Khóa
Thứ 10 và 11
LUẬN
ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
DỊCH
NGHĨA VÀ LƯỢC GIẢI
Giảng
lần thứ nhứt tại Phật Học Đường Nam Việt
Ngày
12 tháng 9 năm Tân Sửu (11 10 61)
BÀI
THỨ MƯỜI SÁU
CHƯƠNG
THỨ TƯ
PHẦN
TÍN TÂM TU HÀNH
(tiếp
theo và hết)
MỤC
LỤC
Chương
thứ tư: TÍM TÂM TU HÀNH (Tiếp theo và hết)
C.
Các thứ ma chướng khi tu thiền:
1.
Ma hiện Phật, Bồ Tát v.v...
2.
Ma nói pháp Lục độ và ba môn giải thoát v.v...
3.
Ma làm cho hành giả mất tánh thường hoặc điên v.v...
Đối
trị các ma:
1.
Quán duy tâm
2.
Không móng tâm chấp trước.
D.
Mười điều lợi ích tu thiền
E.
Bảy pháp quán
G.
Chỉ và quán đồng thời tu
H.
Lợi ích chỉ quán
I.
Pháp môn niệm Phật
Chương
thứ năm: Nói về LỢI ÍCH và KHUYẾN TU
Học
và tu theo Luận này sẽ được lơi ích vô cùng
Khuyên
hành giả tu theo Luận Đại thừa này
Hồi
hướng
HẾT
C.
NÓI VỀ CÁC THỨ MA CHƯỚNG TRONG KHI TU THIỀN
CHÁNH
VĂN
Nếu
chúng sanh nào căn lành mỏng ít, bị các tà ma ngoại đạo,
hoặc quỷ thần làm não loạn, trong khi hành giả tham thiền,
chúng hiện các hình tướng ghê sợ, hoặc hiện kẻ trai người
gái xinh đẹp v.v...thì phải quán Duy tâm, lúc bấy giờ các
ma này tiêu diệt, không còn làm gì nữa được.
Hoặc
chúng hiện hình chư Thiên, Bồ Tát, Phật, cũng đủ các tướng
tốt; hoặc nói thần chú, nói pháp bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ; hoặc nói pháp bình
đẳng, không, vô tướng, vô nguyện, không oán, không thân,
không nhơn, không quả, rốt ráo trống không vắng lặng, gọi
đó là Niết bàn. Hoặc chúng làm cho hành giả biết được
đời trước của mình (túc mạng thông) hoặc biết những
việc quá khứ vị lai, biết đặng tâm người (tha tâm thông)
biện tài vô ngại. Chúng làm cho hành giả tham luyến danh lợi
ở thế gian v.v...Hoặc ma làm cho hành giả tánh không chừng
đỗi, hay giận, hay cười, ưa ngủ, nhiều bịnh, hoặc nhiều
thương xót, tâm hay giải đãi; hoặc có khi rất tinh tấn,
có lúc lại bê tha hoặc sinh tâm nghi ngờ không tin, và nhiều
lo nghĩ; hoặc bỏ pháp tu căn bản, trở lại tu các tạp hạnh;
hoặc đắm nhiễm các việc triền phược ở thế gian; hoặc
làm cho hành giả đặng chút ít phần tương tợ như các pháp
tam muội, song đó là cảnh bị chứng của ngoại đạo, không
phải thật tam muội; hoặc làm cho hành giả ở trong Định,
từ một ngày hoặc đến bảy ngày, tự nhiện đặng món ăn
thơm ngon, thân tâm vui thích, không biết đói khát; khiến cho
hành giả rất ưa thích. Hoặc làm cho hành giả ăn không chừng
đỗi, khi nhiều khi ít, sắc mặt biến đổi luôn. Khi gặp
những cảnh như vậy, hành giả phải thường dùng trí huệ
quán sát, siêng năng giữ gìn Chánh niệm, không nên chấp thủ,
chớ để cho tâm mình đoạ vào lưới tà. Phải như thế hành
giả mới xa lìa được các ma chướng.
LƯỢC
GIẢI
Người
tu thiền định, khi phá trừ ngũ ấm, sẽ bị trên năm chục
món ma, biến hiện đủ cách để thử thách và não hại người
tu Thiền.
Khi
gặp các cảnh ma ấy, hành giả phải dụng tâm như thế nào,
và dùng những phương pháp gì để diệt trừ, thì trong kinh
Lăng nghiêm Phật đã dạy rất rõ ràng và kỹ lưỡng, (quí
vị nên đọc đoạn Ngũ ấm ma trong quyển Đại cương Lăng
nghiêm).
Trong
Luận này, Ngài Mã Minh Bồ Tát chỉ nói sơ lược về ma; Hoặc
chúng hiện thân Phật, thân Bồ Tát ; hoặc nói kinh thuyết
pháp thông suốt; hoặc làm ch người tu thiền biết được
việc quá khứ, vi lai; hoặc đặng túc mạng thông, tha tâm
thông, biện tài vô ngại; hoặc làm cho người tu thiền tham
lam danh lợi v.v...
Khi
gặp các cảnh ma như vậy, hành giả phải đừng quyến luyến,
nhiễm trước và đừng sanh tâm vui mừng hay lo buồn, mà phải
luôn luôn quán Duy tâm; nghĩa là quán do dụng công tu thiền,
nên tâm hiện ra các cảnh như vậy, chứ không có gì lạ và
cũng không phải chứng chi cả. Kinh Lăng nghiêm, Phật nói:
" ...Nếu hành giả không chấp mình được Thiền hay chứng
Thánh thì tốt, còn chấp mình Thiền hay chứng Thánh thì đoạ
vào tà đạo" (Bất tác Thánh tâm danh thiện cảnh giới, nhược
tác thánh giải tức thọ quần tà). Phải dụng tâm như thế
thì các cảnh ma kia tự nhiên tiêu diệt. Nếu hành giả vui
mừng, cho mình được Thiền hay chứng Đạo v.v...thì bị ma
ám ảnh nhiễu hại; vì các việc ma là hiện thân của sự
tham luyến vui buồn chấp thủ.
CHÁNH
VĂN
Phải
biết, các pháp thiền định (tam muội) của ngoại đạo tu
tập, đều không rời phiền não hữu lậu vì tâm còn ngã
mạn, chấp ngã tham lam danh lợi ở thế gian và cầu người
cung kính.
Còn
tu pháp Chơn như tam muội (thiền định) này thì không cxó
tướng gì để được, lại có công năng làm cho các phiền
não lần lần mỏng ít; cho đến khi xuất định hành giả
cũng không giãi đãi. Nếu người tu hành mà không tu pháp Chơn
như tam muội này, thì không thể nhập được dòng giống của
Như Lai.
Tu
các pháp thiền định tam muội của thế gian, cũng như thiền
định của ngoại đạo, đều thuộc trong Tam giới, vì còn
các phiền não chấp ngã và say đắm nhiễm trước nơi cảnh
thiền. Bởi thế nên người tu thiền định, nếu không có
Thiện tri thức dẫn dắt, thì quyết định sẽ lạc vào ngoại
đạo.
LƯỢC
GIẢI
Trong
kinh Lăng nghiêm, khi Phật sắp chỉ dạy phương pháp tu hành
thì Phật đã khuyên bảo dặn dò ông A Nam và đại chúng rằng
"Phải phân biệt rành rõ hai món căn bản: 1. Vọng tâm phiền
não là căn bản của sanh tử luân hồi và 2. Chơn tâm thanh
tịnh là căn bản của Bồ Đề Niết bàn. Nếu các ông nhận
lầmpn là căn bản của sanh tử luân hồilàm nhơn tu hành,
thì không bao giờ thành Phật được; và cũng như người nhận
giặc làm con, chỉ bị nó phá hại mà thôi". Bởi thế nên,
đoạn này Bồ Tát Mã Minh phân tách rành rõ tà định và chánh
định, để cho hành giả khỏi lầm lạc.
Thiền
định của ngoại đạo và thế giam là do phiền não hữu lậu
làm động cơ thúc đẩy, như vì lợi dưỡng, cầu người
cung kính v.v...mà tu. Khi tu thiền, thấy được một vài thắng
cảnh thì họ ngã mạn cống cao và tham ái nơi cảnh thiền
v.v...Bởi thế nê tu chừng nào, thì họ lại tăng trưởng
bản ngã, thêm nhiều phiền não, đào sâu hop61 tà, luân hồi
mãi treong tam giới.
Còn
thiền định của chư Phật là do chơn như thanh tịnh (chơn
như) làm động cơ, nên không vì lợi dưỡng hay cầu người
cung kính, khi thấythắng cảnh, chỉ quán là Duy tâm, không
móng tâm tham luyến, không ngamạn cống cao, không nuôi lớn
bản ngã. Bởi thế nên hành giả tu chừng nào thì phiền não
càng tiêu, được vào cảnh giới của chư Phật.
Tóm
lại, người tu thiền định, nếu không có Thiện hữu tri
thức (Minh sư chỉ giáo) để dẫn dắt, thì dễ lạc vào tà
kiến ngoại đạo.
D.
MƯỜI ĐIỀU LỢI ÍCH THIỀN ĐỊNH
CHÁNH
VĂN
Người
chuyên tâm tinh tấn tu pháp tam muội này (Chơn như tam muội)
thì hiện dời sẽ được mười điều lợi ích:
1.
Được mười phương chư Phật và Bồ Tát thường hộ niệm.
2.
Không bị các ma quỉ khủng bố.
3.
Không bị chín mươi lăm thứ thiên ma ngoại đạo làm mê hoặc.
4.
Xa lìa những việc huỷ báng Chánh pháp và các tội chướng
nặng nề dần dần mỏng ít.
5.
Diệt hết các nghi ngờ và những sự thấy nghe tội lỗi.
6.
Đối với các cảnh giới của chư Phật, lòng tin tăng trưởng.
7.
Xa lìa các điều ăn năn lo lắng và đối với việc sanh tử,
tâm không khiếp sợ.
8.
Tâm được nhu hoà, bỏ tánh kiêu mạn, chẳng bị người làm
não hại.
9.
Dù chưa chứng Định, song trong tất cả thời gian, tất cả
cảnh giới, hành giả có thể làm cho các phiền não tổn giảm
và không tham vui ở thế gian.
10.
Nếu được Tam muội thì không bị các âm thinh của trần
gian và các ngoại duyên làm chao động.
LƯỢC
GIẢI
Người
tu hành là một vị Tướng soái cxùng với các ma quân trường
kỳ kháng chiến, không phải kháng chiến một năm một tháng,
mà phải nhiều đời nhiều kiếp, không phải một ngày một
buổi, mà phải đánh từng giờ từng phút với giặc nội
tâm (phiền não). Cố nhiên hành giả phải trải qua ba giai
đoạn: Giai đoạn thứ nhất là tự vệ, phải trải qua một
a tăng kỳ kiếp (một vô số kiếp), hành giả thua nhiều thắng
ít; giai đoạn thứ hai là cẩm cự, trải qua một a tăng kỳ
kiếp thứ hai, hành giả năm ăn năm thua; giai đoạn thứ ba
là phản công, cũng trải qua một a tăng kỳ kiếp nữa, hành
giả thắng nhiều mà thua ít.
Tuy
nhiên, nếu hành giả thành tâm chuyên nhứt, tinh tấn tu học
pháp "chơn như tam muội" này, thì sẽ được mười điều
lợi ích như trên; mà điều lợi ích thứ nhứt là được
chư Phật và Bồ Tát thường hộ niệm; như vậy, lo chi chẳng
được thành đạo chú?ng quả.
(Trên
đã nói tu Chỉ, tiếp theo đây sẽ nói tu Quán)
E.
BẢY PHÁP QUÁN
CHÁNH
VĂN
Nếu
người tu Chỉ (Định) mà tâm bị trầm một (chìm lặng) sanh
ra giãi đãi, hoặc chẳng ưa làm việc lành, xa lìa tâm Đại
bi, thì phải tu Quán.
1.
Quán vô thường: Quán tất cả các pháp hữu vi trong thế gian,
không có lâu dài, giây phút biến hoại.
2.
Quán khổ: Quán tất cả tâm hạnh là khổ, vì mỗi niệm sanh
diệt không dừng.
3.
Quán vô ngã: Quán các pháp như quá khứ như chiêm bao, các
pháp hiện tại như chớp nhoáng, các pháp vị lai như mây tụ
tán.
4.
Quán bất tịnh: Quán tất cả thân hình nam, nữ trong trần
gian đều bất tịnh, đủ các thứ ô uế, không có một chút
gì sạch sẽ đáng ưa.
5.
Quán Đại bị: Hành giả phải thường nhớ tất cả chúng
sanh từ vô thỉ đến giờ, đều bởi vô minh huân tập, làm
cho tâm sanh diệt, và đã thọ không biết bao nhiêu thân hình
khổ não; hiện tại đây vẫn bị vô lượng sự khổ sở
đang áp bức, cho đến vị lai cũng còn chịu các điều khổ
não, không biết chừng nào cùng tận. Chúng sanh bị các khổ
sở như thế, không thể lìa bỏ được, thế mà không hay
không biết, thật đáng thương xót.
6.
Quán Đại nguyện: Hành giả thường suy nghĩ chúng sanh khổ
sở như thế, nên phát tâm dõng mãnh, tu tất cả công đức
lành, lập lời thệ nguyện rộng lớn: "Nguyện cho tâm tôi
không cò phân biệt thân sơ (đồng thể) để dùng vô lượng
phương tiện cứu độ tất cả chúng sanh khổ não khắp cả
mười phương, cùng tận vi lai, đều được an vui Niết bàn".
7.
Quán Tinh tấn: Do hành giả đã phát nguyện rộng lớn như
vậy, nên trong tất cả thời gian và tất cả mọi nơi, phải
siêng năng tu học, tuỳ theo khả năng của mình mà làm các
việc lành, tâm không giãi đãi.
LƯỢC
GIẢI
Hành
giả nếu tu "Chỉ" mà không tu "Quán" thì có thể sanh ra những
tai hại là xa lìa tâm Đại bi, không ưa làm các việc lành.
Bởi thế nên muốn tránh những tai hại ấy, hành giả phải
tu "Quán".
Trước
nhứt, hành giả phải quán"Tứ niệm xứ" để thấy rõ thâm
tâm và thế giới đều là vô thường, khổ, vô ngã và bất
tịnh". Tiếp đó hành giả dùng quán Đại bi cứu độ. Rồi
tiếp dùng quán Đại nguyện, nghĩa là khi đã thấy chúng sanh
khổ quá, nên hành giả tự phát lời thệ nguyện rộng lớn
và dũng mãnh độ sanh với tâm bình đẳng, không phân biệt
thời gian và không gian. Hành giả đã lập Đại nguyện rồi
thì phải dùng quán Tinh tấn, nghĩa là phải tận lực của
mình làm các điều lợi ích cho chúng sanh trong mười phương,
không khi nào rảnh việc.
G.
CHÆ VÀ QUÁN ĐỔNG THỜI TU
CHÁNH
VĂN
Chỉ
trừ những lúc ngồi chuyên tu pháp "Chỉ" còn ngoài ra tất
cả thì giờ khác, hành giả đều phải quan sát những việc
gì nên làm, việc gì không nên làm.
Khi
đi, đứng, nằm, ngồi hành giả phải đồng thời tu cả Chỉ
và Quán. Nghĩa là hành giả tuy trong khi quán tự tánh của
các pháp không sanh (Chỉ), nhưng cũng quán do nhơn duyên hoà
hiệp, nên nghiệp lành dữ và quả báo khổ vui không mất
(Quán)_ Tuy trong lúc quán do nhơn duyên hoà hiệp nghiệp báo
không mất (Quán), nhưng hành giả cũng quán tự tánh của các
pháp không sanh (Chỉ).
LƯỢC
GIẢI
Bồ
Tát MaMinh dạy hành giả trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm,
ngồi đều phải tu cả Chỉ và Quán. Trong khi quán các pháp
vô sanh, để trừ tâm tham lam ái trước v.v...thì hành giả
cũng quán nhơn duyên hoà hiệp, nhơ quả lành dữ không mất,
để rộng tu các việc lành và giáo hoá chúng sanh. Tuy "quán
không" mà chẳng bỏ môn hạnh lành; "quán có" mà tâm tánh
vẫn thanh tịnh, không nhiễm trước, ái luyến một cảnh nào.
Đó là lợi ích của Chỉ và Quán đồng thời tu vậy.
H.
LỢI ÍCH TU CHÆ QUÁN
CHÁNH
VĂN
Phàm
phu tu "Chỉ" thì trừ được tâm nhiễm trước thế gian; Nhị
thừa tu "Chỉ"thì bỏ được tâm khiếp nhược. Phàm phu tu
"Quán", xa lìa được cái bịnh chẳng ưa tu pháp lành; Nhị
thừa tu "Quán", đối trị được tâm hẹp hòi ích kỹ, chẳng
khởi Đại bi. Bởi thế nên phải tu cả Chỉ và Quán, giúp
nhau mới thành, không thể rời nhau được. Nếu hành giả
không tu cả Chỉ và Quán thì sẽ không thể vào đạo Bồ
Đề.
LƯỢC
GIẢI
Nhờ
tu "Chỉ" nên hành giả ngăn được sự tham trước và khiếp
nhược. Nhờ tu "Quán" nên hành giả phát khởi tâm Đại bi
và làm lợi ích cho chúng hữu tình. Bởi thế nên pháp Chỉ,
Quán, (Định, Huệ) là con đường lớn của hành giả để
về cõi Phật.
I.
PHÁP MÔN NIỆM PHẬT
CHÁNH
VĂN
Lại
nữa, nếu có chúng sanh mới tu pháp này, tâm còn khiếp sợ,
muốn được Chánh tín, nhưng lo sợ "ở cõi ta bà không thường
găp Phật, nghe pháp và cúng dường, e sợ lòng tin của mìnhkhông
thành tựu", muốn thối chí, thì những chúng sanh ấy biết
rằng: Phật còn có phương tiện thù thắng, bảo đảm tín
tâm của hành giả được thành tựu. Phương tiện ấy là
"Nhơn duyên chuyên tâm niệm Phật, cầu sanh về cõi Phật ở
phương khác, để thường được thấy Phật, nghe pháp", thì
chắc chắn xa lìa được ác đạo.
Trong
Khế kinh, Phật dạy: "nếu người chuyên tâm niệm Phật A
di đà ợ thế giới Cực lạc phương tây, và đem công đức
tu hành hồi hướng phát nguyện cầu sanh về đó, thì quyết
định sẽ sanh về thế giới Cực lạc, được thường thấy
Phật và nghe pháp, không bao giờ thối chuyển".
Nếu
hành giả quán chơn như Pháp thân của Phật A di đà và thường
siêng năng tu tập, thì rốt ráo sẽ được sanh vào hàng ngũ
chánh định
LƯỢC
GIẢI
Hành
giả muốn hái quả Phật, tất nhiên phải leo lên cây Bồ
Đề cao 6 thước, là Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn,
Thiền địngh và Trí huệ. Quan trọng nhứt là hai thước sau;
trong Luận này gọi lá Chỉ và Quán. Đó là điều duy nhứt
của các vị Bồ Tát đã và sẽ chứng quả Phật.
Nhưng,
có người lo ngại: "Chúng phàm phu đến quả Phật, phải tu
nhiều kiếp và trải qua thời gian lâu xa là ba vô số kiếp;
hơn nữa, ở cõi Ta bà này có rất nhiều chướng ngại, và
không thường gặp Phật, sự tu khó thành công". Muốn cho những
người ấy hết lo ngại, bảo đảm sự tu hành chắc chắn
được kết quả, nên Bồ Tát Mã Minh chỉ thêm một phương
tiện thù thắng của Phật, là dạy người "Nhứt tâm niệm
Phật, hồi hướng cầu sanh về cõi nước của Phật A di đà,
để thường găp Phật và làm bạn với các vị Bồ Tát, ngày
đêm sáu thời thường nghe tiếng pháp; cho đến gió thổi,
cây rung, suối reo, chim hót, cũng đều diễn ra những pháp:
Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ Đề, Bát chánh đạo v.v..."; như
trong kinh Di đà đã nói.
Hành
giả găp hoàn cảnh thuận tiện, tốt đẹp như thế, thì lo
gì chẳng thành đạo chứng quả. Bởi thế nên pháp "Nhứt
tâm niệm Phật" là phương tiện thù thắng nhứt của đức
Đại bi Thế tôn
(Đã
hết chương thứ tư là Tín tâm, Tu hành)
***
CHƯƠNG
THỨ NĂM
LỢI
ÍCH VÀ KHUYẾN TU
CHÁNH
VĂN
Pháp
Đại thừa bí mật của chư Phật, tôi đã nói một cách tổng
quát rồi. Nếu có người nào đối với pháp Đại thừa của
Như Lai (thậm thâm cảnh giới) đã không nghi ngờ hay bài báng,
lại còn sanh tâm chánh tín muốn vào Đại thừa, nên họ thọ
trì (văn) suy nghĩ (tư) và tu tập (tu) theo Luận này, thì người
ấy sẽ được đạo vô thượng Bồ Đề. Nếu người nào
nghe đến Pháp Đại thừa này mà tâm không nghi sợ thì người
ấy sẽ được chư Phật thọ ký và quyết định sẽ nối
dòng Phật.
Giả
sử có người giáo hoá chúng sanh cả Đại thiên thế giới
(một nghìn triệu thế giới nhỏ) đều tu thập thiện, công
đức của người này tuy nhiều, nhưng không bằng có người
chỉ ở thời gian ngắn như trong bữa ăn, tu pháp Đại thừa
này, thì công đức lài nhiều hơn người trước không thể
so sánh được.
Lại
nữa, nếu có người, hoặc trong một ngày đêm, thọ trì,
quán sát và tu hành theo Luận này, thì người ấy sẽ được
công đức vô lượng vô biên, không thể nói hết. Dầu cho
mười phương chư Phật ở trong vô lượng vô biên, a tăng
kỳ kiếp (vô số kiếp) tán thán công đức của người đó
cũng không hết. Tại sao vậy?_ Bởi vì pháp Đại thừa (Phật
tánh) có công đức không cùng tận; Luận này nói về pháp
Đại thừa nên người thọ trì và tu tập, theo luận này,
cũng được công đức vô lượng vô biên như vậy.
Nếu
chúng sanh nào đối với Luận này mà huỷ báng, không tin,
thì chúng sanh đó sẽ bị tội báo lớn, trải qua vô lượng
kiếp thọ khổ não. Vì thế nên chúng sanh phải tin tưởng
không nên huỷ báng Luận này, bởi có hại cho mình và người,
đoạn tuyệt giống Tam bảo.
Tất
cả chư Phật đều do pháp Đại thừa này mà được Niết
bàn; các vị Bồ Tát cũng nhờ tu pháp Đại thừa này mà đặng
vào trí Phật. Các vị Bồ Tát quá khứ, hiện tại và vi lai
đều tu theo pháp Đại thừa này mà được thành tựu đức
tin thanh tịnh. Bởi thế nên chúng sanh phải siêng năng tu học.
LƯỢC
GIẢI
Chương
thứ năm này nói về sự lợi ích và khuyên người tu hành.
Bộ Luận này nói về pháp Đại thừa, tức là tâm chúng sanh
hay Phật tánh, hoặc gọi chơn như hay Pháp thân v.v...Chư Phật,
Bồ Tát quá khứ, hiện tại và vị lai đều tu theo pháp Đại
thừa mà được thành đạo chứng quả. Bởi thế nên người
tu theo pháp Đại thừa chỉ trong thời gian ngắn, như trong
bữa ăn hay một ngày đêm, công đức người này nhiều hơn
người dạy chúng sanh trong Đại thiên thế giới tu Thập thiện;
vì tu Thập thiện chỉ hưởng phước hữu lậu ở cõi trời;
và mười phương chư Phật tán dương công đức của người
tu theo Đại thừa cũng không hết lời, vì công đức này thuộc
về chơn tâm thanh tịnh vô lậu, biến khắp tất cả.
Trái
lại nếu chúng sanh nào huỷ báng không tin Luận này, tức
là huỷ báng không tin pháp Đại thừa hay không tin tánh Phật,
tâm chơn như v.v...của mình thì chúng sanh đó tự đoạn pháp
thân huệ mạng của mình, làm mất giống Phật pháp của mình
nên nhiều kiếp phải chịu sanh tử luân hồi trầm luân trong
biển khổ.
Vì
thế nên chúng sanh không nên nghi ngờ huỷ báng, mà phải tin
tưởng và tu theo Luận này.
BÀI
KỆ HỔI HƯỚNG
CHÁNH
VĂN
Nghĩa
lý rộng sâu của chư Phật
Tôi
nay tổng quát nói đã rồi
Nguyện
đem công đức về Pháp tánh
Tất
cả chúng sanh đều được lợi
LƯỢC
GIẢI
Theo
lệ thường, các vị Bồ Tát khi tạo luận, trước nhứt nói
bài kệ quy kính Tam bảo, để cầu Tam bảo gia hộ cho việc
làm của mình được khế lý và hợp cơ; rốt sau nói bài
kệ hồi hướng, để hồi hướng cho tất cả chúng sanh đều
nhờ công đức này mà được lợi lạc. Đây là bài kệ hồi
hướng.
Dịch
chánh văn xong ngày 27 tháng Giêng Tân Sữu
Lược
giải và tu chỉnh, xong ngày 28 tháng Chạp năm Tân Sữu (1961)
In
xong giữa mùa Sen nỡ, năm Nhâm Dần (1962)