Phần
thứ Hai
Triết
Học Đại Quan
Các
người, hãy tự mình
thắp
đuốc lên mà đi!
Mahaparinibbanasutta
Chương
I
Đạo
Phật Là Tôn Giáo Hay Triết Học?
Câu
hỏi đặt ra tất nhiên là phải tìm hiểu. Trước khi giải
đáp ta nên xét qua ý nghĩa của hai danh từ tôn giáo, triết
học.
1.
Thế nào là tôn giáo?
2.
Thế nào là triết học?
1.
Tôn
Giáo
Chữ
tôn giáo hiểu theo Tây phương, gọi là Religion, có nghĩa chú
ý hay tôn kính. Nhưng theo định nghĩa thứ hai của Đông phương
thì, Tôn: Gốc, sinh ra nghành ngọn; Giáo: Dạy, tu sửa những
điều đã có; là cái thước xếp đặt có phương pháp, qui
củ... Tôn giáo là sự biểu lộ của tư tưởng quần chúng
đối với thần linh, là biểu tượng của văn hóa.
Theo
sự nhận xét chung của các học gia xưa và nay: “Khi nói đến
tôn giáo tức là chỉ cho những đoàn thể có ít nhiều tổ
chức về hình thức lễ nghi, có tính cách biểu thị sự liên
lạc giữa người và thần linh, bao trùm một nghĩa sợ sệt
và tôn kính. Ngoài ra lại còn giải thích chữ tôn giáo với
những giáo điều…”
2.
Triết
Học
Là
một bộ môn khoa học nghiên cứu về nguyên nhân và nguyên
lý của vũ trụ vạn vật. Năng bản của triết học gồm
có: Tâm lý học, Thẩm mỹ học, Siêu hình học, Luận lý học,
Luân lý học; với phương pháp áp diễn có: Qui nạp, Suy diễn,
Tổng hợp.
Triết
học, hiểu theo quan niệm cổ điển Trung hoa, chữ Triết: gốc
ở chữ Chiết, có nghĩa là chia chẻ, và chữ Khẩu: miệng
nói; chữ Học là bắt chước, làm theo. Triết học là môn
học luận lý có tính cách chia chẻ, phân tích làm cho sáng
tỏ từng vấn đề, tức là “cách vật trí tri” = nghành
học nhằm nghiên cứu những vấn đề về vũ trụ vạn vật;
phù hợp với chữ Philosophie, quan điểm của Tây Phương. Ở
Ấn Độ, triết học lại có một định nghĩa khác: Minh tri,
minh giác. Tất cả tư tưởng triết học đều bắt nguồn
từ kinh Védas, sản phẩm của nhóm dân chủng Aryens; Véda có
nghĩa là khoa học, thiêng liêng và thánh trí. Mục đích của
nó tương tự như ở Phật học là: đưa người ra khỏi cái
vô minh (avidyà) để đến cõi giác: giải thoát (apavargah).
Đấy là triết học.
Như
trên đã hiểu thế nào là tôn giáo, triết học; bây giờ
trở lại vấn đề của nó, khi bạn hỏi: Đạo Phật có phải
là tôn giáo hay là triết học? Tôi khẳng định: Đạo Phật
là Tất Cả[1]. Vì tất cả đều có trong đạo Phật, bởi
đạo Phật không phải hẳn là một tôn giáo, song cũng không
chỉ là một triết học, khoa học...; mặc dầu kinh điển
đạo Phật hàm tàng những lý giải về cách tu tiến, về
siêu hình và về sự chứng ngộ; nhưng cách nói đúng nhất:
Đạo Phật là Đạo Phật .
Đạo
Phật Không Hẳn Là Một Tôn Giáo.
Đạo
Phật có tính cách tôn giáo, là bắt nguồn từ sau khi đức
Thế Tôn tịch diệt rồi, các đệ tử cảm thấy như mất
hẳn một nương tựa lớn, và một phần, do sự tôn kính,
nhớ tưởng mới tạc hình tượng đức Phật ở các giảng
đường, tịnh xá để ngày đêm chiêm ngưỡng, lễ bái gọi
là “sự tử như sự sinh”, coi đức Phật như còn hiện
sống ở đời[2]. Do đó mà đạo Phật mang một hình thức
tôn giáo, dù đạo Phật có những tổ chức Giáo Hội Tăng
Già thì đó cũng chỉ là phương tiện giúp con người sớm
đạt đến đích: Giác Ngộ và Giải Thoát. Thật ra, đạo
Phật không phải là một tôn giáo, vì một lẽ rất dễ hiểu
là, tất cả chùa chiền, Tăng Ni, những sự tướng hiện có
ở trần gian, cho đến hầu hết các kinh điển ghi chép bằng
nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, đều chỉ như những tia nắng
buổi ban mai, so với vầng thái dương lộng lẫy sáng rực
là đạo Phật. Những lời dạy của đức Phật chứa đựng
trong Ba Đại Tạng Kinh cũng chỉ là “những chiếc lá trong
rừng cây lớn”. Sự hiểu biết của đức Phật thì thật
to lớn mênh mông! Giáo lý của ngài là tổng hợp hết mọi
khuôn nếp sống và quán triệt những gì là tinh hoa cao đẹp
nhất của con người và của vạn hữu. Lời dạy của Ngài
là sự thật (chân lý), về vũ trụ và về con người, về
quan niệm sống, chết, về sự nhân quả, tội phúc... Vì hiểu
rõ như thế, nên đối với cõi đời bị đắm chìm trong vòng
mê luân khổ ải, đạo Phật, bằng mọi cách, quyết mang lại
Ánh Sáng (những tư tưởng đúng), Niềm tin (phấn khởi
mà vui sống) và An Lành (không còn lo âu, phiền não…) cho
mọi người mọi giới.
Nói
tóm, đạo Phật là Lẽ Sống, Cách Sống, Đường Lối Sống
vẹn toàn của tất cả chúng sanh.
Nhưng,
Đạo Phật Cũng Không Chỉ Là Triết Học.
Đạo
Phật là giáo lý do đấng Giác Ngộ dạy cho con người có
thêm nghị lực để tự giác ngộ và giải thoát mọi ràng
buộc khổ đau mê chấp của cuộc đời. Hay nói cách khác,
đạo Phật vì con người và chúng sanh mà xuất hiện. Ta chỉ
nên quan niệm đạo Phật như một “Đạo” - Đạo của Ánh
Sáng và Tình Thương -, có mục đích “cứu khổ giải mê”
là phương thuốc thần diệu (đã được bắt mạch) để chữa
những tâm bệnh mê mờ, đau khổ cho chúng sanh mà- đức Phật
là vị Vương y - giáo lý của Ngài là những thần dược tùy
mỗi bệnh nhân sử dụng nó.
Đạo
Phật không phải chỉ đóng khuôn trong một phạm vi. Nếu ta
chỉ nghiên cứu về một mặt nào đó rồi vội kết luận
đạo Phật hoàn toàn có tính cách một tôn giáo, một triết
học, một khoa học, luân lý thì đó là nhận xét hãy còn
phiến diện.
Để
hiểu vấn đề một cách khái quát, trong kinh Thí Dụ, có một
giai thoại, tôi xin trích dẫn câu chuyện dưới đây để làm
bằng chứng:
Một
hôm, năm người mù rủ nhau đi chơi, gặp một con voi, và khi
trở về ai nấy đều kể cho nhau nghe về nhận thức của
riêng mình. Câu chuyện được ghi lại: “Người thứ nhất
rờ tai, bảo nó giống như quạt lúa. Người thứ hai rờ vòi
thì bảo nó như chiếc loa. Người thứ ba rờ lưng, bảo voi
như bức tường. Người thứ tư rờ chân lại bảo nó giống
cái cột nhà. Người thứ năm rờ đuôi bảo nó như cái chổi.
Thật ra, voi không như những cái mà người ta đã hiểu và
đặt tên cho nó - dù có đặt cho nó tên gì đi nữa thì “voi
vẫn chỉ là voi” - Cũng thế người chủ trương về phương
diện tình cảm sẽ nghĩ đạo Phật là tôn giáo, kẻ chuộng
tự do tư tưởng lại bảo đạo Phật là Triết Học... Kỳ
thực, đạo Phật không chỉ là tôn Giáo, triết học, khoa,
luân lý. Mà đạo Phật là tất cả... Những điều ta thấy,
biết về đạo Phật “chỉ như giọt nước, so với bể lớn
mênh mông trong suốt là đạo Phật” mà thôi.
Hãy
Trả Lại Chân Tinh Thần Đạo Phật.
Đạo
Phật là Con Ðường Sáng hướng dẫn cho nhân loại, chúng
sinh trong những đêm tối dầy đặc của cuộc đời. Đạo
Phật không riêng của nghành học nào, mà bao trùm tất cả
= tôn giáo, đạo học, luân lý, triết học, và khoa học...;
không một môn học nào đức Phật lại không nói đến. Điều
này đã có ghi trong các kinh điển.
Ta
không nên nhìn đạo Phật với cặp mắt ngỡ ngàng, với sự
hiểu biết nông cạn, rồi định giá trị đạo Phật qua những
hình tướng, sự kiện có tính cách vô thường, biến ảo;
đạo Phật không chỉ nằm gọn trong các kho tàng Kinh Luật,
Luận - Đạo phật là chân lý. Nhưng có điều ta nên nhớ:
“giáo pháp của đức Phật ví như chiếc bè, đưa người
qua sông; Chính Pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp
= Tri ngã thuyết pháp, như phiệt dụ giả; pháp thượng ưng
xá, hà huống phi pháp” - Kinh Kim Cương. Giáo Pháp của đức
Phật là những chiếc bè (thuyền Từ) để chở người thoát
ra ngoài bể khổ sinh tử; khi đã tới bến, ta cần phải bỏ
bè lại. Kinh Alaggadủpamasuttam XXIII chép: “Chư tỳ khưu, ta
sẽ giảng pháp cho các người, ví như chiếc bè để vượt
đưa qua không phải để nắm giữ lấy. Hãy nghe ta, khéo suy
nghiệm, ta sẽ giảng”. Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Những
tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn thuyết giảng như
sau: “Này các Tỳ khưu, ví như có người đang đi trên con
đường lớn dài, đến một vũng nước rộng, bờ bên này
nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi,
nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắt
qua từ bờ này đến bờ kia. Rồi tự suy nghĩ: “Đây là
vũng nước rộng bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên
kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt
qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Nay
hãy thâu góp cỏ, cây, nhành, lá, cột lại thành chiếc bè,
và dựa trên chiếc bè này, tinh tiến dùng tay chân, có thể
vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”. Chư tỳ khưu, rồi
người ấy thâu góp cỏ, cây, nhành, lá, cột lại thành chiếc
bè, và nhờ chiếc bè này, tinh tiến dùng tay chân vượt qua
bên kia một cách an toàn. Khi qua bờ bên kia rồi, lại suy nghĩ:
“Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta, nhờ chiếc bè này,
ta tinh tiến dùng tay chân đã vượt qua bờ bên kia một cách
an toàn. Nay ta hãy đội chiếc bè này trên đầu hay vác nó
trên vai, và đi đến chỗ nào ta muốn”. Chư Tỳ Khưu, các
người nghĩ thế nào? Chư Tỳ Khưu “Nếu người ấy làm
như vậy thì có làm đúng với sở dụng của chiếc bè !”.
Ở đây, chư tỳ khưu, người ấy sau khi vượt qua bờ bên
kia, có thể suy nghĩ: “Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta.
Nhờ chiếc bè này, ta tin tiến dùng tay chân đã đủ vượt
qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy kéo chiếc bè này
lên trên bờ đất khô, nhận chìm xuống nước”. Chư tỳ
Khưu, làm như vậy, người kia làm đúng sở dụng chiếc bè
ấy. “Cũng vậy, này chư Tỳ Khưu, ta thuyết pháp như chiếc
bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy. Chư tỳ
Khưu, các người cần biết ví dụ cái bè, Chính pháp còn
phải bỏ đi huống nữa là phi pháp”[3]. Người liễu đạo
rồi thì cần phải quên hết...[4] để chỉ thấy mình nhập
một với tất cả, hay nói khác, tất cả là mình.
Đức
Phật thường đả phá những gì là hình thức. Mà tôn giáo
lại hay sinh ra hình thức. Đức Phật cũng không muốn đạo
Ngài là một triết học, bởi triết học chỉ quanh quẩn trong
những phương diện tìm hiểu, lý giải hơn là thực hành,
thực chứng. “Triết lý là cái nghệ thuật đặt vấn đề
hơn là trả lời những vấn đề đã được đặt ra”[5].
Đạo Phật thì khác hẳn.
Ta
thử tìm hiểu câu chuyện đàm đạo giữa đức Phật và đệ
tử dưới đây, để nhìn đạo Phật có là tôn giáo, triết
học ...hay chỉ là “Đạo diệt khổ”[6].
Kinh
Tạp A Hàm (Samvuttanikaya) chép:
Một
hôm, đức Phật nhân đi ngang qua rừng simsapa (xứ Kosambi),
Ngài dừng lại hái một ít lá “Simsapa” cầm trên tay và
nói với chúng đệ tử: “Các người nghĩ sao?” – “Bạch
đức Thế Tôn, một thầy đáp, những chiếc lá Ngài cầm
trong tay thì ít mà lá ở rừng lại quá nhiều” Cũng như
thế đó, các Thầy Tỳ khưu, những gì ta biết như lá trong
rừng, nhưng những điều ta đem ra dạy các thầy chỉ như
lá trong lòng bàn tay. Tại sao ta không đem tất cả ra dạy
các thầy? Bởi vì những cái đó, dù ta biết, nó không giúp
ích gì cho sự giải thoát của các thầy. Hỡi các tỳ khưu,
các thầy đừng nên để tâm trí vào những tư tưởng sau
đây: “Thế giới là hữu hạn, thế giới là vô cùng. Điều
đó không quan trọng. Điều quan trọng là, ta dạy các Thầy
về Sự Khổ, Nguồn Gốc Sự Khổ, Ðạo Diệt Khổ, và Con
Ðường Ði Ðến Diệt Khổ. Những điều đó có ích, vì (chắc
chắc) sẽ đưa các Thầy đến cứu cánh của giác ngộ và
giải thoát vậy”.
Và
đức Phật còn dạy:
“Hỡi
các tỳ khưu, các Thầy hãy là ngọn đuốc và nơi nương tựa
cho chính mình. Các Thầy đừng phó thác vào một chốn dung
thân nào khác".
Các
Thầy hãy cương quyết chủ định vào chân lý.
Hãy
lấy chân lý làm ngọn đuốc và nơi nương tựa cho mình”.
Mahaparinibbanasutta-11-33-
Nệ
vào Tôn giáo là cố chấp. Nệ vào triết học cũng là cố
chấp. Mà đạo Phật thì chủ trương phá chấp triệt để
- dù là chấp Ngã hay chấp Pháp. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni,
trong 45 năm thuyết Pháp, không từng biết một chữ. Ngài chỉ
nói, nói để phá bỏ những gì cố chấp do tư tưởng con
người bày đặt ra rồi lại ràng buộc chính con người. Vì
nệ vào nó mà con người phải mang lấy khổ đau triền miên.
Vậy, muốn giải thoát, con người phải rời bỏ vọng chấp.
Lời nói của đức Phật phát xuất từ tâm thể từ bi, nhằm
mục đích giác ngộ sự mê vọng, khổ đau tội lỗi cho chúng
sanh. Như vậy ta không nên chỉ nhìn đạo Phật như một tôn
giáo hay một triết học. Đạo Phật là tất cả.
Đạo
Phật là con đường tiến hóa của hết thảy chúng sanh...
[1]
Dưới đây xin trình bày sơ lược về Ngũ Minh Học của đạo
Phật để chứng minh cho điều quyết đoán kia.
a/
Sabdavidya (Thanh Minh): môn học về sinh ngữ để các dân tộc
dễ cảm thông và hiểu nhau.
b/
Haluvidyà (Nhân Minh): môn học cách thức luận lý để tìm
hiểu sự thật (chân lý).
c/
Adhyàtmaviduà (Nội Minh): môn học về giáo lý, những vấn
đề thuộc về hữu hình, vô hình; tôn giáo, triết học…
d/
Cikitsàvídyà (Y Phương Minh): môn học về y khoa để cứu chữa
những người bị đau ốm, tật nguyền.
e/
Silpakarmasthànavidyà (Công Xảo Minh): môn học về các kỹ thuật,
khoa học…
Như
trên, cho ta thấy, đạo Phật không chỉ hạn cuộc trong phạm
vi tôn giáo, triết học, mà bao gồm cả các ngành Nghệ Thuật,
Học Thuật, và Kỹ Thuật nữa.
[2]
Kinh Tăng Nhất A Hàm (Ànguttaranikàya) tập XXVIII chép:
Người
có sáng kiến đầu tiên tạc hình tượng Phật là vua Ưu Ðiền,
ngay khi đức Phật còn tại thế.
Nhân
đức Phật đương thuyết pháp ở cõi trời Ðao Lị (Traystrmsah),
nhà vua cảm thấy vắng bóng Người đức hạnh thì nhớ tưởng
mới cho triệu Kỳ Thủ Yết Ma Thiên Vương đến để tạc
hình đức Phật, và quả nhiên, ông đã tạc tượng Phật
giống như thật, chỉ không có tiếng nói và không cử động
mà thôi.
Sau
những ngày đi giáo hóa trở về, đức Phật thấy hình tượng
Ngài và hiểu sự thành kính của vua, đức Phật liền thụ
ký và truyền rằng: “Khi ta tịch diệt rồi, hình tượng
ta là tượng trưng hoàn toàn cho đức từ bi, trí tuệ của
ta, không khác lúc ta tại thế. Trong đời mai sau, nếu có thiện
nam, tín nữ nào chiêm ngưỡng hình tượng ta nên lấy đó
làm gương mẫu cho đời sống cao cả, trong sáng của mình.
Các đệ tử, hãy tinh tiến để tự giải thoát!”.
[3]
Trích kinh dẫn thượng, trang 134A-135, trong bộ Maijhima Nikaya,
tập 1, Tỳ khưu Th. Minh Châu dịch, Tu thư Ðại học Vạn Hạnh
xuất bản, 1973.
[4]
Tây phương cũng nói câu tương tự: “Văn hóa là cái gì còn
lại, khi người ta đã quên hết những điều học tập = La
culture est ce qui reste, quand on a oublié”.
[5]
Karl Jaspers
[6]
Ðạo diệt khổ tức là Chính Ðạo, ngoài ra không còn
đạo nào khác nữa – Kinh Di Giáo
Chương
II
Vũ
Trụ Quan
Quan
niệm của tôn giáo
- Đạo
Học
-
Triết học
-
Khoa học và của đạo Phật.
Từ
khai thiên lập địa cho đến ngày nay, khi trí thức con người
đã triễn khai, nhân đứng trước vũ trụ rộng lớn, nào
trăng sáng, núi cao, biển rộng, sông dài, mây bay, gió cuốn,
hoa nở, chim ca… Tất cả hiện tượng ấy đã là những thắc
mắc của con người muôn thuở.
- Vũ
trụ là gì?
-
Con người do đâu mà có?
Những
câu hỏi ấy luôn luôn ám ảnh tâm thức ta nó bắt ta phải
suy nghĩ, và đã có biết bao tư tưởng gia, đạo sĩ, triết
nhân, đông cũng như tây, đã để ra rất nhiều thì giờ,
tâm lực, viết nên những bộ sách vĩ đại, nhằm giải đáp
những thắc mắc của con người. Nhưng... tất cả chỉ là
những mớ lý thuyết còn đọng lại trên trang giấy. Vì, triết
lý tức là đặt vấn đề để rồi truy vấn những dự kiện
của vấn đề; hơn là giải quyết vấn đề, nếu không
muốn nói là không tưởng (!)
Vậy,
muốn nghiên cứu khái quát về vấn đề quan trọng - vấn
đề tìm hiểu vũ trụ và con người - rước hết ta nên du
hành qua các địa hạt tôn giáo, đạo học, triết học, khoa
học, và nhất là đạo Phật, để khách quan tìm hiểu, nhận
định và so sánh những điểm dị đồng… rồi nhờ đó,
ta có thể nắm vững vấn đề và giải quyết vấn đề một
cách chính xác hơn .
Trong
các lãnh vực Tôn Giáo, đạo học, triết học, khoa học…
lẽ tất nhiên, mỗi bên có những lối đáp khác nhau. Điều
cần là ta nhìn, hiểu nó với tâm trạng của kẻ lữ hành
đang trên đường kiếm tìm chân lý sự thật cuộc đời này.
Tôn
Giáo
Trên
thế giới có rất nhiều tôn giáo. Nhưng, ở đây chỉ
bàn sơ luợc mấy đạo giáo, đại diện cho mỗi khuynh hướng
khác nhau . Trước hết, ta tìm hiểu về Đa thần giáo, bởi
vì tôn giáo này cũng có tính cách liên hệ mật thiết trong
việc suy tìm một vũ trụ quan sinh động.
Đa
Thần Giáo (Polythéisme)
Từ
sơ sử thời đại, khi con người đã biết sống quây quần
với nhau trong một khung cảnh bình thản, chất phác và hồn
nhiên, nghĩa là con người còn sống trong trạng thái man rợ
“ăn lông ở lổ”; nhân đứng trước cảnh hùng vĩ của
trời đất, nào trăng sáng, gió reo, sấm chớp, mưa táp bảo
bùng… thì sinh ra khiếp sợ, vì tự cảm thấy mình bé nhỏ,
so với vũ trụ bao la!… Tư tưởng tín ngưỡng thần linh bắt
nguồn có từ đấy. Con người trong thời phôi thay ấy, đầu
óc họ hãy còn trống rỗng sự nhận thức rất thô sơ; chưa
biết phải tìm phương thức nào để chống lại với thiên
nhiên, với thú dữ… Do đó, họ đành chịu khuất phục.
Bất cứ cái gì thuộc về nhiên giới cũng mang một ý nghĩa
thần linh sáng tạo và chi phối cả. Núi, Sông, Cây, Cỏ, Đất,
Nước đều có thần linh cai quản. Họ đã thờ thần Sông,
thần Núi, thần Thổ địa. Sự thờ cúng không ngoài việc
cầu phúc tiêu tai; nếu chẳng may có sự rủi ro xảy đến,
họ tín đã có thần linh che chở, độ trì. Tục lệ này hiện
nay vẫn còn thịnh hành ở khắp dân gian. Ngoài ra, những ngày
Tết Trung Thu (15 - 8 Âl) tết Đoan Ngũ (hay Đoan Ngọ), 5 - 5
Âl và các ngày Sóc, Vọng, Hối, Huyền, cũng được người
ta duy trì một cách thản nhiên. Các tệ đoan khác, như xin
quẻ, xem bói, đốt vàng mã vv... cũng đều chịu ảnh hưởng
của tín ngưỡng Đa thần giáo cả. Đấy phải chăng là do
thành kiến xưa còn rớt lại, hay tại tim óc người ta hãy
còn đúc đặc bởi một tệ đoan ám ảnh. Những người theo
lối tín ngưỡng này, phần đông là dân tộc thiểu số, miền
rừng núi.
Thấy
sao tin vậy. Đây là trạng thái tâm lý của lớp người
hãy còn mang nặng đầu óc tín ngưỡng thần thoại dị đoan.
Nhưng, khi trí óc con người đã nẩy nở, thì quan niệm về
thần linh cũng được xét lại, theo một chiều hướng mới.
Dưới đây ta hãy sơ lược xét về quan niệm ấy.
Nhất
thần giáo (monothéisme)
Trình
độ trí thức con người lúc này đã cách biệt hẳn trước
nên sự tín ngưỡng cũng xoay chiều. Họ giảm lòng tin đối
với các vị thần, để đặt niềm tin vào một vị Thượng
Đế xa vời, do óc tưởng tượng của con người sáng tạo
ra.
A.
Bà La Môn Giáo (Brahmanisme)
Tôn
giáo này thoát thai từ một tôn giáo tối cổ của Ấn Độ
là Rig Véda, có cách đây khoảng bốn nghìn năm, do người
Aryen chủ lập.
Căn
cứ trong thánh thư Védas[1] thì sự tín ngưỡng duy nhất của
tôn giáo này là thờ thần BRAHMA = Phạm Thiên (linh hồn của
vũ trụ), vị thần hằng có đời đời. Brahma là căn
thể của vũ trụ, hết thảy vạn tật đều do Brahma sáng
tạo. Vì Brahma là vô thủy vô chung. Đấy là quan niệm lúc
ban sơ, nhưng qua nhiều cải cách, và hiện nay, thánh thư mỗi
ngày một tạo dựng thêm, do đó ý niệm của con người (ngày
nay) về một “đấng tối cao” không còn giống như trước
nữa. Trong bộ Tế Nghi Thư (Brahma na) cho rằng, đấng Chủ
Tể sáng tạo vũ trụ thế giới này là thần PRAJPATI. Và xét
trên nguyên lý thì Prajapati với Brahma là một thể, đồng
nhất tính.
Triết
lý hình nhi thượng của thuyết “Prajapati” trong Thánh thư
Brahmana, cho ta thấy: Prajapati từ chỗ vô hình biến thành hữu
hình. Hay nói khác, từ trừu tượng trở thành hiện thực,
nghĩa là từ cái Không, đi đến cái Có (trong cái không nó
có một động tính; rồi từ cái động tính ấy nảy sinh
hiện thực là thời gian và vạn vật) Nhưng trong bộ Áo Nghĩa
Thư (Upanishad) lại thường đề cập đến thần ATMAN, vì Atman
là hiện thể của thần tối cao Brahma. Atman là hơi thở là
sinh khí có bàng bạc trong không gian và cả trong vật thể
nữa. Con người là một tiểu linh tính nằm trong cái đại
linh tính của Brahma. Thuyết lý này đã đưa Brahma lại gần
với con người, đưa ngay vào trong con người, tức là đặt
con người bình đẳng đấng Brahma[2]. Những tín đồ tôn giáo
này đều tin rằng: Vũ trụ lúc ban sơ - xin nhấn mạnh: lúc
ban sơ - là do một vị (tức đã nhân cách hóa: Personnification)
sáng tạo ra. Về phương diện tu dưỡng thì thánh thư dạy
con người phải xả Ác hành Thiện, để sau khi chết (sẽ)
được thần đón về thiên cung, hưởng cuộc đời hạnh phúc,
sống trong cảnh huy hoàng lộng lẩy; bằng ngược lại, nếu
bình sinh không chịu tu phúc, không tin theo lời dạy của vị
giáo chủ thì vẫn phải đày xuống hỏa ngục, chịu muôn
nghìn thống khổ, và vĩnh kiếp khó mà thoát ra!…
B.
Cơ Đốc Giáo (Christianisme)
Đạo
này được thành lập đến nay đã gần XX thế kỷ, sau khi
Jésus ra đời, và do sự cải cách một tôn giáo cổ Do Thái.
Chiếu
theo “Cựu Ước và Tân Ước”, người ta tìm thấy ở giáo
lý của giáo hội Cơ Đốc: “Thuở sơ khai, khi vũ trụ còn
là một khoảng không mênh mông mờ mịt!… nhờ có trí tuệ,
tài năng và quyền phép (sẵn có ) của Chúa Trời; trong bảy
ngày đêm Ngài đã tạo thành bầu trời, các vì tinh tú, trái
đất, núi, sông, cây cỏ, người và vật; mà lần đầu tiên
con người có mặt trên trái đất là ông Adam và bà Eva, kết
cục hai người lấy nhau. Sau vì phạm trái cấm, nên bị chúa
phạt, từ đấy về sau con cháu đời đời bị buộc vào “Tội
Tổ Tông”[3]. Những người theo Cơ Đốc giáo đều tin tưởng
ở ba ngôi:
+ Đức
Chúa Cha: Thượng đế (Diêu);
+
Chúa Con (Jésus);
+
Chúa Thánh Thần (Saint Esprit)
Và,
theo họ nhận định thì, “Thiên Chúa là đấng Tự hữu”.
Nghĩa là, không có ai sanh ra Chúa cả. Vì, Chúa là đấng thiêng
liêng vô hình vô ảnh, phép tắc vô cùng! Nếu ai biết thờ
phục Chúa vâng lời Chúa, làm những điều nhân đức… đương
nhiên được Chúa nhìn nhận ban phúc lành cho, và được Chúa
đưa lên thiên đường; vĩnh viễn không bao giờ phải sa đọa
địa ngục. Như trên, cho ta thấy, lập luận của Cơ Đốc
giáo về nguyên lai vũ trụ này là do bàn tay Thiên Chúa tạo
dựng mà có…[4]
C.
Hồi Giáo (Islamisme)
Giáo
chủ đạo Hồi là Mohammet (570 - 632), lúc thiếu thời ông sống
cuộc đời bình thường như mọi người khác, chưa có dấu
hiệu nào tỏ ra là người xuất chúng, hơn đời; sau trở
nên một đại điền chủ nhờ cuộc kết hôn với một người
góa phụ…
Ông
đã bỏ ra mười lăm năm để tìm một con đường cải cách
tôn giáo và xã hội cho dân Arabe. Năm 630 TL kể như đánh dấu
năm đầu của kỷ nguyên Hồi giáo. Kinh Coran coi như một thánh
kinh Thiên Chúa thu nhỏ, trong đó gần như y nguyên những tên
Thánh, tên Đất. Kèm theo phần phụ lục lời dạy của đấng
tiên tri Mohammet (cũng gọi là Muhamad) được dùng ở các quốc
gia Hồi giáo như bộ luật hành chính, giảng luân lý vv…
gồm 114 chương (surate).
Hồi
giáo là một tổng hợp Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo. Chính
Mohammet cũng không giấu điều này, và tự xưng mình là đấng
tiên tri và gọi các giáo chủ khác (như Jésus) cũng chỉ là
đấng tiên tri như mình thôi.
“Hồi
giáo thịnh hành ở Trung Á, Tây Á, Bắc Phi, Thỗ Nhĩ Kỳ và
miền Tây bắc Trung Hoa (Mahométisme Islamisme)”, HVTĐ.
Hơn
300 năm sau, Sa hoàng Piotr muốn thành lập cho nước Nga một
tôn giáo, liền tổng hợp một lần nữa Hồi giáo và Thiên
Chúa giáo, tự xưng là Chính thống giáo - Orthodoxie - để tránh
phải mang cái tên có tính cách kỳ thị như Protestant: kẻ
chối bỏ (Tin Lành) Evanggéliques hay Judaime Phản thệ giáo (Do
Thái giáo). Ông cho rằng mình đã chọn giữa hai thái cực:
một đằng được lấy nhiều vợ mà kiêng có rượu (Hồi
giáo) và đằng kia có nhiều rượu mà không có đàn bà (Thiên
Chúa giáo).
Trong
5 điều răn của đạo Islam (tên mới tự xưng của tín đồ
đạo Hồi ở VN) thì có hai điều giống như đạo Phật: 1.
Cấm uống rượu, triệt để hơn PG. 2. Bố thí, không cần
phải hô hào, huy động mà đó là một “luật”. Đối với
tất cả tín đồ, có phương tiện sinh sống dư giả, thì
đến mỗi cuối năm phải trích ít nhất một phần năm (1/5)
số lợi tức trong năm đem ra phân phát cho người nghèo khó
nhất của cộng đồng mình cư trú. Trong một trăm năm, Islam
đã truyền bá đạo bằng bạo lực. Mohammet thua trận và chết
năm 632.
Người
Thiên Chúa giáo và Hồi giáo đã nuôi một mối hận thù khôn
nguôi, khi mà tám đội viễn chinh Thập tự quân: Croisade liên
tiếp đánh chiếm các nước Arabe từ thế kỷ XI tới thế
kỷ XIII, rồi các nước Âu Châu đi xâm lược thuộc địa
Arabe ở thế kỷ XIX.
Nói
tóm lại, từ ngành ngôn ngữ học người ta biết rằng tiếng
Sanskrit là nguồn gốc của các ngôn ngữ Âu Châu để rút
ra kết luận người Aryen, một bộ tộc thời cổ mà địa
bàn sinh sống là phần lớn nước Ấn Độ, dưới chân rặng
Caucase và rặng Hymalaya, là tổ của giống dân da trắng ngày
nay.
Tiếng
Do Thái, tiếng Arabe thuộc họ (Ấn Âu - Indoeuropéenne cùng
phả hệ Inđo européenne Sanskrit) Sémetic, gồm có tiếng Accadian,
Ai Cập cổ, Aramaic v.v…
Đạo
Bà La Môn: Ăn chay, thường cúng tế.
Đạo
Do Thái: năng cúng tế, ăn chay, kiêng sát sinh, không được
làm nghề bán thịt, nghề đồ tể.
Do
Thái giáo Thái là tổ phụ Moise, Abraham, tổ của Jésus. Theo
thứ tự niên đại, Bà La Môn giáo, Do Thái giáo, Thiên Chúa
giáo, Hồi giáo, Chính Thống giáo, Anh Quốc giáo, (Anlicean),
Tin Lành đều thờ chung một Thượng Đế (hay chúa Trời) nhưng
danh xưng có khác: Bà La Môn: Brahma; Do Thái giáo: Jehovah; Thiên
Chúa giáo: Dieu; Hồi giáo: Allah; Anh Quốc giáo; God.
Nhận
xét chung của một số nhà Thần Học Arabe và Tây phương:
giáo lý gần như giống nhau, chứng tỏ Đấng Cứu Thế chỉ
có Một (đạo nào cũng thế) Và cũng của các nhà thần học
ở cuối thế Kỷ XX: Tất cả các Tôn giáo lớn rồi ra sẽ
như những mạch suối cùng chảy vào một biển lớn; chỉ
một tôn giáo nào đó có đạo đức làm chuẩn mực, nghĩa
là bao hàm những điểm chính của tất cả các “đạo”
và giáo lý mang nội dung tư tưởng triết học hợp với con
người thời đại hơn (Phật giáo)
Đứng
về phương diện luân lý, tâm lý để nhận xét, thì các tôn
giáo trên đây vẫn có sự lợi ích trong việc khuyên người,
dạy người làm lành tránh dữ, những ảnh hưởng tốt cho
xã hội hiện tại và mai sau. Tuy nhiên, đối với Bản Thể
Luận, thuyết thần tạo - thần sinh ra vũ trụ, vạn vật[5]
đương còn mơ hồ và huyền bí lắm!
Đạo
Học
Đạo
Khổng (Confucianisme)
Những
đạo học có danh tiếng ở Á Đông, truyền bá đi các nước
lân cận, trước hết, ta phải kể đến đạo Khổng. Đức
Khổng phu tử, vị hiền triết Trung Hoa, sinh năm 551 - 47 9
TTL, thời xuân thu. Chiến Quốc, dưới triều đại nhà Chu.
Ngài đã từng nhiều tháng năm luân lạc… mà không một nơi
nào trọng dụng, sau đành quay về nước Lỗ dạy học và
soạn sách, học trò theo học có đến 3000 người. Trong việc
soạn thảo sách, Ngài lấy “Quan Thư cổ xưa để chỉnh đốn
lại làm bộ kinh Thư, lấy thi ca các đời trước đặt lại
thành kinh Thi, san định kinh Lễ, kinh Nhạc và làm kinh Xuân
Thu là lịch sử nước Lỗ”. Người ta bảo Khổng tử chỉ
là người “thuật nhi bất tác” Chính Ngài cũng thừa nhận
điều đó.
Đạo
Khổng thành lập không phải do Ngài - mà phần lớn. Ngài chỉ
là người thu nhập những gì tinh tuy nhất của Tiên Nho; rồi
cải cách những tư tưởng ấy làm thành một triết lý, luân
lý thực dụng cho xã hội nhân sinh. Khởi điểm của đạo
Khổng là vấn đề quyết định sự tương quan giữa thực
tại với tư tưởng để hòa đồng cái tiểu ngã người đời
vào cái đại ngã của vũ trụ - lý tưởng thái hóa. Trước
hết, Khổng Tử nhìn vũ trụ là một “Thể vô cùng” tức
là trong mỗi vật hữu hạn đều có nằm sẳn cái thái cực
vô hạn (lý thái cực), nó bàng bạc chu lưu khắp cả… “Dịch
hửu thái cực, thị sinh lưỡng nghi; lưỡng nghi sinh tứ tượng;
tứ tượng sinh bát quái, biến hóa vô cùng.”
- Lý
thái cực (Impersonnel) mà cổ nhân đã bàn trong kinh Dịch, gồm
64 quẻ, 384 hào, do trí quan sát, kinh nghiệm tìm ra từ đời
Phục Hy. Thần Nông để thuyết mình sự tương quan giữa vũ
trụ và vạn vật trong trường thiên diễn vô cùng phức tạp…
song qui định lại, gồm có ngũ hành[6] tương sinh, tương khắc,
tuần tự sinh thành ra “Bốn tượng”[7], Tám quẻ:
- Càn
:trời.
- Khảm
:nước, mặt trăng.
- Cấn
:núi đá.
- Chấn
:sấm.
- Tốn
:gió, mưa.
- Ly
:lửa, mặt trời.
- Khôn
:đất.
- Đoài:
kim khí và do sự phối hợp của Âm, Dương, (lưỡng nguyên)
làm thành tượng hình bằng những nét gạch liền và đứt
(tổng hợp). Mỗi quẻ tượng hình cho một trạng thái tương
quan nối liền giữa Trời, Đất, Người.
“Dịch”,
nghĩa là động, biến dịch, vì khởi thủy có sự vật là
có động. Động, là lẽ Sống của vũ trụ. Với luận lý
này, đạo Nho không có ý mong chiến thắng tạo hóa mà chỉ
cốt dịch hóa nó, theo luật tiến hóa chung = “Ngô đạo nhất
quan chi” (luận ngữ)
Trong
những kinh sách Nho gia tuy có nói đến chữ “thiên”, song
không hẳn có nghĩa chỉ Ông Trời = “Thiên đạo chi vị tính,
xuất tinh chi vị đạo” Nghĩa là, “cái khuynh hướng tiềm
tàng trong trời đất gọi là Tính, noi theo cái tính ấy mà
hành động thì gọi là Đạo”, Nhân tính với thiên tính
là một. Thiên đạo là luật điều khiển sự tiến hóa của
xã hội và con người…
Đạo
Khổng xây nền móng trên một nhân sinh quan bắt đầu bằng
chử “Thành”[8]. Sống trong một xã hội loạn ly, bất công,
muốn cải tạo nó tất phải có một đường lối (chính trị)
hợp thời, nên Khổng Tử đã đặt ra “Tam Cương, Ngũ Thường”[9]
để ổn định tình thế.
Ở
sách Lễ Ký có ghi lời đức Khổng Tử so sánh trạng thái
xã hội Trung Hoa gồm: - “một xã hội đại đồng” (Tam
hoàng: Phục Hy, Thần Nông Hoàng Đế) và – “một xã hội
tiểu khang” (ngũ đế Vũ, Thang, Văn Vũ, Thánh Vương, Chu Công).
Ngài ra đời mang hoài bão cải hóa những đảo điên của
thời đại “Xuân Thu” loạn lạc. Đứng về phương
diện luân lý, đạo Khổng khuyên con người: Tu thân, tề gia,
trị quốc, bình thiên hạ, vì thân có tu, gia mới tề, quốc
mới trị, thiên hạ mới thái bình. Đó là những yếu lý
nhằm ổn định cuộc sống xã hội con người muôn thuở.
Đạo
Lão (Taoisme)
Người
sáng lập Đạo là đức Lão Tử (Lao Tzu), tên Đam, sinh năm
604 TTL. Trong thời niên thiếu, Lão Tử chưa viết sách để
truyền bá tư tưởng của mình; mãi về sau, Ngài mới viết
cuốn Đạo Đức Kinh (gồm 81 chương có hơn ngàn lời)[10],
Học thuyết Lão Tử rõ ràng pha mầu sắc yếm thế - lý tưởng
Đạo Lão là lý tưởng siêu nhiên -nhìn cuộc đời như một
cuộc bất đắc dĩ (…) Đối với uyên nguyên của sự vật
chỉ (được) coi như một khối “tinh vân” mà Lão Tủ mệnh
danh là “Đạo”(Bản thể), nó vô hình, vô hạn, ở ngoài
không - thời gian, muôn nghìn hiện tượng cũng do “Đạo”
biến hóa ra. Bất kỳ vật gì trong trời đất điều có cái
Đạo ấy ở trong và cùng với Đạo là một thể = “Hửu
vật hỗn thành, tiên thiên địa sanh” (25).
Nếu
có phải gọi vật tiên thiên ấy là “Đạo”, đó chỉ sự
miễn cưỡng mà thôi. Theo Lão Tử thì, “vật tiên thiên”
sinh ra vũ trụ vạn vật chỉ là một vật không tên = Ngô
bất tri kỳ danh, tự chi viết “Đạo” (25).
Đạo
Lão nhìn sự vật trong cõi đời chỉ như là tuồng ảo hóa,
không khác giòng nước chảy từ nội giới ra ngoại giới,
hết lớp này đến lớp kia “liên miên bất tuyệt!”. Có
đấy rồi không đấy. Về phương diện tu dưỡng, đạo Lão
khởi lập một thuyết gọi là “Vô Vi”, tức là hành vi
của vô ngã, của thân thể, căn bản tính. Cái hành vi ấy
gọi là Đức;
có ý khuyên người ta trở về với đạo đức, với trạng
thái thuở ban sơ cho tâm hồn được vắng lặng trong sạch,
nghĩa là tách biệt giữa ngã và vô ngã, để sống cuộc sống
thanh cao, có ý nghĩa hơn. Trên con đường tìm sự thật, đạo
Lão đã hướng dẩn ta đến cái Đẹp và cái Thực, đó là
đạo đức và chân lý.
Triết
Học
Ở
thời kỳ sơ khai, những tư tưởng lạ đã sớm lởn vởn
trong đầu óc người ta, với bao cảnh tượng kỳ bí của
thiên nhiên, muôn vật đổi dời; tất cả hiện tượng phôi
bày ra ấy, chẳng biết có tự bao giờ.
- “Tâm”
ư! “Vật” ư! hay “Thiên nhiên” ư!
-
Nguồn gốc của vũ trụ là gì?
Đấy
là những vấn đề đã làm chảy rất nhiều mực của các
bậc hiền triết xưa cũng như nay!
Ngay
từ thượng cổ thời đại, các triết gia đã lần lượt
xuất hiện và đã lập ra những hệ thống tư tưởng triết
học không giống nhau; đã một thời làm mưa làm gió tại
các lục địa Trung Hoa - Ấn Độ, Cận Đông và Địa Trung
Hải. Khoảng bốn nghìn năm về trước, ở Đông phương, nhất
là Ấn Độ, quan niệm về triết học đã có. Lịch sử triết
học Ấn Độ, trước thời đức Phật, nguồn tư tưởng triết
lý đã có hàm chứa trong các thánh thư Védas. Về sau càng
được khai triển thêm qua các bộ thánh thư Brahmana, Aranyaka,
Upanishad… Bộ Brahmana (Tế Nghi Thư) gồm những bài thánh ca
tán dương công đức và sự nghiệp vĩ đại của thần chúa
tể Brahma (nguyên lý sáng tạo vũ trụ), và ghi những truyện
về thần thoại cùng chú giải các điển tích cao đẹp các
bài thánh ca. Bộ Aranyaka (Sấm Lâm Thư) là ghi chép những triết
lý huyền nhiệm và các phép bí truyền của đạo… Bộ Upanishad
(Áo Nghĩa Thư), nhằm giải thích những thánh ngữ và yếu
chỉ của đạo. Upanishad còn có tên là thánh thư Vedanta, tức
thâu tóm những đoạn văn chính yếu trong hai bộ Tế Nghi Thư
và Sấm Lâm Thư. Bộ Vedanta được liệt vào loại “thánh
thư mặc khải”.
Những
thuyết lý về vũ trụ vạn vật của các hệ phái sau này
mỗi ngày càng đi xa với bản chất nguyên thủy của nó. Chẳng
hạn, trước kia người ta thừa nhận Brahma là nguồn gốc
của vũ trụ, thì nay lại cho vũ trụ hình thành là do các
yếu tố Đất, Nước, Gió, Lửa, Không khí… Phái khác nói:
do các Tính Có – “Đại Linh Tính” phát sanh ra vật chất,
ra tính cách, ra nghiệp lực,… rồi các tính ấy kết hợp
tạo thành muôn vật, lần lần vượt lên chỗ trừu tượng;
có những phái xướng ra Không Gian Luận, Thời Gian Luận, Phương
Hướng Luận… bao nhiêu tư tưởng trào ra, làm hổn loạn
một thời!
Kế
đó là đạo Phật ra đời, đã tổng hợp các luồng tư tưởng
Ấn Độ, tạo thành một triết lý sống (philosophie de la vie),
lấy Con Người (Nhân Bản) làm mực thước để giải quyết
mọi cấn đề về cả nội giới lẫn sự kiện khách quan
thế giới bên ngoài. Con người là tất cả. Vì, có con người
cho nên mọi vấn đề - tức khuôn mẫu sống ở đời - mới
cần phải đặt ra. Con người là một tiểu vũ trụ nằm trong
cái đại vũ trụ. Thế giới này càng mở rộng chừng nào
là do tầm hiểu biết của con người, mà có. Và do vậy rõ
ràng đạo Phật là một triết học siêu triết học. Vào khoảng
đầu kỷ nguyên Tây Lịch, nền triết học Đông phương, bắt
nguồn từ tư tưởng đạo Phật, đã thẩm nhập vào đại
lục địa Trung Hoa, để cùng với các trào tư tưởng Khổng
- Lão… tạo thành một nền triết học đại đồng phồn
thịnh, không chỉ dành riêng cho Ấn Độ -Trung Hoa[11] mà còn
cho cả Á Đông và toàn thể thế giới nửa.
Nhìn
về phía trời Tây, triết học được bắt rể từ Hy Lạp,
chuyển dịch qua Đại Tây Dương và cho ta thấy, hai nguyên
tắc chính để cắt nghĩa hiện tượng vũ trụ, tức vấn
đề nhận thức và hành động. Sự hiểu biết của con người
là do trí tuệ; rồi từ trí tuệ dẫn đến hành động (thực
nghiệm). Nhưng, hàng động như thế nào đấy lại là một
việc khác (xin sẽ bàn ở phần khoa học).
Những
triết gia Tây phương đầu tiên, ta phải kể đến PYTHAGORE,
một nhà toán học kiêm triết học ở thế kỷ VI TTL, là
người đã sáng tạo ra danh từ Triết học “Philosophie”
Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ IV TTL là thời kỳ
phôi thai của nền triết học Tây phương, những triết gia
sau đây đã cùng nhau đi tìm nguyên nhân tối sơ của vũ trụ;
với THALÈS (640 - 547) bảo là “Nước”, nhưng HÉRACLITE (576
- 480) lại nói là “Lửa” còn ANAXIMÈNE (480 TTL) thì cho là
“Không khí”, phái triết học Tự Nhiên Luận thiên về việc
quan sát, giải thích vũ trụ hiện tượng như PYTHAGORE (580
- 500), lấy những con số để hình dung vũ trụ. ZÉNON (IV TTL)
nhìn nhận khởi thủy vũ trụ là do Những Gì Im Lìm “Tĩnh”
nghĩa là không chuyển động, không biến đổi; những con số,
những sự hoạt động đều chỉ là những bề ngoài không
có trong thực tại[12].
EMPÉDOCLE
(IV TTL) thì thì công nhận trong vũ trụ cả thảy có 6 yếu
tố: trong đó có chất: nước, lửa, đất, khí trời và 2
lý trừu tượng là tình yêu và ghen ghét. LEUCIPPE và DÉMOCRITE
(hai triết nhân này sinh đồng thời TTL V thế kỷ) với thuyết
Nguyên Tử Luận, cho rằng vũ trụ là do những hạt nhỏ (nguyên
tử) kết cấu thành…
Như
trên, cho ta thấy, mỗi phái luận giải khác nhau, tựu trung
chân lý chưa có một “thuyết” tương quan! Cái không khí
hoài nghi đến cực độ đã bao trùm khắp cả… Lúc ấy nhà
hiền triết SOCRATE (470 - 339 TTL) đứng ra cách mạng tư tưởng
đương thời, đưa triết học Hy Lạp trở về con đường
“nội tỉnh = connais toi toi meme”. Nghĩa là, “đưa triết
học con đường thuần trí thức trở về con đường
hành động, con đường chân lý, đạo đức, lấy Người làm
đối tượng nghiên cứu…” Tiếp nối sự nghiệp vĩ đại
của SOCRATE, có PLATON (428 – 347 TTL) và ARISTOTE (384 -322 TTL),
tuy mỗi người mỗi khuynh hướng, nhưng vẫn dung hợp với
nhau trên cùng mụch đích chung, đó là: đi tìm cái Chân và
Thiện, tạo cho triết học Hy Lạp một thời long thịnh.
Vào
thời trung cỗ, triết học Tây phương như bị chìm ngập trong
những kinh điển học qui, lấy tư tưởng Sáng Thế làm tâm
điểm, thời kỳ của “đức tin” và tình cảm ru ngủ!…
Nhưng qua thời cận đại DESCARTES (1596 -1656) đã nêu cao lý
trí để phản động lại tình cảm ru ngủ thời xưa. Ông
đã dùng “phương pháp luận” để chứng minh cho “sự vật
nào” mà quan niệm rõ ràng, đều là chân lý, Ông coi vũ trụ
là một dây nhân quả vô cùng tận. Qua DESCARTES, người ta
đều nhận thấy “Tâm, Vật song hành”, là khởi điểm cho
hai phái thuần lý do HÉGEL (1770 - 1831) và HAMELIN (1856 - 1907)
dẫn đạo, và phái thực nghiệm do Auguste COMTE (1798 - 1857)
và SPENER (1820 - 1903)…
Tới
đây thì triết học đã đánh dấu một lối rẽ rõ rệt:
Vấn đề Duy Tâm và Duy Vật; Chủ Quan với Khách Quan v.v..
Phái
Duy Tâm cực đoan, có BERKELY (1685 - 1753), Emmauel KANT (1724 - 1804),
HÉGEL (1770 - 1831)… Nhà triết học Đức (Kant) là một trong
những người thuộc phái quyết đoán tin tưởng vũ trụ cần
phải có sự hiện diện của Trời, mọi vật mới an bài.
Rồi suy diễn: tin có Trời, ta có thể hy vọng hưởng một
cuộc đời bất diệt đầy hạnh phúc - Vì, Trời là chủ
động chứ không thể là thụ động. Còn, HÉGEL lại cho rằng
“Tất cả những gì thực tại đều Duy Lý = Tout ce qui réel
est rationnel”. Những phái Duy Vật cực tả, như DÉMOCRITE (V
TTL), FEUERBACH (1775 -1833), MOLESCHOTT (1820 - 1897), Karl MARX (1818
– 1883) và ENGELS (1820 - 1897)… với một phong trào tích cực
phản siêu hình, theo phái này thì, sự hiện hữu của Trời
trong vũ trụ là điều không bao giờ có được[13]. Những
yếu điểm của chủ nghĩa Duy Vật là đưa vật chất lên
hàng vạn năng. Đấy là nguyên nhân khởi thủy của mọi vận
động vũ trụ và xã hội. Về phương diện nhận thức khách
quan, phái này dùng Biện Chứng pháp (gọi là biện chứng pháp
duy vật) làm công cụ khám phá của loài người; đồng thời
khích động phong trào giai cấp đấu tranh làm luật tắc vận
hành của lịch sử. Do đó, thuyết duy Vật chủ nghĩa thường
lấy sự tranh đấu làm mụch đích cho mọi lẽ sống[14].
Trên
đây mới chỉ trình bày những nét đại cương của nền triết
học Tây phương cũng đã hé mở cho ta thấy sự phân định
thành những hệ thống Duy Tâm, Duy Vật… Nhưng từ thế kỷ
XIX - XX.thì triết học thực nghiệm ,chỉ còn lại siêu hình
biện chứng pháp,luận lý.v.v..
Vấn
đề tìm hiểu vũ trụ và con người, qua các Tôn giáo, đạo
học, triết học - như đã trình bày - đấy chỉ mới là những
tia sáng. Rút lại, vấn đề đạt ra vẫn y nguyên là một
vấn đề nan giải.
*Tìm
ở Tôn giáo - Tôn giáo bị thần thánh hóa.
*Tìm
ở Đạo học - Đạo học giải thích với những lý tưởng
siêu hình, khó hiểu!
*Tìm
ở Triết học - Triết học có những hệ phái, và mỗi hệ
phái giải thích một khác; hơn nữa, triết học đang trong
vòng tìm kiếm, suy luật nên dễ bị ràng buộc trong những
phạm trù học qui, càng khó hiểu hơn.
Là
những kẻ đi tìm đường, càng đi sâu vào khu rừng Tôn giáo,
triết học ta càng lạc lối thêm! Vẫn biết, không phải hễ
đi tìm đường là tới đích, phải lượng sức mình, và phải
có sự tuyển trạch của lý trí, nếu không… (thưa bạn)
- hãy coi chừng! Trí xét đoán là mực thước cho tất cả.
“Phải làm như con ong hút mật, đừng làm theo con bướm giỡn
hoa”, Ta không thể ỷ lại hay nhắm mắt tin theo bất cứ
cái gì, ngoài sự nhận thức khách quan, phù hợp với lẽ
phải, tạo thành hạnh phúc cho mình và cho mọi người chung
quanh.
Giờ
đây, chúng ta hãy du hành qua địa hạt Khoa học và đạo Phật
để thử tìm ở đấy lối thoát, một sự trả lời cho những
nghi vấn kia.
KHOA
HỌC
Lịch
sử tiến hóa nhân loại, từ thế kỷ XVII, khoa học coi như
toàn thắng về mọi phương diện; ngoài những phát minh kỷ
thuật, khoa học cũng đã len lỏi sang hệ tư tưởng để giải
thích vũ trụ, bằng những phương pháp mầu nhiệm chắc chắn
hơn, hoàn hảo hơn. Khởi nguyên tinh thần khoa học tiến bộ
không phải trong giây lát hay một ngày tự giác ngộ nên. Một
vài đặc tính của tư tưởng khoa học đã nẩy mẩm từ những
thời kỳ xa xôi. Nói đến khoa học, người tiên phong tiêu
biểu cho khoa học thực nghiệm là Francis BACON (1561 - 1626),
ông đưa ra những nhận thức mới về sự vật là nhận thức
bằng cách xác định lý do, qua “Tam Biểu Luận”: 1. biểu
có mặt (table de présence), trong biểu có mặt, ta ghi những
hiện tượng nào luôn luôn có mặt với nhau; 2. biểu vắng
mặt (table d’absence), trong biểu vắng mặt, ta ghi những hiện
tượng nào bao giờ cũng vắng mặt một lúc; 3. biểu thứ
tự (table de degré), trong biểu thứ tự, ta ghi những hiện
tượng nào cũng biến đổi một lúc. Đồng thời với Bacon,
bên phía trời Tây, còn có DESCARTES (1596 - 1650) là người đã
khai sáng cho một trào lưu tư tưởng mới - Tư tưởng Khoa
học -; sau nhiều năm suy tưởng, ông đã lập được bốn
qui tắc căn bản cho phương pháp khoa học ngày nay. Bốn qui
tắc đó là: 1. Trước hết phải chứng minh một sự vật
nào đó, sau mới nhận nó là sự thật. 2. Hãy chia sự vật
ra từng phần đơn giản, càng nhiều càng hay, để dễ dàng
cho sự quan sát, giải quyết. 3. Sau khi đã xem xét, nghiên cứu
từng vật đơn giản, phải thu thập lại cho thứ tự để
tìm hiểu những sự vật khó hiểu hơn vốn tự nó không biểu
thị (Qui tắc này cũng gọi là qui tắc tổng hợp). 4. Cuối
cùng, kiểm điểm lại và tổng hợp những sự việc mà mình
đã nhận định, để khỏi bỏ sót một vật gì. Qua 4 qui
tắc trên, vai trò của Descartes nổi bật hẳn lên như một
vần sao sáng của bầu trời khoa học cận đại mà ngày nay
người ta phải nhìn nhận ông như một cái mốc, đánh dấu
bước rẽ của nhân loại, không chỉ về phương diện nhận
thức mà cả về phương diện hành động nữa. Sau, Auguste
COMTE (1793 - 1857), đã dựa vào thực tại, để xướng thuyết
“Thực Nghiệm Chủ Nghĩa”[15].
Và
qua những biến đổi, kinh nghiệm từng giai đoạn, trí óc
con người mỗi ngày thêm mở mang, đã giúp rất nhiều cho
sự khám phá những kỳ bí của thiên nhiên, NEWTON (1642 - 1727)
chỉ nhìn quả táo rơi mà khám phá ra luật Vũ Trụ Hấp Dẫn
Lực, biết được: sự vận hành của hành tinh và sao chổi
chung quanh mặt trời, xoay tròn của địa trục, sự lên xuống
của nước thủy triều… Còn MALUS (1775 - 1812) đã tìm ra “sự
phân cực ánh sáng”, và De VERRIER (1811 - 1877) thì tìm ra sao
Neptune tức Hải Vương Tinh . Và trước đó nhiều
thế kỷ, ARCHMÈDE (287 - 212 TTL) đã phát minh ra nguyên lý tỷ
trọng của các vật thể. Christophe COLOMB (1451 -1506) và Fernand
de MAGELLAN (1480 - 1521)[16] là những người đã cương quyết
đi vòng quanh thế giới để tìm hình thể trái đất. VOLTA
(1775 - 1827) và GALVANI (1737 - 1798) nghiên cứu các hiện tượng
thuộc về điện tử, tìm ra hai luồng điện dương
cực và âm cực. FRANKLIN (1706 – 1790) giải thích về sấm
sét. LAMARCK (1744 - 1829), DARWIN (1809 -1882) chủ trương sinh Vật
Biến Hóa, nghĩa là mọi vật chuyển biến đổi dời. LAVOISIER
(1743 - 179), nhà hóa học đầu tiên đã tuyên bố: “Trong vũ
trụ không có gì tự tạo, không có gì tự tiêu diệt”, Phù
hợp với định lý này, Albert EINSTEIN (1879 - 1955) đưa ra thuyết
“Tương Đối” đã chứng minh: “Vật chất là khí lực
tụ lại cực điểm, mà khí lực là vật chất tan loãng ra
cực điểm”, Vật chất và khí lực theo Einstein, chỉ là
hai trạng thái cũa một thực tại (deux aspects d’une réalité)…
Những
nhà bác học trên đều đã xây dựng cho lầu đài khoa học
mỗi ngày thêm vững chắc. Với vũ trụ, dưới con mắt nhận
xét của khoa học, đã thừa nhận: Trong vũ trụ không phải
chỉ riêng thế giới chúng ta ở, mà rất nhiều thế giới,
mỗi thế giới là một bộ phận tinh hệ của vũ trụ. Mỗi
tinh hệ gồm có nhiều hành tinh, vệ tinh quay chung quanh; mà
mặt trời là trung tâm, gọi là Thái Dương Hệ (système solaire).
Quay chung quanh mặt trời có 9 hành tinh: Thủy Tinh (Mercure) Kim
Tinh (Vénus)[17]. Địa Cầu (Terre), Hỏa Tinh (Mars), Mộc Tinh
(Jupiter), ThổTinh (Saturne), Thiên Vương Tinh (Uranus), Hải Vương
Tinh (Neptune) và hành tinh thứ 9, ở cách xa mặt trời nhất
đó là hành tinh Pluton. Trong khoảng không trung có hằng
hà sa số hành tinh hệ lớn nhỏ, gồm cả thế giới gọi
chung là vũ trụ.
Tới
đây, ta đã có một khái niệm trong sự quan sát, tìm hiểu
thiên nhiên. Nhưng, điều thắc mắc vẫn là cái nguyên nhân
tối sơ của vũ trụ vạn hữu? -Theo khoa học giới giải thích:
“Ở thời kỳ hỗn mang, trong vũ trụ chỉ có toàn thuần
tinh (Ether). Sau với những nguyên nhân không rõ, thuần tinh
ấy kết thành những phần nhỏ rải rác, nhờ sức vận động
và sức hấp dẫn, các phần tử nhỏ kết lại thành cồi[18]
và cồi “nguyên tử” trước còn rời rạc, sau kết thành
vân tinh và căn nguyên của mọi Thái Dương Hệ. Đó là thời
kỳ cấu tạo mặt trời và các hành tinh, nhiệt độ của
các vì sao ở thời kỳ này rất lớn - Với sự phóng tản
không ngừng, nhiệt độ của các vì sao giảm bớt tạo nên
thế quân bình khiến cho sự sống có thể phát khởi, ấy
là thời kỳ đầu tiên có những sinh vật[19] Ðịa cầu có
thể ở được. Nhưng trong thời kỳ các nguyên tử vẫn không
ngừng phóng tản ấy cùng với sự giảm tốc độ, các nguyên
tử mất dần thế vững; bắt đầu một thời kỳ ly tán.
Thế vững chắc của các nguyên tố nội nguyên tử càng
giãm đi thì sự ly tán càng nhanh. Rồi đến một thời kỳ
quá suy, các nguyên tử lại trở về thế thuần tinh như trước.
Như vậy, ta có thể biết: địa cầu cấu tạo bởi nguyên
tử thuần tinh rải rác. Nguyên tử ấy tự súc tích lấy năng
lực. Mà vật chất là một hình thái phát tán thành nhiều
thế khác nhau, như hơi nóng, ánh sáng, điện khí .v.v..
“Lịch
sử vũ trụ có thể chia ra hai thời kỳ: Thời kỳ Ngưng Kết
Năng Lực Thành Vật Chất, và thời kỳ Phát Tán Năng Lực
ấy”.[20]
Tiền
bán thế kỷ XVII, một câu chuyện lịch sử, thuộc phạm vi
khoa học và Tôn giáo, đã xảy ra như sau:
* Trời
- GALILÉE (1564 - 1642), noi gương COPERNIC (1473 - 1543), ông đã
đưa ra nhận xét: “Trời chỉ là khoảng không gian bao la vô
cùng tận, trùm cả mặt trời, trái đất và nhiều hành tinh”.
Thế là chỗ nào cũng có trời… Mà nói thế tức đã phản
lại tinh thần tôn giáo; ông còn khẳng định: “Không có
thần nào sáng tạo ra vũ trụ vạn vật cả”. Trước kia
tôn giáo thần quyền thường bảo “Trời tròn, đất vuông
và đứng yên một chổ; ở dưới là địa ngục, ở trên
là trời”. Ngày nay khoa học nhìn nhận; mặt trời là trung
điểm của vũ trụ.
Ai
đúng, ai sai? Đến nay ta mới rõ sự thật, thì ra oan cho Galilée
vì muốn (Tự Do Tín Ngưỡng) vì muốn giác ngộ chổ mê lầm
của tôn giáo thần quyền mà suýt bị ghép tội tử hình -
Việc này xãy ra dưới thời giáo hoàng Urbain VIII (1633) do tòa
án La Mã xử, vì ông đã dám viết cuốn “Dialogues sur les
grands systèmes du monde” mang một nội dung trái với Thánh kinh
- Sau đó, buộc lòng ông phải tuyên bố trước công chúng:
“Trái đất không quay”.
Mà
“Trời” là gì? - câu hỏi ấy đã làm không biết bao nhiêu
người phải băn khoăn, thắc mắc…
* Đất.
- Về trái đất, tôn giáo xưa thường nói: “Mặt đất hình
phẳng”. Khoa học hiện đại xác tín: “Trái đất tròn =
la terre est ronde”[21]. Theo LAPLACE (1749 - 1827) thì, nguyên thuỷ
của trái đất là một khối lửa (une masse de feu) do mặt trời
văng ra, rồi nguội dần… chỗ nào lồi là núi, đồi, chỗ
nào lõm là sông ngòi, hồ ao hay biển, cũng có chổ bằng phẳng
như sa mạc hay bình nguyên.
Và
theo, LUCRÈCE (509 TTL), ông đã có những giả tưởng rất hữu
lý: “Địa cầu hiện ta đang sinh sống không phải duy nhất
trong thiên nhiên, chúng ta phải tin rằng ở những miền khác
của không gian, cũng có nhựng địa cầu khác, những sinh vật
khác, những giống người khác…”
Dựa
vào thực tại, khoa học ngày nay đã phát minh những cái mới
lạ, chế ra được cả phi thuyền liên hành tinh thể thám
hiểm nguyệt cầu, làm sụp đổ hẳn một hệ thống tư tưởng
thần quyền xưa cũ, đặt con người trước trách nhiệm của
chính mình.Tuy nhiên, trên đường tìm chân lý, khoa học chưa
phải là vạn năng, giải quyết được hết mọi khúc mắc
của con người và cuộc đời này. Vì, “Khoa học chỉ bàn
đến những điều tổng quát = I I n’y a que de science
du general”.
Qua
ngững trang trên, ta đã hiểu sự cắt nghĩa "”Vũ trụ vạn
hữu” của các Tôn giáo, Đại học, Triết học, Khoa học
xưa và nay. Giờ đây, chúng ta thử dạo bước vào địa hạt.
ĐẠO PHẬT - Mà bản đồ đã sẵn có trên hai nghìn năm trăm
năm nay - để thử tìm ở đấy một tia sáng, làm chỉ chuẩn
cho sự tìm hiểu về Vũ trụ và về con người.
Và
kìa - Con Đường Sáng đã hiện ra…
Vấn
Đề nhận thức
Đứng
trên quan niệm nhận thức, đạo Phật không hoàn toàn thuần
túy là một triết học. Vì, đạo Phật là tất cả, hay nói
khác, đạo Phật là triết học siêu triết học. Đạo Phật
cũng có những lối nhận thức sự vật, bằng nhân giới trực
quan, rất chính xác. Thật vậy, trước khi nghiên cứu vấn
đề gì ta cũng nên đặt thành câu hỏi: Tại sao? rồi sau
đó quyết tìm câu trả lời những nghi vấn mà mình đã đặt
ra. Những vấn đề nào khi ta đã nhận xét được thấu đáo,
nó biểu hiện ra một cách phân minh; và những ý tưởng để
diễn tả sự vật cũng “đến” một cách dể dàng; thì
đó là một Sự Thật mà ta phải thừa nhận[22]. Tất cả
hiện tượng trong vũ trụ chỉ là những con số cộng cộng
các yếu tố (nhân duyên) mà có. Đứng về phương diện không
gian mà luận thì, vạn hữu là “Vô Ngã = anattà”, nó không
có cái thật bề ngang; do cộng các điều kiện nhân duyên
lại mà thành. Còn đứng về phương diện thời gian mà xét,
vạn hữu là “Vô thường = anicca”, nó không có cái thật
bề dọc; do cộng các trạng thái sinh - diệt lại mà có. Chứng
minh cho lập luận trên đây, ta lấy một vật thể làm đối
tượng để nghiên cứu, tìm hiểu sự vật. Cây viết hiện
có trước mắt tôi là do hiệp thể của nhiều chất liệu,
như: gỗ + sơn + mực và ý niệm của người thợ tạo ra cây
viết tròn hoặc lục lăng, với, “thiết ý” là để dùng
vào viết hay vẽ…, bởi có “hiện tượng” cây viết mà
chứng minh được chung quanh cây viết là không gian: vô ngã.
Rồi từ khi có hiện tượng cây viết cho đến cây viết bị
hủy hoại, nghĩa là từ sinh -diệt này qua sinh - diệt khác,
gọi là thời gian: vô thường.
Tất
cả sự vật hiện hữu trong vũ trụ đều bao gồm trong một
chữ “Pháp = Dharmas”[23], Nói theo từ ngữ Phật Học, Pháp
cũng gọi là “Nhất Thiết Pháp”, tức chỉ cho Vạn Sự
Vạn Vật và là Lẽ Sống, Cách Sống, Khuôn Mẫu Sống của
muôn loài vạn vật trong cỏi đời này. Cái lẽ sống ấy
cùng với trời, đất, muôn vật nhịp nhàng chung sống trong
một Nguồn Sống Vô Tận (tức Hiện Tượng - Bản Lai Diện
Mục là như thế đó; pháp nhĩ như thị là vathàbhùta). Với
sự thật trên đây, đã giúp ta khám phá ra hiện tượng vũ
trụ vạn hữu gồm có hai mặt đối đãi: “Một Là Tấ Cả”,
toàn thể vũ trụ tạo thành một vật (nhất tức nhất thiết);
“Tất Cả Là Một”, một vật ảnh hưởng đến toàn thể
(nhất thiết tức nhất)[24].
Để
nhận thức sự việc không bị lệch lạc, sai lầm, đạo Phật
đề ra ba phương pháp, cùng gọi là: Tam Lượng (ba phương
pháp tỷ giảo, nhận thức sự vật đúng như thật). Hình
thái nhận thức thứ nhất là Hiện Lượng, những sự vật
hiện hành do ngũ giác và tri giác ta trực tiếp nhận thức
một cách thâu đáo, nếu ta có quan niệm rõ rệt về một
vật ấy. Tỉ dụ: phải nghe tiếng nó, phải ngửi mùi nó,
v.v…Trước khi có cảm giác rồi, mới có tri giác, không có
tri giác thì không có quan niệm, nghĩa là chưa thành hiện lượng.
Hình thái nhận thức thứ hai là Tỷ Lượng, sự suy luận,
đối chiếu bằng những phương pháp tỷ giảo, lấy cá thể
hiểu toàn thể làm đối tượng so sánh, và chứng minh cho
sự tìm hiểu sự thật, như dựa vào pháp Tam Chi Luận trong
Nhân Minh Học[25] để tỷ lượng trong việc xét đoán vũ trụ
vạn hữu. Hình thái nhận thức thứ ba là Thánh giáo Lượng,
căn cứ vào giáo lý Như thật do đức Phật dạy để mở
mang trí tuệ (Prajnã), suy xét sự vật, phân định lẽ chính
tà, thực hư. Ðó là những yếu lý căn bản cho mọi phưương
pháp nhận thức. Ta có thể y cứ vào đấy làm tiêu chuẩn
để tỷ giảo, phán đoán, tìm hiểu chân lý. Áp dụng phương
pháp Tam Lượng trong công cuộc tìm hiểu sự thật, cho ta thấy:
“Đạo Lý Duyên Khởi = paticcamuppàda” của đạo Phật là
cắt nghĩa trọn vẹn cái lý do vũ trụ vạn hữu thường hằng,
luôn luôn sinh động (vô thường) nhưng không thực thể (vô
ngã). Căn cứ vào Nhân Minh học (tức phương pháp Luận Lý
học), ta tập luận:
-
Tôn - Tất cả hiện tượng trong vũ trụ đều biến chuyển,
vô thường.
-
Nhân - Vì các nhân duyên yếu tố giả hợp tạo thành.
-
Dụ - Như cái nhà, do các vật liệu “giả hợp” tạo thành
rồi phải mục nát, hư hỏng.
Và,
so với phép Tam Đoạn Luận (Syllogisme) trong triết học Tây
phương:
- Đại
Tiền Đề - Những vật gì do yếu tố nhân duyên giả hợp
tạo thành, đều bị hủy diệt.
- Tiểu
tiền Đề - Như cái nhà, do các vật liệu “giả hợp” tạo
thành, tất phải mục nát, hư hỏng.
- Kết
Luận - Vậy các hiện tượng trong vũ trụ phải biến chuyển,
vô thường.
Tới
đây, xin tạm mượn câu chuyện “đàm thoại” giữa đức
vua MILINDA và thánh giả NAGASENA được ghi lại trong cuốn
“Di Lan Đà Vấn Đạo = Milindapanha” để chứng minh cho lý
giải trên là sự thật.
- Thưa
thánh giả, tên thực ngày là gì? - đức vua hỏi.
-
Tâu hoàng thượng, bạn đồng đạo thường gọi tôi là NÀGÀSENA,
nhưng đấy chỉ là một cách để phân biệt một tiếng gọi,
một lối nói cho tiện, hay nói khác, chỉ là một cái danh
chứ thực ra, không có người Nàgàsena.
Ðức
vua thấy thánh giả trả lời một cách bỏ lửng (không trả
lời thẳng câu hỏi), lấy làm thắc mắc, liền gạn hỏi:
-
Thưa thánh giả nếu không có người Nãgãsena; thảng hoặc
có kẻ đem đồ dâng cúng tỳ khưu (Bhikkh: tức chỉ thánh
giả Nàgàsena) những thứ cần dùng, như thức ăn, áo mặc,
đồ ngũ, thuốc men… thì lấy ai để nhận lãnh? - Và ai ăn
dùng những vật ấy? - Ai bảo toàn luân thường đạo lý?
- Ai ngồi tham thiền? - Ai hành đạo? Ai đắc quả? - Ai nhập
niết bàn? Ai là kẻ sát sinh? Ai trộm cắp? - Ai tà dâm? - Ai
phạm ngũ giới? Nếu thế thì không có thiện, không có ác,
không ai làm thiện cũng không ai làm ác; những việc làm dù
tốt hay xấu, cũng chẳng có quả báo? Thưa tháng giả, vậy
thì không ai đánh giết; tỳ khưu và tỳ khưu ni ơi! các người
không có ai là thầy, không ai là người giảng dạy, không
ai là người truyền đạo pháp, nếu thánh giả nói rằng:
“Nầy các huynh, hoàng thượng gọi ta là Nagasena thì Nagasena
là ai?” thưa Thánh giả, xin ngài giảng cho. Hay là tóc trên
đầu ngài là Nagasena?
-
Hay là lông, móng, da, thịt, gân, xương, tủy, cật, tim, gan,
lá lách, phổi, ruột, cuống ruột, đồ ăn chưa tiêu hóa,
đồ ăn đã tiêu thành phân, đờm, rũi, mồ hôi, mỡ, nước
mắt, nước miếng, nước tiểu. v.v…
-
Không.
-
Hình sắc kia có phải là Nagasena chăng?
-
Không…
-
Sự nhận biết vui buồn, sướng khổ, sự suy tưởng phải
trái; sự toan tính hành động, trong lòng, có phải là Nagasena?
-
Không.
-
Thế không có chi là Nagasena cả, vậy Nagasena là gì?
-
Không là gì hết, thưa hoàng thượng.
-
Có lẽ nào Nagasena chỉ là một tiếng không thôi sao, trẫm
e thánh giả nói dối.
Bấy
giờ, thánh giả (luôn thể) trông thấy cái xe, liền hỏi đức
vua MILINDA:
-
Tâu hoàng thượng, chứ ngài tới đây đi bộ hay đi xe?
-
Đi xe, thưa thánh giả.
-
Hoàng thượng bảo đi xe, vậy tôi xin hỏi: Xe là gì? Có phải
cây gọng là xe không?
-
Không.
-
Phải bánh xe là không?
-
Không.
-
Phải ổ máy của xe là xe không?
-
Không.
-
…?
-
….
Hỏi
mãi như thế, không có cái gì đức vua Milinda có thể chỉ
được là xe. Thánh giả Nagasena liền kết luận: Cái xe của
hòa thượng chỉ là một dấu hiệu, một tiếng gọi; tôi
e hoàng thượng nói dối khi nói đi xe đến đây…
Ở
đời, hễ cái gì có hình tướng, đều biến đổi, không
thật. – “Phàm cái gì có hình tướng đều là giả dối,
có sinh phải có diệt” -Kinh Kim Cương.
Cuộc
đàm thoại trên đây đãchứng minh cho sự thật của Đạo
Lý Duyên Khởi, Vô Thường, Vô Ngã trong đạo Phật. Một sự
thật không ai có thể chối cải. Thật vậy, tất cả sự
vật hiện hữu trong thế gian này, hoặc đang băng hoại, hay
sẽ thai sinh, là do sự kết hợp “vô thường” của một
số tinh thể đơn thuần qua nhiều giai đoạn, và cứ thế
tiếp tục mãi… “Đạo Lý Duyên Khởi”cho ta thấy: Sự
vật không phải chỉ là những cá thể cố định, đơn điệu,
độc lập; mà là những “phần tử” hòa hợp trong một
khối chung của “toàn thể”. Những phần tử ấy có một
xã hội tính, tức tính “Nhân Duyên Sinh”. Với tính
Nhân Duyên Sinh, đạo Phật đánh dấu sự tương quan mật thiết
giữa hết thảy… Vì biết rằng, hết thày sự vật trong
vũ trụ, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, ảnh hưởng lẵn
nhau mà tạo thành.
Vũ
Trụ Luận.
Trong
Vũ Trụ Luận[26] (Cosmogonie) gồm hai phần: Hình Nhi Thượng:
Métaphysique, nghiên cứu Bản Thế Chân Như (Tathatà hay paràmartha).
Như Lai Tạng (Tathatagarbha); Hình Nhi Hạ: Physique, phần triết
lý thực tiễn; những việc con người, vũ trụ.
1.
Thế Giới Vô Biên, Chúng Sinh Vô Hạn Lượng. Nhưng Tất Cả…,
Đều Do “Nghiệp” Biến Hiện.
Trong
vũ trụ có rất nhiều thái dương hệ, mỗi thái dương hệ
là một thế giới, hợp nghìn thế giới thành một Tiểu thiên
thế giới, hợp nghìn tiểu thiên thế giới thành một Trung
thiên thế giới, và hợp nghìn trung thiên thế giới thành
Đại thiên thế giới.
Mỗi
thế giới có những Y Báo, Chính Báo khác nhau, nhưng không
ngoài “Nhgiệp Cảm Duyên Khởi”.
Nói
đến “NGHIỆP” (Karma) tức nói đến sự sinh động biến
hóa của vạn hữu (tous les êtres). Nhưng Nghiệp là gì?
Và Vũ Trụ do Nhân duyên nào mà có? Nghiệp là Vô Minh (Avidyà)
duyên khởi và tự nó tác động, chứ không bị chi phối bởi
một sức huyền nhiệm nào cả. Mà Nghiệp thì hoàn toàn động.
Bởi có động mà vũ trụ vạn hữu mới tiến hóa, sinh tồn
- động, hay nói Nghiệp cũng thế - xin hiểu theo nghĩa rộng
- khi khởi thủy có thế giới, có các loài sinh vật là có
động. Động là biến hóa cần phải có để duy trì trật
tự trong vũ trụ và là Lẽ Sống của mỗi hành tinh hệ, gồm
nhiều thế giới gọi chung là vũ trụ.
“...Cứ
tiến mãi qua 33 từng trời: 56 cảnh giới Bồ Tát; vũ trụ
tùy mỗi từng mà rộng lớn gấp bội. Mỗi Phật sát là một
cõi Phật, và mỗi cõi gồm có Tam thiên đại thiên thế giới
3 000 000 000[27]. Từ cõi đức phật Cakyamuni vượt qua mười
ức vạn cõi Phật khác, còn có một cõi do đức Phật A Di
Đà (Amitabha Buddha) làm giáo chủ. Mỗi cõi Phật sát đối
với không gian, chỉ là một hạt bụi nhỏ khác. Các Phật
sát đầy dẫy hư không. Thật là bao la!”[28].
Chỉ
mới đứng về mặt tương đối cuộc đời mà luận, ta cũng
đã thấy: Vũ trụ rộng lớn, có muôn hình, muôn vẽ, nào
trăng, sao, trời, đất, núi, sông, cây cỏ, người và vật.
v.v… Tuy nhiên, sự nhận thức của con người (do ngũ quan
và ý thức tạo thành) khác với sự nhật thức của các loài
động vật “nhìn” và “hiểu” những cảnh vật ấy (cộng
nghiệp trong biệt nghiệp). Nghĩa là, tùy mỗi Nghiệp lành
hay dữ của chúng sinh mà sự cảm ứng khác nhau. Con người
thuộc trong những loài động vật. Nhưng đời sống con người
khác đời sống của loài muôn thú. Mỗi loài có một “tính
sống” riêng biệt, như cá thì bơi lội dưới nước, chim
bay bổng trên không, hổ báo thì sống ở trên cạn (mặt đất)
và trong những miền rừng rú; hoàn cảnh khác nhau, nên sự
sống cũng khác nhau. Theo quan niệm đạo Phật thì, vũ trụ
(tự nó = chose en soi) đã biến chuyển bao lần, và còn biến
chuyển mãi mãi. Đó chẳng qua là do “Nghiệp thiện” hay
“Nghiệp ác” từ vô thủy kiếp đã tạo; mà “y báo”
(chỉ cho tất cả sự tướng hiện hữu, dù lớn hay nhỏ,
lớn như thái dương hệ, sơn, hà, đại địa, thành quách
lâu dài…, nhỏ, như hạt bụi, vi trần...) “chính báọ”
(bồm hết thảy sinh vật, trong đó có con người và vạn hữu,
gọi chung là chúng sinh) làm nhân - nguyên nhân chủ yếu -,
làm duyên - nguyên nhân phụ thuộc - để phát sinh hiện tượng
giới. Tất cả y báo, chính báo cũng lại do Nghiệp cấu tạo
mà thành. Nói theo Đạo Lý Duyên Khởi[29] thì sự vật luôn
luôn biến hóa vô cùng tận; đó không phải Vật Này sinh ra
Vật Kia mà là Vật Này làm nhân, làm duyên sinh khởi ra Vật
Kia. Hay nói cách khác:
“Cái
Này có thì Cái Kia có;
Cái
Này sinh thì Cái Kia sinh,
Cái
Này không thì Cái Kia không.
Cái
này diệt thì Cái Kia diệt.[30]
Majjhimani
Nikaya II – 63 -
Cũng
như nói; Quá sinh ra cây, cây nở hoa, hoa kết thành quả.
Sự
“Có, Không” “Còn, Mất” chỉ là sự thay đổi hình dạng
mà thôi. Thực ra “ Nó” không mất đi đâu cả[31]. Ta hãy
lấy một dự kiện để chứng minh cho Sự Thật kia:
Nước
H2O, khi nước sôi bốc thành hơi, hơi động lại vẫn là nước.
Đó là một hình thức, chỉ là sự đối thể của một chất
liệu. Chúng ta nói: cái chết làm tiêu diệt một sinh vật
mà không nói sản sinh ra một xác chết; có khác gì ta coi trọng
cái hình thức (giả tướng) hơn chính sự sống, là phần
tâm tưởng tinh anh.
Thực
ra, đối với Bản Thể (Essence)của sự vật, nó không bị
tiêu diệt, mà chỉ thay đổi qua nhiều trạng thái khác nhau,
giữa… sự sống và sự chết, và cứ như thế tuần hoàn
biến diễn mãi không thôi. Cho nên, ta không thể nói Cái nào
có trước Cái Nào có sau. Vũ trụ là một cuộc đại hoạt
động vô thủy vô chung (sans commencement ni fin). Từ nguyên tử
nhỏ nhiệm đến các tinh tú xa xôi, đều nằm trong cái vòng
luân lưu không bao giờ đứt quãng…, khác nào như những làn
sống ngoài biển cả. Ngược về trứớc ta ta không tìm thấy
có thủy, ngó lại sau chẳng thấy có chung, thì làm sao có
thể gọi được là Nguyên Nhân Tối Sơ (?). Mỗi thời đại
hiện ra cùng vạn vật, rồi lại tan đi mà biến ra thể vô
hình, vô sắc. Khi hiện ra gọi là SẮC khi biến đi gọi là
KHÔNG...[32] Do đó, đạo Phật cắt nghĩa sự biến chuyển
của vũ trụ vạn pháp (nghĩa như chữ vạn vật) bằng hai
chữ “Sắc” “Không”.
2.
Sắc - Không
a)
Sắc (Rupam hay Lak sana).
Chỉ
cho tất cả vật thể trong vũ trụ có hình tướng mà ngũ
quan ta cảm giác thấy, những ý tưởng, tâm tình đều thuộc
phạm vi "sắc"cả. Cái gì thường còn mãi, mới gọi là “có”,
như Bản Thể (Essence), Chân Tâm (L’Être infini), Chân Như (Réalitéultime)
v.v.., những trạng thái luôn luôn sinh diệt, có rồi lại không,
như những bọt nước trên mặt sống biển… Đấy không phải
là có mà chỉ là “giả có”.
b)
Không (Sunyatà):
Không,
là trạng thái không hình sắc, âm thanh, không thể dùng giác
quan mà tiếp xúc hay suy tưởng. Nhưng nó lại có sức linh
hoạt như những luồng quang tuyến, tuy vô hình song có một
năng lực biến chuyển một giây có thể chạy chu vi địa
cầu tám lần. Nhgĩa là, “Chân Không Diệu Hữu”[33], Cái
“Không” này là hoàn toàn không, vĩnh viễn không (Chân Không)
chứ không phải không trống rỗng, không có gì (ngoan không
-Vide). Để hiểu Chân Không một cách giản dị, ta hãy lấy
một ống chứa đầy không khí bằng thủy tinh rồi cho hút
hết không khí - có chứa đựng trong ống thủy tinh ấy - ra
ngoài, thì trong đó ta tạm thấy “Chân Không”, như những
luồng quang tuyến, dù có hiện ra hay biến đi, nhưng nó vẫn
là nó. Nó chỉ đổi thể mà thôi (changement d’état). Trong
kinh Bát Nhã (Prajnà paramita) chép: “Sắc tức thị không, không
tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc…
thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu
bất tịnh, bất tăng bất giảm...”
Các
bậc tu hành, khi đã chứng được “bát nhã trí” (prajnà),
nhìn thấy các pháp đều là không. Một trong những vị thiền
sư đắc đạo của nước ta, ngài Từ Đạo Hạnh, triều đại
nhà Lý, đã cảm thông được lẽ “có” “không” hiện
ra trong vũ trụ vô biên, biểu thị qua những vần thư tuyệt
diệu dưới đây:
"Có
thì có tự mảy may
"Không
thì cả thế gian này cũng không.
"Thử
xem bóng nguyệt giòng sông.
"Ai
hay không có, có không là gì?"[34]
Tùy
Theo nhân duyên mà hiện ra như là có sinh. Cho nên gọi là tạm
CÓ. Bởi không có tự tinh, nên gọi là KHÔNG = Tòng duyên
sinh cố, danh chi vi hữu. Vô tự tính cố, danh chi vi vô - Kinh
Đại Bát Niết Bàn-
Sự
đổi thể giống như nước đổi ra hơi, hơi lại về nước;
như những luồng quang tuyến tuy bị tắt là do tại vì bóng
hỏng và máy hư (tùy duyên bất biến). Nhưng điện tính
thì không bao giờ mất hẳn (bất biến tùy duyên), nó vẫn
có đầy dẫy trong khắp cả hư không giới (nghĩa chữ “sắc
bất dị không”) nhưng khi đủ yếu tố nhân duyên, như dây,
bóng… ta bật đèn là thấy có ánh sáng ngay (trước không,
bây giờ có ánh sáng) (nghĩa chữ “Không bất dị sắc”.
Do đó, cho ta thấy, vật chất chỉ như là những làn sóng
nhấp nhô ngoài biển cả. Mà tinh thần cũng chỉ là những
luồng ý niệm được tiếp nối từ quá khứ đến hiện tại
và vị lai. Dưới con mắt Phật học, ta nhìn vũ trụ vạn
hữu không ngoài hai định đề “Sắc”, “Không”, và nó
còn phải liên quan mật thiết tiếp nối nhau theo luật nhân
duyên nhân quả, và luôn luôn biến chuyển mà muôn vật được
sinh sôi nảy nở, nhịp sống mới đều hòa; nếu vũ trụ
bất động, vạn vật sẽ tự diệt.
Ở
đây, ta có thể tượng trưng vũ trụ như một hình tròn, theo
sự biến chuyển như sau:
Không
Sắc
Vẫn
biết vạn hữu (tous les êtres) do nhân duyên cấu tạo nên;
nhưng cái gì là tượng trưng cho vũ trụ vô biên ấy? - Đạo
Phật với thuyết “Bản Thể Thật Tại Luận”.
3.
Bản Thể Thật Tại Luận Hay Câu “Nhất Thiết Duy Tâm Đạo”
Trong
kinh Hoa Nghiêm (Avatamsakasutra) chép: “Vạn hữu trong vũ trụ
đều do TÂM (Bản Thể) biểu hiện = “Nhất Thiết Duy Tâm
Tạo”. Chữ TÂM ở đây không có nghĩa chỉ cõi lòng vui buồn,
ganh ghét hay cái trí hiểu biết của con người. Cũng không
phải như chữ Tâm theo định nghĩa hạn hẹp của triết học
là: Tinh thần chủ quan sinh ra vũ trụ khách quan. Lại càng
không nên hiểu theo triết lý của Hégel; Tâm là ý niệm hoặc
ý tưởng tuyệt đối. Phần nhiều ta không chịu tìm hiểu,
chỉ mãi loay hoay trong rừng rậm danh từ, không tìm ra được
lối thoát, nên rất dễ bị lầm lạc. thật đáng tiếc! Chẳng
hạn người ta thấy trong kinh Phật thường hay nói đến chữ
“Tâm”, những người nông nổi vội kết luận cho đạo
Phật là “Duy Tâm”.
Để
hiểu chữ TÂM, theo đúng quan niệm đạo Phật, chữ TÂM (ở
đây) có chia ra “Chân Tâm (Pêtreinfini), và Vọng Tâm
(conscience inconnaissable). Ta nên nhớ: Căn bản của phiền não
sinh tử là Vọng Tâm. Mà căn bản của Bồ Đề, Niết Bàn
là Chân Tâm. Nhưng chữ Tâm - chữ Tâm viết hoa - xin hiểu
nghĩa là Bản Thể Của Vũ Tru Vạn Hữu, tức Tâm Chân Như
hay Thể Tính chân Tâm (les éléments essentiels de l’être infinị).
Cũng
xin nói thêm về chữ “Tâm” (Citta), hiểu theo danh từ Phật
học, có nhiều tên khác nhau; tùy trường hợp, cũng gọi là
Chân Tâm, Bồ Đề, Niết Bàn, Như Lai Tạng, Alaya Thức hay
Pháp Thân, Chân Lý v.v…
Thật
ra những danh từ trên đức Phật tạm đặt ra để chỉ cái
“Bản Thể Tuyệt Đối” của vũ trụ, đó cũng chỉ là
phương tiện để hướng dẩn con người đạt được Chân
Lý. Trong kinh có câu: “Nhân chỉ kiến nguyệt”, nghĩa là
nhờ có ngón tay chỉ mà ta biết được mặt trăng. Mặt trăng
ở ngoài ngón tay người chỉ. Ngón tay là ám chỉ cho lời
nói, lý luận và danh từ, còn mặt trăng mới đích là chân
lý của Bản thể Vũ Tru. Khoa học ngày nay thì nói đến những
Electron, Atome et Noyau để cắt nghĩa vật tiên thiên đã tạo
nên vũ trụ vạn vật… Đó, chẳng qua cũng chỉ tạm mượn
cái tên điện tử, nguyên tử hay hạch tử để chỉ cái nguyên
chất (có sẳn) trong vũ trụ mà thôi. Trong Đại Thừa Khởi
Tính Luận, chép: Đứng về phương diện Bản Thể, thì tất
cả các pháp từ xưa tới nay, lìa các “tướng” như lời
nó , chữ nghĩa, tư tưởng, tuyệt đối bình đẳng, không
có thay đổi, không hư hoại, cùng chung một Bản Thể Sáng
Suốt Của Nhất Tâm, nên gọi là Chân Như = “Nhất thiết
chư pháp, tòng bản dĩ lai, ly ngôn tuyết tướng, ly danh tự
tướng, ly tâm duyên tướng, tất cánh bình đẳng, vô hữu
biến dị, bất khả phá hoại, duy thị nhất tâm, cố danh
chân như”.
Để
hiểu chữ “Tâm”[35] trong đạo Phật một cách sâu rộng
hơn, kinh Lăng Nghiêm (Suramrama sutra) có ghi lại mẩu chuyện
đối thoại giữa Đức Phật và để tử là Ananda, sau bảy
lần gạn hỏi ý nghĩa chữ “Tâm”, đều bị đức Phật
bác, cho là không đúng. Và dưới đây là mẩu chuyện lý thú
đó:
1.
- Ananda Chấp Tâm ở Nơi Thân -"Tâm không phải trong thân. Nếu
bảo tâm ở trong thân, trước hết, ông phải lấy tim, gan,
mật, phổi, lá lách…, sau mới thấy cảnh vật bên ngoài”.
Tại sao, ông không trông thấy? - lời đức Phật.
2.
- Ananda Chấp Tâm Ở Ngoài Thân - Đức Phật: “Tâm ở ngoài
thân, thì tâm và thân ông không dính dấp nhau. Vì lẽ gì,
mắt ông vừa trông thấy cảnh vật, tâm ông liền biết? Như
vậy, thân và tâm đâu có tách rời nhau.
3.
- Ananda Chấp Tâm Ở Trong Con Mắt - Đức Phật: Nếu tâm ở
trong con mắt; tại sao, tâm ông lại không thấy được mắt
ông. Cũng như người chết, con mắt còn đó, tại sao lại
trông không thấy gì?
4.
- Ananda Chấp Trở Lại, Tâm ở Trong Thân, ông nói: “Tôi
mắt thấy tối, mở mắt thấy sáng là tâm thấy cảnh vật
bên ngoài. Như vậy, tâm ấy đúng ở trong thân tôi”. Đức
Phật liền hỏi vặn lại Ananda: “Nếu ông nói rằng nhắm
mắt thấy tối, vậy cái tối ấy có đối trước mắt ông
hay không?”
5.
- Ananda Chấp Tâm Tùy Chỗ Hòa Hợp Mà Có. Đức Phật: “Ông
nói, tâm tùy chổ hòa hợp có; nghĩa là, tâm ấy không có
thực thể (tức không có) thì lấy gì làm hòa hợp? Nếu nói,
nó từ trong thân hoặc từ hư không hiện ra, lẽ tất nhiên,
nó phải thấy lục phủ, ngũ tạng bên trong và thấy hình
thể con người bên ngoài. Còn nói, tâm ấy có nhiều thể
(thành ra có nhiều tâm), biết cái nào là tâm của ông? tùy
hòa hợp chổ nào tâm liền ở chổ đó, là sai”.
6.
- Ananda Chấp Tâm Ở Khoảng giữa - Đức Phật dạy: “tâm”
và “cảnh” là hai thể khác nhau, một bên có tri giác (tâm),
một bên không có tri giác (cảnh), hai cái đối lập, riêng
biệt nhau, thì lấy cái gì gọi được là giữa?
7.
- Ananda Chấp Cái Không Trược[36] Là Tâm - Đức Phật: Hễ
cái gì có hình tướng, như núi, sông, trái đất thì gọi
là “giả có”; còn cái gì không hình tướng, như lông rùa,
sừng thỏ đều gọi là không, và đã không, thì có gì mà
nói là “trược”?…
Đến
Đây, Đức Phật giảng rõ thế nào là Thể Tính Chân Tâm
để giúp cho chúng sanh sớm ngộ nhập “Phật tri kiến”,
nhìn thấy các pháp là không tướng, con người và chúng sinh
là do nhân duyên cấu tạo, nên nó “vô ngã”, và hết thảy
sự vật hiện hữu trên cỏi đời này đều “vô thường”
chuyển biến. Muốn giải thoát những ràng buộc mê luân khổ
đau, thì con người phải biết “tu tâm, dưỡng tính” để
mình không còn bị làm nô lệ cho cái hình hài giả tạm, và
sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn, một cuộc sống vĩnh
cửu, thanh tịnh, tự tại, như nhất…
Vòng
tròn tượng trưng cho “Tâm” hay “Bản Thể” của vũ trụ
vạn hữu.
Đường
thẳng và cong biểu tượng
Sát
na sinh diệt.
Vậy,
TÂM ấy là thể bản nhiên thanh tịnh (Đại Ngã Thể)[37] bao
trùm khắp pháp giới - xin hiểu nghĩa như chữ vũ trụ - hư
không giới, bao giờ nó cũng là một thể tồn tại, không
sinh diệt, không thêm, không bớt, không sắc tướng, cũng không
hẳn là hư không; vũ trụ vạn hữu đã từ vô lượng kiếp
luân hồi…
Đến
đây ta hãy lấy một thí dụ để chứng minh, như “nước”
là Bản Thể, có tính chất thành Sóng. Mặc dầu là nó tĩnh
nhưng vẫn có tính chất động. Tĩnh và Động là hai tính
chất có ở trong nước. Sóng, chỉ cho Hiện Tượng “tinh
thần và vật chất”.
Nước,
chỉ Bản Thể “vô biên…”. Vậy, có Sóng là có Nước.
Cũng như nói có Hiện Tượng là có Bản Thể.
4.
- Thể, Tướng, Dụng
a.
Thể
Bản
Thể, chỉ cho vũ trụ bao la – “Tâm Chân Như” Ví như nước
mênh mông trong đó có đầy đủ các yếu tố nhân duyên để
“cấu tạo” vạn hữu, nếu ta thu hẹp lại thì nó chỉ
là một con số không (0), nhưng trong đó vẫn hàm tàng hai tính
chất “Sắc” (vật chất), “Tâm” (tinh thần). Đạo Phật
quan niệm: Tâm, hay Vật nhị nguyện đồng nhất thể, nghĩa
là, dù Tâm hay Vật đều có ở trong “Bản Thể”; không
phải “Tâm” có trước “Vật”, như phái Duy Tâm chủ trương
“tinh thần có trước, vật chất có sau. Hay nói ngược lại,
“Vật” có trước “Tâm”, như phái Duy Vật chủ trương
“vật chất sản sinh ra tinh thần”. Trong Duy Thức Học (Vijnànavàda)
nói: “Tâm và Vật là hai cái “đồng thời” có ở
trong Bản Thể Chân Như. Nếu không có Tâm thì không có Vật;
mà không có Vật thì cũng không có Tâm = Kiến, Tướng đồng
thời nhi khởi, vô kiến tắcvô tướng, vô tướng tắc vô
kiến”.
Viên
đá lửa sẵn có “tính lửa” hàm chứa bên trong, nên khi
ta bật thấy lửa phát hiện. Cũng như “tính ướt” của
nước vẫn sẵn có ở trong nước. Bản Thể của vũ trụ
hiện hữu, như ta đã thấy, nó không ngoài Hiện Tượng mà
có Bản Thể. Hiện Tượng, tức Bản Thể. To như Thái dương
hệ, nhỏ như vi trần cũng đều do nơi Bản Thể vô biên diệu
dụng kia mà biến hiện ra cả….
b.
Tướng
Tướng
Trạng, chỉ cho núi, sông, người và vật - Hiện Tượng giới
- Ví như nước biển đem pha các màu xanh, đỏ, vàng, tím;
tuy sắc tướng có khác, nhưng nó vẫn không ngoài thể chất
“Nước”. Vũ trụ với thiên hình vạn trạng khác nhau về
hình thái song đều chung một Bản Thể, không hai, không khác.
c.
Dụng
Công
dụng, tức chỉ cho sự sai biệt giữa vật này và vật kia:
- sinh diệt, vô thủy vô chung - với sự áp dụng của
“Sắc” hay “Tâm”, tùy theo trường hợp thiện và ác của
“Tướng”, như màu sanh, màu vàng v.v… để dùng vào việc
viết (hay vẽ) các vật xanh, vật vàng v.v…
5.
Những Nguyên Nhân Cấu Thành Vũ Trụ Vạn Hữu.
Trong
Bản Thể Vũ Trụ gồm sáu yếu tố công năng hoạt động
làm căn bản, cũng gọi là “Lục Đại Duyên Khởi” (Màhàhhutas
les six élémants) tức: Địa (Prthividhàtuh), Thủy (Abdhàtuh),
Hỏa (Tejodhàtuh), Phong (Vàyudhàtuh), Không (Sùnyatà), Thức (Vijnàna),
dung hòa lẫn nhau và tạo ra muôn loài vạn vật hiện hữu
ở thế gian này.
Sáu
công năng đó là:
*
Công Năng Rung Động : Gió
*
Công Năng Ép Nặng :Đất
*
Công Năng Ấm Nóng :Lửa
*
Công Năng Mịn Ướt :Nước
*
Không Gian :Hư Không
*
Linh Thức.
Tính
chất của sáu công năng rất tinh tế không phải là hình thức
thô sơ như những nguyên tử, điện tử cón có thể phân tích;
đằng này tự nó, nó có đủ năng lực tiến hóa, phát triễn.
Đứng về quan niệm sai biệt, ta