MỤC
LỤC
Tiểu
sử Hòa thượng Thích Đức Nhuận
Khai
Nguồn
Phần
Mở Ðầu: Tìm Hiểu Ðạo Phật
Chương I: Đạo Phật
Là Gì ?
Phần
Thứ Nhất: Lịch Sử Khái Luận
Chương I: Nguyên Lý
sáng lập Đạo Phật.
Chương II: Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni
Chương III : Lịch Sử
truyền Bá
Phần
Thứ Hai: Triết Học Ðại Quan
Chương I: Đạo Phật
Là Tôn Giáo Hay Triết Học?
Chương II: Vũ Trụ Quan
Phần
Thứ Ba: Thực Chất Đạo Phật
Chương I: Đạo Phật,
Nguồn Văn Hóa Sinh Ðộng
Chương II: Sức Mạnh
Của Đạo Phật Thể Hiện Trong Ba Ðức Tính: Đại Bi, Đại
Trí, Đại Hùng. Một Đạo Có Ảnh Hưởng Thấm Sâu Vào
Ðời Sống Dân Tộc Việt
Chương III: Những Đóng
Góp To Lớn Của Đạo Phật Cho Dân Tộc Và Nhân Loại
Kết Luận
Phụ
lục: Đạo Phật Việt
TIỂU
SỬ HOÀ THƯỢNG THÍCH ĐỨC NHUẬN
THÂN
THẾ:
Thiền
sư THÍCH ĐỨC NHUẬN pháp danh Trí Tạng, thế danh Đồng
Văn Kha, sinh ngày 14 tháng chạp năm Quý Hợi( thứ 7 ngày
19 tháng giêng năm 1924).
Chánh
quán: làng Lạc Chánh, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh,
phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Thân
phụ là Đồng Văn Xuân và thân mẫu là bà chính thất
Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục(cả hai vị đều đã mãn
phần).
Ngài
là con thứ tư trong một gia đình thanh bần- dòng quý
tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào( 2 trai,
1gái).
XUẤT
GIA:
Ngài
xuất gia năm 1937, Y chỉ sư là Hoà thượng thượng TÂM
hạTHƯỞNG, trụ trì chùa làng LIÊU HẢI, phủ Nghĩa Hưng,
thuộc sơn môn Phú Ninh( Nam Định)
Năm
1941 thụ Sa di giới tại chùa Cổ Lễ, huyện Trực Ninh.
Năm
1942 thụ Đại giới Tỳ Khưu tại giới đàn Tổ đình
Phú Ninh.
Đã
học tại các Tùng Lâm:
Tổ
đình Phú Ninh
Phật
học viện chùa Cồn( Nam Định)
Tổ
đình Tế Xuyên ( Hà Nam)
Phật
học viện Báo Quốc( Huế)
Phật
học đường Ấn Quang ( Sài Gòn)
ĐẠO
NGHIỆP:
Năm
1949, chính thức hoạt động phật sự với chức vụ
phó chủ tịch Hội Phật Giáo Nam Định ( Miền Xuân Trường
Hải Hậu), chủ tịch là Hoà Thượng THÍCH TRUNG QUÁN,
trụ trì chùa làng Quần Thượng ( Hải Hậu) và cuối
năm 1950, xin từ chức trở về sống nếp sống của
một tăng sĩ, tiếp tục sự nghiệp học vấn và nghiên
cứu Phật học.
Đầu
năm 1954 vào Nam sống cuộc đời tĩnh tu.
Năm
1956-1957, được sự tín nhiệm của chư tăng cử giữ
chức chủ tịch ( trị sự trưởng) Giáo Hội Tăng Già
Bắc Việt tại Miền Nam (GHTGVN).
Năm
1959-61, giữ chức uỷ viên văn hoá Tổng hội Phật giáo
Việt Nam.
Năm
1962-63, đảm nhận chức tổng thư ký Giáo hội Tăng Già
Việt Nam.
Năm
1963, khởi động phong trào đầu tiên chống chế độ
độc tài nhà Ngô (tại Sài Gòn) trong vụ triệt hạ cờ
Phật giáo và đàn áp phật tử tại Huế, nhân mùa
Phật đản PL 2507(1963).
Năm
1964-65, giữ chức vụ trưởng vụ kiểm duyệt GHPGVNTN.
Năm
1965-66, chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Vạn Hạnh, tạp
chí nghiên cứu, phát huy Văn hóa Phật giáo và văn hoá
dân tộc, với sự cộng tác của một số học giả,
giáo sư đại học, văn nghệ sĩ tại thủ đô Sài Gòn
(tạp chí xuất bản được tròn 2 năm, 24 số)
Năm
1969-73, Giáo sư phân khoa Phật học và triết học Đông
Phương Viện Đại học Vạn Hạnh( sau niên khoá đó, vì
bận công tác nên đã xin nghỉ dạy).
Năm
1967-73, giữ chức chánh thư ký Viện Tăng Thống, do đức
tăng thống THÍCH TỊNH KHIẾT lãnh đạo và là hội
viên Hội đồng giá phẩm trung ương GHPGVNTN.
Năm
1969-71, trùng tu tổ đình Giác Minh. Nguyên trụ sở Giáo
hội Tăng Già Bắc Việt tại Miền Nam.
Năm
1971-72, chủ bút nguyệt san Hoá Đạo, cơ quan truyền bá
chánh phátp của Tổng Vụ Hoằng Pháp GHPGVNTN.
Năm
1975-87, đảm trách trụ trì tổ đình Giác Minh.
Năm
1985-93, bị nhà nước Việt Nam bắt giam với tội danh
“tổ chức chống cách mạng”.
Năm
1993 đến nay (1996), tĩnh tu chùa Giác Minh, Sài Gòn.
Hoà
thượng vẫn tiếp tục đọc, viết và ưu tư về đường
hướng phát triển của Phật giáo Việt Nam.
Năm
1998 Hoà Thượng đã được chính thức suy tôn lên ngôi
vị Cố Vấn Ban Chỉ Đạo Viện Hoá Đạo GHPGVNTN.
Ngài
đã viết cho các Nhật báo: Thời Luận, Tin Sáng, Dân
chủ, Gió Nam, và các tạp chí: Phật giáo Việt Nam, Văn
Hoá Á Châu, Liên Hoa, Văn, Vấn Đề, Tư Tưởng…..
Đã
diễn thuyết về đề tài Phật giáo và Văn Hoá Dân
tộc tại các trường Đại học:
Trường
Đại học Văn Khoa Sài Gòn (1959)
Trường
Quốc gia Âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn(1963).
Viện
Phật Học Vạn Hạnh (1970) và đã đề tựa cùng giới
thiệu những tác giả và tác phẩm có giá trị về
mặt tôn giáo và văn học.
TÁC
PHẨM ĐÃ IN:
GIÓ
THIÊNG (thơ) Vạn Hạnh, 1959
PHẬT
HỌC TINH HOA- Một Tổng Hợp Đạo Lý (đã tái bản 4
lần) Vạn Hạnh 1960
CHUYỂN
HIỆN ĐẠO PHẬT VÀO THỜI ĐẠI, Vạn Hạnh 1967
TRAO
CHO THỜI ĐẠI MỘT NỘI DUNG PHẬT CHẤT (sách đã dịch
ra Anh ngữ, Vạn Hạnh 1969)
SỨ
MỆNH NGƯỜI PHẬT TỬ ĐỐI VỚI DÂN TỘC VÀ ĐẠO
PHÁP
KIẾN
THIẾT VĂN MINH PHẬT GIÁO
ĐẠO
PHẬT VÀ DÒNG SỦ VIỆT
( ba
tác phẩm này do Viện Triết Lý Việt Nam và Triết
Học Thế Giới tại California, USA ấn hành 1995-1996) và
tái bản tại Sài Gòn năm 1997.
THƠ:
Sáng một niềm tin ( dịch và sáng tác từ năm 1975 đến
nay), viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới
tại California, U.S.A ấn hành 1999.
HƯỚNG
ĐI CỦA THỜI ĐẠI, Viện Triết Lý và Triết Học Thế
giới tại California, U.S.A ấn hành 2001.
DỊCH
KINH:
- NHỮNG
ĐIỀU PHẬT DẠY- Phật Thuyết Tứ Thập Nhị Chương.
-LỜI
DẠY CUỐI CÙNG CỦA ĐỨC PHẬT- Thùy Bát Niết Bàn
Lược Thuyết Giáo Giới Kinh.
(cả
hai tác phẩm trên nguyên văn chữ Hán trích trong “Thánh
Điển Yếu Tập” chùa Giác Minh ấn tống 1980-1995, ký
tên: Thái Không).
KHÁI
NIỆM TRIẾT LÝ KINH HOA NGHIÊM, Viện Triết Lý Việt Nam
và Triết học Thế Giới tại California, U.S.A ấn hành
1999.
Vào
những năm cuối cuộc đời, chư Tăng và tín đồ chúng
theo học hỏi trực tiếp với ngài rất đông.
Vào
ngày mồng 8 tháng chạp năm Tân Tỵ (2001), Hoà Thượng
cảm thấy pháp thể khiếm an, mặc dù được các hàng
đệ tử, các bác sĩ tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược
tận tình chăm sóc chữa trị, nhưng vì tuổi cao sứuu
yếu, Ngài không qua khỏi và đã an tường xả thân vào
lúc 16 giờ 53 phút chiều ngày thứ hai, 21 tháng giêng
năm 2002 ( nhằm ngày mùng 9 tháng chạp năm Tân Tỵ) hưởng
thọ 79 tuổi, 59 hạ lạp.
Suốt
cuộc đời, từ khi xuất gia hành đạo cho đến lúc
viên tịch, Hoà Thượng đã nổ lực không ngừng trong
việc xiễn dương đạo Pháp. Cuôc đời Ngài là một
tấm gương sáng ngời về đao hạnh và sự nghiệp hoằng
hoá cho Tăng ni va Phật tử noi theo. Mặc dù sắc thân
của Ngài sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Tăng
Ni Phật tử Việt Nam ở mai sau.
Sabba
pàpassa akaranam
Kusalassa
upasampada
Sacitta
pariyodapamam
Etam
Buddhâna sâsanam.
Dhammapada
XIV, 5
Chấm
dứt mọi việc ác
Thực
hiện những điều lành
Giữ
tâm ý trong sạch
Ấy
lời đức Phật dạy.
“Đừng
tin tưởng vào một điều gì vì phong văn. Đừng tin tưởng
điều gì vì vin vào một tập quán lưu truyền. Đừng tin tưởng
điều gì vì cớ được nhiều người nói đi nhắc lại. Đừng
tin tưởng điều gì dù là bút tích của thánh nhân. Đừng
tin tưởng điều gì dù thói quen từ lâu khiến ta nhận là
điều ấy đúng. Đừng tin tưởng một điều gì do ta tưởng
tượng ra lại nghĩ rằng một vị tối linh đã khai thị cho
ta. Đừng tin tưởng bất cứ một điều gì chỉ vin vào uy
tín của các thầy dạy các người. Nhưng chỉ tin tưởng cái
gì mà chính các người đã từng trải, kinh nghiệm và nhận
là đúng, có lợi cho mình và kẻ khác. Chỉ có cái đó mới
là đích tối hậu thăng hoa cho con người và cuộc đời. Các
người hãy lấy đó làm chỉ chuẩn.”
Anguttara
Nikaya
KHAI
NGUỒN
Các
bạn thân mến!
Khi
đặt bút viết cuốn sách, lòng tôi dâng lên với bao niềm
hy vọng: đó là kết quả của sự nghiên cứu, lượm lặt
những đóa hoa tư tưởng rải rác ở khắp đó đây đem xâu
kết lại thành một tràng hoa dâng hiến cho đời những “yếu
lý thâm uyên” về tôn giáo, đạo học, khoa học, triết học
Đông Tây và đạo Phật.
Từ
nghìn xưa, đã có biết bao người để hết lòng mình vào
việc suy tìm chân lý, nghĩa sống của cuộc đời (...). Những
khoa học gia hiện đại, tuy đã phát minh những điều
mới lạ, các học giả, các tư tưởng gia cũng đã dành nhiều
thì giờ cho việc tìm hiểu nguồn gốc Vũ trụ và con
người nhưng (cho tới nay) vẫn chưa có một kết luận nào
tạm gọi là thỏa đáng (!)
Mỗi
khi nghĩ đến sự tiến triển tinh thần của nhân loại, chúng
ta không thể không có những phút suy tư!... Tìm ở khoa học?
- Khoa học đương trong vòng nghiên cứu, thực nghiệm. Tìm
ở triết học? Triết học với những luận lý bất đồng.
Tìm ở tôn giáo? - Tôi thường băn khoăn tự hỏi, liệu rồi
đây người ta có thể nào tìm ra ánh sáng chân lý để giải
quyết những khác biệt giữa các tư tưởng, tôn giáo,
chủ nghĩa hiện đương làm mối xung đột mà mọi giá trị
tinh thần xưa cũ đều bị bôi đen làm đảo lộn cả nếp
sống văn minh nhân loại?! Vốn mang trong thần trí những nghi
ngờ..., hàng ngày tôi lại được sống bên cạnh những
tàng kinh sách, tuy đã bị thời gian bụi phủ (!) song tư tưởng
của những áng văn trác tuyệt đó bao giờ cũng vẫn là di
sản bất di dịch đượm hương sắc của đạo Từ Bi Trí
Tuệ, vì ở đó đã sản sinh những kỳ hoa dị thảo làm tươi
đẹp cho cuộc đời và giúp con người có một tinh thần tự
chủ, vui sống. Bao nhiêu mối hoài nghi về Vũ trụ, con người,
về quan niệm sống, chết và sự tiến hóa chung, đạo Phật
đều giải quyết hầu như toàn mỹ.
Điều
này cũng dễ hiểu. Ta hãy ôn lại những lời dạy của đức
Phật làm minh chứng. “Này! Các người hãy tự mình thắp
đuốc lên mà đi. Hãy tinh tiến để giải thoát. Các người
hãy quay lại với mình; các người là Phật đấy”[1].Bên
phía trời tây, hiền triết Socrate (470-399 TTL) cũng nói những
câu tương tự: “Connais-toi-toi-même”: Hãy tự mình tìm hiểu
mình. Con người phải làm chủ cuộc sống, ngoài sự tự cứu,
con người còn có đặc quyền khám phá những gì... bí ẩn
trong trời đất bao la. “Bất cứ loài hữu tình nào cũng
có năng lực tiến hóa và cải tạo, nâng cao địa vị mình
và thay đổi hoàn cảnh chung quanh.”
Trở
về nguồn, ta có thể căn cứ ở điểm xuất phát tối sơ
trong “lịch sử truyền bá đạo Phật”, cách nay trên XXV
thế kỷ, với thời gian dài dặc ấy (và hiện nay) đạo Phật
vẫn giữ địa vị quan trọng trong công cuộc hướng dẫn
con người trên đường sáng hóa: Số là: Chính kiến trong
việc tìm hiểu sự thật (chân lý)-Tôn trọng sự sống
và quyền sống của hết thảy chúng sanh-Thể nhận giá trị
tuyệt đối mà con người là chủ động lực của tất cả
vấn đề. Hoạch định cho con người có một đường
lối thẳng tiến để tự giải thoát mọi phiền não, khổ
đau, mê tối. Kiến thiết một xã hội người văn minh giác
ngộ và giải thoát căn cứ trên quan điểm giáo dục con người
về ba đức tính đại bi, đại trí, đại hùng; nhằm giúp
con người có một ý niệm chính xác trong cuộc sống,
biết nhận rỏ về mình-một ý nghĩa chân thật người-để
có một đức tin vững chắc có thể vượt và tạo hoàn
cảnh, tìm một lối thoát, một chương trình cải tiến thích
hợp với nhu cầu của quần chúng thời đại, tạo cho đời
một cảnh giới tốt đẹp hơn.
Xưa
kia, người ta quan niệm “đông phương là đông phương, tây
phương là tây phương giữa hai thái cực ấy không thể nào
gặp nhau được”[2]. Một quan niệm sai lầm. Chân lý là chân
lý.
Ta không thể tách rời nó ở điểm nào; với một vài
chi tiết vụn vặt, chẳng qua do “danh ngôn, tập khí” gây
nên! Nếu ta mãi cố chấp, sự thật sẽ không đến với
ta và do đấy, con người chẳng bao giờ nhận chân được
bản thể chung cùng của một nguồn sống vô biên diệu dụng...
Ðể có một chính tri kiến trong việc tìm hiểu chân lý nên
(nội dung cuốn sách) tôi chỉ trình bày trung thực nguồn giáo
lý cao đẹp của đạo Phật để tất cả chúng ta cùng
suy nghĩ và thực hành. Cố nhiên trong đó sẽ khái quát những
tinh chỉ về “Phật Học Tinh Hoa, một tổng hợp đạo lý”;
đồng thời có tham chiếu tư tưởng các bậc thánh nhân,
hiền triết đông tây. (Có thể nói) đây là Tập đại thành
mở ra một chân trời mới cho những ai muốn đi trên đường
tìm về ánh sáng chân lý Phật Đà. Và, sự thật bao giờ
cũng là sự thật, đấy là định hướng của một lối đi,
một con đường sáng vậy.
Giữa
thời gian, hoàn cảnh đầy gian lao thử thách, nhưng vì nghĩa
vụ “hoằng pháp lợi sinh” tôi không ngại lực mình,
mạnh dạn viết cuốn sách mong góp một phần nhỏ trong công
cuộc xây dựng nền văn hóa, văn minh dân tộc mà ảnh
hưởng sâu xa của đạo Phật ở nước ta là bảo chứng cho
một quá trình vẻ vang của lịch sử từ buổi sáng quốc;
nó đã in sâu trong tim óc mọi người Việt mến yêu.
Vậy,
cuốn sách này dù có ghi chép những điều đã tham cứu, chắc
chắn còn nhiều thiếu sót, vì giáo lý đạo Phật rất thâm
diệu, nay đem toát yếu trong một cuốn sách thật vô cùng
khó khăn! Tuy chỉ là một giọt nước đối với đại dương
trong suốt là đạo Phật, nhưng nếu may mắn được đặt
trên tay bạn, những tâm hồn hướng thượng, ham hiểu... nó
sẽ là điểm tựa đưa ta qua một khúc quanh, trở về
“Thắng nghĩa”[3]. Đó cũng là phần thưởng tinh thần mà
bạn đã dành tặng cho vậy.
Thưa
bạn,
Vì
mến “Sự Thật” muôn đời, tôi viết cuốn sách này:
* Tri
ân các nhà nghĩa học Phật giáo, các bậc trứ tác, dịch
thuật đã giúp tác giả có những đóa hoa tư tưởng để
hoàn thành tác phẩm.
* Riêng
tặng những người bạn tôi quen và lạ ở cuối thế kỷ
XX, đương băn khoăn tìm “lẽ sống” cho hiện tại, tương
lai.
* Kính
dâng Tam Bảo chứng minh, và thành thực cầu mong các bậc cao
minh phủ chính cho những điều sơ lậu.
Phật
lịch 2500 - Dương lịch 1957
Tác
giả cẩn chí.
HT.Thích
Đức Nhuận