Phần
Thứ Ba
Thực
Chất Ðạo Phật
Hết
thảy thế gian pháp
đều
là Phật pháp.
Vimalakirti
sùtra
Chương
Một
Đạo
Phật, Nguồn Văn Hóa
Sinh
Ðộng…
Đạo
Phật có sứ mệnh đem ánh sáng của Trí Tuệ và Tình Thương
đến với muôn loài chúng sanh.
Ánh
sáng của tinh tú, của mặt trời, mặt trăng giúp cho con người
thoát khỏi cảnh tối tăm mờ mẫm.
Ánh
sáng của chính pháp Trí Tuệ và Tình Thương tạo cho con người
sống an vui tự tại, biết thương yêu tất cả mà không gây
khổ đau cho nhau Trí Tuệ và Tình thương là hai cốt tính của
đạo Phật. Nền văn hóa Nhân Bản của đạo Phật được
thể hiện trọn vẹn trên hai tiêu chuẩn ấy.
Nội
dung của nguồn giáo lý đạo Phật được xây dựng trên nền
tảng nhân bản hết sức thực tại và uyển chuyển. Vì vậy,
nói tới “Nhân Bản” tức là nói tới đạo Phật. Một
Đạo Phật Sinh Động Của Nguồn Văn Hóa Nhân Bản Đích Thực.
Đạo Phật là một thực tại sinh hoạt tinh thần và vật
chất hiện hữu trong cuộc đời, là hướng tính, lối sống,
lẽ sống... của con người muôn loài vạn vật. Do đó, đạo
Phật chú trọng lấy Tình Thương làm động tâm sử thế,
lấy Trí Tuệ làm ngọn đuốc soi đường cho con người hướng
về chính đạo. Trên hai nghìn rưởi năm lịch sử truyền
bá, nguồn văn hóa đạo Phật luôn luôn phát triển với không-thời
gian, hòa hợp chặt chẽ với cuộc sống từng thời đại
- Một nền văn hóa thực tại, quán thông vũ trụ nhân sinh,
lấy con người làm đối tượng để giải quyết những việc
của con người; lấy nhân tính làm cơ chỉ kiến thiết một
Xã hội người công bằng và hợp lý; thừa nhận giá trị
trí thức và khả năng sáng tạo của con người, và khuyên
con người thương yêu tất cả, làm việc cho tất cả... Con
người trong đạo Phật là con người dễ hòa nhập “tiểu
ngã” của mình làm một với “đại ngã” rộng lớn của
vũ trụ vạn hữu. Không có Cái Này thì chẳng có Cái Kia,
cũng như Cái Này có thì Cái Kia có: cả hai. Hiểu được tiểu
ngã cũng chính là hiểu được đại ngã khám phá được chính
nội tại nơi ta, là thấy được toàn thể vũ trụ. Cho nên
đức Phật ân cần khuyên con người:
“Hãy
tự mình thắp đuốc lên mà đi!”
Hãy
im lặng là rất sống, rất sáng!
Hãy
đem lòng mình đối diện với hồn của lịch sử!
“Mỗi
sầu thảm, mỗi khổ đau đều bắt rể bén mầm trong cái
tối tâm, tham lam, ác độc, thù hận, nghi kỵ, thấp hèn sợ
sệt của con người cả. Con người đang xô đẩy nhau vào
cái nghiệp chướng cuồn loại khổ đau để rồi phiêu lưu
trong cuộc luân hồi phiền não vô tận.
"Sao
không cứu lấy họ?”
“Sao
không đưa họ đến Thắng Địa?”
“Không
ai cứu nổi họ đâu! Chỉ có họ tự cứu lấy mình. Không
thần thánh nào cứu nổi nhân loại hết. Chỉ có nhân loại
tự cứu lấy mình thôi. Con người làm thần thánh lấy chính
mình và làm thần thánh lấy vũ trụ. Chỉ có con người mới
thực hiện được mọi sự tốt đẹp của mình trong vũ trụ
mà thôi”.
Con
người có toàn quyền định đoạt cuộc sống của chính mình.
Trước hết con người phải gột rửa tâm hồn cho trong sạch,
biết nhóm lên ngọn lửa thương yêu, tin tưởng, và vui sống,
không còn mang thành kiến phân biệt chủng tộc, màu da, tiếng
nói, quốc gia hùng cường hay nhược tiểu để tất cả cùng
kiến tạo một xã hội ngườivăn minh tốt đẹp hơn.
Con
người là một chủng loại trung giới nối liền Phật giới
với chúng sanh giới, nên con người có đầy đủ dữ kiện
để tự giải thoát mình và giải phóng đời.
Để
đạt được mục tiêu cao cả ấy, con người cần hiểu và
thực chứng bốn nguyên lý.
1.
Nhân sinh là khổ (Khổ Đế)
2.
Những nguyên nhân gây ra sử khổ (Tập Đế)
3.
Chấm dứt sự khổ (giải thoát) (Diệt Dế)
4.
Phương pháp triệt tiêu sự khổ (Đạo đế)[1]
Hai
đế: Khổ, Tập thuộc về nhân quả thế gian.
Hai
đế: Diệt, Đạo là nhân quả xuất thế gian.
Đó
là bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phập tại vườn
hoa Lộc Uyển để hình thành ngôi Tam Bảo: Phật – Pháp -
Tăng.
Đó
cũng là nguyên nhân để Phật lý hội đủ điều kiện thành
lập một nền văn hóa Nhân Bản Toàn Diện, gồm hai phần:
a.
Phần Nội Dung là Tam tạng thánh điển và những chứng lý
được trình bày trong đó hết sức minh bạch.
b.
Phần Hình Thức mà ta thường thấy ở đạo Phật ngày nay
là các chùa, tháp, lể nghi v.v... Tất cả những thứ đó chỉ
là phương tiện (tạo không khí) đưa con người trở về với
Phật tính sẳn có của mỗi chúng sinh. Mà nói tới văn hóa
tức phải đề cập ba mặt: Nghệ Thuật, Học Thuật, Kỷ
thuật.
* Về
Nghệ Thuật: Do sự rung cảm suy tư của người nghệ sĩ đã
sáng tạo ra những công trình nghệ thuật, và được người
đời đồng cảm nhìn nhận, nên những công trình nghệ thuật
đó trở thành “dấu ấn tinh thần của các thời đại”.
Riêng về nghệ thuật thuộc các tôn giáo thì chẳng có vị
giáo chủ nào nói tới. Nhưng chính cuộc sống và những điều
truyền dạy của các Ngài đã là những tác phẩm tuyệt mỹ
rồi vậy. Thế nên mỗi tôn giáo đều có những nét nghệ
thuật độc đáo khác nhau, do những rung cảm suy tư của các
tín đồ nghệ sĩ hướng về tôn giáo mình tạo ra. Thế nên
có nền nghệ thuật mang đặc tính tôn giáo qua các thời đại.
Đạo
Phật vốn mang bản chất bao dung, trí tuệ và khai phóng nên
đã không thành lập hội thánh giáo quyền duy nhất, mà chỉ
khuyến lập những giáo đoàn của con người tự tu tự giác
(đi) vào đời giáo hóa chúng sanh bằng những cơ duyên sẵn
có của chúng sanh “Tự tu Tự giác”.
Chính
vì vậy những kiến trúc thờ tự của Phật giáo không mang
một sắc thái duy nhất, mà là đã đa dạng thuận theo với
sự thờ phụng của các nước mà đạo Phật truyền vào.
Các chùa cảnh vùng Nam Á chiụ ảnh hưởng của văn minh Ấn
Độ, thì vẫn giữ kiểu cách vòm cao tháp tròn. Còn các nước
Á Đông lại giữ dáng vẽ văn minh Trung Hoa mái cong tháp vuông.
Những
nét chung khi nói đến chùa là phải nói tới cảnh. Cảnh và
chùa tuy hai mà một. Chính chùa cảnh là công trình phối hợp
giữa thiên nhiên và nhân tạo khiến cho người đặt chân
tới nơi đó điều có chung một cảm nhận như thấy tâm hồn
mình được thanh thoát, tự tại.
Hình
ảnh đức Phật thì tướng mạo phải là tướng mạo cao đẹp
nhất mà người bản địa cảm nhận. Thế nên xét về phong
độ của Phật lại mang tính cách thống nhất, dù ngồi, nằm
hay đứng trong tượng Phật đều toát lên vẽ an nhiên thoải
mái thoát tục, nhất là nụ cười đọng trên môi, chỉ có
thể gọi đó là nụ cười Phật, dịu hiền, hoan hỹ, thanh
thoát.
Ở
bất kỳ nơi đâu các nghệ sĩ Phật giáo cũng để lại cho
đời những pho tượng Phật siêu thoát, những cảnh chùa thoát
tục. Để rồi những tiếng chuông ngân dài như những đợt
sống hải triều theo nhau nổi lên rồi ngân xa chìm xuống.
Như tiếng gọi vô thường giữa cảnh giới vô biên.
Văn
chương thi ca Phật Giáo vốn đa dạng, phong phú, nhưng nét
chung ở đâu lúc nào cũng mang nội dung gợi ý cho con người
nhận rõ thân phận của mình, tự chủ, tự do bước trên
con đường thoát khổ.
Tóm
lại, những đường, nét, hình dáng, âm sắc, thơ, văn Phật
gíáo đều có những điểm chung là từ bi, trí tuệ, và giải
thoát, có thể nói Nghệ Thuật Đạo Phật Không Chỉ Là những
Nét Sáng Bén Của Rung Cảm, Suy Tư Của Con Người Không Thôi
Mà… Còn Vương Lên Mục Đích Cao Đẹp Là, Thăng Hóa Con Người,
Đổi Mới Cuộc Đời.
* Về
Học Thuật: Với một nhận thức quan tổng hợp rộng lớn,
với một căn bản tự do tư tưởng và trên hai thiên niên
kỷ tồn tại, đạo Phật không lúc nào ngừng phát triển
để mãi mãi xứng đáng là nguồn Văn Hóa Nhân Bản Đích
Thực, vĩ Đại, với mục đích phục vụ con ngưới và
xây dựng một cuộc sống An Lành, Hạnh phúc ở ngay cõi đời
“ngũ trược ác thế này”.
Kinh
Pháp Hoa, phẩm Thí Dụ, đức Phật dạy: “Tam giới vô an
do như hỏa trạch” (ba cõi không an ví như nhà cháy…). Hiện
nay nhân loại đang sống trong “thời đại nhiễu nhương”
tâm tư con người bị giằng xé bởi những mâu thuẫn của
cuộc đời: kiếp sống thì khổ đau cơ cực, kiến thức sai
lầm, tâm địa xấu xa, con người ác độc, và cuộc đời
lại quá ngắn ngủi… Đó là những sự thật hiển nhiên
bày ra trước mắt mỗi người: “Nổi khổ đau của chúng
sanh là nỗi khổ đau của mình”.
Do
Đó, nền tảng Học Thuật của đạo Phật là dạy cho con
người thực hành ba yếu lý cơ bản (Tín-Hành-Nguyện) để
gây nhân lành sẽ hái quả tốt Trước hết là phải có đức
“Tin” vững chắc: Tin đức Phật là bậc Thầy Sáng suốt.
Tin đạo Phật là đạo Giác Ngộ Giải Thoát, có công năng
đưa (chuyên chở) chúng sanh từ bến Mê (khổ não, tối tăm
lầm lạc) tới bờ Giác (được tự tại an vui). Thứ nữa
“Hành”, làm tất cả mọi việc (không luận là việc lớn
hay nhỏ) khi xét thấy hữu ích cho cuộc đời, cho chúng sanh,
không trái với lẽ phải, không gây ra oan nghiệt làm hại
người tổn vật, Sau cùng là phát “Nguyện” lớn cứu
độ hết thảy chúng sanh.
Là
những tâm hồn lớn, muốn thực hiện hạnh nguyện Bồ Tát
“cứu thế độ sinh” (mà) điều tiên quyết đòi hỏi ở
người đó: là lòng phải rộng, trí phải sáng, phải tự
chết đi những thói hư tật xấu như: tính ghen ghét, ngu dốt,
ích kỷ, dối trá, hận thù, tự cao tự đại… để tái sinh
một con người mới: Con người thánh thiện - sống bằng –
tâm - hồn Phật - một cuộc sống đẹp như bông sen (sinh ư
nê bất nhiễm ư nê) mới có đủ Thắng Nghĩa để làm những
công việc hữu ích cho đạo và đời.
Phần
Tinh Hoa Của Ðạo Phật Lưu Trú Trong Ba Ðại Tạng Kinh, Một
Nền Văn Hóa Nhân Bản Thực Tại Ðã Hướng Dẫn Cho Gần
Một Phần Tư Nhân Loại Sống An Vui Và Biết Thương Yêu Nhau
Hơn.
* Về
Kỹ Thuật: Khoa học kỹ thuật vốn là kết quả của công
phu “suy tư thực nghiệm” của con người. Sau khi thành đạo
bên gốc Bồ Đề, lần đầu tiên, đức Phật long trọng tuyên
bố với thế gian: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tính”
Cũng lần đầu tiên ấy, thật vô tiền khoáng hậu, đức
Phật đã giải thích những lẽ huyền bí về “vũ trụ vạn
hữu” một cách tinh tường quán triệt. Ngài nói: Trong cõi
Sa bà có tam thiên đại thiên thế giới, cũng gọi là “Thập
phương vi trần thế giới” Và đã mở ra Con Đường Sáng
cho nhân loại chúng sanh đi theo. Những nhà thiên văn học hiện
đại cũng thừa nhận: trong vũ trụ không chỉ riêng có thế
giới chúng ta ở, mà có hằng hà sa số thế giới, Khoa học
tìm được năng lực tiềm ẩn trong vạn vật - Chính năng
lực chuyển động không ngừng mới giữ cho vạn vật thành
hình phát triển mà khỏi phải bị triệt tiêu - Đấy là lúc
các nhà trí thức quan tâm nhiều tới luận chứng của đạo
Phật, vì đức Phật quả quyết rằng: trong mỗi loài mỗi
vật đều có phần năng lực tiềm ẩn, đó là Phật tính.
Khoa học ngày nay đã gặp đạo Phật ở những điểm chung,
như chúng ta thấy. Tuy nhiên khoa học chưa thể theo kịp cái
“biết” của đấng Giác Ngộ Viên Mãn, Đây cũng là điều
để lưu ý các nhà khoa học kỷ thuật cần nghiên cứu những
cái Thật, Cao, Đẹp ở đạo Phật để bồi bổ cho kiến
thức khoa học thêm giàu có, sáng, đẹp.
Chúng
tôi tinh tưởng văn minh nhân loại ngày nay với tinh thần gặp
gở giữa khoa học và Phật hoc (rất có thể ) còn tiến
xa hơn nữa trên nghành kỹ thuật, để tạo dựng một cuộc
sống văn minh cho con người mỗi ngày thêm hoàn thiện.
Với
một tinh thần cởi mở, bao dung và truyền cảm hết sức mầu
nhiệm, đượm sắc thái hiếu sinh, hiếu hòa và giải thoát,
nên đạo Phật truyền vào quốc gia nào cũng được quần
chúng nhân dân ở quốc gia đó nhiệt liệt hoan nghênh, tin
tưởng cổ vũ và phụng sự. Ngoài các nước Á Ðông, đạo
Phật đang trên đà phát triển tại các nước Âu Mỹ và khắp
toàn thế giới. Những tư tưởng gia, những nhà bác học hiện
đại cuối thế kỷ XX đã bày tỏ sự tán đồng thuyết lý
“Từ Bi, Trí Tuệ và Tự Chủ” rất nhân bản của đạo
Giác Ngộ, và lấy làm cảm kích nguyện nghiên cứu, học hỏi
nguồn giáo lý vô thượng của đạo Phật, chỉ vì tinh thần
giáo lý ấy không bao giờ trái với sự việc nào, bất cứ
ở đâu, hạng người nào, khi họ hướng đến chân lý.
Trong
Khi Con Người Thời Ðại Ðang Khao Khát Tìm Hiểu Sự Thật
– nghĩa - sống - của - cuộc - đời - Đạo Phật Chính Là
Chất Liệu Cho Con Người Tìm Hiểu Nghĩa Sống Cuộc Ðời.
Đạo Phật Truyền Tới Ðâu Cũng Dung Hợp Ðược Với Dân
Tộc Tính, Dân Tộc Tình, Dân Tộc Trí Của Các Nước Tiếp
Nhận Ðể Làm Giàu, Làm Mới Cho Con Người Và Cuộc Ðời.
Với
tư tưởng cao đẹp ấy mà Nguồn văn hóa đạo Phật đã thấm
sâu trong tim, óc con người, từng thời đại, làm thỏa mãn
những nhu cầu khát vọng tâm linh của nhân loại trí thức
ngày nay.
Đạo
Phật vốn không tự đóng khung, nên không bị thoái hóa, do
đó, xứng đáng tiêu biểu cho nền văn hóa thực tại, bao
dung, toàn thiện của nhân loại ở hiện tại và tương lai,
vì tự bản thân đạo Phật đã viên mãn Văn-hóa-tính rồi
vậy.
Đạo
Phật, Nguồn Văn Hóa sinh Động Của Nhân Loại
[1]
Xem Tứ Diệu Ðế và Bát Chánh Ðạo
Chương
Hai
Sức
mạnh của Đạo Phật thể hiện trong ba đức tính:
Đại
Bi-Đại-Trí-Đại Hùng, một đạo có ảnh hưởng lớn đã
thấm sâu vào Đời sống dân tộc việt.
Hoa
sen (tượng trưng Đạo Phật) sinh trưởng ở trong bùn mà không
nhiễm bùn. Đạo Phật xuất hiện ngay ở cỏi đời ngũ trược
này để làm đẹp cho cuộc đời. Đó là sức mạnh tinh thần
của đạo Phật đã thể hiện trong cuộc sống con người
từ hơn hai thiên niên kỷ nay và mãi mãi. Khi ta mở trang sử
vàng son của đạo Phật và xét định giá trị đích thực
của nó, kể từ khi đạo Phật truyền bá trên trái đất
và riêng tại Việt Nam: sự hiện diện của đạo Phật đã
có hai mươi thế kỷ, trải qua nhiều thăng trầm biến thiên
lịch sử (đạo Phật đã cùng với dân tộc Việt cùng
chung cảnh ngộ) gặp khi biến, đạo Phật bị chìm đi cùng
với vận nước nổi trên, nhưng chỉ như cơn gió để quét
đi những rác rưởi cặn bã xấu xa. cũng có những thời kỳ
đạo Phật cực thịnh, như hai triều đại Lý - Trần (Thế
kỷ XI – XIV) cũng chính là lúc quốc gia Việt Nam hùng mạnh,
Chân tinh thần đạo Phật quả đã thấm sâu đậm trong đời
sống toàn thể quốc dân. Đạo Phật do đó đã trở thành
một Đạo Phật Việt nam, nên dù cho có gặp những thời gian
mưa nắng thì đạo Phật bao giờ cũng vẫn là đạo Phật
của quần chúng Việt Nam.
Nói
đến sức mạnh tinh thần là nói đến nội dung nguồn giáo
lý cao diệu trong Ba Đại Tạng Kinh to lớn của đạo Phật.
Sức mạnh ấy được hiển lộ qua ba đức tính: Đại Bi,
Đại Trí, Đại Hùng.
1.
Đại Bi: Là lòng tương yêu rộng lớn và sáng suốt. Là sự
tôn trọng sự sống và quyền sống của hết thảy chúng sanh.
Lòng thương yêu ấy được biểu thị qua đức Từ bi, lòng
vị tha, những đức tính trong sáng mà mọi người, mỗi người
cần ghi nhớ và thực hành. Trong sự trau dồi đức hạnh đạo
Phật khuyên con người diệt trừ mọi thói hư, nết xấu,
như phiền não, thù hận, ganh ghét,tham lam, ích kỷ, và tự
phụ. Không lợi dụng lòng tốt của người. Chỉ biết tận
tâm phục vụ cho công ích, bằng tình thương ngay thẳng, không
hạn cuộc ở thời gian, phương sở. Cuộc đời vốn dĩ đã
phức tạp, khổ đau, kiếp sống con người thì ngắn ngủi
và đầy bất trắc. Chúng ta hãy thương yêu nhau, xin đừng
bao giờ làm khổ nhau... Vì mỗi con người đều đáng thương
và cần được phụng sự. Từ Bi là yếu tố căn bản làm
khuôn mẫu sống cho con ngườivà cuộc đời vậy.
Đấy
là một lòng thương yêu chân chánh.
2.
Đại Trí: Là tâm trí trong sáng. Nhưng thế nào là trong sáng?
- Dựa trên những lý giải của đạo Phật để nhận thức,
tìm hiểu sự vật một cách chính xác hòng chuyển hóa sự
vật ấy. Như tin vào giáo lý của đức Phật đã dẫn giải
trong kinh là chân lý, rồi nương theo đó để thực hành mới
mong chứng ngộ chân lý (đạt đạo quả Bồ Đề). Nhờ có
trí tuệ mà con người có những cái nhìn, thấy và hiểu rõ
sự thật, lẽ sống muôn mặt của cuộc đời: căn cứ
trên hai tiêu chuẩn:
a. Lấy sự giác ngộ viên mãn làm đối tượng chính của
cuộc sống con người.
b. Lấy giải thoát mọi phiền não, khổ đau làm mục đích
tối thượng.
Thì
đó gọi là thực hiện bát nhã trí - Trí sáng tròn đầy.
3.
Đại Hùng: Là sự biểu tượng của ý chí và hành động.
Nhưng phải là hành động trong minh động, khế lý và khế
cơ. Hành động minh động là hành động bao giờ cũng kèm
theo bằng tấm lòng nhiệt thành với một khối óc sáng, một
nghị lực quả cảm, và luôn tỏ ra mình là Người - chữ
người viết hoa có một ý chí cao thượng, biết làm, dám
làm, làm cho kỳ được. Đấy gọi là Đại Hùng.
Ở
đời, không có gì là khó. Khi xưa, đức Thích Ca Mâu Ni sau
phút ngộ đạo bên gốc Bồ Đề rồi do tình thương yêu (đại
bi) trí sáng suốt (đại trí ) và lòng quả cảm (đại hùng)
nên Ngài đã tự nguyện dấn thân vào đời để hóa độ
chúng sanh. Đức Phật đã chu du khắp xứ Ấn Độ, cứu cho
hết thảy… Đạo Phật là ánh sáng mặt trời buổi giữa
trưa làm ấm áp những tâm hồn cóng lạnh, khổ đau, đem an
vui, hạnh phúc đến cho muôn loài vạn vật, và do đó, đã
gây được niềm Tin Tưởng nơi con người.
Bằng
vào sức mạnh tinh thần, đạo Phật mỗi ngày thêm phát triển
lớn mạnh, sáng, đẹp.
Nói
tắt, lý thuyết và thực hành của đạo Phật là Như Thật.
Sức
mạnh của đạo Phật là sức mạnh của toàn thể. Bởi sức
mạnh tinh thần ấy lấy Con người (Nhân Bản) làm cứu cánh
để xây dựng một xã hội người văn minh, giác ngộ và giải
thoát. Ảnh hưởng của xã hội tốt hay xấu là do sự điều
hành của con người - Chỉ có con người mới làm chủ cuộc
sống của chính mình. Cho nên, giá trị con người trong đạo
Phật là căn cứ trên việc làm và sự tu chứng trên công
hạnh: “Biết thực là làm được. Làm những việc khó làm.
Biết những điều khó biết” Sức mạnh tinh thần ấy thể
hiện trong ba đức tính: Đại Bi, Đại Trí, Đại Hùng, một
sức mạnh vạn năng. Có thể nói đấy là mục tiêu hướng
thượng của con ngươì, và là Nguồn Sống làm nở hoa cuộc
đời.
- Một
“Ðạo” hợp tình, hợp lý, hợp cảnh và hợp thời…
Chương
Ba
Những
Ðóng Góp To Lớn Của Ðạo Phật
Cho
Dân Tộc Và Nhân Loại
Không
thể chối được rằng một tôn giáo có trên hai nghìn năm
trăm năm mà lại không đóng góp gì trong cuộc sống cho con
người. Cũng không thể từ chối được rằng một tôn giáo
đã vào với dân tộc Việt từ hai nghìn năm, đã thăng trầm
cùng với vận nước lâu đời như vậy mà không đóng góp
gì trong cuộc sống dân tộc.
Phải
nhận rằng đạo Phật, là một biện chứng giải quyết những
vấn đề suy tư của tâm thức con người và là một biện
chứng cách mạng toàn triệt về mặt xã hội đối với nhân
loại. Ðạo Phật đã xuất hiện trong một thực tại suy tư
đa diện phồn tạp của nền văn minh Ấn Ðộ, xuất hiện
để dung hòa toàn bộ các trào lưu tư tưởng đối nghịch
đương thời, xuất hiện để san bằng những ngăn cách xã
hội giữa các đẳng cấp Tăng lữ, Cai trị, Thương nhân và
Tiện dân.
Rồi,
từ những căn bản đó, đạo Phật đã duỗi dài nguyên lý
vào cuộc sống của con người khắp các nơi cho tới ngày
nay và mãi mãi… Trong dòng vận động lịch sử dân tộc Việt,
đạo Phật đã là chất liệu thiết yếu để kết thành nền
văn minh tiêu biểu cho toàn bộ tinh hoa văn hóa của vùng Á
Châu thảo mộc. Ðạo Phật lại còn là một trong những nhân
duyên chính cho cuộc Cách Mạng Tự Chủ của Việt Nam vào
thế kỷ thứ 9 thứ 10. Và cụ thể hơn hết, trong năm 1963,
đạo Phật đã thắp lên những ánh lửa thiêng liêng soi sáng
cho thời đại chúng ta.
Ðạo
Phật Với Vấn Ðề Chính Trị
Sinh
hoạt của đạo Phật trong những năm qua, đã đặt cho đồng
bào cũng như chính Phật tử mối băn khoăn lớn là: Ðạo
Phật có phải là một thực thể chính trị hay không? Chưa
có trả lời thỏa đáng được câu hỏi ấy thì không những
đồng bào nghi ngại, mà chính Phật tử cũng không thoải mái
và tin tưởng vào những đóng góp của mình trong đại cuộc
dân tộc.
Một
tôn giáo đúng nghĩa, có giáo chủ, có giáo lý, có giáo hội,
đương nhiên đã can thiệp vào cuộc sống xã hội thì, dù
muốn dù không, cũng đã trở thành một thực thể chính trị
rồi. Chỉ khác một điều tôn giáo đó đã can thiệp vào
sinh hoạt xã hội qua thế chính trị nào? Thế cai trị, thế
cách mạng hay thế văn hóa?
Với
đạo Phật, vị giáo chủ đã được xưng tụng là “Thiên,
nhân sư”, tức là thầy của chư thiên và loài người. Ðức
Phật là bậc thầy, là người chỉ đạo, là nhà văn hóa
hướng dẫn, chứ không phải là nhà thống trị, dù là cai
trị thiên quốc hay nhân gian, dù thống trị tinh thần hay tổ
chức. Vì giáo lý có ghi rõ: đạo Phật chỉ giúp cho con người
tự giác ngộ chứ không buộc tín đồ phải tin theo bất cứ
một giáo điều nào. Với bản chất đó, đạo Phật đã trở
thành vô cùng phóng thoáng, tự tại. Tuy có tăng sĩ vượt
hình thái sinh hoạt thường nhân, có vị truyền thừa, nhưng
giáo quyền không đặt thành vấn đề, và hành đạo không
đặt ở trung ương mà đặt ở đại chúng. Giáo luật tuy
rất khắt khe, nhưng thi hành giáo luật là ở đại chúng và
từng môn phái, có những bản sắc riêng - đại chúng đây
được hiểu là đa số tăng sĩ ở chung một tu viện hoặc
một sơn môn – Nói rộng ra, đối với toàn thể Phật tử,
thì ý lực của toàn thể Phật tử có tính quyết định vận
mệnh giáo hội và thể cách sinh hoạt của đạo Phật.
Chính
vì đặc tính ấy, đạo Phật đã tùy thời, tùy thế, tùy
cảnh, trải ra hòa nhập với nếp sống quần chúng, hoặc
tụ lại thành các thế lực quyết định vận mệnh từng
thời đại. Tuy tán tụ, nhưng vẫn không mất tính cách trường
tồn vì các tu sĩ vẫn còn đó, vẫn là một thực thể đại
biểu cho truyền thống của đức Phật, vẫn duy trì địa
vị của “ông thầy” đối với các vua chúa cũng như quần
chúng. Tuy được lợi thế, được độc tôn trong các triều
đại Asoka (Ấn Ðộ), Tùy - Ðường (Trung Hoa), Lý - Trần (Việt
Nam); nhưng đạo Phật không lợi dụng ưu thế để nắm quyền
thống trị, cũng như không dựa vào thế lực thống trị để
truyền đạo; và nhất là không để biến thành công cụ cho
phe thống trị mở mang đế quốc.
Ðạo
Phật do đó, đối với các nước Á Ðông là đạo chung của
mọi tầng lớp người trong xã hội, là đạo của mọi dân
tộc, không phân biệt đế quốc, hay thuộc quốc. Riêng ở
Việt Nam, đạo Phật đã hòa nhập với bản chất dân tộc
như một thực thể bất khả phân. Dân tộc thịnh, đạo Phật
thịnh. Dân tộc suy, đạo Phật suy. Chính vì vậy, (mà) đạo
Phật đã trở thành một thế lực cách mạng của dân tộc
suốt nghìn năm lệ thuộc Trung Hoa, đã hội tụ được lòng
người mở mùa Tự Chủ và Thống Nhất cho xứ sở, vào các
đời Ngô – Ðinh - Tiền Lê và nhất là hai triều đại Lý
– Trần.
Sau
ngót một trăm năm lệ thuộc Pháp, đạo Phật đã chìm đi
cùng với chủ quyền dân tộc. Cho tới ngày gần đây, sau
khi bị các thế lực quốc tế chèn nén, đạo Phật đã trỗi
dậy cùng với dân tộc, hủy bỏ chế độc tài, và quyết
tâm theo đuổi công cuộc phục hồi Chủ Quyền Quốc Gia. Những
thành công, thất bại đều mang một ý nghĩa: Ðạo Phật tại
Việt Nam đang là một thực thể cách mạng của dân tộc.
Ðã là thực thể cách mạng tất nhiên phải vận động cách
mạng; mà các cuộc vận động như vậy đương nhiên là những
sinh hoạt chính trị rồi. Không riêng gì ở Việt Nam, mà ở
trên toàn thế giới, đạo Phật vẫn đang ứng hợp với thời
đại, vẫn củng cố tổ chức, thống nhất hành động, để
góp phần kiến tạo an bình cho thế giới.
Nhưng,
bản chất của đạo Phật và quá trình lịch sử đã bảo
chứng rằng: đạo Phật, dù có xây dựng được một thế
lực ưu thắng, cũng không bao giờ trở thành lớp người thống
trị, mà luôn luôn giữ vai trò hướng dẫn của nhà văn hóa,
tức là làm chính trị theo phương pháp của một thực thể
văn hóa. Ðó cũng là vai trò của các tôn giáo thời xưa và
của những nhà văn hóa thời nay vậy.
Ðạo
Phật Với Vấn Ðề Văn Hóa
Nếu
tôn giáo là văn hóa, và được hiểu theo nghĩa làm sáng -
mới - đẹp cho chính bản thân và cuộc đời, thì đó là
tùy ở bản chất của mỗi tôn giáo. Nếu một tôn giáo nào
đó có khả năng cung ứng cho con người về nhu cầu thăng
hóa những giá trị sáng - mới - đẹp thì tôn giáo đó, không
còn đủ khả năng hướng dẫn nhận thức con người, bị
con người vượt bỏ, thì tôn giáo đó không còn mang nổi
sứ mệnh văn hóa trường cửu nữa. Tuy nhiên, tôn giáo đó
vẫn được nhìn nhận là một thế lực văn hóa của một
gian đoạn lịch sử nào đó.
Như
vậy, tôn giáo đã là một thế lực văn hóa trong lịch sử,
nhưng còn việc tôn giáo có thể là một thực thể văn hóa
miên viễn hay không thì đó lại là vấn đề khác.
Vì
tôn giáo là một thế lực văn hóa, để hạn chế thế quyền
thống trị, để thỏa đáp nhu cầu siêu linh của tâm thức
con người, nên các tôn giáo đã xuất hiện. Xuất hiện dưới
thời bộ lạc bằng tính cách đa thần, mà đại diện là
lớp phù thủy. Xuất hiện dưới thời quốc gia, bằng cách
độc thần mà đại diện là các tôn giáo duy thần và siêu
thần ngày nay.
Trong
thời kỳ xã hội chuyển từ bộ lạc sang quốc gia, tư tưởng
con người tư đa thần tiến lên độc thần thì quả thực
các tôn giáo đã là một thế lực thăng hoa: là văn hóa đúng
nghĩa. Suốt thời tư tưởng độc thần trùm lên nhận thức
của con người, thì mọi sinh hoạt từ tâm linh xã hội tới
nghệ thuật, học thuật, và kỷ thuật nữa, đều do các tôn
giáo duy thần hướng dẫn. Trong khi các tôn giáo duy thần sắm
trò thế lực văn hóa, vừa kiểm soát thế quyền thống trị,
vừa hướng dẫn sinh họat văn hóa của nhân loại, thì cũng
là lúc các tôn giáo đó bị biến thành đối tượng của
các tư tưởng văn hóa có khuynh hướng vượt bỏ mọi ràng
buộc của thần quyền. Do đó các tôn giáo vừa phải bảo
thủ tính chất văn hóa của mình để ứng phó với các thế
lực văn hóa mới. Sự kiện này đã làm cho nguồn sinh động
của văn hóa nhân loại cuồn cuộn dâng lên không ngừng.
Hiện
nay nguồn tư tưởng của nhân loại giác ngộ đang cố gắng
vươn lên và thể chứng cho bằng được giá trị Nhân Chủ
đích thực của mình. Nhận thức nhân chủ này hiện là mối
nguy cơ cho các tôn giáo duy thần. Vì, trên bản chất duy thần,
không còn phù hợp với bản chất nhân chủ nữa. Con người
hiện tại đang tích cực để thể chứng giá trị nhân chủ
trên khắp mặt sinh hoạt: tâm tư, xã hội và vụ trụ.
Như
vậy có nghĩa là các tôn giáo độc thần đã sắp hoàn toàn
mất vai trò hướng dẫn văn hóa nhân loại rồi?
Câu
hỏi này cũng được đặt ra với đạo Phật, liệu rồi đây
đạo Phật có cùng chung số phận như các tôn giáo duy thần
hay không?
Xét
về bản chất thì, đạo Phật là đạo của Con Người Giác
Ngộ. Vì con người có đủ điều kiện và khả năng để
thành Phật, còn các sinh chủng khác cho tới thần linh, chư
thiên, đều chưa thể thành Phật được. Với bản chất này,
đạo Phật đã mang giá trị Nhân Bản đúng nghĩa rồi vậy.
Nhận thức nhân bản không phải là một nhận thức chủ quan
duy tâm, cũng không phải là nhận thức khách quan duy vật,
mà là nhận một thức toàn diện, đi từ tâm tư tự giác,
ứng dụng vào thực tế xã hội có tổ chức, để vượt
lên siêu việt giải thoát. Ðạo Phật là một tôn giáo, giác
ngộ và giải thoát, nên có thể trở thành một thực thể
văn hóa của thời đại ngày nay.
Một
trở ngại khác đã được đặt ra cho đạo Phật, là vì đạo
Phật đã xuất hiện trên hai nghìn năm trăm năm, và suốt
thời kỳ truyền đạo ở khắp nơi, đạo Phật đã vì phải
dung hợp với các hình thái sinh hoạt đa thần, độc thần
của quan niệm đại chúng, nên phần nào đã mang một hình
thái tôn giáo với những lớp vỏ do các quan niệm từng thời
đại bồi bọc. Tuy bản chất giác ngộ và giải thoát con
người vẫn còn đó, vẫn là nội dung linh động, đích thực
của đạo Phật, vẫn là một thực tại văn hóa tiềm ẩn,
nhưng để khơi lòng văn hóa đó, những Phật tử suy nghĩ
hiện tại, cần phải cố gắng, can đảm, uyển chuyển, phá
bỏ những hình thái của lớp vỏ nặng nề để đạo Phật
giữ vững căn cơ nhân bản sinh động hiển hiện trong dòng
văn hóa nhân loại.
Ðạo
Phật đang đi lên trong sự đi lên của dòng vận động văn
hóa nhân loại.
Ðạo
Phật Với Vấn Ðề Dân Tộc
Ðạo
Phật đã thể nhập vào Việt Nam hai mươi thế kỷ - thể
nhập bằng ý niệm hiếu sinh, hiếu hòa và giải thoát. Ðạo
Phật không những chỉ có khả năng dung hợp các thuyết lý
và nếp sống khác biệt để chuyển các thuyết lý và nếp
sống đó vào một nền văn minh Nhân Bản Toàn Diện, mà chính
còn là nền tảng nhận thức tạo dựng cho nền văn minh Ðại
Việt thêm phong phú, sáng, đẹp. Do đó, cuộc sống của dân
tộc mặc nhiên hay ý thức đã sống theo chiều hướng giác
ngộ và giải thoát của tinh thần đạo Phật.
Nếu
có một sức mạnh tinh thần nào đó làm cho dân tộc Việt
bền vững đến ngày nay, thì sức mạnh ấy chính là sức
mạnh của ánh sáng Từ bi và Trí tuệ của đạo Phật vậy.
Trong
quá khứ cũng như trong hiện tại, những trang sử vàng son
của đạo Phật, qua các triều đại Việt Nam, lúc thịnh đạt
cũng như buổi suy vi, người Phật tử nhất định không bao
giờ có thể đi ngược lại sức mạnh tinh thần truyền thống
ấy.
Xét
về lượng số, thì đạo Phật Việt Nam là sự phối kết
của tám mươi lăm phần trăm dân số toàn quốc.
Xét
về thời gian, đạo Phật đã gắn liền với dân tộc Việt
từ hai thiên niên kỷ, tạo cho dân tộc một tinh thần tự
chủ bền vững.
Nếu
cùng nhìn dân tộc qua sự hiện diện về lượng số và thời
gian, thì đạo Phật và dân tộc tuy hai mà một. Dân tộc và
đạo Phật đã gắn kết với nhau đến nỗi chỉ còn là hai
danh từ thể hiện của một thực thể duy nhất. Sự tồn
vong của dân tộc chính là sự tồn vong của đạo Phật và,
ngược lại, sự tồn vong của đạo Phật cũng chính là sự
tồn vong của dân tộc.
Từ
nhận thức ấy, nếu ai trong chúng ta, hoặc vô tình hay cố
ý, làm suy nhược tinh thần dân tộc tức là làm suy nhược
đạo Phật, và làm suy nhược đạo Phật cũng chính là làm
suy nhược dân tộc. Nên mọi hành vi làm suy nhược đạo Phật
và dân tộc nhất định kẻ đó có tội với lịch sử dân
tộc và đạo Pháp.
Sự
thật đạo Phật hôm qua chính là sự thật của dân tộc.
Những mưu đồ và hành động đàn áp đạo Phật mới đây
đã phát xuất từ những ý thức ý hệ bạo hành, do những
hình thái sinh hoạt ngoại nhập hoàn toàn đi ngược lại tinh
thần dân tộc. Chính những độc tố này đã phá hoại cơ
thể, tinh thần dân tộc.
Quê
hương thân yêu của chúng ta nhất định không thể là nơi
để cho các thế lực phi nhân bản, phi dân tộc giày xéo,
khuynh loát. Ðất nước Việt Nam không thể là địa bàn thí
nghiệm của bất cứ một thế lực nào – vì dân tộc ta
đã quá đau khổ, đất nước ta đã quá điêu tàn.
Niềm
đau khổ quằn quại của đại đa số người Việt hôm nay,
chính là niềm đau khổ của Phật giáo đồ Việt Nam. Và nếu
có một ý niệm giải phóng cuộc đời, giải thoát tâm tư,
thì ý niệm ấy chính là ý niệm của dân tộc Việt Nam. Không
chấp nhận ý niệm ấy cũng chính là phản bội dân tộc rồi,
chứ đừng nói gì tới những hình thái của những dị thuyết
đang lẩn chìm trong dân tộc.
Phật
giáo đồ Việt Nam không bao giời khép kín, nhưng chỉ dung
hòa và điều hợp với những ý thức hệ nào không phản
bội con người, không phản bội dân tộc, không phản bội
thăng hóa, không phản bội đất nước. Cũng chính là ý nghĩa
ấy, những dị thuyết có thâm ý phá vỡ nhân tính và tinh
thần dân tộc sẽ không được dân tộc chấp nhận. Mọi
ý niệm về đất nước này, Dân tộc này, phải tùy thuộc
vào Văn Hóa Dân Tộc – vì văn hóa dân tộc qua thời gian
tựu thành, đã dung hợp các nguồn văn hóa dị biệt, để
xây dựng một nền Văn hóa tổng hợp “Tam Giáo Ðồng Nguyên”
ở thế kỷ thứ XI – XIV. Ðó là công cuộc HÓA GIẢI của
dân tộc ta đã hoàn thành một cách vẻ vang!
Dân
tộc Việt Nam nhất định tồn tại cùng với giải đất thân
yêu này. Và sức mạnh của văn hóa dân tộc vẫn mãi mãi
hiện diện trong mọi sinh hoạt quốc gia và trong mọi giai đoạn
lịch sử.
Chúng
tôi thắp hương cầu nguyện cho tình tự dân tộc mãi được
nở hoa.
Ðạo
Phật Với Thực Tại Thế Giới
Ðạo
Phật được coi như một tôn giáo siêu tổ chức. Từ nguyên
thủy, căn bản của đạo đã rộng rãi, không nhằm buộc
ai phải tin theo bất cứ một giáo điều nào, mà chỉ cốt
hướng dẫn con người trên con đường giác ngộ. Với bản
chất đó, đạo Phật đã không tách biệt ra thành một đoàn
thể cùng lý tưởng biệt lập, mà lại luôn luôn dung hợp
với các luồng tư tưởng khác, rồi lấy đức Từ Bi và Trí
Tuệ để hướng dẫn con người, cùng hoặc khác lý tưởng,
đến chỗ giác ngộ thực tại và chân lý nghĩa cuộc đời.
Trong khi truyền bá, đạo Phật (tuyệt nhiên) không dùng phương
pháp bạo hành, mua chuộc, hay ỷ thế của chính trị để
truyền đạo, mà chỉ dùng phương pháp thấm nhuần kiên nhẫn
của văn hóa mà thôi. Chính điểm này đã làm cho đạo Phật
trở thành một tôn giáo chung của nhân loại.
Mọi
nỗ lực của nhân loại tiến bộ từ xưa đến nay, đều
cố gắng tiêu diệt ngu tối, tiêu hủy những chướng ngại
mê muội đã ngăn cản sự thể hiện giá trị nhân văn đích
thực của con người. Ðạo Phật quả là nơi chung tụ mọi
nỗ lực rốt ráo đó của nhân loại. Như lịch sử đã chứng
minh: tại các nước Á Ðông, mọi nền đạo học, thần học
thật hết sức phong phú, nhưng cho đến nay dần dần tan biến
đi để còn lại một đạo Phật tồn tại và đại diện
cho Ðông Phương trong thực tại sinh hoạt thế giới hiện
đại.
Ðạo
Phật đã ứng thân trong khắp các thời đại, dùng ngay những
hình thức và phương pháp của các thời đại để khai quang
những ngu tối của từng thời đại đó.
Ðạo
Phật là một đạo giác ngộ giữa những suy tư mê muội ở
thời đại mà tà giáo, ngoại đạo chiếm địa vị độc
tôn. Bao nhiêu tôn giáo khác đang đi lần đến độ hóa thân
để cùng thể nhập chân lý, thể nhập vào nguồn đạo lớn:
GIÁC NGỘ. Ðạo Phật còn đó, còn vững bền trong tâm khảm
của mỗi người và mỗi thời đại.
Thời
đại chúng ta đang đứng trong đấu trường ý thức hệ. Ðạo
Phật đang là hiện thân của giác ngộ để chuyển hóa những
ý thức hệ mê tối. Tất nhiên trong khi đứng trước các
ý thức hệ hiện thời, đạo Phật đã kinh qua nhiều thử
thách, nhiều gạn lọc để giúp cho người tỉnh cũng như
người mê cùng tìm cho mình một lối ứng thân thích hợp
với thời đại mới.
Chính
vì vậy mà những thử thách trước mắt chẳng đáng kể gì
so với dòng tiềm lực vô biên của đạo Phật cả.
Ðạo
Phật sẽ giải quyết những tranh chấp tư tưởng và tranh
chấp quyền lợi của thời đại chúng ta.
Trên
mặt tư tưởng, con người đã và đang vượt bỏ các quan
niệm thần hóa siêu nhiêu và vật hóa nhân loại, để mong
đưa nhau tới Ðịa Vị Nhân Chủ đích thực của mình. Ðạo
Phật, trên bản chất, vốn chủ trì tất cả qui về Con Người
Giác Ngộ, nên có thể thỏa đáp được đòi hỏi chung cho
nhân loại hiện tại và vị lai.
Ðạo
Phật sẽ từ chỗ làm giảm sự căng thẳng giữa các lý tưởng
duy thần, duy vật, tiến đến chỗ cùng với mọi con người
giác ngộ chuyển đổi thân phận toàn thể nhân loại đi vào
cõi An Lạc chung.
Ðó
là công cuộc hiện đại hóa Phật Pháp của thời đại chúng
ta.
Kết
Luận
Các
bạn thân mến!
Qua
những trang trên, bạn đã đọc chúng tôi dưới nhiều hình
thức, những tư tưởng chính… Theo sự phân loại trong cuốn
sách, trước hết là Phần Mở Ðầu (Tìm hiểu đạo Phật),
tức trình bày đại quan về đạo Phật là gì?
PHẬT,
theo nghĩa phổ thông, là chỉ đấng đã hoàn toàn giác ngộ
- GIÁO, là những “lời dạy tốt lành” do đấng Giác Ngộ
thuyết giảng để khai ngộ sự mê lầm, đau khổ cho chúng
sinh. Do đấy bạn có thể thức cảm giá trị thực của đạo
Phật qua những nét chính:
a.
Mở rộng cõi lòng…
b.
Ðưa sinh linh tới ánh sáng chân lý.
c.
Xây dựng một xã hội người văn minh, giác ngộ và giải
thoát.
Tiếp
theo là Phần Thứ Nhất (Lịch Sử Khái Luận) gồm ba chương:
1.
Nguyên lý sáng lập đạo Phật.
2.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.
3.
Lịch Sử truyền bá.
Nói
về phương diện lịch sử thì, đạo Phật có từ hơn hai
thiên niên kỷ, bắt nguồn từ Á Ðông và hiện nay đang trên
đà phát triển tại các quốc gia Âu Mỹ và khắp toàn thế
giới. Có thể nói rằng đạo Phật là “đạo” của mọi
người, của muôn loài, không phân màu da, tiếng nói và chủng
tộc, là đạo chung của nhân loại, chúng sinh. Trong phần này
tôi chỉ lược dẫn tiến trình của đạo Phật từ khai nguyên
đến hiện đại, nghĩa là từ khi Ánh Sáng Chính Pháp bắt
đầu truyền đi các ngả… Ðại cương trong đó đề ra những
nét lớn như:
-
Ðức Phật đản sinh xuống cõi Sa bà với mục đích gì (?…)
-
Sự ích lợi của đạo Phật xưa và nay.
-
Ðạo Phật và nền văn hóa, văn minh nhân loại.
Qua
Phần Thứ Hai, tức phần “Triết học đại quan”, chia làm
hai chương:
1.
Ðạo Phật là tôn giáo hay triết học?
2.
Vũ trụ quan (quan niệm của các Tôn giáo, Ðạo học, Triết
học, Khoa học và của đạo Phật). Phần Vũ Trụ Quan chia
làm ba tiểu mục: a) Vấn đề nhận thức; b) Vũ trụ luận;
c) Nhân sinh quan.
Sau
hết là Phần Thứ Ba (Thực chất đạo Phật) gồm ba chương:
1.
Ðạo Phật, nguồn văn hóa sinh động.
2.
Sức mạnh của đạo Phật thể hiện trong ba đức tính: Ðại
bi, Ðại trí, Ðại hùng, một đạo học có ảnh hưởng lớn
đã thấm sâu vào đời sống dân tộc Việt.
3.
Những đóng góp to lớn của đạo Phật cho dân tộc và nhân
loại.
Ðể
có một ý niệm đúng, ở đây tôi chỉ trình bày những dữ
kiện, còn phần phê bình xin nhường quyền bạn đọc tự
nhận định. Tuy nhiên, có điều cần thưa trước là, nội
dung cuốn sách không đi sâu vào kinh điển của mỗi Tôn giáo,
Học thuyết mà chỉ tổng luận những nét đại cương, rồi
lấy đó làm đối tượng, tỷ giảo cũng như tìm hiểu những
cái Thật (Chân: Levrai), Hay (Thiện: Le Bien), Ðẹp (Mỹ: Le Beau)
của mỗi hệ phái, tư tưởng. Mặc dù đấy mới chỉ là
những nhận định sơ quát, nhưng nó cũng sẽ giúp bạn có
một khái niệm chính xác vấn đề.
Với
quan niệm đạo Phật, khi nhìn vũ trụ, con người và vạn
hữu, đã khẳng định: Tất cả hiện tượng trong vũ trụ
chỉ là do các yếu tố Nhân duyên sinh giả hợp tạo thành.
Mà Bản Thể các “Pháp” thì bất biến (không sinh, không
diệt, không thêm, không bớt = “Pháp Nhĩ Như Thị”). Nó
vô thủy, vô chung… Nhưng ta cần phân biệt: Nguyên nhân
nào đã cấu tạo nên vũ trụ vạn hữu? – Tâm ư! - Vật
ư! – Thiên nhiên ư! Không. Tất cả “sự sự, vật vật”
hiện hữu trên cõi đời này đều bắt nguồn từ “Nghiệp
cảm duyên khởi”[1] Nghĩa là:
“Cái
Này có thì Cái Kia có
Cái
Này sinh thì Cái Kia sinh
Cái
Này không thì Cái Kia không
Cái
Này diệt thì Cái Kia diệt”
-
Majjhimanikaya –
Do
đó, đạo Phật đã nhìn sự vật một cách tinh tường, toàn
triệt qua lăng kính không - thời gian với chiều sâu của vấn
đề là: “Chư hành vô thường; Chư pháp vô ngã; Niết bàn
tịch tĩnh”[2]. Và như bạn đã thấy, đạo Phật là Chân
Lý, Ðạo của ánh sáng Trí Tuệ và Tình Thương, một đạo
hằng đề cao giá trị Con Người, lấy Con Người làm mực
thước cho tất cả. Ðó là một Nhân Bản thuyết toàn diện,
tuyệt đối. Cho nên, giá trị và địa vị con người trong
đạo Phật là bình đẳng giữa Phật và chúng sinh. Vì mọi
con người đều có Phật tính đều có thể thành Phật.
Hoa
Sen là tượng trưng đạo Phật, ở trong bùn mà không nhiễm
bùn. Cũng thế, thấy đời là nơi đau khổ, tối tăm, nên
đạo Phật đã xuất hiện ở đời để giác ngộ và giải
thoát cho con người; nhưng chỉ hiệu nghiệm khi nào con người
biết áp dụng và thực hành.
Xin
cầu chúc bạn lòng bình yên, trí sáng suốt và thực chứng
Sự, Lý giải thoát.
Người
viết.
Những
ý kiến của đọc giả và nhà văn trong nước đã có những
nhận định về cuốn PHẬT HỌC TINH HOA, Một Tổng Hợp Ðạo
Lý.
Người
đọc
THẠCH
TRUNG GIẢ
Những
sách khảo về Phật Giáo của ta trong khoảng thời gian nửa
thế kỷ trở lại đây có thể chia làm hai loại.
Một
là do những học giả như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Phan
Văn Hùm.
Hai
là do những nhà tu hành như Mật Thể, Giải Ngạn, Minh Châu,
Trí Quang, Nhất Hạnh, Thiện Hoa, Tuệ Sỹ.
Mấy
quyển của học giả Trần Trọng Kim tuy không sâu xa nhưng
cũng có ích phần nào, còn quyển của Phan Văn Hùm nhan đề
Phật Giáo Triết Học đã làm cho những thức giả bất bình
vì ông đã không nghiên cứu thẳng vào kinh điển nên mô phỏng
nặng nề về bộ Ðại Cương Triết Học Phật Giáo của học
giả Trung Hoa Tưởng Duy Kiều. Bộ này cũng được Thích Ðạo
Quang dịch ra tiếng Việt từ hơn mười năm nay nhưng trước
khi bản dịch ra đời thì đã có người, hình như Thượng
tọa Mật Thể, vạch ra sự mô phỏng kia trên một tờ báo
Phật học hồi đó.
Ðem
đối chiếu, người ta thấy Phan Văn Hùm đã vay mượn từ
đầu đến cuối bộ sách của Tưởng Duy Kiều nhưng ở họ
Tưởng rõ ràng bao nhiêu thì sang họ Phan lại tối nghĩa bấy
nhiêu vì rút bớt nhiều đoạn giải thích khúc chiết.
Nếu
không làm đến mức Phan Văn Hùm thì nhiều người cũng chấp
nối đầu ngô mình sở những công trình nghiên cứu của học
giả đông tây về những vấn đề cao siêu tế nhị mà lại
để lòi đuôi dốt nát về Phật học sơ đẳng, chẳng khác
nào những phu nhân chưa có cơ bản toán học đã dám bàn đến
lý thuyết của Einstein trong những cuộc đấu hót ở sa lông,
như nhà văn hào Maurois đã ghi nhận.
Ðạo
Phật là vô ngã mà khảo về đạo Phật với tinh thần thấp
kém và tối đen nhất vì dối người dối mình thì quả là
một sự nguy hiểm. Tôi bái phục những vị sư cổ lỗ già
nua cả đời chỉ đọc tụng một quyển kinh, không biết đi
phi cơ phản lực siêu thanh qua rừng tam tạng kinh điển, nhưng
tôi ghê sợ loại học giả kể trên.
Bởi
thế cho nên đến bây giờ, tôi vẫn tín nhiệm nhiều ở công
trình những bậc tu hành, hoặc cao sâu hoặc phổ thông nhưng
bao giờ cũng rút ra từ sự nghiên cứu đứng đắn. Nói thế
tôi vẫn hy vọng rằng sẽ có những tác phẩm giá trị ở
giới học giả, nhưng đó là ở thì vị lai.
Bây
giờ lại một bộ sách thuộc loại đáng tin cậy mới ra đời.
Ðó
là cuốn Phật Học Tinh Hoa của Thượng Tọa Ðức Nhuận.
Cách
bố cục của bộ sách thực linh động vì vượt ra khỏi hình
thức bình thường mà tuân theo luật diễn tiến, đưa người
đọc dần dần vào chỗ chuyên môn vi tế của vấn đề, tức
là từ dễ đến khó, nên rất hấp dẫn đối với nhiều
trình độ.
Bộ
sách gồm có ba phần chính thêm phần mở đầu và phần phụ
lục.
Phần
mở đầu trình bày tổng quan về đạo Phật là định nghĩa
Phật Giáo rồi đưa ra những nét chính: Mở rộng cõi lòng;
Ðưa sinh linh tới ánh sáng chân lý; Xây dựng một Xã hội
người văn minh giác ngộ và giải thoát về phương diện luân
lý, về khả năng trí thức, về giá trị thực hành. Tóm lại,
tác giả muốn nêu cao hai yếu tố thiện, chân hay bi, trí của
Phật giáo vậy.
Phần
thứ nhất, sau phần mở đầu, là Lịch Sử Khái Luận gồm
có ba chương nói về Nguyên lý sáng lập đạo Phật, Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni, Lịch sử truyền bá đạo Phật. Với
một sự kiên nhẫn phi thường, tác giả đã sưu tầm những
tài liệu về hình thể địa dư nước Ấn Ðộ, về hoàn
cảnh xã hội với mấy mặt nhân chủng, kinh tế, chính trị,
văn hóa và tử tưởng siêu nhiên tức đại cương về Những
tư trào Ấn Ðộ trước khi Ðức Phật ra đời.
Nhưng
ta hơi tiếc rằng những tài liệu về nhân chủng thì công
phu mà chưa làm nổi bật được những yếu tố nảy sinh do
sự tương giao giữa hai nền văn minh của dân tộc Aryen và
dân tộc Dravidien. Chính những yếu tố này đã tạo nên hay
đã làm duyên cho đạo Phật. Nhưng ta hy vọng rằng tác phẩm
này còn tái bản và được bồi bổ.
Chương
II ngót hai chục trang gồm cả đời Ðức Phật, Chương III
già năm chục trang bao quát cả Lịch sử truyền bá đạo Phật
mấy ngàn năm với những tài liệu chính xác.
Phần
thứ hai được coi là trọng tâm của tác phẩm vì đi vào
chỗ thâm mật của vấn đề với số trang dồi dào nhất
so với mọi phần kia. Chương thứ nhất đặt vấn đề: Ðạo
Phật không hẳn là triết học? Lời giải gồm ba điều: 1/
Ðạo Phật không hẳn là một tôn giáo. 2/ Nhưng đạo Phật
không chỉ là triết học. 3/ Hãy trả lại tinh thần đạo
Phật.
Tại
sao vậy?
“Ðức
Phật thường đả phá những gì hình thức. Mà tôn giáo lại
hay sinh ra hình thức. Ðức Phật cũng không muốn đạo Ngài
là một triết học. Bởi triết học chỉ quanh quẩn trong những
phương tiện tìm hiểu, lý giải hơn thực hành, thực nghiệm”.
Ðó
là Thượng tọa tổng kết khi đã thuyết minh tường tận.
Ðến
đây chúng tôi cũng muốn bàn thêm đôi điều. Là việc phân
biệt tôn giáo với triến học đưa tới vấn đề đạo nọ
đạo kia, là một tôn giáo hay triết học chỉ nảy ra với
người Tây phương và những học giả chịu ảnh hưởng Tây
phương. Bên Tây phương tôn giáo là tín ngưỡng của trái
tim, triết học là quan niệm của lý trí bởi thế cho nên
cuộc hôn phối ép uổng giữa tín lý Cơ đốc với triết
học Hy Lạp thành nền thần học Trung Cổ đã tan vỡ với
những chấn động khắp Âu Châu mà chứng tích bi thương nhất
là bộ Tư Tưởng Lục của Pascal gào thét lên như cuồng nộ
sự đối tượng của trái tim đối với lý trí. Nhưng bên
Ðông phương không có hiện tượng này. Ðạo Phật, đạo
Lão vừa là tôn giáo vừa là triết học tức là những nền
đạo học mà tín ngưỡng không ngược với triết lý, là
tín ngưỡng được soi sáng bởi trí tuệ và lẽ sống để
thực hành. Nhà thần học Cơ đốc Saint Anselme nói rằng: “Ta
tin để mà hiểu” (Je crois pour comprendre) nhưng Ðức Phật
lại dạy rằng:
“Ðừng
tin điều gì do ta tưởng tượng ra lại nghĩ rằng một vị
tối linh đã khai thị cho ta. Nhưng, chỉ tin tưởng cái gì
mà chính các ngươi đã từng trải, kinh nghiệm và nhận là
đúng…” (P.H.T.H, trang 51)
Vậy
ta có thể diễn lại lời Ðức Phật bằng các đảo ngược
lời Saint Anselme như sau: “Ta hiểu để mà tin”.
Và
Thượng tọa Ðức Nhuận đã chí lý khi gọi những kẻ xét
phiến diện về đạo Phật là những anh mù rờ voi.
Chương
II của phần hai là Vũ Trụ Quan, đối với các tôn giáo như
Cơ - đốc giáo, Bà – la – môn giáo, các nền Ðạo học
như Khổng, Lão, các nền triết học, khoa học với đạo Phật.
Có thể coi chương này đi vào chỗ thâm mật và gồm mấy
chương ở bên trong vì đi từ Nhận Thức Luận đến Vũ Trụ
Luận, Nhân Sinh Quan gồm nhiều mục ở trên trong.
Những
vấn đề lởm chởm gai góc nhất là lẽ Sắc, Không và Duy
Tâm đã được bàn đến những luận cứ tế nhị uyển chuyển
mà chúng tôi không dám tóm tắt sẽ làm sai lạc ý tác giả
mà độc giả chúng ta mỗi người nên trực tiếp với cuốn
Phật Học Tinh Hoa để thưởng thức.
Chương
III của phần thứ ba nhan đề: Những đóng góp của đạo
Phật cho dân tộc và nhân loại gồm bốn tiểu đề mục:
Ðạo Phật với vấn đề chính trị; đạo Phật với vấn
đề văn hóa; đạo Phật với vấn đề dân tộc; đạo Phật
với thực tại thế giới. Ta được thấy những lời quan
trọng phản ảnh cho quan niệm của Phật giáo Việt Nam chứ
không phải riêng cá nhân Thượng tọa.
“Một
tôn giáo đúng nghĩa, có giáo chủ, có giáo lý, có giáo hội,
đương nhiên đã can thiệp vào cuộc sống xã hội, thì dù
muốn dù không cũng đã trở thành một thực thể chính trị
rồi. Chỉ khác một điều tôn giáo đó đã can thiệp vào
Sinh Hoạt xã hội qua thế chính trị nào? Thế cai trị, thế
cách mạng hay thế văn hóa”.
Những
lời nói cách trang sau giải đáp và chứng minh bằng sự thực
hiển nhiên:
“Tuy
được lợi thế, được độc tôn trong các triều đại Asoka
(Ấn Ðộ), Ðường (Trung Hoa), Lý - Trần (Việt Nam) nhưng đạo
Phật không lợi dụng ưu thế để nắm quyền thống trị,
cũng như không dựa vào thế lực chính trị để truyền đạo,
và nhất là không để biến thành công cụ cho phe thống trị
mở mang đế quốc.
Ðạo
Phật do đó, đối với các nước Á Ðông là đạo chung của
mọi tầng lớp người trong xã hội, là đạo của mọi dân
tộc, không phân biệt đế quốc hay thuộc quốc. Riêng ở
Việt Nam, đạo Phật đã hòa với bản chất dân tộc như
một thực thể bất khả phân. Dân tộc thịnh, đạo Phật
thịnh. Dân tộc suy, đạo Phật suy.
Chính
vì vậy, mà đạo Phật đã trở thành một thế lực cách
mạng của dân tộc suốt nghìn năm lệ thuộc Trung Hoa, đã
hội tụ được lòng người, mở mùa Tự Chủ và thống nhất
cho xứ sở, vào các đời Ðinh – Lê – Lý - Trần”.
Ngoài
ra, tác giả còn tiên tri về tương lai Phật giáo đối với
thế giới:
“Trong
khi truyền bá, đạo Phật tuyệt nhiên không dùng phương pháp
bạo hành, mua chuộc hay ỷ thế của chính trị để truyền
đạo, mà chỉ dùng phương pháp thấm nhuần kiên nhẫn của
văn hóa mà thôi. Chính điều này đã làm cho đạo Phật trở
thành một tôn giáo chung của nhân loại”.
Chúng
tôi xin góp lời với Thượng tọa, Chúa Giê Su đã dạy rằng:
“Mọi
kẻ cầm kiếm ắt chết vì kiếm” - Vậy thì một tôn giáo
sử dụng phương pháp bạo hành sẽ phải tiêu diệt vì chính
phương pháp của mình, và một giáo gieo rắc trong tình thương
mới tồn tại và phát triển lâu dài. Một tôn giáo dùng phương
pháp bạo hành mà chưa tiêu diệt thì sự sống của nó cũng
chỉ là sự sống của con quỷ nhập tràng.
KẾT
LUẬN
Là
công trình của một nhà tu hành? Hay một học giả? Hay một
thi nhân?
Bộ
Phật Học Tinh Hoa này quả là của cả ba, vì Thượng tọa
Ðức Nhuận đã viết với thâm nhập của người sống đạo,
với óc hệ thống của nhà nghiên cứu và cũng với niềm
rung cảm dạt dào.
Tác
giả đã cho ta theo dõi cuộc sinh thành và phát triển của
đạo Phật qua lịch sử, vừa chiêm ngưỡng những đường
nét chính của tòa kiến trúc hùng vĩ, lại đưa vào mấy chốn
thâm cung nghi ngút hương thiêng. Sau đó lại đưa ta lên tháp
cao bao quát viễn đồ bao la của Phật giáo đối với thế
giới: là một tổng hợp đạo lý, nó bao dung tất cả, vượt
lên trên gào thét của hận thù.
Bộ
Phật Học Tinh Hoa đi vào những vấn đề sâu xa tế nhị mà
không khô khan rắc rối, lời văn vừa chính xác vừa nhẹ
nhàng hợp với mọi lứa tuổi, từ những nhà nghiên cứu
khắc khổ đến những bạn trẻ muốn được có trong tay một
cuốn chỉ nam chắc chắn và duyên dáng về Phật học.
Tập
san NGÔN NGỮ
Trang
110-117.1973
…
Mặc dầu tiếp nhận sự vật theo vô thường vô ngã, đạo
Phật không phải là một đạo bi quan yếm thế. Cùng lúc với
sự đề cao con người, Phật giáo đã đề cao một giá trị
bình đẳng ứng dựng cho tất cả mọi người ở khắp mọi
nơi. Ðó có lẽ là tinh hoa cao quý của Phật học mà người
viết đã có ý muốn nhấn mạnh và kín đáo dùng làm chủ
đề cho tác phẩm này.
…
Chúng tôi không ngần ngại bầu cho Phật Học Tinh Hoa là cuốn
sách biên khảo về Phật giáo có giá trị nhất trong năm 1961
(…) Trong giai đoạn khó khăn hiện tại, chúng ta rất cần
tới sự góp mặt của những tác phẩm cùng loại.
PHONG
GIAO
Tin
Sách, năm thứ hai, bộ II, tháng 10 – 11 và 12. 1961.
[1]
Xin coi lại phần Vũ Trụ Luận.
[2]
Tam Pháp Ấn.