PHỤ
BẢN:
ĐẠO
PHẬT VIỆT
Lời
Nói Đầu
Để
có một tầm nhìn thật chính xác về Đạo Phật Việt, chúng
tô xin cống hiến quí bạn đọc một vài dữ kiện lịch sử
- do các quốc sư, thiền sư, các anh hùng, liệt sĩ đã dóng
góp những công trình xây dựng quốc gia Việt được hùng
mạnh - từ trước thời Tự chủ Ngô - Dinh, Tiền Lê và Lý
- Trần về sau...
Trên
khắp mặt sinh hoạt quốc gia, hầu hết các ngành: Văn hóa,
chính trị, quân sự và luật pháp, có thể nói đều đã chịu
trực tiếp ảnh hưởng tinh chỉ TỪ BI TRÍ TUỆ BÌNH ĐẲNG
GIẢI THOÁT và TỰ CHỦ của đạo Phật. Do đó, đạo Phật
đã là những chất liệu để nuôi dưỡng cho thân cây Việt
Nam thêm xanh tốt.
Dưới
đây là bài khảo luận về sự hiện diện của đạo Phật
trên đất nước Việt Nam. Trong bài này, chúng tôi chỉ trình
bày những nét tổng quát để tất cả chúng ta cùng suy ngẫm
và để hướng đến sự sáng, đẹp của Dân tộc - Đạo
pháp ở hiện tại và tương lai.
ĐẠO
PHẬT VIỆT THẾ KỶ THỨ NHẤT
và
THỜI KỲ BẮC THUỘC (111 tr TL-541)
...
Do hoàn cảnh địa lý và lịch sử, nên về tôn giáo, chính
trị và văn hóa nước Việt Nam ta đã từ nhieừ thế kỷ
chịu ảnh hưởng xa gần của Trung Hoa. Tuy nhiên, Đạo Phật
Việt, buổi ban đầu, không do Trung Hoa mà lại từ Ấn Độ
du nhập.
Căn
cứ vào lịch sử nước nhà: Đạo Phật truyền vào Việt
Nam (khi nước ta còn gọi là Văn Lang (?) - Giao Chỉ) do hai ngã
đường bộ và thủy, giao liên giữa Ấn Độ và Trung Hoa phải
ngang qua Việt Nam.
v
Về Đường Bộ đi qua miền Trung Á (Mông Cổ, Tây Tạng, Trung
Hoa) rồi từ Trung Hoa qua Cao Ly và Nhật Bản.
v
Về Đường Thủy thì qua ngả Sri Lanka, Java thuộc Indonésia
và Trung Hoa.
Nước
ta ở vào giữa hai con đường ấy, và do sự ghé lại của
những thương nhân và tăng sĩ Ấn Độ, đã mang hạt giống
Bồ Đề - Đạo Phật - trồng trên đất Giao Chỉ[1]
Rất
có thể trước kỷ nguyên Tây lịch người Việt đã có biết
đến đạo Phật rồi.
Sau
năm 111 trước Tây lịch, khi nước Việt đã bị người
Hán đô hộ, thì đạo Phật - tôn giáo của Tình Thương -
cũng đã từ Ấn Độ truyền vào làm tươi mát những tâm
hồn khô héo của người dân mất nước, nên tổ tiên ta đã
tôn thờ đức Phật, biết thâu thái những tinh hoa của Đạo
là Lẽ Sống để giữ lấy mình mãi còn là mình.
Khi
người phương Bắc thôn tính nước Nam Việt, chúng liền sáp
nhập nước ta vào lãnh thổ Trung Quốc, lập thành quận huyện
với tên gọi lúc đầu là Giao Chỉ, sau đổi: Giao Châu, đặt
dưới sự cai trị của các triều đại: Hán - Ngô - Tấn -
Tống - Tề - Lương - Tùy - Đường từ năm 111 tr TL đến năm
939 TL, qua ba thời kỳ, cộng 1031 năm, nền văn hóa Văn Lang
- Âu Lạc có cơ nguy bị Hán tộc đồng hóa.cũng trên một
nghìn năm ấy, ông cha ta phải ẩn nhẫn, chịu đựng gian khổ,
đã biết áp dụng giáo lý giác ngộ giải thoát và tự chủ
của đạo Phật trogn thực tế cuộc sống hằng ngày..., và
lấy đó làm phương châm "cứu nguy" cho đất nước dân tộc
ngày mai.
*
Vào
thế kỷ thứ III tr TL, thánh quân ASOKA (268 - 232 tr TL), nước
Magadha, vì muốn mở mang bờ cõi, vua đã đem quân đánh lấy
xứ Kaginla, gây nên cuộc huyết chuyến vô cùng thảm khốc
mà, về sau này, chính vua đã công khai sám hối. Hồi xâm lược
Kalinga vua ASOKA chưa theo giáo pháp của đức Phật. Nhưng sau
khi quy uy tam bảo rồi vua mớ thật tình hối hận và trở
nên thánh thiện. Sự kiện này được ghi rõ trong một tấm
bia:
"...
Tất cả nỗi thống khổ về nạn binh đao đã làm cho trẫm
phải nặng lòng lo ngại. Dù cho số người bị sát hại bị
đọa đày trong việc xâm chiếm Kalinga nhiều đến thế nào
cũng không thể sánh được với sự đau khổ của trẫm...
Đối
với trẫm, sự thắng trận cao cả hơn hết là sự thắng
trận của chính pháp...
Kim
ngôn này được khắc vào trong đá để cho ngày sau con cháu
của trẫm sẽ không còn nghĩ đến những cuộc thắng trận
nữa, và chúng nó phải làm cách nào để thắng trrận giặc
lòng..."
Khi
thánh quân ASOCA cho khắc bia này thì xứ Kalinga đã bị tiệu
diệt mất mười vạn và bị lưu đày mười lăm vạn quân,
đấy là chưa kể số thường dân bị sát hại, chết oan,
cữa nhà đổ nát, cháy rụi. Đấy là ta chỉ mới kể có
một bên nước Kalinga, chứ chưa kể số quân bị chết, bị
thương, bị bắt làm tù binh và thường dân bị chết oan về
phía vua Asoka (Magadha).
Chúng
ta được biết, thở Phật giáo được 218 năm, thánh quân
Asoka hết lòng hằng dương chính pháp, và được thực hiện
ba việc lớn:
1.
Triệu tập Đại Hội Kiết Tập Kinh Điển Kỳ 3.
2.
Dựng tháp thờ Phật và xây tu viện.
3.
Thành lập phái đoàn tu sĩ hoằng pháp.
Sua
9 thánh Đại Hội Kiết Tập Kinh Điển Kỳ 3 tại thành Pàtaliputra,
tức Bihar và Patna ngày nay, Thánh tăng Moggaliputta Tissa lĩnh
xứ mệnh Vua Asoka trực tiếp diều động đoàn truyền giáo
đi khắp vùng: Kashmir, Gandhàra, Mahisamandala, Vanavàsa, Aparantaka,
xứ Marathe, xứ Hy Lạp, vùng Himalaya, xứ kim thổ, tức Myanmar,
cửa ngõ mở ra toàn thể Ấn - Hoa, Indonésia và Sri Lanka. Thánh
tăng Mahimda truyền pháp vào Sri Lanka, hai vị thánh tăng Sona
và Uttara thì truỳn vào Myanmar.
v
Lịch sử Phật Giáo Việt Nam, chương 1:
Đạo
Phật su nhâp Việt Nam - thời điểm và các tuyến du nhập,
tác giả Minh Chi viết: "... Một phái đoàn do hai cao tăng Uttara
và Sona được phái đến Suvannabhumi, xứ của vàng. Sử liệu
Phật giáo Miến Điện chép rằng hai cao tăng đó đã đến
Miến Điện truyền giáo. Nhưng sử liệu Phật giáo Thái Lan
cũng ghi là hai cao tăng Sona và Uttara có đến Thái Lan truyền
giáo liệu hai cao tăng đó có tiếp tục hành trình và đến
Việt Nam hay không, đó là một nghi vấn m các nhà sử học
Trung Quốc và Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa làm sáng
tỏ được. Có học giả dựa vào tài liệu Trung Hoa nói rằng,
ở Giao Chỉ tại thành Nê Lê, có bảo tháp của vua Asoka. Và
học giả đó xác định thành Nê Lê mà sử liệu Trung Hoa
nói tới, chính là Đồ Sơn ở nước ta hiện nay" ( Sđd, trg
21 - 22).
Vào
buổi ấy, một phong trào di dân rất rộng từ xứ Kalinga sang
phía Đông và xuống phía Nam nhưng chỉ lẻ tẻ và nhiều đợt;
phong tròa trở nên rầm rộ vào khoảng đầu kỷ nguyên Tây
lịch. (Có lẽ) đạo Phật du nhập nước ta cũng vào thời
điểm này. [2]
Sự
truyền bá đạo Phật ở nước, buổi sơ khai tuy mới chỉ
mở mang và khai đạo ở trị sở Luy Lâu, nhưng cũng gây được
sự chú ý của người dân bản địa, cũng như đã xây chùa,
dựng tháp...
Một
sự trùng hợp lịch sử kỳ diệu là, trong sách Lý Hoặc Luận,
Mâu Tử tự xác định: "ông học và theo đạo Phật ở Luy
Lâu". Bài Tựa của sách Lý Hoặc Luận đã cho chúng ta những
dữ kiện quý báu:
"...
Sau khi vau Hán Linh Đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉ
có Giao Chỉ là yêu ổn. Các bậc dị nhân phương Bắc đều
tới đây, phần lớn đều tin theo thuận thần tiên tịch cố
trường sinh. Hồi ấy có nhiều học giả, Mâu Tử thường
lấy ngũ kinh ra vấn nạn, các đạo gia và thuật sĩ không
ai đối đáp cho xuôi được, cũng tỷ như Mạnh Kha cự lại
Dương Chu - Mặc Địch..." (Nguyễn Lang, VNPGSL, trang 54).
(cũng
trong bài Tựa ấy) "... Bèn mài chí theo đạo Phật, cùng nghiên
cứu Lão Tử, lấy huyền diệu làm ruợu ngon, lấy ngũ kinh
làm đàn sáo... Người thế tục đa số không biết, cho rằng
Mâu Tử đả phá lại ngũ kinh mà theo dị giáo... Thực ra,
neú mở miệng ra tranh luậ với họ thì cũng là phi đạo,
mà im lặng thì coi như bất lực, bèn dùng bút mực, lược
dẫn đều thánh hiền mà chứng dẫn điều mình nghĩ. Do đó
gọi là Mâu Tử Lý Hoặc Luận" (Sđd, trg 55, 56).
Tác
giả sách Nghiên Cứu Về Mâu Tử Viết: "Nếu Phật giáo không
truyền vào nước ta từ thời vua A Dục (thế kỷ thứ 3 tr
TL) để đến năm 43 khi hai Bà Trưng thất trận, một trong
các nữ tướng của hai Bà là Bát Nàn phu nhân đi xuất gia,
như truyền thuyết dân gian đã có, thì ít nhất vào năm 100
sau Tây lịch Phật giáo đã hiện diện với tư cách một tín
ngưỡng
đầy quyền uy đến nỗi dân ta đã trồng một thứ hoa để
cúng Phật gọi là uất kim hương. Sự hiện diện được xác
lập này đưa tới một số hệ luận đáng quan tâm, không
những đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam, trong đó nỗi
bậc nhất là việc ra đời tác phẩm văn học tư tưởng Phật
giáo xưa nhất do Mâu Tử viết hiện biết của không những
Việt Nam, mà cả Trung Quốc và Viễn Đông nữa, đó là Lý
Hoặc Luận.
"Kể
từ Trần Văn Giáp công bố quan điểm cho rằng Mâu Tử là
một trong những người truyền giáo đầu tiên của Phật giáo
nước ta Le Bouddhisme en Annam dès origines jusqu'au XIII è Siècle
(1932) "... Ngược lại, chính bản Tự Truyện do tay (Mâu Tử)
viết trong Lý Hoặc Luận đã xác định ông học và theo đạo
Phật tại nước ta. Nói cách khác, ông là sản phẩm của
Phật giáo Việt Nam, là tác phẩm Lý Hoặc Luận là kết tinh
đầu tiên của nền Phật giáo đó"[3]
Trong
Đạo Giáo Nguyên Lưu, gồm 3 quyển: thượng, trung và hạ,
của An Thiền, viết bằng Hán tự thế kỷ XIX, trong đó tác
giả ghi lại đạo Phật ở Việt Nam, mở đầu với đoạn
dẫn nhập tổng quát, và Đại Nam Thiền Học Sơ Khởi (bước
đầu Thiền học ở Đại Nam). Đoạn này gồm phần Hùng Vương
Phạn Tăng (các nhà sư Ấn Độ dười đời Hùng Vương, tác
giả viết về KHÂU ĐÀ LA (Ksùdra), cư sĩ TUĐỊNH
và con gái là A MAN; Đại Nam Phật Tháp (các tháp thờ Phật
Đại Nam). Tiếp theo là các vị sư tổ truyền giáo thuộc
các triều đại Việt Nam cho đến đời Thiệu Trị (1845);
các truyện than thoại liên quan đến đạo Phật ở Trung Hoa
và Việt Nam. Hai quyển còn lại đặc biệtnói về Nho giáo
và Lão giáo.
Sách
Lĩnh Nam Chích Quái của Vũ Quỳnh chép truyện Đầm Nhất Dạ:
Tiên Dung Mỵ Nương và Chử Đồng Tử chứng minh sự có mặt
của đạo Phật vào đời Hùng Vương thứ III (Triều
đại 18 vua Hùng kể từ 2879 - 257 tr TL Thục An Dương Vương).
Ở đây chỉ xin nhắc lại chỗ cần thiết trong Truyện: Hai
vợ chồng Tiên Dung Mỵ Nương và Chử Đồng Tử, sau khi vua
cha đuổi ra khỏi nước, bèn lập chợ để buôn bán. Ngôi
chợ này vẫn thường có các thương nhân ngoại quốc lui tới.
Người ngoại quốc ở đây chỉ có thể là người Ấn Độ
đã vượt biên giới phía bắc Ấn Độ sang vùng trù phú Myanmar
(Miến Điện) rồi vào vùng Founan (Phù Nam). Trong truyện có
nói rõ là hai vợ chồng gặp một thương gia dùng thuyền để
đi buôn và nói với Tiên Dung: "Quý nhân xuất ra một thoi vàng,
năm nay cùng với người nhà buôn ra ngoài biển mua vật quý,
sang năm sẽ lời được một thoi". Hai vợ chồng bàn với
nhau rồi đồng ý. Người chồng cùng với đại thương gia
đi buôn ở biển. Ngoài biển có hòn đảo tên là Quỳnh Viên
(sách "Đạo Giáo Nguyên Lưu" ghi là Quỳnh Vi). Nơi đây có
một Am và có một vị Tăng sĩ tên là Phật Quang. Người đại
thương gia và Chử Đồng Tử phải ghé thuyền vào đão để
lấy nước ngọt. Dịp này Đồng Tử được vị Tăng sĩ Phật
Quang thuyết pháp cho nghe nên giác ngộ và được truyền pháp
khí là chiếc gậy và cái nón lá và bảo rằng "những thứ
ấy làm chìa khóa cho mọi năng lực huyền bí"; Đồng Tử
có pháp khí thần thông nên bỏ nghề buôn, rồi đưa thoi vàng
cho người đại thương gia đi buôn, và dặn khi nào trở về
ghé vào am để chở Đồng Tử cùng về với. Khi về gặp
lại nhau hai vợ chồng cùng nhất trí đi tìm thầy học đạo.
Sau hai vợ chồng đều đắc đạo. Truyện còn nữa, nhưng
đến đây có thể tạm kết thúc.
Theo
JAKATA (Ấn Độ) kể truyện tiền thân của đức Phật và
ta cũng thường gặp cảnh hoàng tử ra khơi tìm trâu châu,
lương dược để cứu độ chúng sinh... Như vậy, Truyện
kể trên chắc chắn là người Ấn Độ chứ không ai khác.
Trong
kho tàng cổ tích Viêt Nam Kể Truyện Tấm Cám được Bụt
hiện xuống cứu người lành: "Tấm, Cám là hai chị em cùng
cha khác mẹ. Tấm là con bà vợ cả; còn Cám, con bà vợ lẻ.
Bố của chúng không may mất sớm. Sau đó, M\mẹ Tấm cũng
mất. Nó ở với Cám và dì ghẻ là mẹ của Cám. Bà dì ghẻ
ác độc hành hạ Tấm đủ điuề oan khuất. Tấm đã bao phèn
chìm nổi luân hồi, khi là hình thức trái thị, khi là hình
thức chim Vàng Anh... Bụt thấy thương tâm hiện ra cứu độ
Tấm bé bỏng hiền lành. Ở hiền gặp lành, sau Tấm hưởng
phúc báo, được vua chọn làm hoàng hậu".
Hẳn
ta chưa quyên tích Truyện Mai An Tiêm buôn bán với người ngoại
quốc. Truyện Cây Nêu Ngày Tết và Tấm Aùo Cà Sa, Truyện
Trầu Cau với sự luân hồi thác sinh thành cây, đá, v.v...
tất cả đều nói lên sự liên lạc văn hóa Ấn - Việt. Được
biết: dưới thời Sĩ Nhiếp cai trị từ năm 187 đến năm
226 thì văn hóa Trung Quốc, hay nói khác là Nho giáo và Lão
giáo, lúc ấy đã chính thức truyền vào ở Giao Châu; hệ
thống giáo lý của hai đạo này không có cách tính kể trên,
qua các truyền thuyết đời Hùng Vương.
Với
những mẫu truyện trên, ta thấy: người Việt đã tiếp nhận
giáo lý Nhân Quả, Luân Hồi và Nghiệp Báo của đạo Phật
một cách hết sức tự nhiên, không do dự, như tiếp nhận
sự phát minh của chính mình vậy.
Hồi
đầu kỷ nguyên Tây lịch, thời đại Hai Bà Trưng, dòng dõi
Hùng Vương (40 -43) [4] dân số Giao Chỉ không hiểu, chỉ có
32.000 ngàn nóc nhà, nhưng về luật pháp nhà Hán những mười
(10) điều[5] Do đó có thể khẳng định rằng; cách nay 2000
năm, Việt Nam đã có pháp luật thành văn hóa rồi, không còn
ở chế độ tục lệ pháp nữa; toàn dân thuần nhất nên
với ba mươi hai ngàn nhà thì dân số hữu dụng trai tráng
rất ít, thế mà với vận mệnh Khởi Nghĩa ban ra, toàn dân
nhất trí đứng dậy, ắt phải có một nền văn minh đặt
thù và một tình nghĩa máu mủ đùm bọc keo sơn, một sự
cương quyết mãnh liệt và khôn khéo lắm mới dám đối địch
với quân nhà Hán.
Năm
quý mão (2030, tức là năm thứ 3 đời Hán Hiến Đế, Sĩ Nhiếp
dân sớ xin đổi Giao Chỉ thành Giao Châu, thì đạo Phật đã
do các tăng sĩ Ấn Độ truyền vào từ trước kỷ nguyên Tây
lịch chứ không phải là sau này.
Trong
tờ chiến của vua Hán Hiến Đế có đoạn đáng chú ý:
"Đất
Giao Châu là nơi văn hiến, sông núi phong phú, của báu, vật
lạ, văn vật khá đẹp, nhân tài lỗi lạc. Thường năm thường
có tai họa chiến tranh, lâu nay ít có quan đầu mục, thái
thú xứng đáng có tài, cho nên đất hẻo lánh chưa được
thấm nhuần giáo hóa. Nay đặc ủy cho khanh trọng nhiệm, nên
tuân theo phong tục họ Triệu, họ Đô, lấy ơn nhân túc mà
chăn dắt dân, không phụ cái tài lương đống triều đình.
Trẫm đề cử khanh làm An viễn tướng quân, phong tước Long
độ đình hầu". - Dẫn theo Việt Diện U Linh, mục nói về
Sỹ Nhiếp -
Truyện
Cao Tăng Trung Quốc có nhận định là lúc Phật giáo ở Trung
Quốc chưa được thịnh thì ở Luy Lâu, các tăng sĩ người
Ấn Độ đã hiện diện ở đây truyền bá giáo lý đạo Phật
rất náo nhiệt, như xây chùa, dựng tháp, mở trường và dịch
kinh...
Để
chứng minh cho sự kiện trên, ta hãy đọc một đoạn văn mà
Thuyền Uyển Tập Anh đã ghi lại một đối thoại do quốc
sư Thông Biện trả lời Hoàng Thái Hậu. [6]
Quốc
sư Thông Biện đã trình bày những dữ kiện lịch sử đạo
Phật truyền vào Việt Nam ra sao? (Sđd):
...
"Theo sự tích của đại sư Đàm Thiên, Chính Pháp luôn luôn
được vua Cao Tổ nhà Tùy ngưỡng mộ, và phán rằng : "Ta
nghĩ đến đạo từ bi của đức Phật mà không biết là thế
nào để báo đáp ân đức của Ngài. Ta đã lạm ở ngôi cao...
Ta chỉ muốn đem tài đức của ta hộ trì ngôi Tam Bảo (Phật
- Pháp - Tăng). Ta đã thu thập di hài của chư Tăng và đã
kiến lập bốn mươi chín cây tháp thờ ở khắp nước, để
làm quy củ cho nhân gian, như là bến đò và chiếc cầu cần
thiết cho khách qua sông. ngoài một trăm năm mươi ngôi chùa,
ta còn muốn xây thêm nhiều chùa nữa ở khắp xứ Giao Châu,
vì ta muốn rằng hạnh phúc ngự trị khắp cả thế gian. Giao
Châu tuy nội thuộc Trung Hoa, lại ở quá xa. Vậy phải chọn
những sa môn đức hạnh và tài ba đến đó để giáo hóa
chúng dân bằng pháp Bồ Đề (Bodhi)".
Đại
sư Đàm Thiên[7] tâu: "Xứ Giao Châu có đường thông sang Thiên
Trúc, khi Phật pháp truyền vào Trung Quốc, chưa đến Giang
Đông, mà tại Luy Lâu đã sáng lập trên hai mươi chế - đa
(Caitya : tháp thờ xá lợi), đã độ năm trăm tăng sĩ và dịch
được mười lăm bộ kinh. Do đó, người ta nói rằng
giáo pháp truyền đến Giao Châu trước Giang Đông (Trung Quốc)
vậy.
"Theo
đó người ta thấy rằng đạo đạo Phật ở Giao Châu không
khác gì ở Trung Quốc,Bệ hạ có tấm lòng thương yêu
khắp thiên hạ, và muốn truyền bá giáo pháp ở khắp nơi
một cách bình đẳng. Thì những người truyền giáo không
cần thiết mà, thần nghĩ rằng, phải gửi quan viên đến
đó chăm sóc các chùa chiền nơi đó mà thôi".
Sang
thế kỷ thứ II Tây lịch (168 - 189), đạo Phật Việtđã phát
triển vững mạnh náo nhiệt do bốn vị Phạn tăng:
1.
Ma Ha Kỳ Vực (Marajivaka)
2.
Khang Tăng Hội (K'ang seng houei)
3.
Chi Cương Lương (Tchi kiang liang)
4.
Mâu Bác (Mécu - Fo)
Ba
vị trên là người Ấn Độ. Ngài Mâu Bác cũng gọi là Mâu
Tử) thuộc người Trung Quốc. Bốn nhân vật trên đều đã
lưu trụ tại Bắc Kỳ, các ngài đã cùng với người bản
địa dựng chùa pháp vân và nhiều chùa khác để tu niệm
và truyền bá đạo Phật được lan rộng khắp nơi trong nước.
Năm
255 -256 cũng có một vị tăng sĩ: tên KALYÀNARŨCI (Chi Cương
Lương Tiếp), người bắc Ấn Độ (Inđoscythe) tới Giao Châu
dịch kinh Pháp Hoa Tam Muội (Saddharmassmadhi suttra). Có Tỳ Khưu
Đạo Thanh, người Việt phụ dịch. Đạo Phật Việt thuở
ấy đã tạo được Niềm Tin của người dân bản địa và
đã có ảnh hưởng tốt trong nếp sống nhân gian.
Vào
thế kỷ thứ IV, hai vị thiền sư Đạt - Ma - Đề - Bà (Dharmadeva)
và Huệ Thắng, cũng đã xuất hiện trên đất Giao Châu. Thiền
sư Đạt Ma Đề Bà, người Ấn Độ, tới Giao Châu truyền
bá thiền học tại đây. Thiền sư Huệ Thắng, người Giao
Châu là một trong những đệ tử xuất sắc của Đạt Ma Đề
Bà, đã chứng ngộ thiền tâm. Sau thiền sư (Huệ Thắng) qua
Trung Quốc hoằng pháp và tịch tại chùa U Thế ở Bành Thành.
Sách
Phật Giáo Việt nam, giáo sư Nguyễn Đăng Thục đã đau ra
nhận định về dịa thế nước tai và ảnh hưởng của nền
văn hóa tự chủ đạo Phật đối với dân tộc Việt Nam:
"Điều
kện địa lý thuận lợi của đất Giao Chỉ là có đường
thông với Tây Trúc tức khu vực văn hóa Ấn Độ mà
đại diện bây giờ ở phía nam Giao Chỉ là Chiêm Thành và
Chân Lạp. Do đấy mà Phật giáo trước khi ảnh hưởng vào
Trung Hoa phải từng phát triển ở Giao Chỉ trước đã. Và
điều kiện Lĩnh Nam đã mở cửa xuống Đông Nam Á để tiếp
đón và giao dịch với người Á Châu là hải đão Thái Bình
Dương và Ấn Độ Dương để sớm trở nên đất "ngã ba,
ngã tư giao lưu của các chủng tộc và văn hóa". Phật giáo
là một tôn giáo mở cửa độc nhất trong các tôn giáo thế
giới đã cống hiến cho dân tộc Việt Nam đất Giao Chỉ cái
nhựa sống thiết yếu để hợp nhất các khuynh hướng tư
tưởng tín ngưỡng giao lưu xưng khắc, thành cái ý thức hệ
khai phóng của địa lý đòi hỏi. Cũng vì thế mà nhân dân
tự động suy tôn người con Phật họ Lý và Lý Phật tử
lãnh đạo cuộc giải phóng và xây dựng một nước Việt
Nam độc lập đầu tiên. Tuy triều tiền Lý ngắn ngủi có
nửa thế kỷ, nhưng cái ý thức hệ "Tam Giáo" do Thiền tông
hợp sáng trên căn bản thực nghiệm tâm linh Phật giáo, đến
thời hậu Lý đã giải phóng hẳn Việt Nam, trở nên một
nước Đại Việt vững bền và cường thịnh tại khu vực
Đông Nam Á" (Sđd, trang...)
Việt
Nam là nơi hội tụ các tăng tài khắp bốn phương, nên tinh
hoa Đạo Phật Việt luôn luôn đượm sắc thái đặc biệt,
trong những thời gian hoàn cảnh đặt biệt. Đạo Phật đối
với dân tộc Việt Nam được coi như thứ vũ khí tinh thần
hiệu nghiệm, để vừa đối kháng với nền văn hóa Trung
Quốc, vừa thâu hái những tinh hoa của nền văn hóa đó rồi
dung hóa cả hai nền văn hóa Ấn - Hoa hợp với tinh thần "Lối
Sống" của người Việt hình thành một nền văn hóa Việt
Nam sống động trong tâm tư mỗi người và trong cuộc
sống dân tộc. Phật giáo đã kích động tinh thần tự chủ
của người Việt. Và, từ đó đưa đến đòi hỏi một nền
tự chủ dân tộc. Khi một nền văn hóa Việt tộc đã có
cá tính khác biệt với nền văn hóa của đế quốc thì công
việc đấu tranh dành độc lập dân tộc chỉ còn là công
việc thời gian mà thôi. Chính vì vậy mà trước kia, trong
lịch sử đạo Phật Việt, các vị thiền sư cùng với dân
tộc Việt Nam phấn đấu cho một nền Tự Chủ vẻ vang của
dân tộc.
CÔNG
CUỘC DỰNG NƯỚC
THỜI
TIỀN LÝ VÀ HẬU LÝ NAM ĐẾ (541 - 603)
Dưới
sự lãnh đạo của Lý Bôn (cũng gọi là Lý Bí), một cuộc
đại khởi nghĩa chống ngoại sâm vào mùa xuân năm 542 được
toàn dân hưởng ứng, tham gia, đứng chung trên một trận tuyến
để đánh đuổi tên thái thú tàn bạo là Tiêu Tư và bè lũ
về Tàu, rồi chiếm lấy thành Long Biên. Đầu năm 543, triều
đình nhà Lương tỗ chức cuộc phản công nhưng bị nhà Lý
dẹp tan.
Sau
cuộc khởi nghĩa thành công, mùa xuân tháng giêng năm giáp
tý (544), Lý Bôn tuyên cáo dựng nước, xưng là Nam Đế (vua
nước Nam), đặt quốc hiệu Vạn Xuân, xây điện Vạn Thọ,
tổ chức thành một triều đình của một quốc gia độc lập.
Nam Đế bỏ niên hiệu của nhà Lương, đặt niên hiệu mới
là Thiên Đức (VNSL) hay Đại Đức (theo LSVN, tl), và dựng
một ngôi chùa lấy tên là Khai Quốc (mở nước). Sử thần
triều Lê viết: "Tiền Lý Nam Đế, tính rất thông minh, phía
bắc đánh đuổi Tiêu Tư, phía nam dẹp yên Lâm Ấp, lập quốc
hiệu, có đại lược quy hoạch của đế vương". (Đại Việt
Sử Ký Toàn Thư - Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận, tập 1,
trang 101).
Qua
năm ất sửu (545), vua Lương sai Dương Phiêu làm thứ sử Giao
Châu và Trần Bá Tiên làm tư mã đem đại quân sang đánh Chu
Diên, trận thứ hai đánh ở Gia Ninh, vua Nam Đế thấy thế
địch mạnh đành rút quân lên đóng ở động Khuất Liêu
(thuộc đất Hưng Hóa) gần một năm trời chuẩn bị quân
cơ, Lý Nam Đế đem hai vạn quân đánh nhau với Trần Bá Tiên
ở hồ Diển Triệt lại bị thất bại, vua bèn giao quyền
cho tả tướng quân Triệu Quang Phục cầm đầu một cánh quân
lui về lập căn cứ ở Dạ Trạch (Hưng Yên). Còn anh ruột
của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo cùng với Lý Phật Tử đem
ba vạn quân vào Cửu Chân (Thanh Hóa), bị quân nhà Lương đuổi
đánh phải chạy sang Lào, đóng binh ở động Dạ Năng.
Cuộc
kháng chiến kéo dài bốn năm thì Lý Nam Đế bị bệnh chết
(4 - 546).
Triệu
Quang Phục khi hay tin Lý Nam Đế mất, ông tự xưng là Triệu
Việt Vương. Nhân dịp ở bên Tàu có loạn, vua nhà Lương
phải triệu Trần Bá Tiên về chỉ để một tỳ tướng là
Dương Sàn ở lại nước ta, Triệu Quang Phục đem quân giết
chết Dương Sàn, chiếm lấy thành Long Biên.
Năm
555, Lý Thiên Bảo mất, Lý Phật Tử lên thay. Rồi năm 557,
Lý Phật Tử[8] lần nữa, đem quân đánh úp Triệu Việt
Vương, thống nhất đất nước.
Nối
nghiệp nhà Tiền Lý, cũng trong năm 571, Lý Phật Tử lên làm
vua, đóng đô ở Phong Châu (thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh
Vĩnh Yên) mà lịch sử sau này gọi là Hậu Lý nam Đế.
Lý
Phật Tử làm vua 32 năm (571 - 603).
Sách
Việt Điện U Linh, tác giả Lý Tế Xuyên (đời Trần) viết:
"...
Nam Đế đã chiếm được nước của Triệu Việt Vương rồi,
thiên đô qua xứ Lộc Loa và Vũ Ninh, phong cho anh là Xương
Ngập, làm thái bình hầu, giữ Long Biên, phong đại tướng
quân là Lý Tấn Đỉnh làm an ninh vương giữ thành Ô Diên,
ở ngôi ba mươi (30) năm, khởi từ năm tân mão, niên hiệu
Đại Kiến thứ ba nhà Trần đến năm nhâm tuất niên hiệu
Nhân Thọ thứ hai, vua Văn Đế nhà Tùy thì mất; con là Sư
Lợi lên nối ngôi, được vài năm thì bị tướng nhà Tùy
là Lưu Phương đánh chiếm mất nước.
"Sau
khi Nam Đế đã băng, người trong nước chỗ nào cũng có lập
đền thờ, có miếu ở tại cửa Tiểu Nha, phường An Khang,
rất linh dị.
"Niên
hiệu Trùng Hưng năm đầu, sách phong Anh Liệt Uy Hoàng Đế.
Năm thứ bốn mươi, gia thêm hai chữ Nhân Hậu. Năm Hưng Long
thứ hai mươi một, gia tăng bốn chữ "Khâm Minh Thánh Vũ" (bản
dịch chữ Hán ra Việt văn của Lê Hữu Mục - Sđd, trang 55).
Lịch
sử Việt Nam, tập ghi: "Năm 589, nhà Tùy diệt nhà Trần, Thống
nhất Trung Quốc. nhà Tùy âm mưu đặt lại ách dô hộ trên
miền đất nước ta. Lý Phật Tử về danh nghĩa phải chịu
thuần phục nhà Tùy nhưng thực chất vẫn giữ quyền cai trị
nước ta.
"Năm
602, nhà Tùy gọi Lý Phật Tử về kinh đô chầu Hoàng Đế.
Và chầu có nghĩa là đầu hàng, mất nước. Lý Phật Tử
đã chống lại lệnh đó. Phật Tử sai cháu là Lý Đại Quyền
đem quân giữ thành Long Biên (Bắc Ninh), sai tướng Lý Phổ
Đỉnh đem quân giữ thành Ô Diên (Từ Liêm, Hà Nội), còn
tự mình tổ chức phòng ngự tại "thành cũ" của Việt Vương"
(tức thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội).
"Đầu
năm 603, nhà Tùy cử Lưu Phương đem quân theo đường tây bắc
xuống xâm lực nước ta. Lý Phật Tử chặn đánh quân Tùy
ở núi Dô Long (vùng Tụ Long, xưa thuộc Tuyên Quang, nay thuộc
Quảng Tây, Trung Quốc). Quân ta bị thua. Giặc tiến vây
thành Cổ Loa, bắt Phật Tử đầu hàng và bắt giải về Tùy.
Nhiều tướng lĩnh của Lý Phật Tử tiếp tục cùng nhân dân
dân đánh giặc nhưng sau cùng bị tàn sát. Đất nước ta rơi
vào ách thống trị nhà Tùy (Sđd trg 116).
Năm
571 là năm Lý Phật Tử lên ngôi vua, chỉ càch ba năm sau, tức
574, ngài Tỳ ni Đa Lưu Chi (Vinnitaruci), người nam Thiên Trúc
(Ấn Độ) qua Trung Quốc cầu pháp với Đệ tam tổ Tăng Xán,
và sau khi đắc pháp được tổ ấn ký và khuyên nên qua phương
Nam truyền đạo. Năm 580, ngài từ Trung Quốc sang Việt Nam,
trụ trì chùa Pháp Vân, thuộc làng Cổ Châu, Long Biên, dịch
bộ kinh Tổng Trì và lập ra phái Thiền Tông Thứ Nhất
ở nước ta. Đến năm 594, trước khi viên tịch, ngài truền
tâm ấn cho đệ tử là tôn giả Pháp Hiền, người Việt Nam
đầu tiên được vinh dự lĩnh pháp ấn để kế truyền Chính
Pháp.
Triều
đại nhà Lý, vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) vì cảm mến đức
hóa của ngài, đã làm bài kệ truy tán:
"Sáng
tự lai Nam quốc
Văn
quân cửu tập thiền
Ứng
khai chư Phật tích
Viễn
hợp nhất tâm nguyên
Hạo
họa lăng già nguyệt
Phân
phân bát nhã liên
Hà
thời hạnh tương kiến
Tương
dữ thoại trùng huyền"
(Mở
lối qua Nam Việt
Nghe
Ngài hiểu đạo thiền
Nguồn
tâm thông một mạch
Cõi
Phật rộng quanh miền
Lăng
già ngời bóng nguyệt
Bác
nhã nức mùi sen
Biết
được bao giờ gặp
Cùng
nhau kể đạo huyền).
- bản
dịch Thích Mật Thể -
Hệ
phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, truyền được 19 đời (580 - 1216), gồm
28 vị tổ kế thừa.
Vào
khoảng cuối thế kỷ vi đầu thế kỷ VII, Việt Nam lại
có thêm ba đoàn truyền giáo:
- Đoàn
thứ nhất ba vị: MINH VIỄN, TUỆ MỆNH, VÔ HÀNH.
- Đoàn
thứ hai ba vị: ĐÀM NHUẬN, TRÍ HOẰNG, TĂNG GIÀ BẠT MA.
- Đoàn
thứ ba sáu vị: VẬN KỲ, MỘC XOA ĐỀ BÀ (Moksadeva), KHUY XUNG,
TUỆ DIỆM, TRÍ HÀNH, ĐẠI THẶNG ĐĂNG.
Trong
ba đoàn truyền giáo, hai đoàn là người Trung Hoa, trong đó
duy có ngài Tăng Già Bạt Ma (Samyhavarma) là người Trung Á.
Đoàn thứ ba, đáng chú ý hơn, vì toàn người Việt Nam cả
(bốn người ở Giao Châu - Hà Nội, Nam Định - và hai người
ở Aùi Châu - Thanh Hóa -). Cả sáu ngài đã qua Trung Hoa, Ấn
Độ, và đã cầu pháp, dịch kinh.
Sau
thời đại Lý Phật Tử (Hậu Lý Nam Đế), nước ta bị nhà
Tùy (602 - 617) đô hộ, rồi tiếp đế nhà Đường (617 -907)
cai trị, gồm 305 năm.
Trong
thời thuộc Đường, năm Nhâm Tuất (722), nhà ái quốc Mai
Thúc Loan, quê ở Hà Tĩnh, nổi lên giải phóng ách thống trị
nhà Đường đang đè nặng lên thân phận người dân Giao Châu
bị trị, đã chiêu tập ba mươi ngàn nghĩa quân chống
cự với quân nhà Đường, chiếm giữ lấy đất Hoan
Châu (tỉnh Nghệ An), xây thành chung quanh núi sông Lam dài đến
cả trăm dặm, xưng Hoàng Đế, đóng đô ở Vạn An, tục gọi
là Mai Hắc Đế (vua Đen).
Nhà
Đường phải vận dụng đến mười vạn quân để chống
cự với ba mươi ngàn quân... Rất tiếc! Cuộc kháng chiến
đang hồi quyết liệt thì ông bị bệnh chết, giữa lúc sự
nghiệp quốc gia cần có người như ông.
Rồi
nửa sau thế kỷ VIII (766 - 791), có vị anh hùng tên là Phùng
Hưng, quê ở Đường Lâm (tỉnh Sơn Tây) nổi dậy, đem quân
về chiếm giữ phủ thành được mấy tháng, công việc đang
dở dang, không may cho vận nước: ông mất! Quân sĩ lập con
là Phùng An lên nối nghiệp. Dân ái mộ Phùng Hưng tôn vinh
là Bố Cái Đại Vương, bậc cha mẹ của dân.
Tháng
bảy năm Tân Tỵ (791), vua Đường sai Triệu Xương sang làm
đô hộ sứ, Phùng An thấy thế chống không nổi, xin ra hàng.
*
Đến
năm 907 TL thì nhà Đường bị đổ. Nước Trung Quốc rất
rối loạn, anh hùng hào kiệt nổi loạn khắp nơi. Ngai vàng
là mục tiêu chính mà con cháu các dòng vua chúa thuở trước
có cớ dấy binh. Các cuộc huyết chiến xảy ra liên miên...
Hẳn ta chưa quên thời Đông Hán, Trung Hoa cũng xảy ra cảnh
sứ quân cát cứ tương tranh giữa ba nhà Ngụy - Thục - Ngô.
Nay, nhà Đường bị chấm dứt thì cảnh loạn lạc tranh ngôi
cửu ngũ lại xảy ra. Thời nay, sử Trung Hoa gọi là Ngũ Quý,
hay là Ngũ Đại, gồm có Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn,
Hậu Hán và Hậu Chu. Trong năm nhà Hậu này, chẳng có nhà
"Hậu" nào có thực lực cả, chỉ được một thời gian rất
ngắn độ dăm năm là bị khai trừ. Toàn lãnh thổ Trung Hoa
bị bão tố loạn lạc và lụn bại. Lúc này đúng là lúc
"trời không có mắt" nên lãnh thổ của "thiên triều" như
vô cương trên nửa thế kỷ.
Trước
bối cảnh đen tối ấy, các viên chức Trung Hoa Cai trị nơi
viễn xứ đang phân vân, bối rối, khong biết dòng họ nào
sẽ cầm chính quyền điều khiển quốc gia? - Còn người Việt,
sau bao nhiêu năm trời dài đằng đẵng buộc phải sống bên
người Trung Hoa, đã nhận ra cái nhược điểm ấy của nước
thống trị, nên cũng như bao lần trước, cuộc biến loạn
tại chính quốc (Trung Hoa) là một dịp tốt cho người dân
bị trị Giao Châu vùng đứng dậy giành lại quyền tự chủ
của quốc gia mình. Khúc Thừa Dụ, quê ở Hải Hưng "được
nhân dân khâm phục, ông nhân danh là hào trưởng một xứ
mà tự xưng là tiết độ sứ".
Ngày
7 tháng 2 năm 906, vua Đường (bất đắc dĩ) phải chấp nhận
cho Khúc Thừa Dụ giữ chức tiết độ sứ, một chức quan
của nhà Đường, nhưng ông đã xây dựng một chính quyền
tự trị của người bản địa. Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất,
con là Khúc Hạo nối nghiệp cha giữ chứ tiết độ sứ, chỉ
sau đó mấy tháng, ông đã cải cách lại tất cả cơ cấu
hành chính quốc gia, thay đổi các viên chức Trung Hoa, định
lại thuế khóa cho công bằng và hợp lý... Tiết độ sứ
Khúc Hạo mất năm 917 TL. Con là Khúc Thừa Mỹ lên thay, vẫn
tự xưng là tiết độ sứ.
Năm
923 nhà Nam Hán xua quân sang đánh nước Việt, bắt được
Khúc Thừa Mỹ nhưng sau lại thả ra cho phục chức như cũ.
Năm 931, Dương Đình Nghệ, một tùy tướng của tiết độ
sứ Khúc Họa, nổi dậy đuổi được quân Nam Hán, sau 8 năm
bị đô hộ. Rồi, sau 6 năm hưng quốc, Dương Đình Nghệ bị
viên nha tướng của mình, là Kiều Công Tiễn, phản loạn
giết và soán đoạt ngôi báu. Ngô Quyền, một kị thuộc tướng
của Dương Đình Nghệ, đương trấn nhậm ở Ái Châu, Thanh
Hóa, xuất đại quân đánh Kiều Công Tiễn để trừ hậu
họa.
*
...
Tuy không có tài liệu chính truyền xác định đạo Phật đã
truyền vào Việt Nam trước thế kỷ thứ nhất dương lịch,
nhưng bằng phương pháp thuần lý, do sự quy nạp các tài liệu
có tính cách phong tục học và xã hội học thuộc các triều
đại xa xăm của đất nước, thấy có nhiều bằng chứng
(gián tiếp) cho phép ta tin tưởng rằng: đạo Phật du nhập
Việt Nam trước Trung Hoa, và đã hưng thịnh rất xán lạn
rồi.
Riêng
có điều này nên chú ý: Thời Tùy - Đường của Trung Hoa,
Phật giáo rất thịnh (mà) duy chỉ có một ngài Huyền Trang
Sang Ấn Độ học đạo và thỉnh kinh; mà ở Việt Nam đã
có (cả thảy) sáu vị thiền sư qua Ấn Độ tu học. Rất
tiếc là các vị ấy đã tịch ở xứ người (sáu vị thiền
sư Việt Nam đó là các ngài: Vận Kỳ, Mộc Xoa Đề Bà, Tuệ
Diệm, Trí Hành, Khuy Xung và Đại Thặng Đăng). Ta cũng không
quên được là lúc bấy giờ nhà Đường không thiếu vì các
nhà tài đức, thế mà các vị thiền sư như: Phụng Đình
và Duy Giám của nước Việt Nam đã được vua nhà Đường
thỉnh vào cung thuyết pháp cho vua nghe. Các nhà trí đức
Trung Hoa (đời Đường) rất kính mộ các thiền sư Việt Nam
và đã làm thơ tán thán các ngài. Trong Kiến Văn Tiểu Lục
của Lê Quí Đôn có ghi lại những bài thơ ấy. Nguyên bản
bài thơ chữ Hán của thi sĩ Dương Cự Nguyên viết để tặng
thiền sư Phụng Đình:
"Cố
hương Nam Việt ngoại
Vạn
lý bạch vân phong
Kinh
luân từ thiên khứ
Hương
hoa nhập hải phùng
Lộ
đào thanh Phạn triệt
Thầ
các hóa thành tùng
Tâm
đáo trường An mạch
Giao
châu hậu hạ chung".
(Quê
nhà trong cõi Việt
Mây
trắng tít mù xa
Cữa
trời vắng kinh kệ
Mặt
biển nồi hương hoa
Sóng
gợn cò in bóng
Thành
xây hến mấy tòa
Trường
An lòng quất quýt
Giao
Châu chuông đêm tà ...)
- Thích
Mật Thể dịch -
và
dưới đây là bài thơ của thi sĩ Cổ (có chỗ đọc là Giả)
Đảo viết để tiễn thiền sư Duy Giám:
"Giảng
kinh luân điện lý
Hoa
nhiễu ngự sàng phi
Nam
hải kỷ hồi quá
Cựu
sơn lâm não quy!
Xúc
phong hương tổn ấn.
Lộ
vũ khánh sinh y
Không
thủy khứ như bỉ
Vãng
lai tiêu tức hy".
(Giảng
kinh nơi cung điện
Vườn
ngự hoa xuân bay
Xa
quê từ mấy độ
Mưa
xa dầm áo bạc
Gió
táp ấn hương phai[9]
Biển
vắng như thế đó
Tin
tức làm sau hay[10]
Cách
hơn 300 năm sau, khoảng thế kỷ IX, Việt Nam lại xuất hiện
một phái Thiền tông nữa, do ngài VÔ NGÔN THÔNG từ Trung Hoa
truyền vào. Ngài đắc pháp với tổ Đại Trí Bách Trượng
Hoài Hải, và năm 820 thì qua Việt Nam, trụ trì chùa Kiến
Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, sau truyền
pháp lại cho tôn giả CẢM THÀNH. Dòng thiền này truyền được
15 đời, gồm 40 vị tổ kế thừa (mà) tôn giả Cảm Thành
là sơ tổ của Việt Nam, thuộc phái Thiền tông thứ hai, dòng
Vô Ngôn Thông.
CUỘC
CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC NAM HÁN
CỦA
NGÔ QUYỀN (937 - 967)
Ngô
Quyền, người ở Đường Lâm (cùng quê với Phùng Hưng), ông
có chí lớn, mưu cao, tài kiêm văn võ, khi quân Nam Hán còn
ngấp nghé bên ngoài bờ cõi, ông đã sửa soạn công cuộc
ứng chiến, và việc trước hết là đánh lấy thành Đại
La, giết tên phản chủ bán nước Kiều Công Tiễn để trừ
nội họa; ổn định tình hình trong nước. Cuối nằm 938,
vua Nam Hán ra lệnh cho hàng trăm vạn quân, do thái tử Lưu
Hoằng Thao chỉ huy, ồ ạt kéo sang xâm chiếm nước ta. Trận
chiến oanh liệt diễn ra trên sông Bạch Đằng, Hoằng Thao
bị chết, còn quân giặc phần bị giết phần bị chết chìm
hoặc bị bắt, thiệt hại quá nửa. Hán chủ đành phải nuốt
hận thu tàn quân về Tàu.
Năm
939, Ngô Quyền xưng đế hiệu, thành lập một vương quốc
độc lập, đóng đô ở Cổ Loa (tỉnh Phú Yên), chấm dứt
thời kỳ mất nước kéo dài 1031 năm (một ngàn không trăm
ba mươi mốt năm).
*
(Đạo
Phật Việt từ thời Bắc thuộc thứ II qua thời Lý Nam
Đế và suốt thời Bắc thuộc thứ III tuy có phát triển nhưng
chưa được long thịnh như các triều đại ĐINH - TIỀN LÊ
- LÝ - TRẦN sau này).
ĐẠO
PHẬT THỜI TỰ CHỦ NHÀ ĐINH (968 - 980) VÀ TIỀN LÊ (981 -1009)
Khi
Đinh Tiên Hoàng Đế dẹp loạn Thập nhị sứ quân, thống
lĩnh sơn hà, định lại việc triều chính, vua liền nghĩ đến
chỉnh đốn hàng ngũ giáo hội Tăng già và định phẩm trật
cho các tăng sĩ lỗi lạc hữu công tham dự quốc chính, nên
đã tặng chức Khuông Việt Thái Sư cho ngài tăng thống Ngô
Chân Lưu, chức Tăng Lục Đạo Sĩ cho pháp sư Trương Ma Ly,
và thiền sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Chấn Uy Nghi.
Về
sinh hoạt chính trị, văn học trong nước lúc bấy giờ đều
do các bậc tăng già hữu học nhận lãnh trông coi. Đạo Phật
Việt được vương triều công nhận coi như là quốc đạo
kể từ nhà Đinh.
Lịch
sử Việt Nam, tập 1, viết về Phật giáo đời nhà Đinh:
"trong
buổi đầu thời kỳ độc lập, Phật giáo là tôn giáo chiếm
ưu thế trong xả hội. Trong nước nhiều chùa tháp được
xây dựng. Riêng ở Hoa Lư, năm 973, Nam Việt Vương Đinh Liễn
là con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng, cho dựng 100 cột đá
khắc kinh Phật (gọi là kinh tràng). Các nhà sư là tầng lớp
có học thức, có uy tín và ảnh hưởng trong xã hội. Ngoài
văn học dân gian, lực lượng sáng tác văn học lúc đó chủ
yếu là các nhà sư. Những tác phẩm văn học thành văn của
giai đoạn này còn lại đến nay là một số bài thơ chữ
Hán của các nhà thơ như Đỗ Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh,
v.v... (Sđd trang 150).
Sau
nhà Đinh là nhà Tiền Lê, các tăng sĩ vẫn được trọng dụng.
Vua Lê Đại Hành đã triệu thỉnh Khuông Việt Thái Sư làm
cố vấn và thiền sư Pháp Thuận lo việc ngoại giao; đồng
thời triều đình cũng cho thiết lập tự viện, và năm 1008
vua sai sứ là ông Minh Xưởng, Hoàng Thành Nhã qua Trung Hoa thỉnh
Đại tạng kinh. Đây là lần đầu tiên nước ta sai sứ đi
thỉnh kinh.
Năm
Thiên Phúc thứ VII (986) nhà Tống sai sứ là Lý Giác sang nước
ta[11], vua sắc Ngài Khuông Việt Thái Sư giữ việc ngoại giao
để ứng tiếp với sứ giả. Còn thiền sư Pháp Thuận cải
trang làm chú lái đò cho sứ giả. Tình cờ có đôi ngỗng
bơi trên mặt nước, Lý Giác vốn có tài văn thơ, liền tức
cảnh:
"Nga
nga lưỡng nga nga
Ngưỡng
diện hướng thiên nha"
(Song
song ngỗng một đôi
Ngửa
mặt ngó ven trời)
Chú
lái đò - tức thiền sư Pháp Thuận - đã ứng đối:
"Bạch
mao phô lục thủy
Hồng
trạo bãi thanh ba"
(Lông
trắng phơi giòng nước
Sóng
xanh chân hồng bơi)
Sứ
giả nghe xong lấy làm ngạc nhiên và kính phục, không ngờ
nước việt lại có lắm nhân tài.
Qua
những lần tiếp đãi lịch sự của một thiền sư (Khuông
Việt Thái Sư đại diện cho triều đình) đối với sứ giả
một nước lớn là Trung Hoa, Lý Giác càng lúc càng tỏ ra kính
trọng vua nước ta, nên ông đã viết tặng bài thơ:
"Hạnh
ngộ minh thời tán thịnh du
Nhất
thân lưỡng độ xứ Giao Châu
Đông
Đô tái biệt tâm vưu luyến
Nam
việt thiên trùng vọng vị hưu
Mã
đạp yên vân xuyên lãng thạch
Xa
từ thanh chướng phiếm trường lưu
Thiên
ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu
Khê
đàm ba tịch kiến thiềm thu."
Thiền
sư Thích Mật Thể đa dịch bài thơ ấy ra tiếng Việt:
May
gặp minh quân giúp việc làm
Một
mình hai lượt sứ miền Nam
Mấy
phen qua lại lòng thêm nhớ
Muôn
dặm non sông mắt chừa nhàm
Ngựa
đạp mây bay qua suối đá
Xe
vòng núi chạy tới dòng lam
Ngoài
trời lại có trời soi sáng
Vầng
nguyệt trong in ngọn sóng đầm.
Câu
thứ bảy của bài tơ tác giả có ý xưng tụng vua nước Việt
cũng như vua của họ.
Thật
là thần tình, chỉ do khẩu khí thơ văn xướng họa mà đã
làm chuyển đổi được vận mệnh của cả nước đang từ
thế yếu sang hẳn một thế mạnh. Và, vì cảm mến đức
hóa của người xưa, Lê Quí Đôn, nhà bác học Việt Nam thế
kỷ XVIII, đã hết lời ca tụng hai vị thiền sư Ngô Chân
Lưu, Đỗ Thuận: "Câu thơ của thiền sư Pháp Thuận làm cho
sứ nhà Tống phải kinh dị; điệu từ của đại sư Ngô Chân
Lưu đã nỗi danh một thuở (Sư Thuận thi ca, Tống sứ kinh
dị, Chân Lưu từ điệu, danh chấn nhất thời) - Thiền Dật
-
Thiền
sư Pháp Thuận được vua Lê tôn trọng như bậc quốc sư.
Vua thường hỏi ngài về những việc bình trị quốc gia và
ngôi cửu ngũ dài vắn ra sao?
- Thiền
sư trả lời bằng một bài thơ:
"Quốc
tộ như đằng lạc
Nam
thiên lý thái bình
Vô
vi cư điện các
Xứ
xứ tức đao binh".
(Ngôi
nước như dây cuốn
Trời
Nam mở thái bình
Trên
điện không sinh sự
Đây
đó hết đao binh).
Các
vị thiền sư, quốc sư đã đóng góp không nhỏ cho công trình
dựng nước, giữ nước. Các ngài đã khai hóa nền văn học
quốc gia, đã giáo hóa nhân dân. Vốn sẵn có tinh thần yêu
nước cao độ, nhân dân ta lại thấm nhuần giáo lý giác ngộ
giải thoát của đạo Phật rồi lấy đó làm chất men cho
cuộc nổi dậy, chống lại sự thống trị của người phương
Bắc, giành lấy quyền độc lập tự chủ cho quốc gia kéo
dài hơn 5 thế kỷ, kể từ thời nhà Đinh trở về sau (968
- 1504).
ĐẠO
PHẬT VÀ NHÀ LÝ (1010 - 1225)
Phật
giáo chính thức và công khai hoạt động từ thời nhà Đinh
và Tiền Lê nhưng đến nhà Lý mới phát triển được mạnh.
Như thế không phải nhà đã nâng đỡ một mình đạo Phật
mà chính Phật giáo cũng phải theo thông lệ của các tôn giáo,
học phái khác mà tiệm tiến, chờ đến lúc túc duyên mới
phát triển được mạnh, và đến lúc không còn liên tục
duyên thì nó cũng theo luật vô thường mà bị suy vi. Hơn nữa,
không một vị vua nào lại sơ suất đến độ gây ra hiềm
khích giuã các học phái, tôn giáo hay các lý thuyết với nhau,
để chính triều đại của mình chịu gặp nhiều xáo trộn
trong đời sống cộng đồng.
Hồi
nước ta mới lấy quyền tự trị, kể từ họ Khúc, rồi
họ Dương, họ Ngô thì Nho giáo đã có nhiều người chấp
chính, và lúc ấy chưa có sự xuất hiện của các vị thiền
sư một cách chính thức và đại qui mô. Thế mà Nho giáo vẫn
không hưng thịnh được, chính là vì những con người theo
Nho giáo hồi đó phần nhiều đặt nặng lòng tham vị kỷ
lên trên hết, và nhằm ngai vàng làm mục tiêu của mình. Vì
thế mấy dòng họ kia đã không được vững bền, lâu dài.
Người theo Nho giáo đã không ý thức được sự cường thịnh
phải có của quốc gia, qua sự ổn cố của xã hội, rồi
lại không gây các cơ sở nền móng cho xã hội, không tập
hợp được quốc dân để hướng họ vào sự phục vụ quốc
gia. Nho giáo ở Việt Nam lúc ấy là một trò ngại cho bước
tiến vững chắc của toàn dân. Về kinh tế, chính trị không
được cải thiện một cách hợp lý. Xã hội thì vẫn là
xã hội rập khuôn theo Trung Hoa, không có điều gì mới mẻ
quan trọng được khai sinh. Con người thì không có được
hoàn cảnh thuận lợi để phát triển khả năng của mình
cho xã hội và chính hạnh phúc bản thân mình nữa. Tóm lại,
Nho giáo lúc ấy, không có chính sánh hưng quốc, không có đường
hướng hoạt động hợp lý, trên cương vị hành xử việc
điều khiển quốc gia. Do đó, sau khi nhà Đinh thống nhất
quốc gia, dẹp tan nạn Thập nhị sứ quân thì đã phải dùng
đến các hình luật cực kỳ đanh thép, để lập lại trật
tự, tạo cơ hội thuận duyên cho toàn dân an cư lạc nghiệp.
Lúc
tai họa Thập nhị sứ quân bị tiêu diệt thì chính là lúc
cáo chung vai trò của những phần tử theo Nho giáo, và chính
lúc ấy đạo Phật bắt đầu công khai hoạt động.
Đạo
Phật, qua hai triều Đinh và Tiền Lê vẩn chưa được mãnh
tiến đúng khả năng phục vụ quốc gia. Vì hai triều nọ
vẫn hãy còn ảnh hưởng nặng nề tinh thần Khổng Nho phần
nào nên cả hai đều không tồn tại được lâu bền.
Quốc
gia Việt Nam phải chờ đến thời nhà Lý mới được hùng
mạnh, vì nhờ có Lý Công Uẩn, vị khai sáng triều đại nhà
Lý vốn là người đã được đào tạo trong một thờ gian
ở Thiền môn dưới sự dạy dỗ của thiền sư Vạn Hạnh.
[12]
ĐẠO
Phật phát triển được khả năng kiến quốc một cách vinh
quang, không phải là nhờ vào phép lạ nào hoặc nhờ vào xảo
thuật lấn áp, dìm dập hạng nhân tài chụ ảnh hưởng Nho
giáo; trái lại, do quá trình tiến hóa tự nhiên chung cho mọi
tập đoàn văn hóa mà nó đã rút ra kinh nghiệm kiến quốc
ở hai triều đại trước. Nhà Đinh thì đã dùng luật pháp
quá khắt khe - trong khi chưa khai phóng, cởi mở cho từng lớp
nhân dân - được thi hành triệt để, và các sự cải tổ
về chính trị, kinh tế, xã hội chưa mấy hợp lý. Còn nhà
Tiền Lê thì cũng không tạo nổi sự thay đổi nào quan trọng
có tính cách đại qui mô và có căn bản trường tồn.
Vai
trò của các vị thiền sư, quốc sư làm cố vấn chỉ đạo
cho hai triều Đinh, Tiền Lê không được nổi bậc như dưới
triều Lý. Vì ở vào môi trường giao tiếp giữa Nho giáo và
Lão giáo nên các ngài tuy chỉ dẫn vô tư cho các vị quốc
vương, song các vị này đã không đủ quyền năng, nghị lực
thi hành trọn vẹn sứ mệnh. Đến lớp con cháu các vị thì
vẫn còn ảnh hưởng di truyền của Nho giáo, về cả tinh thần
lẫn vật chất, qua các vị tiên đế thiếu sáng suốt và
nghèo nghị lực nên chỉ miệt mài lo củng cố hạnh phúc
vị kỷ, đến nỗi kéo đổ cả ngai vàng và đưa dòng họ
đương vinh quang trở lại đời sống bình thường và phức
tạp. Phải nhờ đến thời nhà Lý, nước Việt Nam mới thực
sự cường thịnh là do có Con Người Mới mang một Ý Thức
Mới tới, và do đó có một Chính Sách Mới cải tổ toàn
diện các cơ cấu quốc gia đi.
* Về
Chính Trị - Năm 1010, Lý Công Uẩn[13] lên ngôi hoàng đế,
mở đầu cho một thời đại văn minh cường thịnh ở Việt
Nam. Việc làm trước tiên của vị minh chủ này là: "cho đốt
chài lưới, giải phóng các loài chim muông... trên rừng dưới
biển, bãi ngục tù ban chiếu từ nay trong nước ai có đều
gì oan ức cho đến triều đình tâu, vua sẽ đích thân giải
quyết".
Mùa
thu năm ấy vua cho dời đô từ Hoa Lư, về thành Đại La ,
có điềm rồng vàng hiện lên, nhân đấy vua đổi Đại La
thành Thăng Long Thành, tức Hà Nội ngày nay. Cùng với việc
dời đô nhà Lý đổi châu Cổ Pháp làm phủ Thiên Đức, thành
Hoa Lư thành phủ Trường An, sông Đuống (Bắc Giang) làm sông
Thiên Đức.
Dưới
đây là nguyên văn bài "Chiếu Thiên Đô":
"Xưa,
nhà Thương đến vua Bàn Canh đã năm lần dời đô, nhà Chu
đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu với
các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện dời đổi?
Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, muu toan việc lớn,
tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới
theo ý dân, nếu thấy thuận lợi thì thay đổi, là cốt mong
vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà
Đinh Lê lại vinh theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời,
không noi theo dấu cũ của nhà Thương nhà Chu, cứ đóng yên
đô thành ở đấy, đến nỗi triều đại không được lâu
bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật
không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không
thể không dời đi.
"Huống
nữa thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở vào nơi
trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi,
đúng vị trí các hướng nam bắc đông tây, rất tiện cho
sự nhìn sông tựa núi; địa thế vừa rộng vừa bằng phẳng,
đất đai lại cao và thoáng; dân cư khỏi chịu cảnh khốn
khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi.
Ngắm khắp nước Việt ta, chỉ có nơi đây là thắng địa.
Thật là chốn tụ hội trọng yếu của đế vương muôn đời.
"Trẫm
muốn nhân cái thế thuận lợi ấy để định chỗ ở. Ý
các khanh thế nào?" [14]
sau
khi dời đô về Thăng Long, cùng lúc với công việc kiến thiết
các cung điện của triều đình, như : điện Càn Nguyên để
coi chầu, điện Lập Hiền, điện Quảng Vũ, điện Long An,
diện Long Thụy, điện Nhật Quang, điện Nguyệt Minh, cung Thúy
Hoa và Long Thụy cho cung nữ ở. thành có bốn cửa: Tường
phù (đông), Quảng Phúc (tây), Đại Hùng (nam), Diệu Đức
(bắc). Cộng 13 sở, xây thành lũy xung quanh. Vua cũng cho dựng
ở phủ Thiên Đức 8 ngôi chùa. Triều đình có dựng bia ghi
công. Riêng trong nội thành, vua cho dựng chùa Hưng Thiên Ngự;
ở cung Thái Thanh, chùa Vạn Thọ, nhà tàng kinh Chấn Phúc;
và ở ngoại thành là những chùa: Thắng Nghiêm, Thiên Vương,
Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ,Thiên Quang, Thiên Đức. Triều
đình cũng ra lệnh cho các làng trùng tu những chùa hư hại.
Phát 1.680 lạng bạc để đúc chuông chùa Đại Giác, phát
310 lạng vàng để đúc chuông chùa Hưng Thiên. Tuyển dân làm
tăng, lập giới đàn ở chùa Vạn Thọ cho tăng thụ giới.
[15]
Năm
sau (1011), vua ban lệnh đại xá, cấp quần áo thuốc men cho
những người bị Ngọa Triều bắt được trở về quê cũ
làm ăn sinh sống. Đồng thời xóa thuế trong ba năm cho cả
nước "xóa hết nợ thuế cũ của những người mồ côi, góa
chồng, già yếu".
Niên
hiệu Thuận Thiên thứ 7, 8, 9 trong ba năm liền, vua lại xuống
chiếu tha cho dân không phải đóng thuế ruộng.
Năm
1018, vua sai Lý Đạo Thành và Phạm Hạc đi Tống thỉnh kinh
Tam tạng và năm 1023, sai các quân đội thị sảnh viết lại
kinh Tam Tạng, rồ trử tại tàng kinh Đại Hùng. Năm 1025, dựng
chùa Chân Giáo ở trong nội thành để tiện việc tụng kinh.
Ngô
Thời Sĩ, trong Việt Sử Tiêu Án, có lời bình phẩm:
"Vua
Lý Thái Tổ sinh trưởng nhà cửa Phật, Khánh Văn nuôi lớn,
Vạn Hạnh dạy dỗ, thuyết nhân quả ăn sâu trong lòng, cho
nên kinh mới kiến quốc, sáng tạo nhiều chùa, cấp điệp
độ tăng chúng, muốn đưa cả thế giới vào nước Phật,
bất luận hiền ngu muốn cho qui Phật, đến đời sau nhà Lý
mới dựng lên ngôi chùa cao sát mây, lập nên cột chùa bằng
đá cao vót, lấy sự thờ Phật làm việc thường phải có
của một nước (lập hơn 300 ngôi chùa, đúc quả chuông nặng
12.000 cân đồng). Khi khánh thành chùa thì mở hội, xá cho
tội nhân..." (Sđd, trang 108).
Nhà
Lý trải qua các triều vua Thái Tổ, Thái Tông (1028 -1054), Thánh
Tông (1054 - 1071), Nhân Tông (1027 -1127). Các vua trên đây đã
cho tổ chức lại cơ cấu hành chính, soạn thảo pháp luật,
xây dựng nhu yếu quốc phòng, an sinh và giáo dưỡng, kiến
thiết thủ đô Thăng Long, và làm mọi việc để bảo toàn
lãnh thổ, thống nhất nhân tâm, nhằm củng cố nền độc
lập lâu dài: Năm 1054 nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt.
* Về
Ngoại Giao- ở phái nam, nước Đại Việt giáp giới với Chiêm
Thành, một tiểu vương quốc vốn có tiêng hung bạo, thường
xua quân sang đánh phá miền duyên hải nước ta. Bằng chứng
khi nhà Tiền Lê mới chấp chính, vua Đại Hành sai sứ sang
Chiêm Thành, bị vua nước này bắt giam sứ lại. Vua Đại
Hành giận lắm. Chờ đến sau khi phá được Tống rồi, vua
đem quân qua hỏi tội. Quân nhà Tiền Lê tràn vào thàdêdô
nước Chiêm đốt phá, bắt người, và lấy rất nhiều của
cải châu báu, rồi rút quân về một cách an toàn. Ngay sau
khi mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã có chủ trương giao hảo
với nhà Tống. Năm 1010, viên ngoại lang Lương Nhậm và Lê
Tài Nguyên được cử đi sứ Tống, do đó quan hệ giữa hai
nước tương đối hòa hảo.
Buổi
đầu thời nhà Lý, khi Lý Thái Tổ lên ngôi, Chiêm Thành vẫn
cho sứ thần sang cống. Kể từ năm 1028, thái tử Phật Mã,
tức Lý Thái Tông lên làm vua, đã mười lăm năm Chiêm Thành
không chịu thông sứ. Do đó, năm 1044, vua Thái Tông đích thân
ngự giá đi đánh Chiêm Thành. Quân ta kéo vào kinh đô Vijaya
bắt sống vua nước ấy là Rudravarman III. Từ đấy phía nam
được tạm yêu. Vua nước Chiêm Thành hằng năm lại phải
triều cống như cũ.
Về
phía bắc, nước tảo sát nách một nước khổng lồ (Trung
Hoa). Mà các ông vua Trung Hoa vốn tự xem mình là một nước
"thiên triều", coi các lân bang ở chung quanh là man di, chỉ
chờ cơ hội thuận tiện là đem quân tới xâm lược, hòng
áp đặt lại ách thống trị thời Hán - Đường của cha ông
họ.
Cho
tới khi Tống Thần Tông (1068 - 1078) lên cầm quyền. Vương
An Trạch được cử làm tể tướng. Bấy gờ Ung Châu có quan
tri châu là Tiêu Chú làm sớ dâng về Tống triều, nói rằng:
"Nếu không đánh lấy đất Giao Châu thì về sau thành mối
lo cho nước Tàu". (Trong lúc) Vương An Thạch có ý muốn lập
công ở ngoại biên và nhân dịp để khỏa lập sự thất
bại về "5 Tân Pháp" do ông ta chủ trương để cải tổ việc
chính trị trong nước bị người dân Trung Quốc oán giận,
không chịu thi hành, cho là trái với chế độ phong kiến cổ
truyền.
Cuộc
chiến tranh xâm lược nước Đại Việt của nhà Tống vẫn
được khởi sự. Quan hệ bang giao Lý - Tống trở nên căn
thẳng trong một thời gian.
(Nhưng
sau kháng chiến chống Tống đã toàn thắng, nhà Lý vẫn giữ
tư thế một nước độc lập, tiếp tục giao hảo với nhà
Tống).
Trong
hơn hai thế kỷ, nhà Lý theo đuổi một chính sách ngoại giao
lúc cương nghị, lúc uyển chuyển thật linh động: nhằm
mở rộng quan hệ ngành thương nghiệp với các nước láng
giềng, đồng thời bảo toàn được lãnh thổ và nền độc
lập của dân tộc.
* Về
quân sự - Quân đội nhà Lý gồm có quân cấm vệ và quân
các lộ. Đội chuyên bảo vệ cung điện nhà vua, đóng chung
quanh kinh thành, gọi là cấm vệ. Ngoài cấm quân, có quân
các lộ các phủ. Tất cả nhân dân đến tuổi hoàng nam (18
tuổi) đều phải đăng lính, nhưng vẫn được ở nhà cày
bừa, mỗi tháng phải đi phiên một kỳ ngắn. Đó là chính
sách "ngụ binh ư nông" (có nghĩa là giữ quân lính ở nhà
nông) vừa bảo đảm sản xuất nông nghiệp vừa bảo đảm
số quân cần thiết, phòng khi không may có chiến tranh xảy
tới. Các chức chỉ huy quân đội có: Đô thống, nguyê người
soái, thống quản, thượng tướng, đại tướng, đô tướng.
Những
lần chinh phạt lớn, vua tự làm tướng hay cử các hoàng tử
thân vương làm nguyên soái chỉ huy (LSVN tk 1 - 1427 q1 T2).
"Quân
đội nhà Lý đã đạt đến một trình độ tổ chức và huấn
luyện khá cao. Quân đội phiên chấn thành các đơn vị: quân,
vệ và bao gồm các binh chủng: bộ binh, thủy binh, kỵ binh.
Trang bị quân đội, ngoài các loại vũ khí đã thấy từ trước
như giáo mác, cung nỏ, khiên, v.v... còn có thêm máy bắn đá.
Lực lượng quân đội hùng hậu đó giữ vai trò rất quan
trọng việc củng cố nhà nước... và đã lập nên nhiều
chiến công rực rỡ trong các cuộc chiến tranh bảo vệ đất
nước" (LSVN, tập 1, trang 153).
Năm
1011, vua Lý Thái Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, giết
chúa là Sạ Đẩu, bắt 30 voi, 5000 người lính làm tù binh.
Năm
1038, trấn Quảng Nguyên (nay thuộc tỉnh Cao Bằng) có tên tù
trưởng Nùng Tồn Phúc làm loạn. Năm sau (1039), Thái Tông Đích
thân đánh dẹp, bắt được Nùng Tồn Phúc đem về kinh sử
tội. Thì ba năm sau (1041) vợ Nùng Tồn Phúc và con trai là
Trí Cao từ động Lôi Hỏa dời về châu Thảng Do (gần châu
Quảng Nguyên) lập ra một nước Đại Lịch. Thái Tông một
lần nữa, cất quân tự thân đi đánh và bắt được Trí
Cao, nhưng lần này vì tương tình không giết, tha cho về và
phong cho làm Quảng nguyên mục. Tình hình được tạm yên.
Để
chuẩn bị chống tống, điều trước nhất, là đánh Chiêm
Thành, nhằm cảnh cáo nước này (đã) dựa vào thế lực nhà
Tống, cắt đứt quan hệ với Đại Việt, và còn đem quân
quấy phá vùng biên cảnh nước ta. Nên năm 1069, Lý Thái Tông
xuống chiếu thân chinh Chiêm Thành, quân ta đã vào lấy được
Vijaya, bắt vua nước ấy là Rudravarman III (Chể Củ) và nhiều
lính làm tù binh. Rudravarman III xin dâng đất chuộc tội. Vua
Lý bằng lòng. Ba châu Bố Chính, Đại Lý, Ma Linh thuộc Chiêm
Thành từ đó nhập về nước ta. Nay là địch phận Quảng
Bình về phía Tây Quảng Trị.
Trong
số tù binh có hòa Thượng Thảo Đường, người Trung Hoa,
sang truyền đạo ở Champa (Chiêm Thành)... khi biết rõ chuyện
vua sắc phong ngài làm quốc sư và cho mở đạo tràng, giảng
kinh tại chùa Khai Quốc trong thành Thăng Long. Số đệ tử
theo học đạo có đến hàng ngàn, trong đó vua Lý Thánh Tông
cũng xin làm đệ tử. Từ đây đạo Phật Việt có thêm một
phái Thiền Tông thứ ba, phái Thảo Đường.
Dòng
Thiền Thảo Đường (1069 - 1205) truyền được 5 đời, gồm
19 vị tổ kế thừa.
Cuộc
Kháng Chiến Chống Tống Dưới Thời Vua Lý Nhân Tông
Năm
1068, khi Tống Thần Tông lên cầm quyền, triều đình nhà Tống
gặp phải cảnh huống khủng hoảng và quân sự, chính trị,
kinh tế và xã hội. Qua năm sau, năm 1069, Vương An Thạch, một
nho thần, được cử làm tể tướng, y đề ra chính sách cải
cách kinh tế "làm dân bớt bị quấy; thêm giàu, làm quốc
khố dồi dào, làm binh lực nước mạnh"[16], nhằm cứu vãng
tình thế khó khăn trong nước và sự uy hiếp của hai nước
Liêu - Hạ ở phía bắc và tây Trung Hoa[17] ; đồng thời có
ý đồ mở rộng biên cương xuống phía nam mà Quảng Nam là
vùng ở cực nam nước Tống, gồm hai lộ: Quảng Nam tây lộ
và Quảng Nam đông lộ. Gọi tắc là Quảng Tây và Quảng
Đông. Nước Đại Việt đời Lý tiếp giáp đất Quảng Tây.
Theo kế hoạch trên "nếu thắng,thế Tống sẽ tăng, và các
nước Liêu - Hạ sẽ phải kiêng nể". Vẫn theo sự tính toán
của Vương An Thạch thì: "Lúc quân ta (tức quân Tống) diệt
được Giao Chỉ (tức nước ta), uy ta sẽ có. Rồi ta báo cáo
cho Thiềm Tây biết, quân dân Thiềm Tây sẽ có thắng khí.
Với Thắng khí ấy, ta sẽ nuốt tươi nước Hạ. Mà nếu
nuốt được nước Hạ thì ai dám quấy nhiễu Trung Quốc nữa".[18]
Vương
An Thạch làm nội chính cánh mạng, nhưng khi đem ra thực hiện
"Tân Pháp", gặp phải rất nhiều sự chống đối trong nước,
nhất là các lão thần. Khoảng tháng 6 năm 1074, Vương An Thạch
tự thấy không làm được gì, xin từ chức. Nhưng tình hình
mỗi ngày càng phức tạp hơn. Đến tháng 3 năm sau (1075), chỉ
sau mười tháng vắng mặt ở Biện Kinh, Vương An Thạch lại
được vua triệu về chấp chính.
...
Nước Đại Việt, từ lâu, đã là mục tiêu của vua tôi nhà
Tống muốn đánh lấy. Theo Vương An Thạch vẫn là "đánh lấy
nước yếu để dọa nước mạnh". Triều đình nhà Tống ra
lệnh cho các tướng tá phòng thủ phía nam: [19] "chuẩn bị
lương thực, bắt lính, đóng chiếm thuyền và tổ chức tập
trận". Nhà Tống còn ra sức "mua chuộc các thủ lĩnh bộ tộc
thiểu số vùng biên giới", hòng làm suy giảm tiềm lực kháng
chiến của dân tộc ta. Trong lúc Tống sửa soạn đánh Lý,
thì có sứ Liêu đến Biện Kinh, hỏi viên tiếp sứ rằng:
- "Nam
man có việc gì?
Nam
man tức là Giao Châu. Viên tiếp sứ trả lời.
- Nam
man tức cướp. Triều đình đã sai người dẹp.
- Binh
dùng có đến vài vạn không?
- Không
đến vài nghìn.
- Ai
làm tướng?
- Quách
Quì và Triệu Tiết (LTK.)
Ở
nước ta, khi Lý Thường Kiệt lên cầm quyền, trước hết,
ông lo việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và xây
dựng lực lượng quốc phòng, để kịp thời đối phó với
quân xâm lăng nhà Tống. Trong khi đó, có người Tống ở Quảng
Tây tên Từ Bá Tường, gửi mật thư cho vua Lý (1073), nói
rằng: "Tống sửa soạn đánh Giao Chỉ. Theo binh pháp: "Trước
khi người có bụng cướp mình chi bằng mình đánh trước.
Lúc nào quân đại vương vào đánh, bá tường này xin làm
nội ứng".[20] Khi đã nắm được tình thế chủ động
rồi, một mặt, Lý Thường Kiệt tâu vua Lý Nhân Tông xin gửi
công hàm tới triều đình Tống đòi lại tụi Mùng Thiện
Mỹ và 700 bộ thuộc đã trốn sang Trung Quốc; một mặt, ông
lập tức tâu vua: "Ngồi im đợi giặc, không bằng đem quân
ra trước để chặn thế mạnh của giặc". Triều đình Lý
tán thành.
Thế
là
cuộc chuẩn bị đánh Tống được nhanh chóng thực hiện.
Với một đạo quân từ sáu tới mười vạn người, chia làm
hai đạo thủy và bộ, do Lý Thường Kiệt Tổng chỉ huy, nhằm
tiêu diệt các cứ điểm quân sự của Tống ở các trại
biên giới, cửa biển Khâm Châu, Liêm Châu, và chủ yếu là
đánh thành Ung Châu.
Ngày
27 - 10 - 1075, quân ta mở đầu cuộc tiến công vào đất Tống.
Trước khi ra quân, Lý Thường Kiệt tuyên bố:
"Trời
sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục. Đạo làm chủ dân,
cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo
khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch,
bày những phép "thanh miêu", "trợ dịch", khiến trăm họ mệt
nhọc lầm than mà riêng thỏa mái mưu nuôi mình béo mập.
"Bỡi
tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà vẫn
sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên
phải xót. Những việc từ trước, thôi nói làm gì!
"Nay
bản cức vân mệnh quốc vương, chỉ đường tiến quân lên
Bắc, muố dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt
quốc thể, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ
bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng thánh Thuấn
thăng bình!
"Ta
nay ra quân, cốt chỉ cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm.
Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hảy
tự đắn đo, chớ cómang lòng sợ hãi".
- bản
dịch của Trần Văn Giáp, trích dẫn Thơ Văn Lý Trần, tập
1 -
Lý
Thường Kiệt ra lệnh tập trung thủy quân ở Vĩnh An và bộ
quân ở dọc biên thùy các châu: Quảng Nguyên, Môn, Quan Lang
và Tô Mậu. Khí giớ thì ngoài cung nõ, trường thương mà
hai bên đều dùng, ta có tên tẩm thuốc độc, và máy bắn
đá. Ta còn dùng nhiều chiến thuyền và voi để xung phong.
Voi có thể do cả đường thủy và đường bộ tiến vào.
Đạo quận thuộc các bộ tộc thiểu số do Tôn Đản chỉ
huy, được lệnh xuất quân trước, chia thành nhiều ngã vượt
biên giới tiến chiếm các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Hoành
Sơn... châu Tây Bình, châu Lộc. Một cánh quân khác đóng gần
biên giới Khâm Châu cũng kéo tới đánh các trại Như Hồng,
Như Tích và Đề Trạo. "Quân ta tới đâu như vào nhà trống
người không" (VSL).
Trong
khi ấy, Lý Thường Kiệt dẫn đại quan đi đường thủy,
từ châu Vĩnh An (Móng Cái) tới Khâm Châu và Liêm Châu. Ngày
30 - 12 - 1075, quân ta tiến chiếm thành Khâm Châu, bắt
toàn bộ quan quân, không phải giao phong một trận nào. Ba ngày
sau, 2 - 1 - 1076, Liêm Châu cũng mất vào tay quân ta. Tám nghìn
thổ binh bị ta bắt làm phu khiêng vác...
Chiếm
xong hai châu Khâm, Liêm, Lý Thường Kiệt dùng chính sách "phủ
dụ" để nêu danh nghĩa làm yên lòng dân Tống, ông sai yết
bảng dọc đường kể tội quan Tống. Lời Lộ Bố nói rằng:
"Quan coi Quế Châu đã kiểm điểm dân các động và đã tuyên
bố rõ ràng muốn sang đánh Giao Chỉ". Ông cũng lợi dụng
sự tranh chấp giữa hai phái tân và cựu trong triều đình
Tống, để chia rẽ hàng ngũ địch. Trong các lộ bố có nói:
"Trung Quốc dùng các phép thanh miêu, trợ dịch, làm dân khốn
khổ. Nay ta đem quân tới cứu"[21]
Khi
được tin hai châu Khâm, Liêm đã mất, vua tôi Tống rất lo
ngại, hoang mang. Triều đình náo động. Các tướng ở địa
phương bối rối. Ty kinh lược Quảng Nam Tây Lộ vội vã xin
viện binh: 20.000 quân, 3.000 ngựa, xin thêm khí giới, đồ dùng
và một tháng lương, và xin được đều động các dân khê
động, tất cả lấy dọc đường từ knh đến Quảng Tây.
Để điều khiển quân được mong chóng, ty ấy cũng xin dời
đến thành Tượng, gần phía bắc Ung Châu. (LTK)
Trong
lúc bối rối, triều đình Tống đối phó rất lúng túng.
Vua Tống cách chức Lưu Di và sai Thạch Giám thay coi Quế Châu
và làm kinh lược sứ Quảng Tây, đồng thời xuống chiếu
cho các quan lại địa phương, dặn rằng: "Nếu xem chừng quân
Giao Chỉ tới đâu mà không đủ quân giữ, thì chỉ giữ lấy
chỗ hiểm mà thôi. Chỗ nào có tiền, vải, lương thực, thì
phải chở tháo đi, đừng để lọt vào tay địch". Sau đó
lại ra lệnh trái ngược, nói rằng: "Nếu quân bỏ thành đi
chỗ khác, thì lo rằng dân rối sợ. Hãy bảo các quan ty đều
phải trở lại thành mình".
Trên
các mặt trận, quân Lý hoàn toàn làm chủ. Lý Thường Kiệt
ra lệnh cho đạo quân ở Khâm và Liêm Châu tiến lên phía
bắc. Đạo đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường
thẳng dài chừng 120 cây số, nhưng phải qua dãy núi thập
vạn. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu tiến sang phía đông
bắc chiếm lấy châu Bạch, hình như để chặn quân tiếp
viện của Tống từ phía đông tới. Rồi hẹn ngày 18 - 1 -
1076, hai đạo quân sẽ cùng hội lại tạo thành một sức
mạnh tiến công bão táp và bất ngờ vây chặt lấy Ung Châu.
Ung
Châu là một thành lũy kiên cố, do tướng Tô Giàm cùng với
2.800 quân cương quyết cố thủ, để chờ quân các châu và
quân triều đình tới tiếp cứu. "Cuộc chiến đấu ở
thành Ung Châu, bởi thế, sẽ rất gay go, quyết liệt, và sẽ
là một trường tranh đấu giữa mưu trí của Lý Thường Kiệt
và lòng dũng cảm của Tô Giàm" (LTK)
Ngày
11 - 2 - 1076, Trương Thủ Tiết, từ Quảng Châu, đem quân tới
cứu viện, bị quân ta chặn đánh ở ở Côn Lôn (phía bắc
Ung Châu) cách Ung Châu 40 cây số. Quân Tống bạc nhược chưa
đánh đã chạy. Nhiều tên quân hàng theo ta. Trương Thủ Tiết
và nhiều tướng tá bị giết.
Thành
Ung Châu vẫn tiếp tục bị vây hãm. Quân ta dùng một thứ
công cụ (thường gọi là máy bắn đá) nhằm bắn vào trong
thành, khiến người và ngựa chết như rác. Quân của Giàm
có cung thần tí bắn một phát được nhiều tên, giết nhiều
lính và voi của ta. Lý Thường Kiệt ra lịnh cho quân sĩ chiếm
thành. Nhưng thành cao và chắc, quân ta phải dùng vân thê,
là một thứ thang bắc truyền nối nhau rất cao, để leo lên
thành, nhưng vẫn không tiến theo được bước nào. Ta phải
dùng đến kế đào đường hầm, định chui vào thành, cũng
không vào nổi. Sau dùng hỏa công, nghĩa là bắn các chất
cháy như nhựa thông vào thành. Trong thành thiếu nước, không
thể chữa được cháy.
Sau
42 ngày công phá mà không sao phá được, cuối cùng ta dùng
phép thổ công: lấy đất bỏ vào bao bì, xếp chồng lên nhau,
thành bực thềm để lên thành. Bao đất chất hàng vạn, dần
dần qua như núi. Chốc lát đã cao đến vài trượng. Quân
Lý nối tiếp nhau như kiến mà trèo lên, rồi lọt vào trong
thành. Hôm ấy là ngày 1 - 3 - 1076. [22]
Lý
Thường Kiệt sai phá thành Ung Châu, lấy đá lấp sông để
ngăn ngừa quân cứu viện của địch. Rồi tiếp tục tiến
lên phía bắc, định lấy Tân Châu. Viên coi Tân Châu, nghe
quân ta kéo gần đến thành, bỏ thành chạy trốn (LTK).
Sau
khi Ung Châu thất thủ. Mộng Vương An Thạch định lấy nước
ta đã tan tành như mây khói. Dư luận xôn xao ở khắp nơi
rất bất lợi cho y. Các triều thần nhao nhao phản đối vì
"ai cũng biết y là chủ mưu và hoàn toàn phải mang trách nhiệm".
Tuy nhiên, Vương An Thạch vẫn tìm mọi cách để tự bào chữa:
"Đáng lẽ ta phải đánh khi Càn Đức (tức Lý Nhân Tông) mới
lập. Bấy giờ, các khê động đều muốn nội phụ. Nếu
lúc ấy ta muốn đánh Giao Chỉ, thì chỉ cần hai vạn tinh
binh, chọn năm sáu tướng vừa vừa,l à có thể làm xong chiện".
Y nói thêm: "Tôi, khi trước Thấy Giao Chỉ đánh Ung Châu chưa
hạ được, trong nước chúng bỏ không, nên tính có thể hành
động chóng mà đánh úp ở hậu phương nó. Làm như thế thì
ta không cần đánh quân nó đương cướp ở nước ta, mà chúng
cũng bị tan. Sau khi Ung Châu mất, sự đánh úp chúng không
thể bàn đến nữa".
Cuộc
hành quân thần tốc của Lý Thường Kiệt nhằm đánh phủ
đầu vô đất Tống - trước khi chúng định đánh lấy nước
ta - đã làm đảo lộn mọi kế hoạch của địch, khiến chúng
phải chùn bước: đang từ thế chủ động rơi vào thế thụ
động; vì thế, cuộc đánh phục thù và có ý đồ xâm lăng
nước Đại Việt của Tống đành phải lùi lại một thời
gian nữa mới có thể thực hiện. Vương An Thạch không kịp
chờ kết quả của cuộc phát binh trả thù mà mình đã chủ
mưu. Tháng 10 năm 1076, tể tướng Vương An Thạch từ chức.
Khi
mục tiêu của cuộc “hành quân” đã đạt được, Lý Thường
Kiệt ra lệnh cho toàn bộ quân nhanh chóng rút về nước, chuẩn
bị cuộc khánh chiến mới, chống quân Tống sắp sửa kéo
xuống xâm lăng nước ta. [23]
Cuộc
khởi binh của Tống lần này có mục đích rõ rệt: vừa đánh
báo thù, sau khi quân lý đánh chiếm các châu Khâm - Liêm -
Ung, vừa có chủ ý "chinh phục nước ta và sáp nhập
đất đai ta vào Tống".Chỉ sau 8 ngày, Ung Châu bị quân ta
chiếm, ngày 9 - 3 - 1076, vua Tống cử Quách Quỳ làm An Nam đạo
hành doanh mã bộ quân tổng quản chiêu thảo sứ, Triệu Tiết
làm phó, cầm quân sang đánh Đại Việt.
Muốn
chắc đạt mục đích, một mặt, Tống sửa soạn một cách
chu đáo về đủ mọi phương diện: "tướng tá, quân bộ,
quân thủy, khí giới, lương thực, thuốc men, xe ngựa, tàu
thuyền, tuyên truyền, phủ dụ...; Mặt khác, vua Tống sai sứ
qua chiêm Thành, Chân Lạp xúi giục các nước này đánh biên
thùy phía nam nước ta.
Đại
quân sẽ kéo xuống, tập trung tại Ung Châu, bắt đầu tháng
8 năm 1076, những cánh quân Tống đã đột nhập miền đất
nước ta, do Thẩm Khởi cầm đầu, đánh chiếm châu Vĩnh An.
Tháng
10, Yên Đạt đánh vào châu Quảng Nguyên (Cao Bằng), một vị
trí chiến lược của ta ,mà có lần, Quách Quỳ đánh giá
rất quan trọng: "Quảng Nguyên là cổ họng của Giao Chỉ.
Có binh giáp mạnh đóng ở đó. Nếu ta không đánh lấy được,
thì sau khi ta đi sâu vào đất chúng, quân ta sẽ bị đánh
cả mặt trước mặt sau".
Lư
Kỳ đốc thúc 5.000 quân cự chiến, nhưng đến ngày 1-1-1077,
Quảng Nguyên bị mất.
Ngày
8-1-1077, Quách Quỳ dẫn đại quân từ Tư Minh, Bằng Tường
theo đường qua ải Nam Quan đánh vào ải Quyết Lý, bị quân
ta - do phò mã Thân Cảnh Phúc chỉ huy - chặn lại ở đây.
"Quân Tống không thể tiến, Quỳ sai quân cung tiễn thủ lấy
nõ bắn vào voi. Voi sợ, quay chạy, dẫm xéo lên quân Lý, Quân
Lý tan vỡ. Quyết Lý mất" (LTK).
Với
một đạo quân hơn mười vạn người, do chín tướng dặt
dưới sự chỉ huy của Quách Quỳ. Mỗi tướng đều động
chừng 5.000 quân. Vậy có 45 ngàn quân chính qui, trong số đó
có 2.500 kỵ binh châu Kinh, Nguyên, Tần, Lũng... Ngoài 5.000 quân
chính quy ra, dọc đường sẽ mộ thêm binh các lộ Hà Bắc,
kinh động và ở miền nam, Động Đình và quân tình nguyện.
Tại chính huyện thuộc Quế Châu, Quách Quỳ ra lệnh bắt
8.500 bảo đinh, 91.200 hạng khác. Chủ lực Tống là bộ binh.
Quách Quỳ và Triệu Tiết đều là những tướng giỏi, quen
với lính cưỡi ngựa vùng cao nguyên và sa mạc, nên cuộc
nam chinh lần này, Quách Quỳ đã đem theo một vạn con ngựa.
Tống
cũng chuẫn bị một toán thủy binh phối hợp với bộ binh,
nhưng thủy binh không có chiến hạm; như vậy, làm sao so được
với thủy binh của ta vốn đã quen với chiến trận và có
truyền thống đánh đuổi quân Hán - Tống dưới thời Ngô
Quyền - Lê Đại Hành, lập nên nhưng chiến công hiển hách,
làm khiếp vía kẻ địch.
*
ngày
27-3-1076, Quách Quỳ từ dã Phu Diên về đến Biện Kinh. Quỳ
vào yết kiến vua Tống. Tống Thần Tông xuống chiếu, dặn
rằng: "Sau khi bình được Giao Chỉ, sẽ dặt châu huyện như
ở nội địa".
Quân
Tống tiếp tục tràn xuống, theo đường tắt qua dãy núi Đâu
Đỉnh, tới phía tây bờ sông Phú Lương; trong khi đó, một
cánh quân tách ra, vòng sang phía đông đánh bọc hậu quân
ta ở Giáp Khẩu (Chi Lăng) và thẳng tới Sông Cầu vào ngày
18-1-1077. Quân Tống đóng trên một tuyến dài 60 đặm (khoảng
30 cây số) từ bến đò Như Nguyệt đến gần núi Nham Biền.
Bờ
bên này là quân của ta tấ ngự.
Dòng
sông Như Nguyệt trở thành chiến tuyến thiêng liêng mà Lý
Thường Kiệt đã "tiên liệu" chọn làm nơi phòng ngự cuối
cùng nhằm chặn dứng quộc tiến công của địch định vượt
sông, chiếm lấy kinh đô Thăng Long. Ông đã sai đắp đê Nam
Ngạn cao như một bức thành. Ngoài đê, đóng cọt tre mấy
lớp để làm giậu. Quân ta đóng dọc theo sau lũy tre dài gần
100 cây số, sẵn sàng đón đánh địch, nếu chúng chực qua
sông.
Đại
bản doanh quân Lý đóng ở Thiên Đức và Thăng Long. Phòng
tuyến ra rất kiên cố. Mà quân Tống laị không có thuyền
qua sông. Thủy quân cũng không thể tới. Quân tống bị chặn
đứng ở bên kia sông Cầu. Quách Quỳ sai bắc cầu phao, đóng
bè lớn, mỗi lần, chở được 500 quân sang sông, hết lớp
này đến lớp khác, rầm rộ tiến công vào phòng tiến của
ta. Quân ta từ bên bờ cao đánh xuống. Quân Tống, phần bị
giết, phần xin hàng, đạo quân đã qua sông hoàn toàn tan rã.
Đã
hai lần quân Tống vượt sông thì cả hai lần thất bại nặng
nề.
Quách
Quỳ chán nản, thất vọng, không dám nghĩ đến việc vượt
sông nữa, và ra lệnh: "Ai bàn đánh sẽ bị chém!".
Tống
Thần Tông trước kia từng dặn Quách Quỳ: "Phải lo việc
An Nam cho chóng xong". "Khi đem quân vào cõi chúng, ta phải đánh
cho chóng được". "Sau khi bình được Giao Châu, sẽ đặt châu
huyện như nội địa. Giấc mộng bá chủ nhằm "chinh phục
nước ta và sáp nhập đất dai và Tống" đã không thể nào
thực hiện được.
Hơn
một tháng bị lún chân ở bên kia khúc sông Như Nguyệt (Sông
Cầu), quân Tống Lâm vào tình trạng bi đát; lương thực ngày
một vơi dần, đường tiếp vận quá xa xôi, phu phen thiếu
thốn, lại bị quân ta chặn bít các ngã, không thể nào chuyển
được lương thực tới nơi. Sau lưng địch, những toán quân
nhỏ của ta không ngừng hoạt động quấy phá. Cộng vào đó,
thời tiết đang chuyển dần san nóng nực - sức nóng dữ dội
của mùa hạ - không thích hợp với quân Tống. Số quân lính
và phu vận chuyển mệt mỏi, chêt dần chết mòi quá nửa,
số còn lại cũng bị ốm đau. "Lương ăn của chín đạo quân
đã cạn. Lúc ra đi, quân có mười vạn, phu có 20 vạn. Vì
nóng bức và lam chướng, quân phu đã chết mất quá nửa rồi.
Còn non nửa, cũng đều ốm" (LTK).
Thời
cơ và hoàn cảnh rất thuận tiện cho ta chuyển sang thế phản
công. Hai hoàng tử Hoàng Châu và Chiêu Văn, theo kế hoạch
đã vạch sẵn, dẫn 400 chiến hạm, đổ bộ vài vạn quân
đánh vào trận tuyến địch ở vùng sông Kháo Túc (Sông Cầu
gần núi Kháo Biền) đê nhử địch về hướng này, rồi kéo
quân xuống thuyền trở về căn cứ địa, bị quân địch
bắn đá như mưa làm thuyền chìm. Quân ta chết đuối khá
đông và hai hoàng tử cũng đã hy sonh anh dũng. Nhưng sau đó,
vào một đêm không trăng sao, đại quân của ta, do Lý Thường
Kiệt chỉ huy, mở cuộc tổng phản công bất ngờ đánh úp
vào doanh trại chính của địch. Quân Tống đại bại.
Trước
khí thế chiến thắng oanh liệt ấy, Lý Thường Kiệt dõng
dạc đọc vang trước ba quân bài thơ Lẫm Liệt bất hủ:
"Nam
quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt
nhiên định phận tại thiên thư
Như
hà nghịch lỗ lai xâm Phạn
Nhữ
đẳng hành khan thủ bại hư"
Tạm
dịch:
1.
Nước Việt Nam vua Nam quản trị
Sách trời vạch định rõ biên cương
Cớ sao lũ giặc sang xâm Phạn?
Quyết đánh không tha, buộc chúng hàng.
2.
Vua Nam ngự trị nước Nam ta
Ranh giới sách trời đã vạch ra
Quân giặc, cớ sao sang cướp phá?
Bọn ngươi chuốc lấy nhục thua mà!...
Bài
thơ ngắn, vỏn vẹn chỉ có 28 chữ. Mà hồn thơ là hồn
của dân tộc nên lời thơ như sấm sét đã tác động tâm
lý người nghe (hay đọc) đến phải sửng sốt rợn tóc gáy.
Toàn bài tơ chứa đựng cả một nội dung triết lý "chính
trị nhân sinh", nói lên sức mạnh của một nước Đại Việt
Tự Chủ (mà) Lý Thường Kiệt, người đại diện triều đình,
đại diện cho toàn thể quốc dân, tuyên bố lúc mở cuộc
tổng phản công diễn ra tại khúc sông Như Nguyệt, với lời
thơ ấy, đã kích động lòng yêu nước, trí thông minh sáng
tạo, sức dũng cảm phi thường của tướng sĩ ta, cương quyết
đánh đuổi quân xâm lược Tống ra khỏi bờ cõi, nhằm bảo
vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ gìn nên độc l