Phần
Mở Ðầu
Tìm
Hiểu Ðạo Phật
Sao
trăng có thể rơi
Núi
đá có thể lở
Biển
đại dương có thể cạn
Lời
nói của đức Phật trăm kiếp ngàn đời vẫn như thật
-
Kinh Dược Sư
“Hỡi
chư Tăng, tựa như nước của bể cả chỉ thấm nhuần một
hương vị: Hương vị mặn của muối. Ðạo lý của ta cũng
chỉ thấm nhuần một hương vị: Hương vị của Ðạo Giải
Thoát.”
-
Cullavagga IX
Chương
I
Đạo
Phật Là Gì?
Để
hiểu Đạo Phật là gì? Ta hãy gạt mọi thiên kiến chỉ cần
tìm sâu vào nguồn giáo lý cao đẹp ấy, một nền giáo lý
xây dựng trên sự thật để tìm hiểu sự thật, do đức
giáo chủ Thích Ca Mâu Ni sáng lập. Với giòng thời gian biến
chuyển; từ khi đạo Phật truyền bá trên trái đất, theo
lẻ tuần hoàn, tất nhiên không thể tránh khỏi hưng… suy...
Do đó, ta có thể căn cứ trên quan điểm lịch sử để nhận
xét: về mặt hình thức (dĩ nhiên) đạo Phật chịu ảnh
hưởng hoàn cảnh ở những nơi mà đạo Phật đã truyền
vào; tuy nhiên, trên tinh chỉ của đạo thì trước sau duy nhất:
đạo Phật là đạo Phật, dù trải mấy nghìn năm mưa nắng,
nhưng tinh hoa vẫn là tinh hoa của đạo, “từ bi”, “trí
tuệ” và là chân lý chiếu sáng trần gian, u tối, khác nào
ánh nắng vầng thái dương chiếu tỏa khấp chân trời, quét
sạch mọi tối tăm, đau khổ, mang vui tươi, xán lạn, tin tưởng,
hy vọng cho muôn loài. Ở đây, trươc hết, ta hãy hiểu thế
nào là “Phật”.
Định
Nghĩa:
Phật:-
Đấng Sáng Suốt hoàn toàn, giàu lòng từ bi, đức vị tha;
nếu nói đủ phải xưng là Phật Đà (Buddha), gồm có ba nghĩa
chánh;
1.
Đức Phật trước kia cũng là một Người, nhưng khác với
người thường, vì Ngài cũng từ con người mê mờ đã thoát
ra ngoài sự mê mờ (giác ngộ) nên không còn bị ràng buộc
bởi nhân duyên phiền não sinh tử (giải thoát). Nhưng sao goị
là Phật? “Phật” chỉ là danh từ chung để tôn kính đối
với những bậc đã Đại giác Ngộ = Người Phật: Manussabuddha,
là người cầm đuốc soi sáng cho cuộc đời. Đức Phật dạy:
“Tất cả chúng sinh đều có Phật tính và sẽ thành Phật
trong mai sau, vì lý “Pháp Thân Bình Đẳng”.
2.
Đức Phật, từ chổ tu chứng để tự giác và giác tha, và
do đó, Ngài hiểu rằng chúng sinh với Phật cùng chung một
bản thể, không hơn không kém. Đức Phật thường khuyên chúng
ta: “Hãy bỏ tất cả để sẽ được tất cả”. Ngài lại
dạy: “Ta chỉ là vị Phật đã thành, có nhiệm vụ
khai thị Phật tính (Buddhata) cố hữu của các người. Kẻ
nào phát huy đươc Phật tính ấy tức sẽ thành Phật”.
3.
“Phúc đức” và “trí tuệ” của đức Phật đều hoàn
toàn viên mãn. Địa vị đức Phật là địa vị độc tôn:
Vô Thượng Chính Đặng Chính Giác-Anuttara Samyak Sambodhi. Vậy
ta có thể khái quát cả ba nghĩa ấy như sau: Đức Phật là
đấng Giác Ngộ đã thấu triệt nguồn gốc vũ trụ và con
người nguyên nhân do đâu phát sinh, và đã dứt bỏ hết mọi
mê mờ; Phúc, Trí trang nghiêm muôn hạnh đầy đủ. Và vì
thế ngươì đời tôn xưng đức Phật là một vị Thánh độc
tôn trên các thánh.
Đức
Phật là hiện thân của ánh sáng chân lý.
Giáo
- Những lời giáo huấn do chính đức Phật giác ngộ và thuyết
minh, Nguồn giáo lý viên dung ấy gồm đủ công năng, phương
pháp từ lý thuyết đến thực hành, một đạo học vạn năng,
có mục đích truyền dạy và hướng dẩn chúng sinh trên đường
về thực tại: Cứu Cánh Giải Thoát.
Đạo
Phật là kho tàng tinh thần vô giá, một sự thật hiển nhiên.
Chúng ta không thể bỏ qua. Nếu tự đặt mình vào địa vị
khách quan để tìm hiểu sự thật (chân lý), lại càng không
nên hời hợt với công việc của mình, và phải tận lực
dày công nghiên cứu lắm mới mong có kết quả toàn mỹ. Vì
lẽ, đạo Phật có cả tám vạn bốn nghìn pháp môn vi diệu,
chứa đầy nhựa sống. Nguồn giáo lý gồm hai phương diện;
“Tình cảm” và “lý trí”. Chúng ta đừng tìm hiểu đâu
xa. Chân lý ở quanh bên ta, nhưng thực ra, ta còn phải biết
tin vâng theo lời Phật dạy, biết hướng về lẽ phải, để
nhận chân sự vật một cách đúng đắn. “Các kinh điển
đạo Phật dồi dào ngoài sức tưởng tương: đó là những
cơ sở văn chương đứng bậc nhất trên hoàn cầu về hết
thảy phương diện triết lý, thi ca và số lượng...”
Như
ta đã thấy và biết, hiện nay trên thế giới chưa một triết
gia, khoa học, tôn giáo, chủ nghĩa nào đã phát minh và để
lại cho nhân loại một kho tàng văn hoá “đại tạng kinh
điển” to lớn như là đạo Phật-Hết thảy thế gian pháp
đều là Phật pháp.[1]
Nói
tóm, giáo lý đạo Phật là Như Thật và là Nguồn Sống của
hết thảy chúng sanh.
Những
Nét Chính Của Đạo Phật.
- Về
Không Gian, đứng về phương diện Bản thể luận mà xét:
từ khi có vủ trụ và con người cũng là lúc đạo Phật bắt
đầu xuất hiện. Nói theo từ ngữ Phật học thì, đạo Phật
là bản lai diện mục của vũ trụ vạn hữu và là đạo của
Ánh Sáng và Tình Thương, nên nói rằng: khi có chúng sanh là
có đạo Phật.
- Về
Thời Gian, một trong các vị Phật ra đời là đức Thích Ca
Mâu Ni, cách nay trên hai mươi lăm thế kỷ, sau khi thành đạo
bên gốc Bồ Đề, lần đầu tiên đức Phật thuyết
pháp tại vườn hoa Lộc Uyển (Ấn Độ); sự hình thành đạo
Phật cũng bắt nguồn từ đó, rồi lan tỏa khắp thế giới
với những thuyết lý thâm sâu, bao gồm trong mọi lãnh vực:
tư tưởng, văn chương, luân lý, nghệ thuật và khoa học…
Không một môn học nào mà đức Phật lại không diễn đạt
một cách tinh tường, quán triệt, là những phương pháp hướng
dẫn con người, chúng sanh tiến tới Giác Ngộ và Giải Thoát.
Nên cũng nói: Đạo Phật là đạo của mọi người, của muôn
loài, với những giáo lý thực tiễn:
1.
Mở Rộng Cõi Lòng …
2.
Đưa Sinh Linh Tới Ánh Sáng Chân lý.
3.
Xây Dựng Một Xã Hội Người Văn Minh.Giác ngộ và Giải Thoát
1.
Mở
Rộng Cõi Lòng
Tất
cả hiện tượng trong vũ trụ đều có những mối tương quan
mật thiết với nhau. Sở dĩ có sự riêng biệt là do sự mê
chấp của từng cá thể, gọi theo danh từ Phật Học là “Chấp
Ngã”. Bằng vào “vô ngã, Pháp”, đạo Phật khuyên ta mở
rộng hai tay ôm vũ trụ vào lòng, và đừng bao giờ con người
khép kính tâm tư lại. Hãy sẵn sàng đón lấy nhân đạo và
từ bi. Quên đi những cái “ta” ích kỷ, nhỏ hẹp để được
yêu vũ trụ rộng lớn. Vì chính cái ta gọi là “ta” nó
không hoàn toàn là một thực thể; thế rồi lại cứ nhận
lầm cái “ta giả tạo” kia là thực, mà không nhận được
cái “ta chân thực” trong pháp giới bao la, thì chúng sanh
tránh sao không làm trái với luật tương quan nhân quả giữa
sự vật. Cũng vì thế mà mọi khổ đau dồn dập bị gây
nhiều ác nhân thêm. Thật là điều đáng tiếc! Nhưng làm
thế nào có thể quên đi cái “ta bé nhỏ” để hòa điệu
với cái “ta rộng lớn” của toàn thể vũ trụ vô biên?
Một quan niệm chính xác, theo đạo Phật: “Cái “ta” cần
phải diệt trừ để nhập vào bản thể chung cùng rộng lớn
mà nó chỉ là một phần tử. Chúng ta là một bộ phận trong
toàn thể nhịp nhàng. Nguyên nhân của đau khổ không phải
vì sống ở trên đời nầy, mà chính là vì một sự nhận
thức nông cạn, lầm lạc của ta đối với đời sống. Chúng
ta cần phải cởi bỏ mọi tư tưởng của một cái “ta”
và, có vậy ta mới trực nhận được mọi niềm vui sướng
tràn ngập tâm hồn rộng lớn vô biên. Một hạnh phúc vĩnh
cửu chỉ sống mạnh trong một tâm hồn giải thoát. Và những
tâm hồn giải thoát chỉ có thể thực hiện, một khi cá nhân
chịu nhường bước… Thân người được khỏe mạnh là nhờ
ở sự quân bình của “lục phủ ngũ tạng”. Tất cả những
gì hiện hữu trong vũ trụ, khi đã được điều hòa, được
quân bình, thì ta có thể nói rằng đó là một cảnh giới
tuyệt đối. Một bản ngã đứng tách riêng ra ngoài vũ trụ
tức là làm cho vũ trụ mất quân bình. Một bộ phận của
thân thể đau, làm mất sự quân bình của toàn thân, mất
sự quân bình thì không có sức khoẻ. Ngộ nhân một cái “ta”
riêng biệt, tức là tạo một ung nhọt trong thân thể vũ trụ.[2]
Bởi
nhận định như vậy, nên việc khuyên người Mở Rộng Cõi
lòng, nhận toàn thể là mình, đấy là công việc trước tiên
của đạo Phật.
2.
Đưa
Sinh Linh Tới ánh Sáng Chân Lý
Con
người là hơn cả, vì có thể thực hiện được tất cả
sự tốt đẹp. Kinh Hoa Nghiêm[3] -Y vào lời dạy ấy, đạo
Phật không những đã hướng dẫn con người biết nhận chân
giá trị mình mà còn giúp cho sự tìm hiểu nguồn gốc vũ
trụ vạn hữu, không ngoài định luật “Lý Nhân Duyên Sinh”.
Tất cả hiện tượng trong thế gian, dù hữu hình hay vô hình,
tâm hoặc cảnh, đều do nhân duyên nhân quả kết hợp tạo
thành, và chỉ là phản ảnh mê lầm của tâm thức biến hiện.
Do đó, Đạo Phật phủ nhận những thuyết lý cho rằng “Tâm
có trước vật” phái Duy Tâm, hay “Vật có trước Tâm”,
phái Duy Vật. Theo đạo Phật thì, Tâm và Vật đồng thời
cùng xuất hiện một lượt. Hễ có Tâm là có Vật, và ngược
lại… Vì Tâm – là - tâm - của - vật và Vật – là - vật
- của - tâm, ta không thể xé đôi sự vật để nói; Vật
khác với Tâm, hay Tâm khác với Vật.
Ta
hãy dừng lại nơi đây, và đặt ra những nghi vấn, rồi tìm
câu trả lời cho những nghi vấn ấy, như chúng ta nói: “Tâm
có trước Vật” thì tâm ấy do đâu mà có? nương vào đâu?
và phát sinh bằng những điều kiện gì? - Còn nói: “Vật
có trước Tâm” lại càng vô lý, Bởi lẽ “Vật” (vật
chất = matière) thuộc loại vô tri, như khoáng vật, thực vật…,
và “Tâm” (tinh thần = Spirituel) thuộc tâm linh nên nó
phải nương vào vật giới để tồn tại và phát triển nhưng
không hoàn toàn lệ thuộc vào vật chất mà, trái lại, nó
có thể điều động, chỉ huy tất cả. Ta hãy lấy một thí
dụ để chứng minh cho sự kiện này: Trong viên đá lửa vốn
sẵn có tính lửa nên khi ta bật thấy lửa phát hiện. Cũng
thế, đạo Phật chủ trương “Lý nhân duyên Sinh”, không
thiên Tâm, không ngả Vật.
…Ở
đời, chẳng có chi là đơn độc cả, Mặt trời mọc, hoa
nở, chim ca, tất cả đều ảnh hưởng mật thiết đến sự
“sống”, bằng trực tiếp hoặc gián tiếp, đó chẳng qua
do Cái Này làm nhân làm duyên cho Cái Kia để phát sinh
Hiện tượng giới. Sở dĩ vạn vật trong vũ trụ có là do
các yếu tố nhân duyên nhân quả nối tiếp nhau, trùng trùng
duyên khởi, từ vô thủy đến vô chung. Sự thật là vật
gì hiện hữu trong cõi đời cũng “duyên” với nhau cả.
Từ nguyên tử nhỏ nhiệm đến các tinh tú xa xăm, đều có
sự tương quan, liên lạc với nhau. Chính đức Phật đã dạy
như vậy.
Đối
với thực tại, không luận bản thể hay hiện tượng, đức
Phật biết thế nào nói đúng như thế, Ba đời các đức
Phật cũng đều nói như thế (Như tam thế chư Phật, thuyết
pháp chi nghi thức; ngã kim, diệt như thị, thuyết vô phân
biệt pháp) - Kinh Pháp Hoa, phẩm phương tiện[4] -Chẳng hạn,
đức Phật nói: trong vũ trụ có rất nhiều thái dương hệ
(thế giới) hay trong một bát nước có vô số vi trùng, thì
ngày nay các khoa học gia, chế ra kính viễn vọng (télescope)
hay kính hiển vi điện tử (microscope électronique), người ta
biết rằng mỗi tinh thể là một thế giới, hay trong một
bát nước có rất nhiều vi trùng, Thật quả như lời đức
Phật dạy. Ngài còn cho chúng ta biết thêm rằng: vũ trụ vạn
hữu là chuyển biến vô thường, Điều này khoa học hiện
đại cũng đã chứng minh: trong một hạt bụi rất nhỏ có
vô số nguyên tử, quay chung quanh nhau, khác nào những hành
tinh đi vòng quanh mặt trời vậy. Đứng về phương diện “người”
mà nói thì, Phật là đấng đã thành tựu một nhân cách tối
cao, sau khi thể nhập với toàn thể vũ trụ (S’identifier avic
l’infini). Đức Phật chỉ là vị giáo chủ siêu việt có
những đặc điểm siêu việt hơn các vị giáo chủ khác mà
thôi, Thật ra, đức Phật không kiêu hãnh tự cho mình là “đấng
tạo hóa” sinh ra muôn vật và cha cả muôn loài. Trong kinh
Tăng Nhất A Hàm (Anguttara-Nikàya) có chép câu chuyện: Một
hôm, đức Phật đang trên đường đi hóa đạo tại Buddhagaya
(Béranès) thì gặp một người Bà La Môn chặn lại và hỏi:
- Ngài
có phải là một vị trời?
- Này
Bà La Môn! Ta không phải là một vị trời, Đức Phật đáp.
- Vậy
Ngài có phải là quỉ yYaksa? Là thần Gandharva?
- Ta
không phải là quỉ Yaksa, không phài là thần Gandharva.
- Ngài
có phải là người không?
- Ta
là người nhưng không phải người-thường.
- Vậy
Ngài là gì?
- Này
Bà La Môn! nên biết: Ta chỉ là một đức Phật (Buddha), một
đấng Giác Ngộ.
Thật
là minh bạch. Đức Phật không nhận mình là trời, là quỉ
Yaksa, là Thần Gandharva, mà Ngài chỉ nhận mình là một Đấng
Giác Ngộ (Buddha). Đặc biệt hơn, sau khi giác đạo, đức
Phật long trọng tuyên bố với thế gian: “Ta là Phật đã
thành. Các người là Phật sẽ thành” (Kinh Phạm Võng) Tất
cả đều có Phật tính, nếu chúng sanh biết y theo giáo lý
của đức Phật để tiến tu nhất định cũng sẽ thành Phật
và như vậy, cho ta thấy, giá trị tinh thần nhân bản toàn
diện của đạo Phật là, trình bày sự thật về những mối
tương quan giữa sự vật hiện hữu trong cuộc đời, để
giúp con người có được chính kiến (hiểu biết chân chánh)
hòng tạo lập cuộc sống mình và chuyển đổi hoàn cảnh
chung quanh: để ánh sáng đạo mãi mãi ngời sáng làm đuốc
soi đường cho những ai còn lầm Lạc, bỡ ngỡ chưa biết
đến…
Đạo
Phật quả là một “đạo” đã xây dựng trên căn bản của
“Từ Bi” và “Trí Tuệ”, là Nguồn Sống Cho Hết thảy…
3.
Xây
Dựng Một Xã Hội Người Văn Minh Giác Ngộ Và Giải Thoát
Đạo
Phật là Nguồn Sống của mọi sự sống ở đời, và khi ta
đã nhận chân được “lẽ sống” ấy và thực hành theo
thì đấy, có thể nói, đạo Phật là căn bản tinh thần của
một xã hội người văn minh, Giác Ngộ và Giải Thoát. Vẫn
biết: nói suông chưa đủ, còn phải làm. Nhưng sự làm phần
lớn do nơi con người quyết định. Mọi vấn đề đều do
con người sáng tạo. Ngay cả đến ý niện về một Thượng
Đế siêu hình cũng là do trí tưởng tượng của con người
sáng tạo, mà có. Con người là chủ động hết thảy… mà
chìa khóa mở cửa ngõ Niết Bàn (Nirvàna) vẫn sẳn có nơi
con người. Bởi thế đạo Phật luôn luôn lấy việc Giáo
Dục Con Người Toàn Diện làm bổn phận chính cần làm và
phải làm trong mọi thời đại, không phân màu da, tiếng nói
chủng tộc. Nhưng trên nguyên tắc xây dựng một Xã Hội Người
Văn Minh, Giác Ngộ và Giải Thoát, ta cần phải thực thi những
nguyên tắc nào?
Về
Phương Diện Luân Lý: - Giá trị đích thực của nền luân
lý chân chính và sự hiểu biết và tôn trọng phẩm giá, nhân
cách của tha nhân cũng như tự thể… Luân lý là một quán
lệ, một thói cư xử theo lẽ phải. Mà lẽ phải là phần
cốt yếu của đạo làm người. Hãy tỏ ra mình có đức hạnh,
can đảm và hết lòng. Cố gắng thương yêu mọi loài. Con
người chỉ xứng với danh nghĩa của nó chừng nào làm chủ
được ý nghĩ, lời nói và hành động mình cả về nội giới
và ngoại giới. Chinh phục được ngoại giới là một công
trình to lớn, nhưng điều đáng ca ngợi hơn hết vẫn là sự
điều ngự được chính mình. Do đó, về phương diện luân
lý, đạo Phật đặt trọng tâm vào sự Thiện Ác, vào
Tội Phúc Báo Ứng Phân Minh và vào luật Nhân Qua, vì biết
rằng: Làm lành đ ược sung sướng. Làm ác chịu khổ sở.
Nhân nào quả ấy. Hành động của chúng ta hiện nay ra sao
thì kết quả trong ngày mai cũng lại y như thế. Một hành
động tốt hoặc xấu của cá nhân sẽ có ảnh hưởng đến
toàn thể không ít… Người có đạo đức luân lý là một
con người hoàn toàn sung sướng nhất trên đời, khác nào
như bông hoa nở đẹp, làm thơm cho cuộc thế. Pascal nói: “Luân
Lý là cuốn sách tốt nhất của ta. Một cuốn sách mà ta cần
phải tra cứu luôn”. Luân lý rất cần cho xã hội con người.
Sự sụp đổ về mặt luân lý sẽ là một tai họa lớn cho
con người và cuộc đời.
Với
nhận định trên và dựa vào thực tại, đạo Phật luôn luôn
khuyên con người thực hành hạnh Từ, Bi, Hỷ, Xả [5], để
làm đẹp cho chính con người và cho cuộc sống. Phẩm hạnh
nào, tương lai ấy.
Về
khả năng Tri Thức: - Sự hiểu biết của con người là hơn
các loài hữu tình khác. Trí tuệ con người quả là vầng
hào quang làm sáng đẹp cho cuộc đời. Đạo Phật không chỉ
thừa nhận khả năng trí thức con người mà còn vạch ra những
phương thức để giúp con người biết cách sử dụng tài
năng mình trong công cuộc tìm hiểu chân lý. Đối với cảnh
vật hiện hữu như trực tiếp với ban ngày thì ta biết sáng,
ban đêm biết tối… đó là lối nhận thức thông thường.
Đối với các pháp thuộc hệ siêu nhiên, đạo Phật quả
là ánh sáng mặt trời chiếu soi vào khu rừng âm u tào tạp
của nhiên giới, tâm giới và siêu việt giới. Tuy nhiên, có
điều ta nên nhớ: Kinh điển đạo Phật chỉ là ngón tay chỉ
mặt trăng (chân lý), là chiếc bè đưa người qua sông mê,
tới bến giác; chứ kinh điển không là chân lý. Dó đó, đạo
Phật khuyên con người nên lấy lý trí tìm hiểu, phán đoán
sự vật mà không nên áp dụng tình cảm trong việc tìm hiểu,
phán đoán sự vật một cách vội vã, sai lầm. Câu chuyện
đức Phật giáo hóa những người Kâlâmâ, khi những người
nầy mang tâm trạng phân vân bối rối trước một ngã ba “chân
lý”, được ghi lại trong tập Anguttara Nikàya, đã nói lên
cái tinh thần của Đạo Như Thật (đạo Phật): “Đừng tin
tưởng một điều gì vì phong văn. Đừng tin tưởng điều
gì vì vin vào một tập quán lưu truyền. Ðừng tin tưởng
điều gì vì cớ được nhiều người nói đi nhắc lại. Đừng
tin tưởng điều gì dù là bút tích của thánh nhân. Đừng
tin tưởng điều gì dù thói quen từ lâu khiến ta nhận là
điều ấy đúng. Đừng tin tưởng điều gì do ta tưởng tượng
ra lại nghĩ rằng một vị tối linh đã khai thị cho ta. Đừng
tin tưởng bất cứ một điều gì chỉ vin vào uy tín của
các thầy dạy các người. Nhưng chỉ tin tưởng cái gì mà
chính các người đã từng trải, kinh nghiệm và nhận là đúng,
có lợi cho mình và cho kẻ khác, chỉ có cái đó mới là đích
tối hậu thăng hoa cho con người và cuộc đời. Các người
hãy lấy đó làm chỉ chuẩn”. Đó là lời dạy chí tình
mà đức Phật đã thân tặng con người trong cõi đời này,
Tri thức con người cao viễn chừng nào thì cuộc sống con
người càng văn minh, tiến bộ chừng ấy. Thật vậy, dù là
vật vô giá trị nhưng khi trí thức con người để ý tới
thì nó cũng trở nên có giá trị, và ngược lại. Trí tuệ
con người quyết định cuộc sống con người.
Về
Giá Trị Thực Hành: - Bằng vào sự thật và phương pháp mà
đức Phật đã chứng ngộ và thực hành rồi lấy đó làm
tiêu chuẩn cho mọi sinh hoạt trần giới, đạo Phật khuyên
con người thực hành hai đặc điểm: 1.Vì lòng thương yêu
rộng lớn, nguyện cứu khổ hết thảy chúng sanh - Lòng Từ
Bi. 2.Thức nhận, mọi sự vật hiện hửu cuộc đời là biến
đổi vô thường và “chúng” có những Tính, Tướng, Thể,
Dụng khác nhau; nhưng điều bình đẳng trong cùng một Phật
tính - Trí Sáng Suốt.
Với
nhận thức ấy, đạo Phật quả đã đề cao giá trị con người
lên tột đỉnh cao sang, đó là giá trị bình đẳng giữa Phật
và chúng sinh - một sự bình đẳng triệt để và cứu cánh
là, tất cả chúng sinh đều có Phật tính và sẽ thành Phật
trong mai sau, nếu chúng sanh biết giác ngộ. Đạo Phật đã
đặt Con Người vào thế chủ động, để tự cứu và cứu
người, cứu đời, một cuộc dấn thân có ý nghĩa.
Giáo
lý đạo Phật dạy cho con người nhận rõ thực chất của
mỗi công việc làm mà thí dụ dưới đây là một bằng chứng.
Hai người cùng thi hành một việc nghĩa, một người chỉ
biết làm với bổn phận và hết lòng: người kia, trái lại,
họ làm là cốt để thỏa mãn lòng ham danh, vụ lợi. Tuy là
cùng một việc mà hai ý nghĩa khác nhau. Ta hãy hy sinh thân
thể mình cho những lý tưởng cao thượng, những hành động
chân chánh chính và những sự nghiệp lớn lao[6]. Chỉ khi nào
người ta thực hành theo tiếng gọi của lương tâm, của lòng
thương yêu và trí sáng suốt mới thật là thể hiện tinh
thần Từ Bi, Trí tuệ của đạo Như Thật. Cho nên, mọi giá
trị thực hành trong đạo Phật là, nhằm mục đích Chân hóa
(tôn trọng sự thật: Lẽ phải); Thiện hóa (con người, theo
đạo Phật là luôn luôn đổi mới tâm hồn và cải tạo hoàn
cảnh, nếp sống mình và làm hiển lộ sự trong ánh sáng trong
mội ý nghĩ, lời nói, việc làm, biết hướng về nẻo Thiện:
đó là con đường dẫn đến chính đạo); Mỹ hóa (để
làm đẹp cho chính tự thân và cho cuộc sống). Do đó, nhiệm
vụ trước tiên và sau cùng của đạo Phật là Xây dựng cõi
Niết Bàn hạnh phúc trên trần thế. Vậy Niết Bàn là gì?
- Niết Bàn (Phạm ngữ: Nirvàna) là một trạng thái tâm linh
hoàn toàn tĩnh (trong sáng), biểu thị sự an vui, tự tại,
giải thoát và chỉ thể hiện sau khi con người đã trừ diệt
hết Tham (mọi ham muốn bất chính) Sân (oán hờn, giận dữ,
ganh ghét), Si (mê chấp ngã tướng, pháp tướng…). Niết Bàn
là lý tưởng cao đẹp nhất của chúng sanh. Nó không phải
ở ngoài thực tại cuộc đời này. Nói cách khác, Niết Bàn
chỉ là trạng thái tâm hồn của con người, một khi đã hoàn
toàn giác ngộ, thoát khỏi những mê muội, đau khổ, không
còn bị ràng buộc bởi phiền não nhiễm uế, đồng thời
thể nhập với toàn thể vũ trụ không gian vô biên... thời
gian vô tận..., và vượt ra ngoài cảnh sinh diệt tương đối.
Đó là đứng về phương diện giải thoát tâm linh mà nói.
Còn đứng về phương diện nhập thế hóa đạo thì, đạo
Phật đề ra các pháp môn thông dụng như: “Tứ Nhiếp Pháp”[7]
“Lục hòa”[8] là những pháp môn thiết yếu nhằm xây
dựng:
- Một
đời sống kiểu mẩu: PHẬT.
-
Một gia đình kiểu mẫu: TĂNG
-
Một xã hội kiểu mẩu: NHÂN BẢN
-
Một nhân loại kiểu mẩu: TỊNH ĐỘ
-
Một lý tưởng tối cao: PHẬT ĐÀ
Trên
bước đường dẫn đến lý tưởng “Phật”, con người,
nếu muốn thành công viên mãn, cần phải học, hiểu và tin
giáo lý do đức Phật đã thực chứng giác ngộ thuyết giải
rồi nương theo đó, để làm tiêu diệt lần những bản ngã
nhỏ bé, ích kỷ, để phát hiện những tình thương cao rộng
và để vui sống với hoàn cảnh… chung quanh “Chẳng có hạnh
phúc nào có thể so sánh được với sự yên tỉnh tĩnh của
tâm trí” (Digha-Nikàya). Thật vậy, hạnh phúc và văn minh
nói chung, có thể nói như phát xuất từ trái tim trong, khối
óc sáng nơi mỗi con người chúng ta. Khi con người đã biết
thương yêu, bao bọc và giúp đỡ lẫn nhau thì công cuộc Xây
Dựng Một Xã Hội Người Văn Minh, Giác Ngộ và Giải Thoát
sẽ không còn xa vời nữa. Nếu mọi người biết áp dụng
đạo Phật trong cuộc sống hằng ngày, thiết tưởng Cảnh
Niết Bàn Chân Hạnh Phúc sẽ hiện ra ở ngay thế giới này,
chứ chẳng cần phải tìm ở một nơi nào xa lạ? Ngoài đạo
Phật, chúng ta tìm đâu có những kết quả tốt đẹp ấy.
Đạo
Phật, Nguồn Sống Vô Tận.
Đạo
Phật tượng trưng cho lý tưởng sống cao siêu và rất thực
tiễn của con người. Nói tắt, nguồn giáo lý ấy bao gồm
trong một chữ “Pháp”[9], Chữ này có nghĩa là “vạn sự
vạn vật” (tức Nhất thiết Pháp). Và, do đấy mà, mọi
lý luận, mọi quan niệm về Lẽ Sống, Cách sống, Lối sống
và Mọi sự sống trên đời, đạo Phật đều trình bày một
cách chính xác, từ đại thể tới chi tiết của từng sự
vật, hiện tượng –“Pháp Nhĩ Như Thị”, muôn vàn sự
vật bản lai là như thế đó - Cũng như nói rằng đạo tức
là đời, vì đạo cần phải gắn kết với cuộc đời để
tồn tại và triển khai. Hay nói cách khác, đạo Phật là Nguồn
Sống Của Mọi Sự Sống… Ta có thể hình dung “đạo”
qua những từ ngữ, như “Thường” (chân thường, vĩnh viễn);
“Lạc” (an vui, giải thoát); “Ngã” (tự chủ, tự do, tự
tại); “Tịnh” (Trong sạch, sáng suốt, hoàn toàn): hoặc
như Ánh đạo vàng rực rỡ, như bông Sen nở giữa đầm mà
hương thơm thì tỏa khắp mọi nơi. Giáo lý đạo Phật là
dạy cho con người, biết sống đúng tinh thần “từ bi,vị
tha”để làm đẹp cho chính mình và cho cuộc đời.
Điều
này lịch sử đã chứng minh.
Đạo
Phật, không phải “cố cựu” cũng không phải “cách tân”
mà chỉ là những phương thuốc điều trị mọi tâm bệnh,
thân bệnh của con người, chúng sanh, nghĩa là, tùy trình độ,
căn cơ mà hóa độ. Bất cứ làm công việc gì hễ có lợi
cho mình, cho người, đấy là đạo Phật.
Với
tinh thần tích cực ấy, đạo Phật không phải là phản tiến
hóa, đi ngược trào lưu, làm hèn yếu con người như một
số người đã nhìn đạo Phật dưới nhiều danh từ phản
hóa sai lầm, bỏ ngoài cả thời đại suy đồi và phái tiêu
cực. Không. Bằng vào tuệ giác, đạo Phật đã nhìn đời
một cách toàn triệt, nên quan niệm của đạo Phật có hai
điều:
- Đức
Phật là cầm đuốc dẫn đường, là bậc đạo sư muôn thuở.
- Giáo
lý đạo Phật là dạy cho con người quán đạt chân lý để
tự thân giải thoát khổ đau, mê tối.
Nói
tóm, đạo Phật có đủ phương thức giải thoát cho con người,
chúng sinh, hết mọi mê tối, khổ đau, và cuộc sống an vui,
tự tại - một đạo tôn trọng lý trí của người và quyền
sống của hết thảy. Do đấy, đạo Phật truyền bá tới
đâu cũng được quần chúng hoan nghênh, tin tưởng và phụng
sự, khác nào như vần thái dương chiếu tự trên cao, không
một nơi nào lại không có ánh sáng.
Đạo
Phật là chân lý. Vì “đạo Phật là tất cả” - Vô cùng
thu về một điểm = Phật (chân lý). “Tất cả là đạo Phật”
- một điểm tỏa rộng khắp pháp giới bao la = Giáo (Phương
pháp đạt tới chân lý). Đấy là Tinh Hoa trong toàn bộ giáo
lý đạo Phật.
Xin
thân tặng những ai muốn tìm hiểu ĐẠO PHẬT LÀ GÌ?
[1]
Vimalakirtri - sutra
[2]
La Pensée Bouđhique
[3]
Nhân thị tối thắng, năng sinh nhất thiết chư thiện
pháp cố.
[4]
Nguyên bản chữ Hán: Như tam thế chư Phật, thuyết pháp chi
nghi thức, ngã kim diệt như thị, thuyết vô phân biệt
pháp.
[5]
Trong pháp số gọi là “Tứ Vô Lượng Tâm”:
a-
Từ: Maitri, là lòng thương yêu rộng lớn và làm sự “ban
vui, cứu khổ” cho tất cả, không phân kẻ oán, người thân.
b-
Bi: Karunà, là sự tôn trọng mạng sống, sự sống và quyền
sống hết thảy chúng sinh, đó là sự thể hiện trọn vẹn
đức hiếu sinh…
c-
Hỷ: Mudità, Nghĩa là hoan hỷ, vui vẻ, không oán giận, thù
ghét và làm hại chúng sinh.
d-
Xả: Upeksà, xa lìa hết mọi phiền não xấu ác, tâm lượng
thì trong sáng, bao dung, tha thứ…
[6]
Trong kinh Lăng Nghiêm có câu:
Tương
thử thâm tâm phụng trần sát
Thị
tắc danh vi báo Phật ân
Tạm
dịch:
Ai,
trong suốt cuộc đời biết đem thân tâm làm việc phụng sự
chúng sinh, tức người đó đã báo đáp được phần nào trong
muôn một ân sâu chư Phật.
[7]
Tứ Nhiếp Pháp: tức Bốn pháp môn đối trị ở đời. Hay
nói cách khác là: Bốn phương pháp cư xử thông thường
mà người ta cần phải áp dụng nó trong những môi trường
sinh hoạt tập thể, thường gọi là xã hội văn minh.
a)
Bố thí (Dànam): là sự tương trợ, cứu giúp người về mặt
vật chất cũng như về tinh thần, một cách không vụ lợi.
b)
Ái Ngữ (Peiyavàdita): là lời nói hợp lý. Tức lời nói không
giận hờn, đặt điều, xu nịnh, dèm pha, mà chỉ nói những
lời chân chính, hòa ái.
c)
Lợi Hành (Arthacaryà): làm tất cả những
d)
Ðồng Sự (Samànàrthata): Phục dịch công vụ công việc gì
xét thấy hữu ích cho tự thể, tha nhân, và cho cuộc đời..
Ai nấy nên đem hết tài năng mình, đúng với nghĩa của nó.
[8]
Lục Hòa: Sáu phép “hòa ái”nhằm xây dựng m g cho tất cả
những ai muốn sống một nếp sống văn minh, tiến bộ:
a)
Thân Hòa Ðồng Trụ: cùng sinh sống trong một gia đình (nói
riêng), một quốc gia (nói chung), mọi người nên có sự thương
yêu, bao bọc cho nhau.
b)
Khẩu Hòa Vô Tranh: Không cãi mắng nhau, mà chỉ nên nói những
lời khiêm cung, hòa ái, để tạo bầu sinh khí đầm ấm trong
gia đình và ngoài xã hội.
c)
Ý Hòa Ðồng Duyệt: Tâm, ý thì luôn luôn trong sáng, vui vẻ…
d)
Kiến Hòa Ðồng Giải: Có những sáng kiến gì cùng đem ra
thảo luận, trao đổi và sách tiển cho nhau, để ai nấy cùng
lĩnh hội.
e)
Giới Hòa Ðồng Tu: Cùng a cải cùng nhau chung hưởng, và quân
phân một cách đồng đều, không có kẻ nhiều, người ít,
là mầm tôn trọng một kỷ luật chung.
g)
Lợi Hòa Ðồng Quân: Có củ mống phát sinh sự bất hòa.
Vậy
“Lục Hòa” là khuôn thước giúp cho con người xây dựng
một cuộc sống an vui, tự tại ở ngay trên cõi đời này,
chứ chẳng phải tìm thiên đường ảo vọng ở một nơi xa
xôi nào khác…
[9]
Pháp (Dharmas): Tức chỉ cho muôn sự muôn vật ( tous lesêtres)
ở thế gian, gồm có con người và các loài hữu tình, vô
tình, như côn trùng, thảo mộc và mọi sự kiện, sự vật,
đều gọi là Pháp cả. Tuy nhiên, Pháp nào cũng do nhân duyên
sinh.
Ðịnh
nghĩa theo phương pháp cổ điển thì Pháp là tất cả “khuôn
phép”, nó bao hàm mọi vật, cụ thể hay trừu tượng, và
như trong Duy Thức Học (Vijnàavada) nói: “nhậm trì tự tánh
quỹ sinh vật giải”; mỗi Pháp đều có đặc tính riêng
(Khiến ta không nhận thức lầm lẫn các hình thái và tướng
trạng của chúng, giữa Cái Này và Cái Kia).
Y theo
định nghĩa này, thì cái không cũng là một Pháp, bởi cái
Không cũng có đặc tính của nó (Khiến ta có ra được khái
niệm về cái Không là khác với cái Có).
Chữ
Không ở đây xin hiểu theo nghĩa bản thể luận trong học
thuyết Bát Nhã (prajnãparamia), chứ không nên hiểu “Không”
là trống không, không có gì, như lông rùa, sừng thỏ…
Còn
nói theo Pháp Hoa ( Sađharma pundarikam) thì mỗi loài mỗi vật,
“chúng” gồm có mười thứ, cũng gọi là Thập Như Thị:
1.
Như Thị Tướng: Hình sắc, tướng trạng của chúng là như
thế.
2.
Như Thị Tính: Ðặc tính của chúng là như thế.
3.
Như Thị Thể: Bản chất của chúng là như thế.
4.
Như Thị Lực: Hoạt lực của chúng là như thế.
5.
Như Thị Tác: Công năng, tác dụng của chúng là như thế.
6.
Như Thị Nhân: Nguyên nhân của chúng là như thế.
7.
Như Thị Duyên: Cách thức, duyên nghiệp của chúng là như
thế.
8.
Như Thị Quả: Kết quả của chúng là như thế.
9.
Như Thị Báo: Ảnh hưởng, báo ứng của chúng là như thế.
10.
Như Thị Bản Mạt Cứu Cánh: Nguồn gốc rốt ráo của chúng
là như thế.
Nói
tóm lại, Pháp là chỉ các sự kiện, sự vật và vạn hữu
(nghĩa như chữ vạn sự, vạn vật) trong vũ trụ. Mỗi Pháp
đều có Tướng, Tính, Thể, Lực, Tác, Nhân, Duyên, Quả, Báo,
Bản mạt cứu cánh... gọi theo từ ngữ Phật học là “Chư
Pháp Thực Tướng = các Pháp thực tướng của chúng là như
thế, nghĩa là “Vạn sự, vạn vật” (tức Nhất Thiết Pháp)
Và, do đấy mà, mọi lý luận, mọi quan niệm về Lẽ sống,
Cách sống, Lối sống và Mọi sự sống trên đời, đạo Phật
đều trình bày một cách chính xác, từ đại thể tới chi
tiết của từng sự vật, hiện tượng – “Pháp Nhĩ Như
Thị”, muôn vàn sự vật bản lai là như thế đó – Cũng
như nói rằng đạo tức là đời, vì đạo cần phải gắn
kết với cuộc đời để tồn tại và triển khai. Hay nói
cách khác, đạo Phật là Nguồn Sống Của Mọi Sự Sống…
Thập
Như Thị, theo đại sư Trí Khải, nhìn từ vị trí “tướng
như thị”, ta có thể chứng nghiệm trong một niệm có ba
nghìn pháp biến đổi. Ðại sư cắt nghĩa trong trạng thái
của một pháp trong “Thập pháp giới” chịu sự chi phối
của luật hỗ tương nên biến thành 10x10=100 pháp. 100 pháp
này tác dụng với 10 Như Thị 100x10=1000; 1000 Như Thị phối
hợp với tam thế giới thành 3000 thế giới (1000x3000 thế
giới). Con số 3000 có trong một niệm là con số biến cho sự
định hình của các pháp trong vũ trụ bao la.