Khóa
Thứ 10 và 11
LUẬN
ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
DỊCH
NGHĨA VÀ LƯỢC GIẢI
Giảng
lần thứ nhứt tại Phật Học Đường Nam Việt
Ngày
12 tháng 9 năm Tân Sửu (11 10 61)
BÀI
THỨ MƯỜI LĂM
CHƯƠNG
THỨ TƯ
PHẦM
TÍN TÂM, TU HÀNH
MỤC
LỤC
Chương
thứ tư: TÍM TÂM TU HÀNH
(2
bài, bài này thứ nhất)
A.
Bốn món Tín tâm
1.
Tín căn bản (tin tánh Phật của mình)
2.
Tín Phật
3.
Tín Pháp
4.
Tín Tăng
B.
Năm món Tu hành (Lục độ):
Bố
thí
Trì
giới
Nhẫn
nhục
Tinh
tấn
5.
Chỉ, quán (Định, Huệ)
CHÁNH
VĂN
Chương
này là căn cứ vào nhóm chúng sanh chưa vào chánh định mà
nói về việc tín tâm tu hành._ Về tín tâm thì ước lược
có bốn món, còn tu hành lại có năm món.
A.
NÓI VỀ BỐN MÓN TÍN TÂM
1.
Tin căn bản, tức là ưa nghĩ nhớ pháp chơn như.
2.
Tin Phật có vô lượng công đức; hành giả thường phải
nghĩ tưởng, gần gũi, cung kính và cúng dường chư Phật,
để pháp khởi căn lành và nguyện cầu đặng "Nhứt thế
trí".
3.
Tin Pháp của Phật có lợi ích lớn; hành giả phải thường
nhớ tu hành các pháp Ba la mật.
4.
Tin Tăng là người chơn chánh tu hành, tự lợi lợi tha, và
hành giả thường ưa thân cận các vị Bồ Tát để cầu học
cái hạnh chơn thật.
LƯỢC
GIẢI
Luận
này có năm chương, ba chương đầu là phần lý thuyết, chương
thứ tư nói về thật hành, tức là việc khởi tín tâm tu
hành, nên chương này rất cần thiết cho hành giả.
Vậy
người nào mới có thể khởi tín tâm tu hành?_ Bồ Tát Mã
Minh nói: "Phải chúng sanh chưa vào chánh định, mới có thể
khởi tín tâm tu hành". Tại sao thế?_ Vì những người tà
định (ngoại đạo) không thể khởi tín tâm tu hành theo Đại
thừa; còn những người đã vào chánh định rồi, thì không
cần phải nói nữa; duy có người bất định (không nhứt
định Đại thừa hay Tiểu thừa) chưa vào chánh định, mới
có thể khởi tín tâm tu hành theo Đại thừa được.
Vậy
hành giả phải tin cái gì?_ Có bốn món: Trước nhứt hành
giả phải tự tin nơi bản tánh chơn như của mình, tức là
tin mình saün có tánh Phật (khả năng thành phật), cũng gọi
là tin tâm Đại thừa. Tin như thế nào?_ Phải luôn luôn tin
tưởng và nghĩ nhớ tâm chơn như của mình, Thể nó lớn,
Tín nó to, Dụng nó đại. Đó là điều tin căn bản, còn ba
điều tin sau này, cũng do tin căn bản mà ra, tức là tin tam
bảo_Tin Phật là người đã chứng được chơn như; tin Pháp
là phương pháp để thực hiện chơn như; tin Tăng là người
đang thật hành theo chơn như.
Hành
giả tin Phật để cầu được nhứt thế trí; tin Pháp để
tu hành theo các pháp Ba la mật; tin Tăng để học theo hạnh
chơn thật.
CHÁNH
VĂN
B.
NÓI VỀ NĂM MÔN TU HÀNH
1,
Bố thí
2.
Trì giới
3.
Nhẫn nhục
4.
Tinh tấn
5,
Chỉ, quán (Định, Huệ)
Thế
nào là tu Bố thí?_ Nếu thấy có người đến xin, hành giả
có những tài vật gì tuỳ theo sức mình, đem bố thí cho người,
thì sẽ được hai điều lợi ích: tự mình bỏ được lòng
tham lam bỏn xẻn, và người thọ thí được vui mừng._ Nếu
thấy người bị tai nạn, sợ hãi lo buồn, hành giả tận
khả năng của mình cứu giúp, làm cho họ hết lo sợ; gọi
là thí vô uý (bố thí cái không sợ)._ Nếu có người đến
cầu nghe Phật pháp, hành giả tuỳ theo sự hiểu biết của
mình, phương tiện thuyết pháp; thuyết pháp với tâm niệm
tốt đẹp là nghĩ vì tư lợi lợi tha và hồi hướng về
đạo Bồ Đề, không vì danh lợi hoặc cầu người cunh kính.
LƯỢC
GIẢI
Về
việc tu hành, hành giả chỉ tu pháp Lục độ thì những hạnh
tự lợi và lợi tha đều được đầy đủ.
Bố
thí có ba thứ; thí tài, thí pháp và thí không sợ.
1.
Thí tài, tức là thí của, có hai thứ của: a) Đem tiền bạc
của cải của mình giúp cho người, gọi là thí ngoại tài
(của ngoài thân); b) Hy sinh thân mạng để cứu người, như
cho máu những người thiếu máu v.v...gọi là thí nội tài
(của trong thân). Thí ngoại tài thì hành giả sẽ trừ được
tâm bỏn xẻn về tiền của. Thí nội tài thì hành giả sẽ
bớt được tâm chấp ngã và tự ái.
2.
Thí pháp, tức là thí phương pháp, có hai phần: a) Chỉ dạy
cho người nhu74ng phương pháp (nghề nghiệp) chơn chánh để
tự nuôi sống, gọi là thí về pháp thế gian; b) Dạu người
những phương pháp tu hành để giải thoát sanh tử luân hồi,
gọi là thí về pháp xuất thế gian. Thí pháp, hành giả sẽ
trừ được tâm bỏn xẻn về pháp.
3.
Thí không sợ, tức là thí cái không lo sợ, cũng có hai phần:
a) về phần tiêu cực, mình không làm cho người lo sợ, gọi
là thí không sợ, b) Về phần tic cực, thấy người bị hoạn
nạn, đang lo sợ, mình tận lực cứu giúp, làm cho người
hết lo sợ, cũng gọi là thí không sợ. Bố thí không sợ,
hành giả sẽ nuôi lớn được lòng từ bi.
CHÁNH
VĂN
Thế
nào là tu Trì giới?_ Không sát sanh, trộm cắp, dâm dục, không
nói lời dâm thọc, nói lời độc ác, không nói dối, nói
thêu dệt, không tham sân si, tật đố, dua nịnh, dối trá và
tà kiến. Nếu là người xuất gia thì, vì còn dẹp trừ phiền
não, nẹ6n phải xa lánh chỗ ồn ào, thường ở chỗ thanh
vắng, tu hạnh thiểu dục tri túc, hoặc tu hạnh đầu đà
v.v...Cho đến một lỗi nhỏ, hành giả cũng phải sanh tâm
hổ thẹn, ăn năn sám hối và kiêng sợ; không dám khinh giới
luật của Phật. Hành giả phải giữ gìn, đừng để cho người
chê bai khinh hiềm, tại mình mà họ tạo tội lỗi.
LƯỢC
GIẢI
Giới
luật của Phật chế ra, tổng quát có ba phần, gopị là "Tam
tụ tịnh giới" (ba phần giới thanh tịnh):
1.
Bỏ các điều tội lỗi, gọi là "Nhiếp luật nghi giới";
2.
Làm các việc lành, gọi là "Nhiếp thiện pháp giới";
3.
Làm lợi ích chúng sanh, gọi là "Nhiêu ích hữu tình giới".
Hành
giả tu theo Đại thừa, một mặt là phải giữ ba phần giới
này cho thanh tịnh; một mặt nữa là đừng làm những điều
sái quấy, để cho thế gian đàm tiếu, mà họ mang lấy tội
lỗi.
CHÁNH
VĂN
Thế
nào là tu Nhẫn nhục?_ Nhẫn chịu những điều người ta làm
cho mình khổ não trong tâm hành giả cũng không nghĩ tưởng
đến việ trả thù; và nhẫn chịu tám hướng gió của trần
gian thổi đến: 1. Thạnh lợi, 2. Suy bại, 3. Huỷ báng, 4.
Danh dự, 5. Khen, 6. Chê, 7. Khổ, 8. Vui.
LƯỢC
GIẢI
Tất
cả những hoàn cảnh, làm cho hành giả tạo các tội lỗi,
không ngoài tám điều, gọi là "Bát phong" (tam ngọn gió); nhưng
tóm lại thì có hai cảnh: thuận và nghịch.
Tài
lợi, danh vọng, khen ngợi và vui là bốn ngọn gió thuận cảnh,
nó thổi vào biển tâm của hành giả, làm cho nổi lên vô
lượng sóng tham lam._ Suy bại, huỷ báng (công kích lỗi người)
chê bai (nói xấu) và khổ là bốn ngọn gió nghịch cảnh,
nó thổi vào biển tâm của hành giả, làm cho nổi lên vô
lượng sóng tham lam._ Suy bại, huỷ báng (công kích lỗi người)
chê bai (nói xấu) và khổ là bốn ngọn gió nghịch cảnh,
nó thổi vào biển tâm của hành giả, làm cho nổi lên không
biết bao nhiêu sóng sân hận.
Hành
giả khi gặp các thứ gió, dù thuận hay nghịch, cũng đều
phải giữ gìn biển tâm mình cho yên lặng, đừng để các
sóng phiền não như tham lam hay sân si v.v...nổi lên. Như thế
gọi là tu pháp Nhẫn nhục Ba la mật.
CHÁNH
VĂN
Thế
nào lá tu Tinh tấn?_ Lập chí kiên nhẫn, tu các việc lành,
tâm không trễ nãi và không khiếp nhược. Hành giả phải
thường nhớ rằng, từ quá khứ nhiều kiếp lâu xa đến nay
đã thọ không biết bao nhiêu thân tâm hư giả và chịu không
biết bao nỗi khổ lớn lao, đều không có lợi ích gì cả.
Bởi thế nên đời nay, ta siêng năng tu các công đức, làm
những việc tự lợi lợi tha, để mau xa lìa các khổ.
Lại
nữa, nếu người tín tâm tu hành mà bị các nghiệp chướng
đời trước làm chướng ngại, hoặc bị các tà ma ác quỉ
nhiễu hại, hay bị việc đời ràng buộc, hoặc bị bịn khổ
làm não bức v.v...thì hành giả phải tinh tấn dõng mãnh, ngày
đêm sáu thời lễ Phật tụng kinh, thành tâm sám hối, thường
hành không bỏ phế; khuyên thỉnh Phật trụ thế và tuỳ hỷ
các việc công đức, để hồi hướng về đạo quả Bồ Đề.
Phải làn như thế, hành giả mới khỏi các điều chướng
ngại và căn lành tăng trưởng.
LƯỢC
GIẢI
Tinh
tấn là một yếu tố để thành công trên đường đời cũng
như trên đường Đạo. Người tu hành nếu thiếu tinh tấn
thì không bao giờ thành đạo chứng quả được. Tinh là tinh
chuyên một việc; Tấn là tiến tới không dừng.
Hành
giả lập chí dõng mãnh, chuyên tu các pháp lành, tâm không
khiếp nhược, phải thường nhớ rằng: Từ vô lượng kiếp
đến nay ta thọ biết bao nhiêu thân, chịu biết bao nhiêu khổ,
nhưng không làm được điều lợi ích gì cả ! Vậy đời
này ta phải tu các công đức, đề xa lìa các tội khổ. Nếu
người bị nghiệp chướng đời trước nặng nề, hoặc tà
ma ác quỉ nhiễu loạn, hay việc đời ràng buộc, bịnh hoạn
làm khổ não, v.v...khó hành đạo được, hành giả phải ngày
đêm 6 thời, tụng kinh sám hối, không nên bê trễ, thì các
chướng ngại sẽ hết và căn lành tăng trưởng.
CHÁNH
VĂN
Thế
nào là tu Chỉ, Quán?_ "Chỉ" nghĩa là đình chỉ tất cả các
vọng tưởng (định), để tuỳ thuận theo quán không (xa ma
tha); "Quán" nghĩa là quán sát các tướng nhơn duyên sanh diệt
(huệ) để tuỳ thuận theo quán giả (tỳ bác xa na).
Sao
gọi là tuỳ thuận?_ Do hành giả từ từ tu tập, một lần
cả Chỉ và Quán, đều không rời nhau, nên gọi là tuỳ thuận.
LƯỢC
GIẢI
Tu
Chỉ, Quán tức là tu Thiền định và trí huệ. "Chỉ" là đình
chỉ các vọng tưởng, tức là Định; "Quán" lá quán sát để
thấu rõ chơn lý của các pháp, tức là Huệ. Tu Chỉ, Quán
sẽ được Định, Huệ; vì Chỉ,Quán là Nhơn, mà Định, Huệ
là Quả.
Trong
Lục độ, chia riêng ra Thiền định và Trí huệ, là muốn
cho hành giả thấy rõ hành tướng, công dụng và kết quả
của hai pháp môn khác nhau. Trong Luận này về chương "Tín
tâm tu hành", Bồ Tát Mã Minh cũng dạy tu Lục độ, nhưng hai
độ sau lại chung làm một và không gọi tu Định, Huệ mà
lại gọi là tu Chỉ,Quán?_ Vì Bồ Tát muốn cho hành giả phải
hiểu rằng: Về phần tu nhơn thì hai pháp này rất liên quan
với nhau; nghĩa là hành giả phải đồng thời tu cả Chỉ
và Quán. Trong Chỉ có Quán, trong Quán có Chỉ.
Thế
nào là trong Chỉ có quán?_ Nghĩa là muốn ngăn ngừa đình
chỉ không cho các vọng tưởng nổi lên, thì hành giả phải
quán sát các pháp là không; bởi các pháp là không, nên hành
giả chẳng chấp có, và không khởi tâm tham sân v.v...
Thế
nào là trong Quán có Chỉ?_ Nghĩa là hành giả quán sát các
pháp đều do nhơn duyên hoà hiệp, sanh không phải thật sanh,
mà diệt cũng không phải thật diệt. Vì các pháp do nhơn duyên
hoà hiệp giả có, nên hành giả chẳng chấp không, và chẳng
sanh các phiền não.
NÓI
VỀ TU CHÆ (ĐỊNH)
CHÁNH
VĂN
Nếu
tu "Chỉ" (định) hành giả phải ở chỗ thanh vắng, ngồi
ngay thẳng, tâm chơn chánh, chẳng nương hơi thở, chẳng nương
hình sắc và hư không, chẳng nương đất, nước, gió, lữa;
chẳng nương thấy, nghe, hay biết, cho đến các tưởng niệm
đều diệt trừ, rồi hành giả dẹp luôn cái "tâm niệm" trừ
tưởng niệm nữa.
Do
tất cả các pháp từ hồi nào đến giờ, mỗi niệm không
sanh, mỗi niệm không diệt, nên hành giả phải không các tưởng
niệm và cũng không tưởng cảnh giới ngoài tâm, rốt sau rồi
lấy tâm trừ tâm. Nếu tâm vọng tưởng rong ruỗi, thì hành
giả phải liền đem trở lại chánh niệm._ Phải biết "Chánh
niệm" đây, tức là "Duy tâm", không có ngoại cảnh. Và cái
tâm này cũng không hình tướng gì có thể tưởng niệm được.
LƯỢC
GIẢI
Hành
giả tu Định (Chỉ), phải ở chỗ thanh vắng, tránh xa nơi
ồn ào náo nhiệt; thân ngồi ngay thẳng, không ngước không
cúi; tâm phải chơn chánh, tỉnh táo sáng suốt và tịch tịnh,
không phù không trầm; phải thoát ly thân, nghĩa là không nương
hơi thở (không sổ tức); không nương hình sắc; phải thoát
ly thế giới, không nương hư không, tứ đại; và phải thoát
ly tâm, không nương thấy nghe hay biết.
Hành
giả phải trừ hết các tưởng niệm rồi cái tâm niệm trừ
các tưởng đó cũng dứt luôn; phải biết các pháp từ hồi
nào đến giờ, chỉ là nhứt tâm (Duy tâm), không sanh không
diệt, không có cảnh giới ngoài tâm. Bởi thế nên tâm vừa
vọng động rong rủi theo trần cảnh, thì hành giả phải thâu
lại đem về chánh niệm tức là nhứt tâm, gọi là "dùng nhưttâm
diệt các vọng tưởng"; rốt sau cái "tâm" này (nhứt tâm)
cũng không còn, gọi là "dùng tâm trừ tâm".
Các
vị Cổ đức dạy rằng: "Người tham thiền, trong phải thoát
ly thân tâm, ngoaiø xa lìa cảnh giới; nghĩa là phải rời tâm,
ý, thức mà tham cứu, phải ra khỏi con đường thánh phàm
mà tu học, phải viễn ly các cảnh giới vọng tưởng mà cầu
đạo". Tóm lại, là phải phóng xả tất cả.
CHÁNH
VĂN
Lại
nữa, trong tất cả thì giờ, khi đi đứng nằm ngồi, tới
lui qua lại, làm tất cả việc, hành giả phải thường nhớ
phương tiện (phương tiện tuỳ duyên chỉ), nghĩa là tuỳ
thuận quán sát. Hành giả tu tập như vậy lâu ngày thuần
thục, thì tâm được an trụ; do tâm an trụ lần lần mạnh
mẽ, nên dẹp sâu phiền não, tín tâm tăng trưởng, đặng
tuỳ thuận vào chơn như tam muội, mau thành vị Bất thối.
Chỉ trừ những người nghiệp chướng sâu dày, nghi ngờ bài
báng không tin, hoặc ngã mạn biếng nhát, thì không thể nhập
Chơn như tam muội được.
Và
hành giả nhờ nương pháp Chơn như tam muội này mà biết được
pháp giới duy nhứt; nghĩa là nhận rõ Pháp thân của chư Phật
và thân chúng sanh bình đẳng không hai, nên cũng gọi là Nhứt
hạnh tam muội.
Phải
biết Chơn như là căn bản của các pháp tam muội; nếu hành
giả tu pháp tam muội này, thì lần lần sẽ được vô lượng
pháp tam muội.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói về "Phương tiện tuỳ duyên Chỉ"; nghĩa là tu Thiền
định không những thường ngổi, mà còn phải phương tiện
tuỳ duyên tu tập, không cho gián đoạn. Khi đi đứng nằm
ngồi làm các việc, hành giả cũng phải luôn luôn quán sát
tu tập; như thế lâu ngày tâm được an trụ, nhơn đó định
lực lần lần mạnh mẽ nên tín tâm tăng tấn, dẹp sâu phiền
não, được tuỳ thuận vào Chơn như tam muội, thành bực Bất
thối. Chỉ trừ những người huỷ báng không tin, thì không
được vào Chơn như tam muội.
Hành
giả được Chơn như tam muội rồi, thì biết pháp giới là
một, chúng sanh và chư Phật bình đẳng không hai, mê ngộ
đồng một tánh, nên cũng gọi là Nhứt hạnh tam muội (Tam
muội đồng nhứt thể).
Chơn
như tam muội là căn bản của các pháp tam muội, nên người
ngộ được Chơn như tam muội rồi thì sẽ được các pháp
tam muội khác.
Chữ
"Tam muội", Tàu dịch là Chánh định hay Chánh thọ; Nghĩa là
tu Định đã đến lúc thuần thục hay đúng mức.
(Đã
nói tu thiền định rồi, tiếp sau đây sẽ nói các việc ma)