tiện
dân, lại bị xã hội khinh miệt, không được luật pháp bảo
hộ, không cho dự phần tín ngưỡng tôn giáo và tán tụng
kinh điển Phệ Đà. Thời bấy giờ ở Ấn Độ người ta
lại chế ra luật ma noa (Mànu), hỗn hợp cả chính trị lẫn
tôn giáo. Nhờ có pháp luật này, tổ chức của đạo Bà la
môn mới được hoàn thành. Bởi giáo lý của đạo ấy, là
nương vào tư tưởng của phái Phệ Đàn Đà, lấy việc duy
trì giai cấp bốn chủng tộc làm mục đích duy nhất. Sống
dưới một chế độ bất công như thế, lâu ngày dân chúng
đâm ra chán nản, hằng ước ao có một cuộc đổi mới.
Sự
phát sinh của các học thuyết như: chủ nghĩa khoái lạc, chủ
nghĩa yếm thế sau đây, phần lớn cũng bởi nguyên nhân này.
